Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay và một số giải pháp

333  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY  
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP  
Kiều Thị Tuấn*  
TÓM TẮT: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các vấn đề về lao động có vai trò quan trọng, tác động  
đến sự phát triển bền vững nền kinh tế. Việt Nam hiện đang có nhiều lợi thế về nguồn nhân lực do đang  
ở thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn  
chế như: thiếu các kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo ở mức trung bình hoặc yếu.  
Do đó, trong bối cảnh hiện nay yêu cầu đặt ra với nguồn nhân lực Việt Nam đó là phải chuẩn bị nhóm lực  
lượng lao động có đầy đủ kiến thức và các kỹ năng để có thể đáp ứng và hưởng lợi từ các cam kết quốc  
tế. Trong nội dung bài viết này, tác giả đề cập đển thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay và một  
số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.  
ABSTRACT: In the process of international economic integration, labor issues play an inportant role,  
affecting the sustainable development of the economy. Vietnam currently has many advantage in human  
resources due to its “golden population structure”period. However, the quality of human resources in  
Vietnam is still limited such as: lack of soft skills, teamwork skills, leadership skills are moderate or weak.  
Therefore, in the current context, the requirement for Vietnamese human resources is to prepare a labor  
force group with sufficient knowledge and skills to meet and benefit from commitments international. In  
the content of this article, the author refers the current situation of human resources in Vietnam and some  
solutions to improve the quality of human resources.  
Từ khóa: Nguồn nhân lực, cơ cấu dân số vàng, giải pháp  
Key words: human resources, golden population structure, solutions  
1. GIỚI THIỆU  
Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên “quý giá” nhất so với các tài nguyên khác của doanh  
nghiệp nói riêng và mỗi quốc gia nói chung. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và thế giới đang bước  
vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) - cuộc cách mạng bắt đầu vào đầu thế kỷ  
21 được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như:  
Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhận tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tế ảo (AR), mạng xã  
* Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam. Tác giả nhận phản hồi: Kiều Thị Tuấn. E-mail: [email protected]  
334  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)…Với các cuộc cách trước đây, các  
quốc gia cần phải giải quyết cơ bản các vấn đề của cuộc cách mạng công nghiệp lần trước thì mới  
chuyển sang được cuộc cách mạng lần sau. Nhưng với cuộc CMCN 4.0 là sự thay đổi bản chất,  
không tuân theo quy luật thông thường nên Việt Nam mặc dù đã lỗi nhịp ở 3 cuộc cách mạng công  
nghiệp lần trước nhưng hoàn toàn có thể thực hiện tốt cuộc cách mạng công nghiệp lần này nếu  
chuẩn bị đầy đủ những năng lực để tận dụng các cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp mang lại.  
Vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất để thực hiện được cuộc cách mạng lần này là cần nguồn nhân  
lực có kiến thức, ham học hỏi, ham hiểu biết, luôn trau dồi kiến thức…đó là nguồn nhân lực có  
chất lượng cao.  
2. TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chọn lọc và trình bày một số nội dung trong giáo trình quản  
trị học và quản trị nhân sự; các số liệu trong bài được tham khảo và tổng hợp lại từ Báo cáo điều  
tra lao động việc làm - quý 2 năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê; tham  
khảo các bài báo, hội thảo của các tác giả trong nước về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại  
Việt Nam hiện nay và hai báo cáo của hai tác giả nước ngoài về đánh giá chất lượng nguồn nhân  
lực của các nước trong đó có Việt Nam.  
Từ các tài liệu thu thập được, tác giả đã tiến hành nghiên cứu định tính thông qua các phương  
pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm…Trên quan  
điểm duy vật biện chứng: dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất yếu, phép so sánh để đưa ra  
các nhận định, đánh giá, sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp lại để đưa ra giải pháp.  
3. KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC  
Khái niệm “nguồn nhân lực” được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Liên Hợp quốc:  
“Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của  
con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Theo Ngân hàng thế  
giới: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…  
của mỗi cá nhân; theo đó nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn  
vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ,… Theo Tổ chức Lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của  
một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Theo các tác giả  
David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush thì nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình  
độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập  
trong tương lai cho con người. Theo PGS.TS Trần Kim Dung: “Nguồn nhân lực của một tổ chức  
được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những  
mục tiêu nhất định”.  
Từ các quan điểm trên có thể thấy, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa tương  
đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do đó, nó có thể được lượng hóa bằng 1 bộ  
phận dân số - là những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động. Theo  
nghĩa rộng hơn, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một đất nước, một quốc gia  
hay một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham  
gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.  
4. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY  
4.1 Quy mô, phân bổ và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LLLĐ)  
335  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Theo số liệu năm 2018 của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam sở hữu lực lượng lao động  
lớn thứ nhì tại Đông Nam Á, chỉ sau Indonesia. LLLĐ của Việt Nam đạt hơn 55 triệu người so với  
mức 127,11 triệu người của Indonsia. Tổng lực lượng lao động của các quốc gia ASEAN theo số  
liệu của WB là 350,5 triệu người, và Việt Nam chiếm tỷ trọng khoảng gần 16% trong số này. So  
sánh với các nền kinh tế khác, lực lượng lao động của ASEAN lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Trung  
Quốc và Ấn Độ.  
Theo số liệu quý 2 năm 2018 của Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện đang có rất nhiều lợi  
thế về nguồn nhân lực do đang ở thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” - tỷ lệ lao động trên 15 tuổi tham  
gia lực lượng lao động là 76,6%.  
Bảng 1: Quy mô và tỷ lệ tham gia LLLĐ  
Năm 2017  
Quý 3 Quý 4  
1. Dân sổ từ 15 tuổi trở lên (đơn vị tính: triệu người)  
Năm 2018  
Quý 1  
Quý 2  
Chỉ tiêu  
Tổng số  
72,039  
25,245  
46,794  
72,197  
25,232  
46,965  
72,373  
26,165  
46,208  
72,514  
26,074  
46,440  
Thành thị  
Nông thôn  
2. LLLĐ (đơn vị tính: triệu người)  
Tổng số  
54,879  
55,163  
17,747  
37,416  
55,099  
17,743  
37,356  
55,123  
17,747  
37,376  
Thành thị  
Nông thôn  
17,682  
37,197  
3. Tỷ lệ tham gia LLLĐ (đơn vị: %)  
Tổng số  
76,8  
76,9  
70,7  
80,3  
76,7  
68,2  
81,6  
76,6  
68,4  
81,2  
Thành thị  
Nông thôn  
70,4  
80,2  
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm Quý 2 năm 2018 - Tổng cục Thống kê  
Bảng 2: Tỷ trọng LLLĐ và tỷ lệ tham gia LLLĐ theo vùng kinh tế xã hội quý 2 năm 2018  
Các vùng kinh tế  
Trung du và miền núi phía Bắc  
Đồng bằng sông Hồng  
Trong đó: Hà Nội  
Tỷ trọng LLLĐ (%) Tỷ lệ tham gia LLLĐ (%)  
14,0  
21,7  
7,0  
84,9  
72,8  
67,0  
79,0  
84,4  
70,6  
64,4  
76,1  
Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung  
Tây Nguyên  
21,7  
6,6  
Đông Nam Bộ  
17,1  
8,0  
Trong đó: TP Hồ Chí Minh  
Đồng bằng sông Cửu Long  
18,9  
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm Quý 2 năm 2018 - Tổng cục Thống kê  
336  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Số liệu trong bảng 1 và bảng 2 cho thấy dân số từ 15 tuổi trở lên hiện nay đạt hơn 72,5 triệu  
người trong đó có 55,1 triệu người thuộc LLLĐ; tỷ lệ tham gia LLLĐ là 76,6%. Mặc dù nước ta  
đang trong tiến trình đô thị hóa nhưng đến nay LLLĐ nông thôn vẫn đông đảo hơn (chiếm 67,8%  
LLLĐ), sự khác biệt về mức độ tham gia hoạt động kinh tế giữa khu vực thành thị và nông thôn  
lần lượt là 68,4% và 81,2%. So sánh giữa các vùng kinh tế xã hội, Đồng bằng sông Hồng và Bắc  
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là hai vùng có thị phần lao động lớn nhất cả nước (đều đạt  
21,7%), tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu long đạt 18.9%. Tuy nhiên, có điều đáng chú ý là trong  
khi tỷ lệ LLLĐ ở hai vùng miền núi là trung du và miền núi phía Bắc và Tây nguyên chiếm tỷ lệ  
cao nhất cả nước (lần lượt là 84,9% và 84,4%) thì tỷ lệ này thấp nhất ở hai vùng có hai trung tâm  
kinh tế xã hội lớn nhất của cả nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh - vùng đồng bằng sông Hồng và  
Đông Nam Bộ lần lượt là 72,8% và 70,6%, của hai thành phố này là 67% và 64,4%.  
4.2 Cơ cấu tuổi của LLLĐ  
Cơ cấu theo nhóm tuổi LLLĐ vừa phản ánh tình hình nhân khẩu học, đồng thời cũng thể hiện  
tình hình kinh tế - xã hội. LLLĐ của nước ta tương đối trẻ, nhóm lao động từ 15-39 tuổi chiếm hơn  
một nửa LLLĐ của cả nước.  
Bảng 3: Tỷ lệ % LLLĐ theo nhóm tuổi và thành thị/nông thôn Quý 2 năm 2018  
Thành thị  
Số lượng (nghìn  
Nông thôn  
Số lượng (nghìn  
Nhóm tuổi  
Tỷ lệ  
(%)  
người)  
458,8  
người)  
1.775,7  
3.441  
Tỷ lệ (%)  
4,75  
15-19  
20-24  
25-29  
30-34  
35-39  
40-44  
45-49  
50-54  
55-59  
60-64  
65+  
2,59  
1.528  
8,61  
9,21  
2.236,8  
2.396,9  
2.457,5  
2.239  
12,6  
4.063,5  
4.354,6  
4.327,1  
4.396,7  
4.303,1  
3.903,7  
3.093,7  
1.913,4  
1.803,6  
37.376,1  
10,87  
11,65  
11,58  
11,76  
11,51  
10,44  
8,28  
13,51  
13,85  
12,62  
12,84  
10,49  
6,92  
2.278,2  
1.861,3  
1.228,5  
628,2  
3,54  
5,12  
433,5  
2,44  
4,83  
Tổng  
17.746,7  
100  
100  
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm Quý 2 năm 2018 - Tổng cục Thống kê  
Số liệu trong bảng 3 cho thấy LLLĐ của nước ta tương đối trẻ, nhóm tuổi từ 15 -39 tuổi ở  
thành thị chiếm 51,16% trong khi ở nông thôn tỷ lệ này là 48,06%. Có sự khác biệt đáng kể trong  
việc phân bổ LLLĐ theo nhóm tuổi giữa khu vực thành thị và nông thôn: Tỷ lệ trọng của nhóm lao  
động trẻ (từ 15-24) và nhóm lao động già (từ 55 tuổi trở lên) ở khu vực thành thị thấp hơn so với  
khu vực nông thôn; ngược lại tỷ trọng lao động chính từ 25 -54 tuổi của khu vực thành thị lại cao  
337  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
hơn khu vực nông nông. Qua đây, có thể thấy sự khác biệt về chất lượng của LLLĐ giữa hai khu  
vực này bởi thực tế nhóm dân số trẻ ở khu vực thành thị đã gia nhập thị trường lao động muộn hơn  
so với khu vực nông thôn vì học có thời gian học tập nhiều hơn. Ở khu vực nông thôn, họ tham gia  
thị trường lao động sớm hơn và rời khỏi LLLĐ muộn hơn so với khu vực thành thị.  
4.3 Trình độ của LLLĐ  
Mặc dù có nhiều lợi thế về số lượng, quy mô nguồn nhân lực nhưng thực trạng nguồn nhân  
lực của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo của nhà phân tích cấp cao Phidel  
Vineles thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam của Singapore năm 2018 đã có một số  
đánh giá về lực lượng lao động từng quốc gia trong ASEAN. Theo báo cáo, Singapore sở hữu một  
lực lượng lao động được đào tạo tốt và có kỹ năng cao. Malaysia và Thái Lan đang tiến lên các  
ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật, chất xám cao. Indonesia và Philippines có LLLĐ trẻ  
nhưng thiếu các kỹ năng và kiến thức cơ bản mà các ngành công nghiệp chính đòi hỏi nên tỷ lệ thất  
nghiệp của giới trẻ tại hai nước ở mức cao. Brunei đang nỗ lực giảm bớt sự phụ thuộc vào ngành  
dầu lửa và phát triển nền kinh tế tri thức. Nhóm nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar  
được báo cáo cho là có lực lượng lao động có kỹ năng kém nhất trong ASEAN; báo cáo cũng kiến  
nghị các nước này cần có một hệ thống dạy nghề và kỹ thuật nhất quán hơn để phục vụ cho sự phát  
triển công nghiệp vì lao động tại các quốc gia này còn thiếu và yếu nhiều kỹ năng.  
Theo Báo cáo điều tra lao động việc làm quý 2 năm 2018 của Tổng cục Thống kê, số lượng  
lao động có trình độ, bằng cấp chứng chỉ là 12.042 nghìn người (chiếm 21,85%) và 43.081 nghìn  
người (chiếm 78,15%) không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên  
môn ở thành thị chiếm 38,55% trong khi tỷ lệ này ở nông thôn là 13,92%, điều này cho thấy lực  
lượng lao động có trình độ tập trung chủ yếu ở thành thị; như vậy ở nông thôn hiện có 37.376 nghìn  
người lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở (chiếm 86,08% LLLĐ ở nông thôn).  
Bảng 4: LLLĐ từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn trong toàn quốc  
Trình độ chuyên môn  
Năm 2017  
Năm 2018  
(Đơn vị tính: triệu  
người)  
(Đơn vị tính: triệu người)  
Quý 3  
54,879  
42,808  
3,020  
2,973  
1,580  
5,398  
0,0  
Quý 4  
55,163  
43,139  
2,877  
2,124  
1,650  
5,370  
0,7  
Quý 1  
55,099  
43,181  
3,039  
2,001  
1,741  
5,137  
0,6  
Quý 2  
55,123  
43,081  
2,958  
2,162  
1,640  
5,282  
0,0  
Toàn quốc  
1. Không có trình độ CMKT  
2. Dạy nghề từ 3 tháng trở lên  
3. Trung cấp chuyên nghiệp  
4.Cao đẳng chuyên nghiệp  
5. Đại học trở lên  
6. Không xác định  
Thành thị  
17,682  
10,843  
1,378  
0,984  
17,747  
10,939  
1,315  
1,000  
17,743  
11,090  
1,366  
0,932  
17,747  
10,906  
1,443  
1,020  
1. Không có trình độ CMKT  
2.Dạy nghề từ 3 tháng trở lên  
3.Trung cấp chuyên nghiệp  
338  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
4.Cao đẳng chuyên nghiệp  
5.Đại học trở lên  
6.Không xác định  
0,778  
3,699  
0,0  
0,811  
3,682  
0,2  
0,856  
3,499  
0,6  
0,784  
3,594  
0,0  
Nông thôn  
37,197  
31,965  
1,641  
1,090  
0,802  
1,699  
0,0  
37,416  
32,200  
1,562  
1,124  
0,839  
1,691  
0,0  
19,538  
16,342  
1,472  
0,560  
0,338  
0,827  
0,0  
37,376  
32,174  
1,515  
1,143  
0,857  
1,688  
0,0  
1.Không có trình độ CMKT  
2.Dạy nghề từ 3 tháng trở lên  
3.Trung cấp chuyên nghiệp  
4.Cao đẳng chuyên nghiệp  
5.Đại học trở lên  
6.Không xác định  
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm Quý 2 năm 2018 - Tổng cục Thống kê  
Bảng 5: Số lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên ở thành thị và nông thôn theo nhóm  
nghề nghiệp quý 2 năm 2018  
Nhóm nghề nghiệp  
Toàn quốc  
Thành thị  
Nông thôn  
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng  
Tỷ  
(triệu người)  
%
(triệu  
người)  
17,223  
0,386  
(%)  
(triệu  
người)  
36,800  
0,206  
lệ(%)  
Tổng  
54,023  
0,592  
3,820  
100  
1,1  
100  
2,24  
100  
0,56  
3,29  
1. Nhà lãnh đạo  
2.Chuyên môn kỹ thuật  
bậc cao  
7,07  
2,609  
15,15  
1,211  
3.Chuyên môn kỹ thuật  
bậc trung  
1,851  
3,43  
1,016  
5,9  
0,835  
2,27  
4. Nhân viên  
1,065  
9,306  
1,97  
0,618  
4,751  
3,59  
0,447  
4,555  
1,21  
5.Dịch vụ cá nhân, bảo vệ  
và bán hàng  
17,23  
27,59  
12,38  
6.Nghề trong nông, lâm,  
ngư nghiệp  
5,221  
7,294  
5,320  
9,66  
13,5  
9,85  
0,670  
2,307  
2,043  
3,9  
4,551  
4,987  
3,277  
12,37  
13,55  
8,9  
7.Thợ thủ công và các  
thợ khác  
13,39  
11,86  
8.Thợ lắp ráp và vận hành  
máy móc thiết bị  
9. Nghề giản đơn  
10.Không phân loại  
19,444  
0,110  
35,99  
0,2  
2,752  
0,071  
15,98  
0,4  
16,692  
0,039  
45,36  
0,11  
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm Quý 2 năm 2018 - Tổng cục Thống kê  
339  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Qua bảng 5 có thể thấy số lao động làm việc trong nhóm nghề giản đơn chiếm số lượng lớn  
nhất 19.444 nghìn người (chiếm 35,99% số người có việc làm trong cả nước), tỷ lệ này ở thành  
thị là 15,98% và ở nông thôn là 45,36%; số lao động làm việc trong các ngành dịch vụ cá nhân,  
bảo vệ và bán hàng là 9.306 nghìn người (chiếm 17,23%) trong khi số lao động có chuyên môn  
kỹ thuật bậc cao và chuyên môn kỹ thuật bậc trung lần lượt là 3.820 và 1.851 nghìn người (chiếm  
7,07% và 3,43%).  
Trong báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai do Diễn đàn kinh tế thế  
giới mới công bố, Việt Nam thuộc nhóm chưa sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  
4, Việt Nam xếp thứ 70/100 vùng lãnh thổ báo cáo về nguồn nhân lực và 81/100 về lao động có  
chuyên môn cao  
Bảng 6: Thứ hạng về chỉ số lao động có chuyên môn cao của Việt Nam và các nước ASEAN  
Quốc gia  
Singapore  
Malaysia  
Philippines  
Thailand  
Thứ hạng  
1
45  
50  
78  
81  
83  
Việt Nam  
Indonesia  
Nguồn: WEF Readniness for Future of Production Report 2018.  
5. MỘT VÀI ĐÁNH GIÁ  
Qua những số liệu trong thực trạng nêu trên về nguồn nhân lực tại Việt Nam có thể đưa ra  
một vài đánh giá như sau:  
Việt Nam hiện nay đang có nhiều lợi thế về số lượng, quy mô nguồn nhân lực với số dân từ  
15 tuổi trở lên hiện nay có hơn 72,5 triệu người trong đó có 55,1 triệu người thuộc LLLĐ; tỷ lệ  
tham gia LLLĐ là 76,6%. Số LLLĐ làm việc ở nông thôn chiếm tỷ lệ đông đảo hơn (chiếm 67,8%  
LLLĐ); hai vùng có thị phần lao động lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung  
Bộ và Duyên hải miền Trung (đều đạt 21,7%), tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu long đạt 18.9%.  
Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia LLLĐ ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm  
tỷ trọng thấp nhất cả nước (lần lượt là 67% và 64,4%).  
Lực lượng lao động của nước ta tương đối trẻ, nhóm tuổi từ 15 -39 tuổi ở thành thị chiếm  
51,16% trong khi ở nông thôn tỷ lệ này là 48,06%; có sự khác biệt đáng kể trong việc phân bổ  
LLLĐ theo nhóm tuổi giữa khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời cũng có sự khác biệt về chất  
lượng của LLLĐ giữa hai khu vực này bởi thực tế nhóm dân số trẻ ở khu vực thành thị đã gia nhập  
thị trường lao động muộn hơn so với khu vực nông thôn vì học có thời gian học tập nhiều hơn. Ở  
khu vực nông thôn, họ tham gia thị trường lao động sớm hơn và rời khỏi LLLĐ muộn hơn so với  
khu vực thành thị.  
340  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Số lượng lao động có trình độ bằng cấp chứng chỉ không cao là 12.042 nghìn người (chiếm  
21,85%) và còn lại 43.081 nghìn người (chiếm 78,15%) không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn ở thành thị chiếm 38,55% trong khi tỷ lệ này ở nông thôn  
là 13,92%. Cơ cấu lao động theo trình độ của nước ta còn chưa hợp lý. Tỷ lệ tương quan giữa trình  
độ đại học trở lên - cao đẳng - trung cấp - sơ cấp tương ứng là: 1 - 0,31 - 0,41 - 0,56 (quý 2 năm  
2018) điều này cảnh báo thực trạng thiếu kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật cao.  
Và quan trọng nhất là chất lượng nguồn nhân lực thấp, chưa hoặc không đáp ứng được yêu  
cầu phát triển kinh tế, thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao (số lao động có chuyên  
môn kỹ thuật bậc cao và chuyên môn kỹ thuật bậc trung lần lượt là 3.820 và 1.851 nghìn người  
chiếm 7,07% và 3,43% - quý 2 năm 2018) số lao động còn lại chủ yếu là lao động trong các nghề  
giản đơn (chiếm 35,99%) và lao động trong các ngành nghề khác như: nhân viên, bảo vệ, bán hàng,  
thợ thủ công,..  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và thực trạng nguồn nhân lực như hiện nay, thị trường lao  
động hiện nay của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức như: nguồn lao động dồi dào, giá rẻ  
không còn là yếu tố cạnh tranh và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; Chính phủ bị sức ép về vấn  
đề giải quyết việc làm cho LLLĐ, số người tham gia LLLĐ hàng năm đều tăng nhưng điều quan  
trọng là lao động này chưa qua đào tạo, chưa có trình độ chuyên môn; lao động chủ yếu làm việc  
trong ngành nông nghiệp, trình độ kỹ thuật lạc hậu; vẫn còn tình trạng mất cân đối cung cầu giữa  
các khu vực, các vùng kinh tế như ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hay ở các vùng kinh tế  
xã hội khác…  
6. NGUYÊN NHÂN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHƯA CAO  
Thứ nhất, thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình: chiều cao, cân nặng cũng như sức  
bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc  
thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế. Phần lớn người lao động có xuất thân từ nông thôn nên mang nặng  
tác phong của nền sản xuất nông nghiệp, họ chưa được học tập hay tập huấn về kỷ luật lao động  
công nghiệp nên tính kỷ luật của lao động chưa cao. Người lao động chưa được trang bị các kiến  
thức và kỹ năng làm việc theo nhóm nên khả năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm chưa tốt;  
họ cũng ngại phát huy sáng kiến và ít chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Ngoài ra, một nguyên nhân  
quan trọng từ phía bản thân mỗi người lao động đó là họ thiếu định hướng chọn nghề nghiệp ngay  
từ khi học phổ thông, chưa định hướng được những ngành nghề mà thị trường có nhu cầu, khả  
năng tự học, tự trau dồi kiến thức của mỗi cá nhân chưa cao, điều này làm cho chất lượng nguồn  
nhân lực của Việt Nam giảm đáng kể.  
Thứ hai, công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp về cả số lượng và chất lượng. Theo số liệu  
cung cấp ở trên có thể thấy tỷ lệ đào tạo cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ lớn hơn so với đào tạo  
nghề nghiệp điều này dẫn đến thực trạng “thừa thầy, thiếu thợ” - thực trạng này cũng xuất phát  
từ tâm lý “chuộng bằng cấp” ở Việt Nam và sự thiếu định hướng nghề nghiệp của mỗi cá nhân  
người lao động. Bên cạnh đó, chất lượng chương trình giảng dạy của các trường chưa cao, cụ thể:  
phương pháp giảng dạy truyền thống, có ít các chương trình thực tế để gắn kết sinh viên với doanh  
nghiệp,…chính vì vậy một phần khá lớn sinh viên khi ra trường chưa thể đáp ứng ngay yêu cầu  
của nhà tuyển dụng.  
341  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
7. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC  
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với người  
lao động Việt Nam, đòi hỏi nguồn nhân lực phải có nhiều kỹ năng khác ngoài kiến thức chuyên  
môn như: sử dụng thành thạo ngoại ngữ, khả năng làm việc nhóm, có trình độ tin học cao... Để  
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động cần  
tập trung một số giải pháp trọng tâm sau:  
Thứ nhất, mỗi cá nhân trong lực lượng lao động cần tự ý thức trong việc tự học tập nâng cao  
trình độ; bên cạnh các kiến thức chuyên môn, người lao động cần luôn trau dồi kinh nghiệm thực  
tiễn, phải trang bị cho mình nhiều kỹ năng khác như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình,  
có hiểu biết về kỹ thuật số, có khả năng sử dụng công nghệ để ứng dụng vào công việc của mình,  
có khả năng sáng tạo, có trí thông minh,…và có thể sử dụng được ngoại ngữ.  
Thứ hai, tại các cơ sở đào tạo cần xây dựng chương trình đào tạo, giáo trình học tập, tổ chức  
công tác giảng dạy và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp một  
cách khoa học và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cần là cầu nối  
giữa các doanh nghiệp với sinh viên thông qua các hoạt động như: tổ chức các buổi tọa đàm chia  
sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, tổ chức các buổi tham quan thực tế tại doanh nghiệp, tổ chức các hội  
chợ việc làm.  
Thứ ba, về phía các cơ quan chức năng của nhà nước cần có quy hoạch và thực hiện quy  
hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng và dạy nghề trong cả nước; thực hiện kiểm định chất  
lượng giáo dục, đào tạo ở các bậc học; cần có kế hoạch cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm  
tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo; thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động để  
cung cấp thông tin tin cậy cho việc xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng, gắn sử dụng nhân lực  
với việc làm; coi trọng hướng nghiệp, dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nguồn nhân lực.  
Ngoài ra, Chính phủ cần có các cơ chế, chính sách để hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; cần  
quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và  
có cơ chế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển  
nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Về cơ chế chính sách, thực tế cho  
thấy trong những năm gần đây Chính phủ đã ban hành nhiều thể chế, chính sách mới nhằm hỗ trợ  
các doanh nghiệp nói chung và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nói riêng. Ví dụ, đối với các doanh  
nghiệp nhỏ và vừa từ năm 2017 đến nay Chính phủ đã lần lượt cho ra đời Luật hỗ trợ nhóm doanh  
nghiệp này phát triển, các thông tư hướng dẫn chi tiết về việc hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho  
nhóm doanh nghiệp này phát triển như hỗ trợ kinh phí các khóa học cho nhà quản trị doanh nghiệp,  
người lao động trong doanh nghiệp, miễn phí một số khóa học đối với doanh nghiệp trên địa bàn  
kinh tế đặc biệt khó khăn và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.  
8. KẾT LUẬN  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trước thềm cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - cách mạng  
của tri thức thì điều kiện đầu tiên và tiên quyết đối với toàn bộ các nền kinh tế nói chung và nền  
kinh tế Việt Nam nói riêng là phải có tri thức; phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để nâng  
cao chất lượng nguồn nhân lực thì bản thân mỗi người lao động cần có ý thức tự trau dồi kiến thức  
và các kỹ năng cần thiết để đáp ứng được nhu cầu của thị trường; bên cạnh đó cần có sự kết nối  
342  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
giữa Chính phủ, các doanh nghiệp với các trường đại học và các cơ sở đào tạo để sửa đổi chương  
trình học sao cho phù hợp hơn với thị trường lao động.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2018), Báo cáo điều tra lao động việc làm  
Quý 2 năm 2018;  
2. Nguyễn Sinh Cúc (2014), Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, Tạp chí lý luận  
chính trị số 2/2014  
3. PGS.TS Trần Kim Dung (2018), Quản trị nguồn nhân lực, NXB Tài chính  
4. PGS.TS Đào Duy Huân (2014), Quản trị học (trong toàn cầu hóa kinh tế), NXB Lao động  
xã hội  
5. Phidel Marion G.Vineles (2018), Enhancing ASEAN’s competitiveness: The skills  
Chanllenge  
6. Ths. Kiều Thị Tuấn (2019), Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam  
hiện nay: Thực trạng và các chính sách hỗ trợ, Hội thảo quốc tế: “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và  
vừa của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”, NXB Tài chính  
7. Quốc hội (2017), Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 về việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ  
và vừa.  
8. Tổng cục thống kê (2017), Báo cáo kết quả điều tra kinh tế năm 2017  
9. World Economic Forum (2018), Readniness for Future of Production Report 2018.  
de-dat-ra-302133.html  
ky-hoi-nhap-co-hoi-va-thach-thuc-304052.html  
pdf 10 trang Thùy Anh 17800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay và một số giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_nguon_nhan_luc_tai_viet_nam_hien_nay_va.pdf