Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ (nghiên cứu trường hợp tỉnh An Giang)

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH  
CỦA DOANH NGHIỆP DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ  
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh An Giang)  
y Đàm Đức Dương(*)  
Tóm tắt  
Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh  
do phụ nữ làm chủ ở An Giang hiện nay” thực hiện năm 2017. Các phương pháp nghiên cứu được sử  
dụng bao gồm phương pháp định lượng và định tính. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nữ doanh  
nhân lựa chọn người tham vấn ý kiến phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn, trình độ học vấn của nữ doanh  
nhân. Các nữ doanh nhân kinh doanh thường chịu tác động từ công việc gia đình, bên cạnh đó các  
doanh nghiệp do nữ làm chủ khó tiếp cận được vốn vay từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Sự trợ giúp  
từ chính quyền được đánh giá cao nhưng mới chỉ dừng ở việc hướng dẫn, tư vấn còn về mặt môi trường  
pháp lý còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, các nữ doanh nhân đã tự khẳng định họ là người sở hữu tài sản.  
Từ khóa: Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, vốn, nữ doanh nhân.  
1. Đặt vấn đề  
Chính vì vậy, việc xem xét các doanh nghiệp  
do phụ nữ làm chủ trở nên quan trọng hơn nhằm tìm  
ra các nguyên nhân để giải quyết những vấn đề mà  
các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ gặp phải. Nhận  
biết được những nhu cầu và những rào cản mà họ  
đối mặt, để từ đó có những chính sách hỗ trợ. Tạo  
cơ chế bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp  
và xem xét trên các phương diện liên quan đến giới.  
2. Phương pháp và địa bàn nghiên cứu  
Mục tiêu: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng  
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh  
nghiệp do phụ nữ làm chủ.  
Phương pháp định lượng: Phân tích dữ liệu thứ  
cấp, số liệu danh sách doanh nghiệp do nữ làm chủ  
trên các địa bàn huyện, thành phố. Điều tra khảo  
sát 288 doanh nghiệp trên địa bàn bốn huyện và  
hai thành phố của tỉnh An Giang.  
Phương pháp định tính: Thảo luận nhóm tập  
trung, chia 2 nhóm, thành phố Long Xuyên 15 nữ  
doanh nghiệp và thành phố Châu Đốc 15 nữ doanh  
nghiệp. Phỏng vấn sâu: 20 nữ doanh nghiệp.  
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được thực  
hiện tại các huyện Tịnh Biên, Phú Tân, Thoại Sơn,  
Chợ Mới và thành phố Châu Đốc, Long Xuyên.  
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng  
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh  
nghiệp do phụ nữ làm chủ.  
Trong những năm gần đây số lượng các doanh  
nghiệp vừa và nhỏ đăng ký mới tăng (năm 2016 có  
110.100 doanh nghiệp đăng ký mới - Sách trắng  
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 2017) và có  
những doanh nghiệp quy mô nghìn tỷ đồng. Trong  
số các doanh nghiệp này có sự đóng góp không nhỏ  
của các nữ doanh nhân vừa tham gia kinh doanh  
vừa chăm lo công việc gia đình.  
Những doanh nghiệp do nữ doanh nhân làm  
chủ ngày càng khẳng định vị thế, vai trò của phụ  
nữ, các doanh nghiệp do nữ doanh nhân làm chủ  
đã giải quyết cho hàng ngàn lao động, đóng góp  
cho ngân sách của địa phương. Các nữ doanh nhân  
là thành phần không thể thiếu trong độ ngũ doanh  
nghiệp, doanh nhân Việt Nam. Bên cạnh đó các nữ  
doanh nhân còn góp phần ổn định kinh tế gia đình  
thay đổi các giá trị truyền thống trong gia đình.  
Việt Nam là quốc gia được đánh giá tốt về  
quyền bình đẳng giới so với các quốc gia khác có  
cùng trình độ phát triển, đặc biệt tỷ lệ nữ giới làm  
chủ các doanh nghiệp cao hơn các nước trong khu  
vực và thế giới. Tuy nhiên một số hạn chế liên quan  
đến giới vẫn còn tồn tại, ngay trong kinh doanh  
phụ nữ thường ít được sự ủng hộ từ gia đình, trách  
nhiệm của phụ nữ được gắn với việc lấy chồng,  
công việc nhà, sinh con, chăm sóc con, việc kinh  
doanh do người chồng đảm nhận và họ chỉ được  
tham gia kinh doanh nhiều hơn khi con cái đã lớn.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Sở hữu tài sản và tham vấn ý kiến  
Việc sở hữu tài sản có những tác động đến hoạt  
động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp  
(*) Trường Đại học An Giang.  
30  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
do phụ nữ làm chủ rất nhiều. Qua kết quả khảo sát tham vấn ý kiến từ người khác, bởi nhiều trường  
hợp các nữ doanh nhân đã ly hôn, chồng mất sớm,  
nữ doanh nhân đơn thân, các nữ doanh nhân có mối  
quan hệ từ bạn bè, các chuyên gia kinh tế.  
288 mẫu, các nữ doanh nhân cho rằng là người chủ  
sở hữu tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4%, kế đến  
là hai vợ chồng 35,8%, người khác và tổ chức sở  
hữu chiếm 3,5%, thấp nhất là chồng 1,4%. Như  
vậy, tính chủ động của người phụ nữ kinh doanh  
có xu hướng tăng lên khi khẳng định giá trị bản  
thân tạo dựng được thông qua việc sở hữu tài sản.  
Sự biến đổi này cũng phản ánh sự thay đổi vai trò  
của người phụ nữ trong xã hội; từ hình ảnh người  
phụ nữ truyền thống chỉ biết nội trợ, kinh tế phụ  
thuộc vào người chồng và việc nắm quyền sở hữu  
tài sản đối với doanh nghiệp nữ tác động đến lý  
do quyết định kinh doanh của họ hơn so với người  
khác nắm giữ.  
Tuy nhiên, từ khi bắt đầu khởi sự kinh doanh  
đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh  
nghiệp đã đã đi vào hoạt động thì các nữ doanh  
nhân không thể giải quyết được mọi vấn đề phát  
sinh xảy ra, vì vậy tham vấn ý kiến từ người khác là  
giải pháp thực sự có ý nghĩa  
Có sự khác biệt đáng kể trong việc lựa chọn  
người tham vấn ý kiến liên quan đến trình độ học  
vấn của các nữ doanh nhân. Đáng chú ý, khi tách  
biệt nhóm có trình độ học vấn cao đẳng và đại học  
với nhóm có trình độ trung học phổ thông liên quan  
đến người được tham vấn ý kiến là thành viên khác  
trong gia đình có một sự chênh lệch khá rõ giữa  
những doanh nhân có trình độ cao đẳng và đại học  
so với trung học phổ thông (42,9% và 57,1% so  
với 0%) và trình độ học vấn càng cao thì càng có  
sự khác biệt về người được tham vấn ý kiến (Bảng  
1). Có lẽ những người có học vấn cao hơn dẫn đến  
độ tuổi kết hôn muộn hơn do đó họ có thời gian  
cho học tập và mối quan hệ trong mạng lưới xã  
hội rộng lớn hơn, vì vậy có cơ hội lựa chọn người  
tham vấn nhiều hơn.  
Bảng 1. Trình độ học vấn và người được tham vấn ý kiến  
quan trọng những người  
tham vấn ý kiến với vai trò  
làm trung gian, cầu nối giải  
quyết những khó khăn mà  
các nữ doanh nhân gặp phải  
trong hoạt động sản xuất,  
kinh doanh. Có 63,2% chồng  
và 24,3% các thành viên  
khác trong gia đình được các  
nữ doanh nhân tham vấn ý  
kiến. Như vậy, việc tham vấn  
ý kiến trong kinh doanh cao  
nhất vẫn là chồng, mặc dù  
người vợ thực hiện hết các  
công việc liên quan đến sản  
xuất, kinh doanh, bởi vì kinh  
Người được tham vấn ý kiến  
Thành viên khác  
trong gia đình  
Trình độ  
học vấn  
Chồng  
Khác  
Số  
Tỷ lệ  
Số  
Tỷ lệ  
Số  
Tỷ lệ  
lượng  
(%)  
lượng  
(%)  
lượng  
(%)  
Tiểu học  
4
2,2  
18,7  
61,0  
13,2  
4,9  
0
0
0,0  
0,0  
0
0
0,0  
0,0  
THCS  
34  
111  
24  
9
THPT  
0
0,0  
0
0,0  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Đại học  
Sau đại học  
Tổng  
0
0,0  
0
0,0  
30  
40  
0
42,9  
57,1  
0,0  
0
0,0  
0
0,0  
33  
3
91,7  
8,3  
0
0,0  
182  
100  
70  
100  
36  
100  
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017.  
tế là trách nhiệm không chỉ của vợ mà còn là trách  
nhiệm của người chồng, bên cạnh đó chồng cũng là  
người sống chung. Việc ở gần, có trách nhiệm cho  
gia đình, con cái giúp họ có điều kiện về khoảng  
Vốn để hoạt động sản xuất, kinh doanh của  
các nữ doanh nhân có mối liên quan đến người  
được tham vấn ý kiến. Ví dụ, 48,9% tham vấn ý  
kiến từ chồng xuất phát từ vốn của hai vợ chồng.  
cách thời gian và không gian cũng như hiểu nhau Tuy nhiên, có 58% quyết định tham vấn ý kiến từ  
các thành viên khác trong gia đình liên quan đến  
vốn của bản thân nữ doanh nhân và bên cạnh đó  
có 49,3% quyết định tham vấn ý kiến từ các thành  
khi bàn bạc giải quyết những khó khăn trong công  
việc của các nữ doanh nhân.  
Tuy nhiên, cũng có 12,5% các nữ doanh nhân  
31  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
viên khác trong gia đình liên quan đến vốn vay từ đình dưới 4 tiếng trong ngày chiếm tỷ lệ cao nhất  
75%, kế đến từ 5 tiếng đến 8 tiếng trong ngày chiếm  
16,3%, thấp nhất trên 9 tiếng chiếm 8,7%. Kết quả  
này cho thấy thời gian các nữ doanh nhân dành cho  
công việc gia đình còn lớn. Tuy nhiên, nghiên cứu  
cũng gặp khó khăn khi đánh giá thời gian các nữ  
doanh nhân dành cho công việc gia đình bởi thực  
tế nhiều doanh nghiệp nữ hoạt động tại nhà, đặc  
biệt là ngành thương mại - dịch vụ phụ thuộc lượng  
khách ít hay nhiều, vào mùa cao điểm hay mùa  
thấp điểm của lượng khách du lịch đến An Giang.  
Bên cạnh thời gian làm việc gia đình, việc  
chăm sóc con cái tác động không nhỏ đến hoạt động  
sản xuất, kinh doanh của các nữ doanh nhân. Qua  
số liệu khảo sát cho thấy có 190 trả lời của các nữ  
doanh nhân đã có con lớn không cần chăm sóc cả  
ngày, kế đến có 39 trả lời được lựa chọn gửi con  
cho các thành viên khác chăm sóc chiếm 20,5%  
và được các thành viên trong gia đình chăm sóc  
19,5%, được chồng chăm sóc chiếm tỷ lệ thấp, tuy  
nhiên vẫn cao hơn mang theo cùng (4,2% so với  
2,1%). Việc không cần chăm sóc con cái cả ngày  
chiếm tỷ lệ cao bởi lẽ các nữ doanh nhân có độ tuổi  
trung bình cao từ 31 tuổi đến 45 tuổi chiếm 62,8%  
và từ 46 tuổi đến 60 tuổi chiếm 26% trong thời  
điểm khảo sát do đó con cái các nữ doanh nhân ở  
độ tuổi này đã lớn.  
Khi xem xét mối liên hệ gữa việc chăm sóc  
con và lĩnh vực kinh doanh với các nữ doanh nhân  
có con đã lớn không cần chăm sóc cả ngày đối  
với tất cả các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh.  
Tuy nhiên có sự khác biệt trong mỗi lĩnh vực kinh  
doanh, cụ thể các nữ doanh nhân kinh doanh lĩnh  
vực thương mại - dịch vụ, con cái được các thành  
viên khác trong gia đình chăm sóc và gửi cho người  
khác chăm sóc lần lượt là 16,5% và 18,3%. Tuy  
nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ nữ doanh nhân  
con cái được chồng chăm sóc và mang con theo  
cùng 2,6% và 1,7%. Các nữ doanh nhân trong  
lĩnh vực công nghiệp - xây dựng con cái được các  
thành viên khác trong gia đình chăm sóc và gửi  
cho người khác chăm sóc 21%. Với các nữ doanh  
nhân lĩnh vực nông lâm - thủy sản, ngoài được các  
thành viên khác trong gia đình chăm sóc là 38,5%  
và gửi cho người khác chăm sóc 38,5%, bên cạnh  
đó con cái của các nữ doanh nhân còn được chồng  
chăm sóc hay mang theo cùng 15,4%. Như vậy,  
bạn bè, người thân khác. Điều này cho thấy, có thể  
do các nữ doanh nhân phụ thuộc vào vốn, do đó  
mọi quyết định cũng phải thông qua người có liên  
quan đến nguồn cho vay vốn, đơn cử vốn của hai  
vợ chồng, vốn vay từ ngân hàng điều đó có liên  
quan đến người chồng. Ngược lại vốn tự có bản  
thân và vốn từ bên ngoài không liên quan đến chồng  
thì người tham vấn cũng phụ thuộc vào nguồn vốn  
người cung cấp. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp được  
thành lập từ sự góp vốn của nhiều thành viên, có  
thể là gia đình bên nội hay bên ngoại, cũng như các  
công ty cổ phần dẫn đến việc tham vấn ý kiến liên  
quan đến những người góp vốn đó.  
Vì vậy, việc quyết định chọn người tham vấn  
ý kiến của các nữ doanh nhân có nhiều khó khăn,  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố.  
3.2. Những yếu tố gia đình  
Thông qua đóng góp cho thu nhập gia đình của  
các nữ doanh nhân cho thấy mức độ hiệu quả của  
hoạt động sản xuất, kinh doanh bên cạnh đó kinh  
tế gia đình cũng có những tác động trở lại đến hoạt  
động sản xuất, kinh doanh. Qua kết quả khảo sát  
cho thấy có 22,9% hoạt động sản xuất, kinh doanh  
của các nữ doanh nhân đóng góp cho thu nhập của  
gia đình nhiều hơn 50%. Điều này có thể lý giải  
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nữ doanh  
nhân còn nhỏ so với các nguồn thu nhập khác cho  
gia đình các nữ doanh nhân. Thực tế nhiều doanh  
nghiệp ởAn Giang xuất phát từ các cơ sở hoạt động  
kinh doanh nhỏ chuyển đổi lên công ty, bên cạnh đó  
việc kinh tế gia đình phụ thuộc từ nhiều nguồn khó  
tái đầu tư vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh  
của các nữ doanh nhân (Bảng 2).  
Bảng 2. Đóng góp cho thu nhập gia đình của các nữ  
doanh nhân  
Đóng góp cho thu nhập  
Tần suất  
Phần trăm  
gia đình  
Không đóng góp  
Đến 25%  
8
2,8  
18,1  
56,3  
22,9  
100  
52  
Đến 50%  
162  
66  
Nhiều hơn 50%  
Tổng  
288  
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017.  
Thời gian dành cho công việc gia đình trung  
bình các nữ doanh nhân dành cho công việc gia  
32  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
do đặc thù của mỗi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ, buôn bán sản phẩm linh kiện máy tính vốn  
mang tính quyết định đến việc chăm sóc con trực cũng nhỏ. Có thể vay được bạn bè, người thân thì  
tiếp hay gián tiếp. Kết quả cũng cho thấy các nữ vay. Mình vay ngân hàng phải thế chấp tài sản với  
doanh nhân trong lĩnh vực nông lâm - thủy sản ít lại lãi suất ngân hàng cao trong khi đó lĩnh vực của  
có điều kiện chăm sóc con trực tiếp do ảnh hưởng chị đâu dễ chứng minh” (Phỏng vấn sâu nữ doanh  
bởi lĩnh vực kinh doanh.  
nhân ngành thương mại - dịch vụ).  
Kết quả thảo luận nhóm cũng cho thấy “Phụ  
Còn theo chị VDNQ, “Mình cũng có vay ngân  
nữ có thể kiêm nhiệm được cả việc chăm sóc con hàng nhưng không vay được nhiều bởi phải chứng  
cái và công việc kinh doanh, thời gian dành cho minh tài sản thế chấp, trong khi đó mình làm kinh  
kinh doanh trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ và doanh bên lĩnh vực thủy sản, tài sản mặt bằng đi  
thời gian chăm con được xen kẽ trong ngày làm thuê đâu có thế chấp được, ngành này rủi ro cao,  
việc” - Thảo luận nhóm nữ các doanh nhân.  
họ không cho vay nhiều” (Phỏng vấn sâu nữ doanh  
Theo chị NTP kinh doanh nông sản cho biết nghiệp ngành Thủy sản).  
“Thời gian ở bên con ít lắm em, như em thấy có  
Như vậy, vốn để hoạt động sản xuất, kinh  
lúc nào chị nghỉ đâu dậy từ sớm cân, kiểm hàng cả doanh tập trung chủ yếu là vốn tự có, tiếp cận  
người mua lẫn người bán về đến nhà cũng mệt rồi, nguồn vốn từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng đối  
chủ yếu nhờ người nhà trông con”. (Phỏng vấn sâu với các nữ doanh nhân còn gặp nhiều khó khăn.  
nữ doanh nhân kinh doanh nông sản vùng biên).  
3.3. Vốn  
Thực tế việc định giá tài sản thế chấp là khó bởi bên  
cho vay thường định giá trị tài sản thấp hơn giá trị  
Vốn hoạt động của doanh nghiệp có từ nhiều vay, bên cạnh đó quy mô hoạt động sản xuất, kinh  
nguồn khác nhau song đối với các doanh nghiệp doanh nhỏ nên các nữ doanh nhân cũng ít tiếp cận  
do các nữ doanh nhân làm chủ thì nguồn vốn của đến vốn vay từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng.  
hai vợ chồng chiếm tỷ lệ cao nhất 50%, tiếp đến  
nguồn vốn từ bản thân của các nữ doanh nhân 33%,  
3.4. Trợ giúp từ các tổ chức  
Có nhiều tổ chức trợ giúp các doanh nghiệp  
vốn vay ngân hàng 26,1%, vay mượn từ các thành tuy nhiên trong tổng số 205 số doanh nghiệp được  
viên trong gia đình 25%, vay mượn bạn bè 19,2%. trợ giúp trả lời nhiều nhất vẫn là sự trợ giúp từ  
Việc tận dụng vốn của hai vợ chồng, từ bản thân, chính quyền (hướng dẫn đăng ký kinh doanh, kê  
bạn bè, người thân do không phải thế chấp tài sản, khai nộp thuế) 64,9%, kế đến là các tổ chức ngân  
bên cạnh đó là thủ tục giấy tờ…  
hàng, tín dụng 34,6%, thấp nhất là các nhà cung cấp  
Nghiên cứu đã đưa ra một số biến liên quan dịch vụ khác 9,6%. Việc trợ giúp từ chính quyền  
đến việc tiếp cận vay vốn. Qua số liệu khảo sát cho địa phương chiếm tỷ lệ cao bởi sự sẵn sàng trong  
thấy khả năng để được vay vốn từ các ngân hàng, việc hướng dẫn các quy trình thủ tục, hỗ trợ về mặt  
tổ chức tín dụng, các nữ doanh nhân phải có tài tư vấn pháp luật hay việc cung cấp thông tin thị  
sản thế chấp chiếm tỷ lệ cao nhất 67,8%, kế đến trường cho các doanh nghiệp.  
không cần thế chấp 24%, có lịch sử vay trả tốt đối  
Theo chủ doanh nghiệp kinh doanh vận tải  
với ngân hàng, tổ chức tín dụng 10,3%. Như vậy N.T.B.P, “Mình kinh doanh vận tải liên vận sang  
việc phải có tài sản thế chấp là một trong những Campuchia và Lào việc cấp các thủ tục thông quan  
rào cản lớn đối với các nữ doanh nhân.  
tương đối đơn giản, không có khó khăn trong thủ  
Những khó khăn doanh nghiệp gặp phải khi tục. Lúc đầu kinh doanh không rành về thủ tục cấp  
vay vốn, trong số 288 doanh nghiệp được hỏi thì có phép thì hỏi cơ quan phụ trách hướng dẫn” - (Phỏng  
158 nữ doanh nhân đã từng vay vốn cho rằng khó vấn sâu nữ doanh nghiệp kinh doanh vận tải).  
tiếp cận vốn là do lãi suất cho vay cao chiếm 49%,  
Lĩnh vực kinh doanh có mối liên hệ với sự trợ  
kế đến thủ tục vay quá phức tạp 24,8%. Sự đồng ý giúp từ các tổ chức, cụ thể đối với lĩnh vực thương  
ký tên của chồng 14%, bên cạnh đó các nữ doanh mại - dịch vụ nhận sự trợ giúp từ chính quyền  
nhân còn cho rằng mức cho vay thấp là 11,5%.  
53,8%, kế đến các ngân hàng, tổ chức tín dụng  
Theo chị NTTT, “Vay vốn ngân hàng chị 37,5%, tuy nhiên các nhà cung cấp dịch vụ chỉ có  
không nghĩ đến bởi mình kinh doanh bên lĩnh vực 9,2%. Với lĩnh vực công nghiệp - xây dựng nhận  
33  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
sự trợ giúp từ chính quyền 79,3%, kế đến các ngân  
hàng, tổ chức tín dụng 27,6%, bên cạnh đó các nhà  
cung cấp dịch vụ 12,1%. Với lĩnh vực nông lâm  
- thủy sản nhận sự trợ giúp từ chính quyền 60%,  
kế đến các ngân hàng, tổ chức tín dụng 40%, đặc  
biệt với lĩnh vực nông lâm - thủy sản không nhận  
được sự trợ giúp nào từ các nhà cung cấp dịch vụ  
khác. Nhìn chung, các lĩnh vực kinh doanh điều  
nhận được sự trợ giúp từ chính quyền cao, kế đến  
các tổ chức ngân hàng, tín dụng nguyên nhân do  
sự trợ giúp chỉ là việc hướng dẫn và các ngân hàng  
hay các tổ chức tín dụng kinh doanh chủ yếu do đó  
việc tiếp cận các nữ doanh nhân là những khách  
hàng để tư vấn (Bảng 3).  
Thông qua việc đánh giá của doanh nghiệp đến  
việc cung cấp dịch vụ, qua số liệu khảo sát cho thấy  
các doanh nghiệp hầu hết phải trả phí cho các loại  
dịch vụ 49,7%, bên cạnh đó một số doanh nghiệp  
cho rằng thỉnh thoảng được miễn phí từ các dịch  
vụ chiếm 39,6%. Hầu hết được miễn phí chiếm tỷ  
lệ thấp nhất 10,8%. Việc các doanh nghiệp phải trả  
nhiều phí cho các loại dịch vụ sẽ ảnh hưởng đến tính  
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường,  
làm tăng chi phí cho doanh nghiệp.  
3.5. Những nhu cầu của các nữ doanh nhân  
Các nữ doanh nhân có nhiều nhu cầu để cải  
thiện kinh doanh và bản thân các nữ doanh nhân  
là những người biết chính  
Bảng 3. Các tổ chức hỗ trợ và lĩnh vực kinh doanh  
Lĩnh vực kinh doanh  
xác những nhu cầu liên  
quan đến công việc sản  
Các tổ chức  
trợ giúp  
Thương mại -  
dịch vụ  
Công nghiệp - xây Nông lâm - thủy  
dựng sản  
Tỷ lệ % Tỷ lệ %  
xuất, kinh doanh của các nữ  
doanh nhân. Tuy nhiên, có  
một số nhu cầu chính đưa  
N
Tỷ lệ %  
N
N
Chính quyền  
70  
58,3  
46  
79,3  
6
60  
ra cho các doanh nghiệp  
lựa chọn. Nhu cầu hợp tác  
được các doanh nghiệp lựa  
Ngân hàng, tổ  
chức tín dụng  
45  
37,5  
16  
27,6  
4
40  
Các nhà cũng cấp  
dịch vụ khác  
chọn cao nhất 43,7%, nhu  
cầu về các yếu tố pháp lý  
11  
9,2  
7
12,1  
Tổng  
126  
105  
69  
119  
10  
100  
30,7%, bên cạnh đó nhu  
cầu liên quan đến tiếp thị  
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017.  
đối với các doanh nghiệp  
Các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp dưới nhiều  
hình thức, trong đó hỗ trợ về mặt tư vấn pháp  
luật 53,7%, kế đến loại hình tư vấn kinh doanh  
được các nữ doanh nhân chọn đứng thứ hai với  
tỷ lệ 25,1%, tư vấn tiếp thị và tư vấn về an toàn  
lao động (16% và 12,1%). Tuy nhiên, có một sự  
khác biệt loại hình hỗ trợ có tỷ lệ thấp như tư vấn  
thị trường xuất khẩu 7,4% và sở hữu trí tuệ 5,2%.  
Đây là những lĩnh vực hỗ trợ cho việc mở rộng  
thị trường đối với các doanh nghiệp thì nhận sự  
hỗ trợ thấp, đây là một nghịch lý trong quá trình  
hội nhập của các doanh nghiệp. Có lẽ phần lớn  
các doanh nghiệp do các nữ doanh nhân làm chủ  
là các doanh nghiệp nhỏ và thực tế nhiều hộ sản  
xuất, kinh doanh lên doanh nghiệp sản xuất, kinh  
doanh vẫn chỉ là thị trường trong tỉnh và các tỉnh  
29,5%, nhu cầu về tài chính 27,6%. Như vậy, những  
lĩnh vực doanh nghiệp được hỗ trợ trước đây chưa  
phù hợp với nhu cầu thực sự của doanh nghiệp.  
Đặc biệt nhu cầu hợp tác đang là xu thế hiện nay  
của các doanh nghiệp.  
Những nhu cầu của các nữ doanh nhân có sự  
liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bởi những lĩnh  
vực kinh doanh khác nhau dẫn đến những nhu cầu  
khác nhau. Cụ thể nhu cầu liên kết hợp tác, đối với  
lĩnh vực kinh doanh công nghiệp - xây dựng lựa  
chọn là 55,3%, kế đến là các lĩnh vực tài chính tiếp  
thị 30,3%, nhu cầu về các vấn đề pháp lý 27,6%.  
Đối với lĩnh vực thương mại - dịch vụ nhu cầu  
liên kết hợp tác chiếm tỷ lệ 39,4%, kế đến là nhu  
cầu về các vấn đề pháp lý 32,7% và nhu cầu tiếp  
lân cận điều này dẫn đến hỗ trợ về tư vấn thị thị 30,9%. Tuy nhiên đối với lĩnh vực nông lâm  
trường xuất khẩu thấp đồng thời chưa quan tâm  
nhiều đến sở hữu trí tuệ.  
- thủy sản nhu cầu cao nhất về quản lý 38,5%, kế  
đến là liên kết hợp tác 30,8%, thấp nhất là nhu  
34  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
cầu về tiếp thị 7,7%. Các lĩnh vực khác nhau dẫn toán, phải thuê thêm người, thêm giấy tờ trong  
đến có những nhu cầu khác nhau, Nếu như lĩnh khi đó trước đây hoạt động diễn ra do các thành  
vực thương mại - dịch vụ và công nghiệp - xây viên gia đình. Vậy nên doanh nghiệp chỉ thuận  
dựng có nhu cầu cao về liên kết hợp tác thì ngược lợi với những cơ sở kinh doanh trước đây muốn  
lại lĩnh vực nông lâm - thủy sản có nhu cầu cao xuất khẩu do những mặt hàng được định danh về  
về quản lý.  
Bên cạnh nhu cầu bên ngoài còn có những  
nhu cầu liên quan đến gia đình tác động đến hoạt  
pháp lý nhưng ở An Giang số doanh nghiệp này  
còn nhỏ về số lượng và quy mô.  
Khi xem xét các yếu tố gây trở ngại liên  
động sản xuất, kinh doanh. Qua số liệu khảo sát quan đến các loại hình doanh nghiệp có những  
cho thấy có đến 63,9% các nữ doanh nhân có sự đánh giá khác nhau. Yếu tố môi trường pháp  
trợ giúp từ phía gia đình. Hoạt động trợ giúp từ lý được các doanh nghiệp tư nhân xem xét là  
gia đình có nhiều hình thức từ tài chính đến động yếu tố gây trở ngại cao nhất 43,2%, tuy nhiên  
viên về mặt tinh thần cho các nữ doanh nhân. Tuy không có sự khác biệt nhiều về đánh giá cơ sở  
nhiên bên cạnh đó cũng có một tỷ lệ nữ doanh nhân hạ tầng giữa các loại hình doanh nghiệp tư nhân  
không có được sự hỗ trợ từ phía gia đình chiếm và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên  
36,1%. Có lẽ gia đình là những người gần gũi nhất. (27% và 28,3%). Yếu tố kinh tế phát triển chậm  
Điều này đặt ra trong việc tuyên truyền, phổ biến có sự khác biệt đáng kể về việc đánh giá giữa  
trách nhiệm quan tâm, động viên từ phía gia đình loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành  
khi các nữ doanh nhân kinh doanh là sự cần thiết. viên và loại hình doanh nghiệp tư nhân (24,2%  
so với 10,8%).  
Nhìn chung các doanh nghiệp còn gặp trở ngại  
Theo chị NTNP chủ cơ sở xay xát sinh năm  
1988 cho biết “Mình làm chủ doanh nghiệp tất cả  
là nhờ ba mẹ từ vốn kinh doanh, hỏi ý kiến cũng về môi trường pháp lý (các văn bản liên quan đến  
từ ba, chăm sóc con thì mẹ bởi mình đã ly hôn nên luật doanh nghiệp) cụ thể đối với từng loại hình  
không nhờ ai khác được” (Phỏng vấn sâu nữ doanh doanh nghiệp. Vì vậy, cần có những cải thiện về  
nhân kinh doanh xay xát).  
luật cho các doanh nghiệp.  
4. Kết luận  
3.6. Cácyếutốgâytrởngạichodoanhnghiệp  
Nếu như các doanh nghiệp do nữ giới làm chủ  
Các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hiện  
có sự trợ giúp từ chính quyền liên quan đến hoạt nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động  
động kinh doanh như hướng dẫn quy trình đăng ký sản xuất, kinh doanh. Do các nữ doanh nhân  
kinh doanh, quy trình kê khai thuế… và thuận lợi chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như lựa chọn  
với các doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, trong người tham vấn trong kinh doanh, vốn, trình độ  
hoạt động sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp học vấn… Trong thế kỷ XXI phụ nữ đã được giải  
nữ gặp một số trở ngại trong đó môi trường pháp phóng nhiều bởi công việc nhà tuy nhiên thời gian  
lý chiếm tỷ lệ cao nhất 34,3% và yếu tố cơ sở hạ dành cho công việc nhà, chăm sóc cho con cái vẫn  
tầng là 28,5% là những nguyên nhân gây trở ngại là gánh nặng đối với phụ nữ kinh doanh trong đó  
cho doanh nghiệp, bên cạnh đó kinh tế phát triển các lĩnh vực phụ nữ kinh doanh tác động nhiều  
chậm 20,4%. Thực tế môi trường pháp lý bao gồm như công nghiệp - xây dựng, nông lâm - thủy sản.  
các văn bản luật còn nhiều chồng chéo dẫn đến Các nữ doanh nhân còn hạn chế trong việc tiếp  
sự hạn chế cho doanh nghiệp bởi địa phương chỉ cận nguồn vốn vay do việc đứng tên chủ sở hữu,  
có thể nắm vững văn bản để hướng dẫn, nhưng việc định giá tài sản của các ngân hàng và các văn  
không thể ban hành văn bản luật chung liên quan bản luật liên quan đến kinh doanh còn chưa tạo ra  
đến doanh nghiệp. An Giang là tỉnh nông nghiệp sức bật. Bên cạnh đó các nữ doanh nhân cũng cần  
số lượng doanh nghiệp quy mô nhỏ, chủ yếu là các nhu cầu như về hợp tác, sự trợ giúp từ phía  
cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp phần lớn từ các gia đình về vật chất cũng như tinh thần khi tham  
cơ sở chuyển lên doanh nghiệp họ phải thêm kế gia kinh doanh./.  
35  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
Tài liệu tham khảo  
[1].Abdi Ibrahim Farah (2014), Factors influencing women participation in entrepreneurial activities  
in Mandera township, Mandera Central Division, Kenya. (A research project for the degree of master  
of arts, School of Continuing and Distance Education, University of Nairobi).  
[2]. Aimée Hampel-Milagrosa, Phạm Văn Hồng, Nguyễn Anh Quốc, Nguyễn Trí Thanh (2010),  
Những trở ngại xét từ góc độ giới đối với doanh nhân nữ Việt Nam, Báo cáo kỹ thuật theo yêu cầu của  
Chương trình chung giữa Chính phủ và Liên hiệp quốc về Bình đẳng giới, www.genic.molisa.gov.vn  
[3]. Nguyễn Vũ Hùng và Lê Quang Cảnh (2016), Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp nhỏ và vừa  
do phụ nữ làm chủ tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách, Hiệp hội nữ doanh nghiệp nhỏ  
và vừa thành phố Hà Nội, Dự án Sáng kiến hỗ trợ khu vực tư nhân vùng Mê Kông và Ngân hàng Phát  
triển Châu Á.  
[4]. Claudia Muller (2006), Factors affecting women entrepreneurs in establishing and expanding  
their businesses in NAD province, Jakarta: International Labour Office.  
[5]. Joanna Romero, Neil Ramsden, Rubin Japhta và Huỳnh Mai Hương (2017), Doanh nghiệp do  
phụ nữ làm chủ tại Việt Nam: Nhận thức và tiềm năng. IFC, Chương trình Goldman Sách 10.000 phụ  
nữ và Quỹ bảo vệ Bình đẳng giới, tr. 29 - 30.  
FACTORS AFFECTING BUSINESS AND PRODUCTION OPERATION OF  
WOMEN- OWNED ENTREPRENEURS  
(A case study of An Giang province)  
Summary  
This paper is based on the thesis titled “Factors affecting business and production operation of  
women owned entrepreneur in An Giang Province” in 2017. The study methods were both quantitative  
and qualitive. The results show that female entrepreneurs opting for consultions relied on their eduction  
levels and capitals. They were often affected by houseworks and had difficulty accessing loans from banks  
and credit institutions. The support of the local government was highly appreciated but only confined to  
guidance and advice, and the legal environment was still limited. However, this study also shows that  
female entrepreneurs did confirm their ownerships.  
Keywords: Capital, women - owned enterprise, female entrepreneur.  
Ngày nhận bài: 13/11/2018; Ngày nhận lại: 12/2/2019; Ngày duyệt đăng: 16/10/2019.  
36  
pdf 7 trang Thùy Anh 11900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ (nghiên cứu trường hợp tỉnh An Giang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_hoat_dong_san_xuat_kinh_doanh_cua_d.pdf