Đánh giá thang đo hiệu quả cảm nhận trong việc ra quyết định nghề nghiệp trong bối cảnh Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐÁNH GIÁ THANG ĐO HIỆU QUẢ CẢM NHẬN TRONG VIỆC RA QUYẾT
ĐỊNH NGHỀ NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM
EVALUATION OF CAREER DECISION MAKING SELF EFFICACY IN VIETNAM
ThS. Trần Thị Hằng
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Phát triển nghề nghiệp cá nhân từ lâu đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của mỗi người trong xã hội, và
của toàn xã hội. Nhiều yếu tố tâm lí (sự thông minh, tính cách, khả năng cân bằng) đã được nhận diện như là
các biến ảnh hưởng quan trọng đến qui trình ra quyết định nghề nghiệp. Thuyết hiệu quả cảm nhận của
Bandura (1977) đã được kết nối với sự phát triển nghề nghiệp. Nhiều nhà khoa học đã phát triển các đo
lường về hiệu quả cá nhân trong lĩnh vực phát triển nghề nghiệp. Nghiên cứu này tập trung đánh giá tính tin
cậy và khám phá các thành tố của thang đo hiệu quả cảm nhận trong việc ra quyết định nghề nghiệp. Kết
quả của nghiên cứu định lượng cho thấy thang đo này thể hiện tính tin cậy cao trong bối cảnh của Việt Nam.
Tuy nhiên, các nhân tố của thang đo được đề xuất bởi nghiên cứu ban đầu chưa được kiểm chứng trong
nghiên cứu này.
Từ khóa: Hiệu quả cảm nhận; quyết định nghề nghiệp; tính tin cậy; nhân tố; Việt Nam.
ABSTRACT
Individual career development has long raise a lot of concern of individual in society and the whole society
as well. Several psychological factors (intelligence, personality) has been recognized as important influences
of career decision making process. Self – efficacy theory advocated by Bandura (1977) has been linked to
career development theory. Some scholars have developed self – efficacy measures in the area of career
development. This study focus on evaluating reliability and exploring components of career decision making
self – efficacy. Findings from the study reveal high reliability of the scale. Unfortunately, this study fails to
confirm sub-components of the scale explored in previous studies.
Keywords: self – efficacy; career decision; reliability; components; Việt Nam.
đến quá trình phát triển sự hiểu biết phức tạp
về nghề nghiệp (Niles & Sowa, 1992).
1. Giới thiệu
1.1. Sự hiệu quả nghề nghiệp
Niềm tin vào sự hiệu quả nghề nghiệp có
thể giúp tránh hoặc tạo động lực cho các hành
vi nghề nghiệp (Betz & Taylor, 2001). Tính
hiệu quả nghề nghiệp thấp có thể khiến cho
con người trì hoãn việc ra quyết định nghề
nghiệp, hoặc gây trở ngại cho họ trong việc
làm theo quyết định nào đó khi quyết định đó
đã được đưa ra (Betz,1992). Thậm chí nếu
niềm tin đối với tính hiệu quả nghề nghiệp thấp
là dựa trên việc đánh giá thực tế và chính xác
của năng lực cá nhân hoặc kinh nghệm từ quá
khứ, điều này vẫn thường gây ra nhận thức
kém về tiềm năng cá nhân để theo đuổi các
nghề nghiệp khác nhau một cách thành công
(Betz & Hackett, 1981). Ngoài ra, những người
có tính hiệu quả nghề nghiệp cao thường có xu
Vào năm 1981, Hackett và Betz đã phát
triển một học thuyết về sự hiệu quả nghề
nghiệp bằng cách vận dụng khái niệm của tính
hiệu quả vào các hành vi liên quan đến nghề
nghiệp. Một nghề nghiệp có thể được định
nghĩa như là sự kết hợp và nối tiếp các vai trò
công việc mà một người được trải nghiệm
trong suốt cuộc đời của họ (Super, 1980). Mặt
khác, sự hiệu quả nghề nghiệp còn có thể được
định nghĩa như là cách nhìn nhận của con
người về năng lực để thực hiện các hành vi
nghề nghiệp liên quan đến phát triển, lựa chọn
và điều chỉnh nghề nghiệp (Anderson & Betz,
2001; Niles & Sowa, 1992). Sự hiệu quả nghề
nghiệp cung cấp thông tin quan trọng liên quan
278
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
hướng hình dung về viễn cảnh thành công của
(1961,1965) trong mô hình của ông ấy về sự
trưởng thành nghề nghiệp để đại diện cho các
lĩnh vực của các hành vi liên quan đến quá
trình ra quyết định nghề nghiệp. Mỗi năng lực
trong số năm năng lực (đánh giá giá bản thân
một cách chính xác, thu thậm thông tin nghề
nghiệp, sự lựa chọn mục tiêu, hoạch định cho
tương lai và giải quyết vấn đề) đã được đại
diện trong CDMSES. Mười nhiệm vụ được
đánh giá là chính xác và phản ánh đầy đủ mỗi
phạm trù năng lực đã được đưa vào trong thang
đo.
bản thân và tìm kiếm sự hỗ trợ và tác động tích
cực cho tham vọng nghề nghiệp của họ
(Bandura, 1993). Tóm lại, tính hiệu quả nghề
nghiệp càng cao, mục tiêu và thử thách nghề
nghiệp con người thiết lập sẽ càng lớn và cam
kết của họ đối với những điều đó sẽ càng mạnh
mẽ (Bandura, 1993, 1997). Như kết quả đó,
niềm tin về tính hiệu quả nghề nghiệp thấp nên
được thử thách và cải thiện, trong khi tính hiệu
lực nghề nghiệp cao nên được hỗ trợ và củng
cố.
Thêm vào đó, tính hiệu quả nghề nghiệp
được xem như là điều tất yếu để đạt được thành
tích cao trong công việc, và chi phối đặc biệt
đến hành vi làm việc, bất kể kiến thức và kỹ
năng (Bandura, 1978, 1986; Dawes, et al.;
Giles & Rea, 1999; Niles & Sowa, 1992).
Nesdale and Pinter (2000) phát hiện ra rằng đối
với các nền văn hóa đa dạng, tính hiệu quả của
nghề nghiệp vẫn là yếu tố chẩn đoán quan
trọng về năng lực của cá nhân trong việc tìm
kiếm công việc một cách liên tục. Tính hiệu
quả công việc cũng đã được tìm thấy như là
một trong những yếu tố dự đoán tốt nhất về sự
khởi đầu của các hành vi nghề nghiệp, chẳng
hạn như tìm kiếm công việc (Niles & Sowa,
1992). Nghiên cứu trong quá khứ đã phát hiện
ra rằng niềm tin vào tính hiệu quả nghề nghiệp
thực sự có ảnh hưởng rất mạnh đến việc khảo
sát công việc và kết quả làm việc.
Sự kỳ vọng về tính hiệu quả cho từng
nhiệm vụ của việc ra quyết định nghề nghiệp
đã được đánh giá bằng cách hỏi các đáp viên
để chỉ ra sự tự tin của họ đối với năng lực của
mình để hoàn thành mỗi nhiệm vụ một cách
thành công. Các xếp hạng về mức độ tự tin đã
cho ra một thang đo 10 điểm xếp hạng từ tự
tin hoàn toàn (9) đến không tự tin (0). Tổng
điểm CDMSE được tính toán bằng cách lấy
tổng xếp hạng tự tin đối với tất cả 50 hạng
mục. Ban đầu, Taylor và Betz (1983) cũng đã
đưa ra điểm thành phần cho mỗi phạm vi năng
lực lựa chọn nghề nghiệp.
Taylor and Betz (1983) đã đánh giá mối
quan hệ lý thuyết giữa CDMSE và sự do dự
nghề nghiệp bởi 346 sinh viên đại học (128
nam và 218 nữ), chủ yếu là sinh viên năm đầu
(79%) và sinh viên năm 2 (16%), hoàn thành
CDMSE và thang đo quyết định nghề nghiệp
(CDS, Osipow, Carney, Winer, Yanico,
&Koschier, 1980) trong một thứ tự đối trọng.
Taylor và Betz cũng đánh giá tính hiệu lực
khác biệt của CDMSES bằng cách đo lường
mối quan hệ giữa số điểm của những người
tham gia trên CDMSES và thái độ học tập của
họ (như là đo lường điểm ngôn ngữ với điểm
toán trong bài kiểm tra SAT và ACT). Độ tin
cậy của dữ liệu bao gồm sự đánh giá về độ tin
cậy nhất quán, tương quan của điểm số ở các
hạng mục và tổng điểm, hệ số alphas cho mỗi 5
thang đo thành phần.
1.2. Xây dựng và phát triển thang đo hiệu quả
cảm nhận trong việc ra quyết định nghề
nghiệp
1.2.1. Thang đo ban đầu.
Mặc dù Hackett and Betz (1981) bước đầu
vận dụng lý thuyết của Bandura (1977) về tính
hiệu quả của phạm vi phát triển nghề nghiệp,
Taylor và Betz (1983) là những người đầu tiên
phát triển một thang đo tiêu chuẩn hóa cho tính
hiệu quả được thiết kế để đánh giá sự tự tin cá
nhân trong khả năng của họ đối với việc ra
quyết định cũng như thực hiện nhiệm vụ.
Taylor và Betz (1983) đã lựa chọn các hành vi
biểu thị 5 năng lực lựa chọn nghề nghiệp đã
được mặc nhiên công nhận bởi Crites
Kết quả khảo sát (Taylor & Betz, 1983)
cung cấp bằng chứng liên quan đến cấu trúc
của CDMSES. Cường độ sự kỳ vọng vào
279
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CDMSE của sinh viên liên quan đáng kể đến
1.2.2. Ưu điểm và khuyết điểm của thang đo
cấp độ tổng thể của việc do dự nghề nghiệp,
với hệ số tương quan 4=-40 giữa điểm số
CDMSES và CDS. Taylor và Betz(1983) đã
khám phá ra rằng tổng điểm của CDMSES có
liên quan một cách đặc biệt (r=-44) với các
thành phần của việc do dự nghề nghiêp được
mô tả như là sự thiếu cấu trúc và thiếu tự tin
trong việc đưa ra quyết định nghề nghiệp. Các
cá nhân thiếu tự tin vào năng lực để hoàn thành
nhiệm vụ và các hành vi được yêu cầu cho việc
đưa ra các quyết định nghề nghiệp hiệu quả có
nhiều khả năng thông báo là họ chưa quyết
định học nghề.
Ưu điểm của CDMSES bao gồm sự thật là
thang đo này dựa trên lý thuyết nhận thức xã
hội được định nghĩa một cách rõ ràng. Việc
xây dựng và phát triển tâm lý của CDMSES
được trình bày một cách rõ ràng trong tài liệu,
đính kèm với một số điều tra bổ sung giải
quyết độ tin cậy và tính hiệu lực của thang đo.
Mặc dù có bằng chứng chính xác ủng hộ việc
tiếc tục sử dụng thang đo trong nghiên cứu
phát triển nghề nghiệp, các câu hỏi quan trọng
liên quan đến những phẩm chất tâm lý của
thang đo vẫn chưa được trả lời.
Có lẽ điểm yếu nghiêm trọng nhất của
thang đo là thực tế rằng các nghiên cứu về độ
tin cậy và tính hiệu lực được thực hiện đến nay
đã có sự tham gia giải quyết của sinh viên đại
học. Trừ khi tác giả của thang đo định hướng
sử dụng đo lường chỉ với đối tượng sinh viên
đại học, các cuộc khảo sát bổ sung đánh giá
tiêu chuẩn tâm lý của thang đo đối với đối
tượng đa dạng sinh viên là cần thiết. Phần lớn
các khảo sát của CDMSES bị thất bại trong
việc đưa ra thông tin liên quan đến chủng tộc
người tham gia. Tiếp tục với các bằng chứng
rằng các yếu tố văn hóa xã hội đóng một vai
trò quan trọng trong việc phát triển nghề
nghiệp, việc cung cấp thông tin theo chủng tộc
liên quan đến hạn chế của thang đo là rất quan
trọng. Các cuộc điều tra bổ sung về kiểm tra-
kiểm tra lại độ tin cậy là rất cần thiết, đi kèm
với nghiên cứu đnsh giá giá trị của CDMSES
như là một dấu hiệu của sự tham gia thực tế
vào việc đo lường hoạt động khảo sát nghề
nghiệp. Cuối cùng, mặc dù tính hiệu lực ước
chừng cho thang đo nhìn chung là đáng chú ý,
tính hiệu lực của tiêu chí dự đoán vẫn chưa
được chứng minh. Nghiên cứu theo chiều dọc
được thiết kế để giải quyết việc sử dụng dự
đoán của CDMSES sẽ hữu dụng trong việc xác
định tính hiệu lực của thang đo.
Sự khác biệt về tính hiệu lực của CDMSES
được chỉ ra bởi các mối quan hệ giữa các kỳ
vọng CDMSE và cấp độ năng lực với độ lớn
rất nhỏ và nói chung là không có ý nghĩa. Mối
quan hệ giữa tổng điểm CDMSES và điểm
ngôn ngữ cùng toán trong bài kiểm tra SAT và
điểm thành phần của tiếng Anh và toán trong
kỳ thi ACT là tương ứng .15 và -.02. Mối quan
hệ giữa tổng điểm CDMSES và giới tính của
người tham gia cũng không có ý nghĩa. Phân
tích hồi quy từng bước sử dụng điểm số do dự
nghề nghiệp như biến tiêu chuẩn và điểm số
CDMSES, năng lực ngôn ngữ, và năng lực
toán học như là biến dự đoán chỉ ra rằng sự
đóng góp mạnh mẽ nhất đến việc dự đoán sự
do dự nghề nghiệp là tổng điểm số CDMSES.
Kết quả của nghiên cứu này (Taylor &
Betz, 1983) cũng chỉ ra độ tin cậy nhất quán
của CDMSES, với hệ số alphas tiêu chuẩn của
5 thang đo thành phần đã được báo cáo và xếp
hạng giữa .86 và .89. Taylor và Betz (1983) đã
tiến hành phân tích nhân tố cho CDMSES và
kết luận rằng cấu trúc nhân tố được đề xuất
(dựa trên phạm vi năng lực 5 sự lựa chọn nghề
nghiệp nghi vấn). Nhiều hạng mục chỉ gồm 1
nhân tố có tầm quan trọng tương đối cao hơn
một vài hạng mục chứa nhiều nhân tố. Taylor
và Betz đã kết luận rằng CDMSES có thể được
xem xét một cách thích hợp hơn như là công cụ
đánh giá tính hiệu quả kỳ vọng đối với các lĩnh
vực thông thường của nhiệm vụ và hành vi
trong việc ra quyết định nghề nghiệp.
Mặc dù có những hạn chế, CDMSES là
một nỗ lực đáng ghi nhận để đo lường trực tiếp
vai trò của tính hiệu quả của kỳ vọng trong quá
trình đưa ra quyết định nghề nghiệp. Khảo sát
280
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
tiếp tục thang đo chất lượng tâm lý là điều
được khuyến cáo.
nghiệp. Năm năng lực lựa chọn nghề nghiệp
(đánh giá bản thân chính xác, thu thập thông
tin nghề nghiệp, thiết lập mục tiêu, lập kế
hoạch cho tương lai và giải quyết vấn đề) và
mười nhiệm vụ cụ thể gắn liền với mỗi năng
lực này được thể hiện trong thang đo CDMSE
đầy đủ. Đáp viên được yêu cầu đánh giá sự tự
tin của họ với 50 nhiệm vụ với thang 10 điểm
(0: không tự tin đến 9: hoàn toàn tự tin). Tuy
nhiên, nghiên cứu này sử dụng phiên bản rút
gọn của thang đo CDMSE được phát triển bởi
Betz et al (2005) với 25 mục hỏi nhóm vào
trong 5 nhóm nhỏ. Thang đo năm điểm, từ 1
(không tự tin) đến 5 (hoàn toàn tự tin) được
gắn liền với phiên bản rút gọn này.
1.2.3. Mô hình thang đo rút gọn
CDSE-SF là một biện pháp đo lường báo
cáo cho 25 hạng mục của sự hiệu quả trong
phạm vi đưa ra quyết định. Nó bao gồm 5
thang đo thành phần: 1) Nhìn nhận chính xác
bản thân, 2) Thu thậm thông tin nghề nghiệp,
3) Lựa chọn mục tiêu, 4) Hoạch định cho
tương lai, và 5) giải quyết vấn đề.
Người tham gia xếp hạng độ tự tin của họ
để hoàn thành các nhiệm vụ đa dạng liên quan
đến phạm vi ra quyết định đã dùng thang đo 5
điểm, bắt đầu từ 1 (hoàn toàn không tự tin) đến
5(hoàn toàn tự tin). Điểm số cao hơn phản ánh
sự hiệu quả của việc đưa ra quyết định nghề
nghiệp cao hơn. Hạng mục mẫu bao gồm “
chọn một nghề nghiệp trong danh sách những
nghề nghiệp tiềm năng bạn xem xét” và “thống
kê những gì bạn sẵn sàng và không sẵn sàng
cống hiến để đạt mục tiêu nghề nghiệp của
mình”. Bởi vì một hạng mục của CDSE-SF sử
dụng ngôn ngữ trực tiếp theo người xem xét và
đăng ký vào trường đại học, điều tra viên thay
thế từ “ngành học” với từ “nghề nghiệp”. Hệ số
alpha của CDSE-SF xếp từ .73 đến .83 cho
thang đo thành phần và .94 cho toàn bộ điểm
số (Betz, Klein, & Taylor, 1996). CDSE-SF
liên quan mạnh mẽ đến thang đo lường được
thiết lập tốt cho việc do dự nghề nghiệp bao
gồm Thang đo quyết định nghề nghiệp (CDS;
Osipow, 1987) và Tình trạng học nghề của tôi
(MVS; Holland, Daiger, & Power, 1980; Betz
et al., 1996).
Trước khi thực hiện khảo sát chính thức,
test thử đã được tiến hành với các đáp viên trực
tuyến để giảm lỗi nghiên cứu và tăng tính tin
cậy của kết quả. Ngoài ra, việc test thử còn
giúp kiểm tra cách hướng dẫn đáp viên có rõ
ràng, các câu hỏi có mơ hồ hay không, có dễ
hiểu hay không và bảng câu hỏi được trình bày
rõ ràng và thu hút hay không. Kết quả, hai câu
hỏi của phiên bản rút gọn của thang đo
CDMSE đã bị loại ra để tránh sự mơ hồ và
trùng lặp giữa các câu hỏi.
Hệ số Cronbach Alpha và Phân tích nhân
tố khám phá là hai kĩ thuật phân tích chính
được sử dụng trong nghiên cứu này. Hệ số đo
lường Cronbach Alpha được tính toán trước
tiên cho các biến số của mỗi thành phần. Trong
kiểm định Cronbach Alpha, các biến quan sát
có hệ số tương quan biến – tổng (item-total
correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và tiêu
chuẩn chọn thang đo khi hệ số Cronbach Alpha
≥ 0,6 nhưng tốt nhất là lớn hơn 0,7 (Cronbach,
1951; Nunnally và Bernstein, 1994). Tuy nhiên
cũng cần lưu ý rằng nếu Cronbach Alpha quá
cao (> 0,95) thì có khả năng xuất hiện biến
quan sát thừa (Redundant items) ở trong thang
đo. Phân tích nhân tố khám phá là một phương
pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một
tập gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn
nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít
2. Phương pháp
Trong nghiên cứu này, khảo sát được sử
dụng để có thông tin khám phá và mô tả về sự
hiệu quả nghề nghiệp. Đối tượng nghiên cứu là
hơn 450 nhân viên trong độ tuổi 20 – 30. Qui
mô mẫu này được xác định dựa trên đề xuất
của Green (1991) và Miles và Shevlin (2001).
Câu hỏi khảo sát được phát triển từ thang đo đo
lường sự hiệu quả trong việc ra quyết định
nghề nghiệp (CDMSE). Thang đo này ban đầu
được phát triển bởi Taylor và Betz (1983) là
một đo lường tiêu chuẩn về sự hiệu quả nghề
281
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa
(Ensuring Practical Significance). Factor
loading > 0.3 được xem là đạt được mức tối
thiểu, Factor loading > 0.4 được xem là quan
trọng, > 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn.
Hair et al. (1998) cũng nói thêm: nếu chọn tiêu
chuẩn Factor loading > 0.3 thì cỡ mẫu ít nhất
phải là 300, nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì nên
chọn tiêu chuẩn Factor loading > 0.55, nếu cỡ
mẫu khoảng 50 thì Factor loading phải > 0.75.
Với cỡ mẫu n = 300 như nghiên cứu này thì
tiêu chuẩn Factor loading > 0.3 được xem là có
ý nghĩa, tuy nhiên tác giả vẫn lựa chọn tiêu
chuẩn Factor loading > 0.5 để đảm bảo mức ý
nghĩa thiết thực của phân tích EFA. Bên cạnh
đó, tác giả cũng đánh giá độ tin cậy của các
biến quan sát trong mô hình thông qua hệ số
Communalities và độ tin cậy của thang đo
thông qua hệ số tổng phương sai trích được
(variance extracted). Theo Hair (1998), hệ số
Communalities của các biến trong mô hình
phải lớn hơn 0.4. Cũng theo Hair (1998),
“phương sai trích (Variance Extracted) của mỗi
khái niệm nên vượt quá 0,5” và phương sai
trích cũng là một chỉ tiêu đo lường độ tin cậy.
Nó phản ánh lượng biến thiên chung của các
biến quan sát được tính toán bởi biến tiềm ẩn.
đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến
ban đầu (Hair et al., 1998). Số lượng nhân tố
được xác định dựa trên chỉ số Eigenvalue, chỉ
số này đại diện cho phần biến thiên được giải
thích bởi mỗi nhân tố. Theo tiêu chuẩn Kaiser,
những nhân tố có chỉ số Eigenvalue nhỏ hơn 1
sẽ bị loại khỏi mô hình (Garson, 2008). Phân
tích nhân tố khám phá EFA được thực hiện tiếp
theo để kiểm định các biến số cấu thành nên
các nhân tố (thành phần) và các biến số đơn lẻ
đại diện cho các nhân tố (thành phần) đó có
phù hợp với mô hình lý thuyết đưa ra ban đầu
hay không. Phân tích nhân tố sử dụng phương
pháp trích Principal Components với phép
xoay Varimax được thực hiện cho tất cả các
biến số đo lường để đảm bảo mức độ tương
quan và sự phân biệt rõ ràng giữa các nhân tố
cho phân tích CFA. Theo Gerbing và Anderson
(1988), phương pháp trích Principal
Components với phép xoay Varimax được sử
dụng nhiều nhất, dùng để tối đa hoá phương sai
của bình phương trọng số của nhân tố đối với
tất cả các biến số trong ma trận yếu tố. Điều
này giúp tách các biến số ban đầu bằng các
nhân
tố
được
tìm
thấy.
Tiếp theo, phân tích chỉ số KMO, kiểm định
Bartlett và tiêu chuẩn hệ số truyền tải (Factor
Loading) được xem xét trong nghiên cứu.
KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích
hợp của EFA, 0.5 ≤ KMO ≤ 1 thì phân tích
nhân tố là thích hợp. Kiểm định Bartlett xem
xét giả thuyết về độ tương quan giữa các biến
quan sát bằng không trong tổng thể. Nếu kiểm
định này có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05) thì
các biến quan sát có tương quan với nhau trong
tổng thể (Gerbing và Anderson, 1988). Theo
Hair et al. (1998), Factor loading là chỉ tiêu để
đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA
3. Kết quả
Khảo sát đã tiến hành với 478 đáp viên
(183 nam và 295 nữ) với trình độ đại học (429
đáp viên) và sau đại học (46 đáp viên). Các đáp
viên làm việc trong các tổ chức nhà nước
(186), công ty tư nhân (269) và công ty có vốn
đầu tư nước ngoài (23). Tín tin cậy nội bộ của
thang đo
Để kiểm tra tính tinh cậy, các hệ số nhất
quán nội bộ được tính cho thang đo CDMSE.
Hệ số Cronbach’s Alpha chạy từ .865 đến .875
và được tóm tắt ở bảng 1.
282
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Bảng 1 Tính tin cậy của thang đo
Cronbach's
Alpha
.870
.868
.872
.865
.868
.871
Lựa chọn một chuyên ngành trong số các chuyên ngành yêu thích để học
Xác định các bước cần thực hiện để hoàn thành chuyên ngành học một cách thành công
Thay đổi chuyên ngành nếu cảm thấy chuyên ngành đang theo học là không phù hợp
Xác định công việc lí tưởng cho mình
Xác định giá trị lớn nhất trong nghề nghiệp của mình
Xác định phong cách sống của mình
Nhận thức rõ điều gì anh chị có thể và không thể hi sinh để có thể đạt được các mục tiêu
nghề nghiệp
.870
.870
.867
.870
.875
Đánh giá một cách chính xác khả năng của mình
Lựa chọn một nghề nghiệp trong số các nghề nghiệp yêu thích để theo đuổi
Lựa chọn một nghề sẽ phù hợp với phong cách sống
Đưa ra quyết định về sự nghiệp và không lo lắng liệu quyết định đó đúng hay sai
Kiên trì thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp hoặc học tập ngay cả khi cảm thấy thất
vọng
.872
.871
.872
.868
Thay đổi nghề nghiệp nếu không thỏa mãn với nghề nghiệp mà anh chị đã lựa chọn
Sử dụng Internet để tìm thông tin về nghề nghiệp mà mình quan tâm
Nói chuyện với một người đang làm việc trong lĩnh vực mà anh chị quan tâm
Nhận diện các nhà tuyển dụng, các công ty và các tổ chức liên quan đến việc lựa chọn
nghề nghiệp của anh chị
.869
.869
.871
Chuẩn bị một sơ yếu lí lịch tốt
Tìm hiểu về thu nhập bình quân hàng năm của những người làm nghề nghiệp mà mình
quan tâm
.871
.867
Tìm hiểu thông tin về các trường đào tạo sau đại học
Tham gia qui trình phỏng vấn xin việc một cách thành công
Nhận diện các nghề nghiệp hoặc chuyên ngành thay thế phù hợp nếu không đạt được
lựa chọn đầu tiên.
.870
.866
.870
Lập kế hoạch để đạt được các mục tiêu trong vòng 5 năm tới
Tìm hiểu về các xu hướng nghề nghiệp trong vòng 10 năm tới
283
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Phân tích nhân tố: 3 nhân tố đã được nhận
diện trong phân tích nhân tố với thang đo
CDMSE: nhân tố 1 – tìm kiếm các cơ hội nghề
nghiệp phù hợp (27.6%), tự đánh giá (7.7%),
và ra quyết định nghề nghiệp (5.8%)
Bảng 2
Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
.682
Lựa chọn một chuyên ngành trong số các chuyên ngành yêu thích để học
Xác định các bước cần thực hiện để hoàn thành chuyên ngành học một cách thành
công
.676
Thay đổi chuyên ngành nếu cảm thấy chuyên ngành đang theo học là không phù hợp
Xác định công việc lí tưởng cho mình
.594
.704
.663
Xác định giá trị lớn nhất trong nghề nghiệp của mình
Xác định phong cách sống của mình
Nhận thức rõ điều gì anh chị có thể và không thể hi sinh để có thể đạt được các mục
tiêu nghề nghiệp
Đánh giá một cách chính xác khả năng của mình
Lựa chọn một nghề nghiệp trong số các nghề nghiệp yêu thích để theo đuổi
Lựa chọn một nghề sẽ phù hợp với phong cách sống
.664
.554
Đưa ra quyết định về sự nghiệp và không lo lắng liệu quyết định đó đúng hay sai
Kiên trì thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp hoặc học tập ngay cả khi cảm thấy thất
vọng
Thay đổi nghề nghiệp nếu không thỏa mãn với nghề nghiệp mà anh chị đã lựa chọn
Sử dụng Internet để tìm thông tin về nghề nghiệp mà mình quan tâm
.623
.576
.620
.653
Nói chuyện với một người đang làm việc trong lĩnh vực mà anh chị quan tâm
Nhận diện các nhà tuyển dụng, các công ty và các tổ chức liên quan đến việc lựa chọn
nghề nghiệp của anh chị
Chuẩn bị một sơ yếu lí lịch tốt
Tìm hiểu về thu nhập bình quân hàng năm của những người làm nghề nghiệp mà mình
quan tâm
.600
.533
Tìm hiểu thông tin về các trường đào tạo sau đại học
Tham gia qui trình phỏng vấn xin việc một cách thành công
Nhận diện các nghề nghiệp hoặc chuyên ngành thay thế phù hợp nếu không đạt được
lựa chọn đầu tiên.
.656
.570
Lập kế hoạch để đạt được các mục tiêu trong vòng 5 năm tới
Tìm hiểu về các xu hướng nghề nghiệp trong vòng 10 năm tới
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a. Rotation converged in 5 iterations.
CDMSE phản ánh ba nhân tố có thể giải thích
được chứ không phải năm nhân tố được nhận
diện trong các nghiên cứu trước đó (Betz et al,
1996; Betz & Voyten, 1997; Gloria & Hird,
1999) . Giải thích cho điều này, Creed al al
(2002) cho rằng một số mục hỏi trong thang đo
là dư thừa và một đo lường kĩ lưỡng hơn thang
đo hiện tại nên được thực hiện.
4. Thảo luận
Nhìn từ phương diện tích cực, nghiên cứu
này có thể khẳng định rằng phiên bản rút gọn
của thang đo DCMSE có tính tin cậy nội bộ
cao. Tính tin cậy nội bộ cho tất cả các khoản
mục hỏi trong thang đo đều cao hơn. 865. Tuy
nhiên, kết quả của phân tích nhân tốt khám phá
cho thấy sự không đồng nhất với 5 nhân tố
được nhận diện trong các nghiên cứu về thang
đo này trước đó. Bằng chứng từ nghiên cứu
hiện tại cho thấy phiên bản rút gọn của
5. Kết luận
Nghiên cứu đã trả lời được câu hỏi về tính
hiệu lực của thang đo CDMSE trong bối cảnh
284
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
của Viêt Nam. Sự khác biệt về các nhóm thành
Với tính tin cậy cao được ghi nhận, các
nghiên cứu tương lai có thể sử dụng thang đo
CDMSE để nghiên cứu sâu hơn về tác động
của hiệu quả cảm nhận trong việc ra quyết định
nghề nghiệp lên các yếu tố như sự thỏa mãn
trong công việc, hành vi công việc và sự thỏa
mãn nhân viên…
tố của thang đo giữa nghiên cứu này và các
nghiên cứu trước đó đề xuất đặt ra vấn đề về
ảnh hưởng của bối cảnh đến việc cảm nhận về
thang đo. Ngoài ra, những hạn chế của khảo sát
như khả năng tiếp cận đáp viên, chất lượng câu
trả lời của đáp viên, chất lượng câu hỏi được
Việt hóa, ... có thể tạo nên sự khác biệt này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anderson, S. L., & Betz, N. E. (2001), “Sources of social self-efficacy expectations: Their
measurement and relation to career development”, Journal of Vocational Behavior, 58(1), 98-
117.
[2] Bandura, A. (1978). Self-efficacy: Toward a unifying theory of behavioral change.Advances
in Behaviour Research and Therapy, 1(4), 139-161.
[3] Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control. Worth Publishers.
[4] Betz, N. E., Klein, K. L., & Taylor, K. M. (1996), Evaluation of a short form of the career
decision-making self-efficacy scale, Journal of Career Assessment, 4(1), 47-57.
[5] Betz, N. E., & Voyten, K. K. (1997), ”Efficacy and outcome expectations influence career
exploration and decidedness”, The Career Development Quarterly, 46, 179-189.
[6] Creed, P. A., Patton, W., & Watson, M. B. (2002). Cross-cultural equivalence of the career
decision-making self-efficacy scale-short form: An Australian and South African
comparison. Journal of Career Assessment, 10(3), 327-342
[7] Gloria, A. M., & Hird, J. S. (1999), “Influences of ethnic and nonethnic variables on the
[8] career decision-making self-efficacy of college students”, Career Development Quarterly,
157-174.
[9] Niles, S. G., & Sowa, C. J. (1992), “Mapping the Nomological Network of Career Self-
Efficacy”, The Career Development Quarterly, 41(1), 13-21.
[10] Taylor, K. M., & Betz, N. E. (1983), “Applications of self-efficacy theory to the
understanding and treatment of career indecision”, Journal of Vocational Behavior, 22(1), 63-
81.
285
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thang đo hiệu quả cảm nhận trong việc ra quyết định nghề nghiệp trong bối cảnh Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_thang_do_hieu_qua_cam_nhan_trong_viec_ra_quyet_dinh.pdf

