Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến đổi mới tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN ĐỔI MỚI  
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM  
NCS.ThS.Nguyễn Bá Hoàng & NCS.ThS.Nguyễn Quốc Phong  
Khoa Quản trị, Trường Đại học Luật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới tại các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Cụ thể nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Probit với  
bộ dữ liệu từ cuộc điều tra các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn 2005-2015 nhằm  
xem xét ảnh hưởng của toàn cầu hóa ở cấp độ vi mô và vĩ mô đến khả năng đổi mới tại các  
doanh nghiệp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cấp độ vĩ mô, toàn cầu hóa có mối quan hệ  
nghịch biến với khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Ở cấp độ vi mô, toàn cầu hóa có tương  
quan dương với khả năng đổi mới của doanh nghiệp.  
1. Giới thiệu  
Toàn cầu hóa là quá trình trong đó các quốc gia ngày càng trở nên hội nhập thông qua  
các dòng lưu chuyển hàng hóa, vốn và ý tưởng (Bloom, 2002). Một lượng lớn các nghiên cứu  
đã tập trung phân tích nguyên nhân và tác động của toàn cầu hóa. Mặc dù vẫn còn một số tranh  
cãi, các nghiên cứu này cung cấp bằng chứng ủng hộ tác động tích cực của toàn cầu hoá đến  
tăng trưởng kinh tế nói chung và năng suất của doanh nghiệp nói riêng (Hahn và Narjoko,  
2011). Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng dễ dàng luân chuyển giữa  
các quốc gia với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông. Trong môi trường này, các  
ý tưởng có nhiều khả năng được hiện thực hóa, công nghệ mới được phát triển và thay thế ngày  
càng nhanh. Ngày nay, tri thức đã trở thành một yếu tố chủ chốt quyết định mức độ giàu có của  
các quốc gia (Kuncoro, 2012).  
Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, đổi mới công nghệ là yếu tố thiết yếu cho sự phát  
triển bền vững của nền kinh tế (Romer, 1986). Vai trò của đổi mới đặc biệt quan trọng đối với  
doanh nghiệp tại các nước đang phát triển, đồng thời trở ngại cho đổi mới cũng chính là trở  
ngại cho tăng trưởng kinh tế (Hahn và Narjoko, 2011). Vấn đề khiến các nhà thiết kế chính  
sách trăn trở là làm thế nào để các doanh nghiệp bản địa có thể tiếp cận các công nghệ mới và  
sản xuất các sản phẩm mới mà trước đây các doanh nghiệp chưa có khả năng thực hiện. Chính  
vì vậy việc xem xét các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến đổi mới của doanh nghiệp là một  
vấn đề nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách.  
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò qua trọng trong nền kinh tế, đặc biệt tại các  
quốc gia đang phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy có đổi mới nhưng với mức độ  
không đáng kể so với các doanh nghiệp lớn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp này thường ít tham  
gia các dự án hợp tác thúc đẩy đổi mới (OECD, 2010). Để đổi mới các doanh nghiệp nhỏ và  
238  
vừa gặp không ít thách thức. Các trở ngại chính yếu mà các doanh nghiệp này phải đối mặt là  
hạn chế trong khả năng tiếp cận tài chính và thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao (OECD,  
2010). Một quan điểm phổ biến cho rằng quá trình toàn cầu hóa chỉ mang đến lợi ích cho các  
doanh nghiệp lớn và bất lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa do các doanh nghiệp này hạn chế  
về nguồn lực. Vậy đối với hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, toàn cầu hóa sẽ  
mang đến tác động tích cực hay tiêu cực? Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định mối  
quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn  
2005-2015. Việc lựa chọn xem xét chủ đề này tại Việt Nam xuất phát từ sự thiếu hụt các bằng  
chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới. Theo nhận thức đến thời  
điểm hiện tại của tác giả, Nguyen và cộng sự (2011) là một trong số ít những nghiên cứu phân  
tích vấn đề tương tự cho Việt Nam. Tuy nhiên thay vì phân tích tác động đa chiều của toàn cầu  
hóa, Nguyen và cộng sự (2011) chỉ tập trung phân tích tác động của tự do hóa thương mại tại  
một thời điểm cụ thể (năm 2005 và 2007). Nghiên cứu này mở rộng nghiên cứu của Nguyen và  
cộng sự (2011) ở hai điểm. Thứ nhất, bên cạnh việc xem xét các kênh truyền dẫn vi mô của  
toàn cầu hóa, tác giả còn mở rộng xem xét tác động của toàn cầu hóa ở cấp vĩ mô. Tác giả cho  
rằng việc tập trung vào khía cạnh thương mại và đầu tư như Nguyen và cộng sự (2011) chưa  
giúp mang đến cái nhìn đa chiều về tác động của toàn cầu hóa. Thứ hai, tác giả tận dụng bộ dữ  
liệu về toàn cầu hóa của KOF để có thể đánh giá ảnh hưởng của toàn cầu hóa qua các năm. Với  
thời gian nghiên cứu mở rộng, tác giả hy vọng nghiên cứu có thể nắm bắt một cách đầy đủ tác  
động của toàn cầu hóa.  
2. Khung phân tích  
2.1. Đổi mới  
Khái niệm về đổi mới  
Ở cấp độ quốc gia, đổi mới (innovation) là sự tiến bộ trong năng lực công nghệ nói  
chung (Howitt, 2000). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh và mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới  
giới thiệu bởi Romer (1990) và Grossman và Helpman (1991) xem tiến bộ kỹ thuật và đổi mới  
là động lực chính cho phát triển kinh tế và nâng cao năng suất trong dài hạn. Các lý thuyết và  
mô hình tăng trưởng này nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động nghiên cứu – phát triển  
(R&D) và đổi mới đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế (Aghion và Howitt, 1998).  
Về mặt thực nghiệm, vai trò của đổi mới đối với tăng trưởng kinh tế đã được chứng minh rộng  
rãi, đặc biệt tại các quốc gia phát triển (El Elj và Abassi, 2014). Schumpeter (1943) là một  
trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét vai trò của đổi mới trong nền kinh tế. Nghiên cứu của  
Schumpeter (1943) cùng với các nghiên cứu của Nelson và Winter (1982), Dosi (1984) và  
Pavitt (1984) đã mở đầu cho dòng nghiên cứu về đổi mới hiện đang tiếp tục phát triển với sự  
chuyển dịch theo hướng tri thức của các nền kinh tế trên thế giới (Chen và cộng sự, 2014; Choi  
và cộng sự, 2012; Rodil và cộng sự, 2015).  
Đổi mới không chỉ được nghiên cứu ở góc độ vĩ mô mà còn được xem xét dưới góc độ vi  
mô. Ở cấp độ doanh nghiệp, định nghĩa phổ biến nhất về đổi mới dựa trên cách tiếp cận của  
OECD (2005). Theo cách tiếp cận này, đổi mới có thể chia thành hai loại: đổi mới sản phẩm  
239  
(product innovation) và đổi mới tiến trình (process innovation). Đổi mới sản phẩm được định  
nghĩa là việc sản xuất hoặc thương mại hóa một sản phẩm với những tính năng được cải thiện  
chẳng hạn như cung cấp dịch vụ mới hoặc cải thiện cho khách hàng. Đổi mới tiến trình được  
định nghĩa là việc thực hiện hoặc ứng dụng một quy trình sản xuất mới hoặc có cải thiện đáng  
kể. Đổi mới tiến trình có thể bao gồm sự thay đổi trong máy móc – thiết bị, nguồn nhân lực  
và/hoặc cách thức làm việc. Định nghĩa về đổi mới của OECD nhấn mạnh việc tạo ra các sản  
phẩm – dịch vụ mới hoặc việc áp dụng quy trình hoạt động mới.  
Bên cạnh cách phân loại của OECD, đổi mới có thể được phân loại thành đổi mới đầu  
vào (innovation input) và đổi mới đầu ra (innovation output). Đổi mới đầu vào, thường được  
đo lường bằng chi phí nghiên cứu - phát triển, hàm ý các nguồn lực cần thiết để thực hiện đổi  
mới; trong khi đổi mới đầu ra, đại diện bởi số sản phẩm hoặc quy trình mới, hàm ý thành quả  
của việc đổi mới (Coad và cộng sự, 2016; Deschrysvere, 2014 và Rodil và cộng sự, 2015).  
Đo lường đổi mới  
Phần lớn các nghiên cứu về đổi mới đo lường mức độ đổi mới bằng chi phí nghiên cứu –  
phát triển hoặc số lượng bằng sáng chế. Tuy nhiên phương pháp đo lường đổi mới này chưa  
phù hợp với doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển (Gorodnichenko và cộng sự, 2010).  
Chi phí nghiên cứu là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình đổi mới, tuy nhiên việc nghiên cứu  
phát triển không đảm bảo sự thành công cho việc đổi mới và thang đo sử dụng chi phí nghiên  
cứu phát triển thường bị sai lệch tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ (Michie, 1998 và  
Archibugi và Sirilli, 2001). Bên cạnh đó, tại các nền kinh tế đang phát triển, các doanh nghiệp  
thường thực hiện chiến lượng mô phỏng/bắt chước (imitation) hoặc ứng dụng các công nghệ đã  
được sáng tạo và kiểm định; thay vì tự mình phát minh công nghệ mới và đầu tư nguồn lực cho  
công tác nghiên cứu – phát triển (Goronidchenko, 2010).  
Thang đo dựa trên số lượng bằng sáng chế cũng có một số nhược điểm. Thứ nhất, số  
lượng bằng sáng chế đo lường khả năng phát minh (invention) của doanh nghiệp hơn là đổi  
mới. Thứ hai, số lượng bằng sáng chế có sự biến động lớn giữa các quốc gia và ngành nghề.  
Thứ ba, doanh nghiệp thường sử dụng những cách thức khác ngoài việc đăng ký bằng sáng chế  
để bảo vệ thành quả đổi mới như: duy trì sự phức tạp về mặt kỹ thuật, bảo vệ bí mật công  
nghiệp hoặc tận dụng thời gian trước các đối thủ cạnh tranh. Trong nghiên cứu này, với mẫu dữ  
liệu gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, tác giả định nghĩa đổi mới theo cách tiếp  
cận của OECD (2005). Theo đó đổi mới là việc phát triển sản phẩm mới, nâng cấp sản phẩm  
hiện tại hoặc ứng dụng công nghệ sản xuất mới.  
2.2. Toàn cầu hóa  
Khái niệm về toàn cầu hoá  
Thuật ngữ “toàn cầu hóa” trở nên thịnh hành trong những năm 1990 và đầu những năm  
2000. Thuật ngữ toàn cầu hóa thường được sử dụng với ý nghĩa sự gia tăng rõ rệt trong các  
dòng luân chuyển kinh tế quốc tế từ những năm 1970 (Perraton, 2011). Theo quan điểm của  
các nhà kinh tế tân tự do (neo-liberal economist), toàn cầu hóa là: (i) sự hội nhập trên thị  
240  
trường hàng hóa – dịch vụ và thị trường các yếu tố sản suất (Wolf, 2003); (ii) sự hội nhập của  
các nền kinh tế và sự phát triển của các thị trường quốc tế (Bordo và cộng sự, 1999).  
Bên cạnh đó, Hopper và cộng sự (2017) đã định nghĩa toàn cầu hóa theo quan điểm của  
ngành địa lý kinh tế, trong đó toàn cầu hóa là sự gia tăng trong lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,  
yếu tố sản xuất, thông tin, con người và liên lạc giữa các quốc gia.  
Quan điểm tiếp cận tổng quát của Dreher (2006), toàn cầu hóa có ba khía cạnh bao gồm:  
kinh tế, chính trị và văn hóa. Đây chính là cơ sở để các nhà nghiên cứu đo lường mức độ toàn  
cầu hóa. Trong nghiên cứu này tác giả định nghĩa toàn cầu hóa theo cách tiếp cận tổng quát của  
Dreher (2006). Theo đó toàn cầu hóa bao gồm ba khía cạnh: toàn cầu hóa về kinh tế, chính trị  
và xã hội. Toàn cầu hóa về kinh tế được đặc trưng bởi các dòng lưu chuyển hàng hóa – dịch vụ,  
vốn, thông tin và nhận thức về thị trường. Toàn cầu hóa về chính trị mô tả sự truyền bá của các  
chính sách quốc gia. Toàn cầu hóa về xã hội thể hiện sự lan truyền của các ý tưởng, hình ảnh  
và con người.  
Đo lường toàn cầu hóa  
Các thang đo về toàn cầu hóa có thể được chia thành thang đo đơn chiều và thang đo đa  
chiều. Thang đo đơn chiều, thể hiện độ mở của nền kinh tế, thường được thể hiện thông qua tỷ  
lệ giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm quốc dân. Tuy nhiên toàn cầu hóa là một  
khái niệm đa chiều (Gygli và cộng sự, 2019). Toàn cầu hóa không chỉ bao gồm sự gia tăng  
trong dòng lưu chuyển hàng hóa và tài chính mà còn bao gồm sự gia tăng trong mối liên hệ  
giữa công dân các nước, trong sự trao đổi thông tin và ý tưởng hoặc trong sự cộng tác giữa các  
chính phủ nhằm giải quyết các vấn đề chính trị có quy mô toàn cầu. Do đó các học giả cần đảm  
bảo tính đa chiều trong đo lường toàn cầu hóa. Trong thực tế các nhà nghiên cứu đã tích cực  
trong việc xây dựng các thang đo tổng hợp về toàn cầu hóa từ đầu những năm 2000 (Gygli và  
cộng sự, 2019).  
Chỉ số KOF Globalisation Index đo lường toàn cầu hóa theo ba khía cạnh chính là kinh  
tế, xã hội và chính trị tại 203 quốc gia và vùng lãnh thổ từ năm 1970. Đây được xem là chỉ số  
toàn cầu hóa được sử dụng rộng rãi nhất trong các nghiên cứu (Potrafke, 2015). KOF  
Globalisation Index được sử dụng phổ biến do mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian  
(Gygli và cộng sự, 2019). Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số KOF Globalisation  
Index làm thước đo toàn cầu hóa do sự phổ quát của nó và tính thuận lợi của chỉ số này khi  
cung cấp đủ số quan sát cho dữ liệu Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015 để kiểm tra ảnh  
hưởng của toàn cầu hoá đến đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn nghiên  
cứu.  
2.3. Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến đổi mới của doanh nghiệp  
Với việc mở cửa biên giới cho hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài, toàn cầu hóa  
mang đến cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, để  
đổi mới và cải thiện vị thế cạnh tranh trên thị trường (Goronidchenko và cộng sự, 2010). Cơ sở  
lý thuyết về thương mại quốc tế và sự khác biệt giữa các doanh nghiệp (lý thuyết thương mại  
241  
mới – New Trade Theory) nhận định doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế sẽ  
có năng suất cao hơn các doanh nghiệp chỉ sản xuất phục vụ thị trường trong nước (Peters và  
cộng sự, 2018). Trong khi các mô hình lý thuyết ban đầu xem năng suất của doanh nghiệp là  
một biến ngoại sinh (Melitz, 2003 và Helpman và cộng sự, 2004), các nghiên cứu gần đây xét  
đến khả năng năng suất là một biến nội sinh và có thể điều chỉnh thông qua hoạt động đổi mới  
của doanh nghiệp (Yeaple, 2005; Lileeva và Trefer, 2010 và Bustos, 2011). Phần lớn các  
nghiên cứu trước tập trung xem xét tác động của toàn cầu hóa đến năng suất của các doanh  
nghiệp tại các quốc gia đang phát triển (xem Görg và Greenaway, 2004 và Wagner, 2007). Tuy  
nhiên các nghiên cứu này phần nhiều tập trung xem xét mối liên hệ trực tiếp giữa toàn cầu hóa  
và năng suất thay vì phân tích cơ chế tác động của toàn cầu hóa đến năng suất của doanh  
nghiệp (Gorodnichenko và cộng sự, 2010). Đổi mới là một cơ chế qua đó toàn cầu hóa có thể  
ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp, tuy vậy số lượng các nghiên cứu xem xét mối quan  
hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới còn rất hạn chế (Gorodnichenko và cộng sự, 2010).  
Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới là một mối quan hệ phức tạp. Một mặt, việc  
gia tăng trong giá trị nhập khẩu và vốn đầu tư trực tiếp (FDI) do việc dỡ bỏ các rào cản thương  
mại có thể tăng cường mức độ cạnh tranh trên thị trường trong nước và làm giảm khả năng  
sinh lợi của doanh nghiệp. Trong hoàn cảnh này, các doanh nghiệp buộc phải cải thiện hiệu quả  
sản xuất để có thể tồn tại trên thị trường (Berthschek, 1995). Đổi mới là một trong những cách  
thức giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động nhằm có thể duy trì khả năng cạnh tranh  
trên thị trường (Kuncoro, 2012). Theo lập luận này, toàn cầu hóa và đổi mới có thể có mối  
quan hệ đồng biến.  
Ngược lại với lập luận trên, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng toàn cầu hóa và đổi  
mới có mối quan hệ nghịch chiều nhau (Braga và Wilmore, 1991). Quan điểm này lý giải rằng  
do thường phải tiêu hao nguồn lực đáng kể cho hoạt động nghiên cứu – phát triển nhằm tạo ra  
sản phẩm và quy trình sản xuất mới, trong khi lợi ích từ các hoạt động này có tính bất ổn cao,  
do vậy doanh nghiệp trở nên cẩn trọng đối với các hoạt động đổi mới và chỉ tập trung vào việc  
ứng dụng công nghệ nhập khẩu theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp (Kuncoro, 2012).  
Bên cạnh hai dòng quan điểm trái ngược trên, một dòng quan điểm khác cho rằng toàn  
cầu hóa cho phép các quốc gia đang phát triển có thể đạt được bước tiến trong quá trình học tập  
mà không nhất thiết phải trải qua quá trình khám phá - gây tốn kém về thời gian và tài chính,  
bằng cách tiếp cận các ý tưởng và công nghệ phát triển tại các khu vực khác và áp dụng sau khi  
có sự điều chỉnh phù hợp (Bloom, 2002).  
Để phân tích mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới, phần lớn các nghiên cứu hiện  
nay chủ yếu xem xét hai cơ chế mà toàn cầu hoá có khả năng ảnh hưởng đến khả năng đổi mới  
của doanh nghiệp bao gồm: chuyển giao tri thức và cơ chế cạnh tranh xuất phát từ sự tham gia  
của các doanh nghiệp nước ngoài và hoạt động ngoại thương (Goronidchenko và cộng sự,  
2010). Sutton (2007) tập trung xem xét tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới thông qua  
chuyển giao tri thức trong khi Schumpeter (1943) và Aghion và cộng sự (2004, 2005) xem xét  
thông qua cạnh tranh. Trong mô hình của Sutton (2007), khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp  
242  
không chỉ phụ thuộc vào năng suất mà còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm. Lúc này năng  
suất và chất lượng quyết định năng lực của doanh nghiệp. Mô hình của Sutton (2007) dự báo  
sau giai đoạn bất ổn ban đầu, doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển sẽ nỗ lực điều  
chỉnh để nâng cao năng lực. Sutton (2007) gợi ý quá trình điều chỉnh sẽ chịu tác động của sự  
chuyển giao tri thức theo chiều dọc thông qua chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia.  
Cùng thời điểm với Sutton (2007), một lượng lớn các nghiên cứu khác kiểm định liệu hoạt  
động xuất nhập khẩu có giúp các doanh nghiệp trong nước nâng cao hiệu quả thông qua đổi  
mới phát sinh từ việc tiếp xúc với các công nghệ và thực hành tiên tiến trên thế giới (Wagner,  
2007).  
Bên cạnh cơ chế thông qua chuyển giao công nghệ, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa  
toàn cầu hóa và đổi mới cũng phân tích cơ chế thông qua mức độ cạnh tranh trên thị trường.  
Aghion và cộng sự (2004, 2005) cho thấy ảnh hưởng của cạnh tranh đến mức độ sẵn sàng đổi  
mới của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ hiệu quả về kỹ thuật của doanh nghiệp. Cụ thể  
cạnh tranh được kỳ vọng có thể thúc đẩy đổi mới nếu doanh nghiệp nằm gần giới hạn hiệu quả  
và sẽ cản trở đổi mới trong trường hợp ngược lại. Trái lại, Schumpeter (1943) lập luận doanh  
nghiệp lớn hoạt động trên các thị trường tập trung là động lực lớn nhất cho sự phát triển của  
nền kinh tế và là những doanh nghiệp có khả năng đổi mới nhiều nhất do các doanh nghiệp này  
có thể dễ dàng thu lợi từ các hoạt động đổi mới sáng tạo.  
Tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới đồng thời qua hai cơ chế nêu trên được  
Goronidchenko (2010) kiểm định với dữ liệu của các doanh nghiệp tại 27 nền kinh tế chuyển  
đổi (11 nước thuộc Liên Xô cũ và 15 nước Trung và Đông Âu) trong hai năm 2002 và 2005.  
Trong nghiên cứu này, toàn cầu hóa được đại diện bởi sự gia tăng trong áp lực cạnh tranh và  
giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp; đổi mới được đo lường bằng việc giới thiệu  
sản phẩm hoặc công nghệ mới. Kết quả cho thấy áp lực cạnh tranh từ nước ngoài thực sự  
khuyến khích đổi mới của doanh nghiệp tại các quốc gia này. Bên cạnh đó việc chuyển giao tri  
thức theo chiều dọc (thông qua hoạt động xuất nhập khẩu) cũng góp phần nâng cao khả năng  
đổi mới của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới có sự tương đồng giữa  
các nhóm doanh nghiệp (phân theo ngành hoặc theo khoảng cách so với đường biên hiệu quả).  
Với cách tiếp cận tương tự Goronidchenko (2010), Nguyen và cộng sự (2011) xem xét  
mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và đổi mới tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt  
Nam trong giai đoạn 2007 – 2009. Tác giả lập luận trong giai đoạn này, tiến trình tự do hóa  
thương mại của Việt Nam diễn ra nhanh chóng làm gia tăng áp lực cạnh tranh cũng như hoạt  
động xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, tự do hóa thương mại được  
đo lường gián tiếp qua biến cạnh tranh và biến xuất nhập khẩu. Khác với Goronidchenko  
(2010), yếu tố cạnh tranh trong nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2011) căn cứ trên chiến  
lược giá của doanh nghiệp (cụ thể doanh nghiệp có xác định giá bán của sản phẩm theo đối thủ  
cạnh tranh). Kết quả cho thấy việc phải xác định giá theo đối thủ cạnh tranh có mối quan hệ  
đồng biến với khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Ngoài ra Nguyen và cộng sự (2011) cũng  
cho thấy việc giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài có thể cải thiện hoạt động đổi mới  
243  
của doanh nghiệp.  
Tương tự Nguyen và cộng sự (2011), Aldaba (2011) phân tích mối quan hệ giữa việc dỡ  
bỏ hàng rào thương mại và hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp sản xuất tại Philippines  
giai đoạn 1996-2006. Kết quả cho thấy tự do hóa thương mại làm gia tăng mức độ cạnh tranh  
và khuyến khích đổi mới tại doanh nghiệp đại diện bởi chi tiêu cho nghiên cứu - phát triển.  
Cũng sử dụng chi phí nghiên cứu – phát triển làm biến đại diện cho đổi mới, Kuncoro (2012)  
xem xét tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới của các doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và  
lớn tại Indonesia giai đoạn 1980 - 2007. Kuncoro (2012) xây dựng phương trình kiểm định từ  
dựa trên hàm sản xuất tri thức (knowledge production function) theo Crepon và Duguet (1997)  
và mô hình learning-by-doing theo Romer (1996). Toàn cầu hóa trong nghiên cứu được đại  
diện bởi việc tham gia xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và mức độ bảo hộ thương mại của doanh  
nghiệp. Kuncoro (2012) cho thấy việc tham gia xuất khẩu có tương quan dương với chi tiêu  
cho nghiên cứu – phát triển trong khi bảo hộ thương mại có tương quan âm.  
Các nghiên cứu thực nghiệm trên đây đã cung cấp những bằng chứng hữu ích về mối  
quan hệ giữa giữa toàn cầu hóa và đổi mới. Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ tập trung xem  
xét toàn cầu hóa ở khía cạnh thương mại hoặc đầu tư mà chưa quan tâm đến các khía cạnh  
khác của toàn cầu hóa như xã hội hoặc chính trị. Điều này một phần xuất phát từ đặc trưng dữ  
liệu sử dụng trong các nghiên cứu. Các nghiên cứu như Goronidchenko (2010), Nguyen và  
cộng sự (2011), Aldaba (2011) và Kuncoro (2012) đều sử dụng dữ liệu vi mô ở cấp độ doanh  
nghiệp. Hahn và Narjoko (2011) cho rằng việc sử dụng dữ liệu vi mô sẽ giúp chúng ta hiểu sâu  
hơn mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới so với khi nghiên cứu bằng dữ liệu vĩ mô. Tác  
giả đồng ý với lập luận của Hahn và Narjoko (2011), tuy nhiên tác giả cho rằng việc chỉ sử  
dụng dữ liệu vi mô trong xem xét mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới không thực sự đầy  
đủ. Toàn cầu hóa có tính đa chiều và không phải khía cạnh nào của toàn cầu hóa cũng có thể  
được lượng hóa cụ thể ở từng doanh nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm về toàn cầu hóa và  
đổi mới ở cấp độ vi mô chỉ phân tích được tác động của việc toàn cầu hóa trong lĩnh vực  
thương mại và đầu tư. Tác giả cho rằng việc kiểm định mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi  
mới cần sử dụng kết hợp đồng thời dữ liệu vi mô và vĩ mô. Dữ liệu toàn cầu hóa ở cấp độ quốc  
gia sẽ giúp chúng ta nắm bắt các khía cạnh của toàn cầu hóa chưa được đo lường tại cấp độ  
doanh nghiệp.  
3. Mô hình nghiên cứu  
Trên cơ sở mô hình đề xuất của Goronidchenko (2010), kết hợp bổ sung biến đo lường  
toàn cầu hóa ở cấp độ vĩ mô theo gợi ý của Kuncoro (2012), tác giả xây dựng mô hình nghiên  
cứu như sau:  
      
   
∑
                        
              
   
 
 
 
 
∑
 
 
                      
   
(1)  
   
244  
Trong đó: INV_it là biến đại diện cho đổi mới tại doanh nghiệp i vào năm t. Bao gồm, 03  
biến đại diện như sau:  
new_product: đại diện cho đổi mới về sản phẩm, là biến nhị phân có giá trị bằng 1 trong  
trường hợp doanh nghiệp có giới thiệu sản phẩm mới trong khoảng thời gian giữa hai lần  
phỏng vấn, ngược lại bằng 0.  
new_improvement: đại diện cho đổi mới về sản phẩm, là biến nhị phân có giá trị bằng  
trị bằng 1 nếu doanh nghiệp có cải tiến đáng kể các sản phẩm hiện tại, ngược lại bằng 0.  
new_tech: đại diện cho đổi mới về quy trình, là biến nhị phân có giá trị bằng 1 trong  
trường hợp doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ mới trong khoảng thời gian giữa hai lần  
phỏng vấn, ngược lại bằng 0.  
Do mong muốn phân tích tác động của toàn cầu hóa ở cả góc độ vi mô và vĩ mô, nghiên  
cứu sử dụng ba nhóm biến đại diện cho toàn cầu hóa bao gồm: Globalization_t, Competition_it  
và KnowledgeTransfer_it.  
Biến Globalization_t đo lường mức độ toàn cầu hoá của Việt Nam ở năm t. Trong nhóm  
biến này, tác giả sẽ xem xét tác động của toàn cầu hóa nói chung (đại diện bởi chỉ số toàn cầu  
hóa KOF – KOFGI).  
Nhóm biến Competition_it đại diện cho mức độ cạnh tranh doanh nghiệp phải đối mặt.  
Dữ liệu từ cuộc khảo sát cho phép tác giả đo lường các khía cạnh khác nhau của cạnh tranh bao  
gồm cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài (com_foreign), cạnh tranh từ các doanh  
nghiệp tư nhân trong nước (com_domestic), cạnh tranh từ các doanh nghiệp nhà nước  
(com_state) và cạnh tranh đến từ các hoạt động thương mại phi chính thức (com_smuggling).  
Các biến cạnh tranh được là các biến nhị phân nhận giá trị bằng 1 trong trường hợp doanh  
nghiệp cho rằng họ phải đối mặt với mức độ cạnh tranh cao và bằng 0 trong trường hợp mức  
độ không đáng kể.  
Nhóm biến KnowledgeTransfer_it đại diện cho hoạt động chuyển giao tri thức từ nước  
ngoài. Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng ba biến đại diện cho việc chuyển giao tri thức bao  
gồm: export (biến nhị phân bằng 1 trong trường hợp doanh nghiệp có xuất khẩu sản phẩm trực  
tiếp hoặc gián tiếp), import (biến nhị phân bằng 1 trong trường hợp doanh nghiệp có nhập khẩu  
các yếu tố đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp) và sales_fdi (biến nhị phân có giá trị bằng 1 nếu  
doanh nghiệp có bán sản phẩm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).  
4. Dữ liệu và phương pháp ước lượng  
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu khảo sát doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (Vietnam  
SME Survey) để xem xét mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đổi mới của doanh nghiệp.  
Vietnam SME Survey là một cuộc khảo sát được thực hiện mỗi hai năm kể từ năm 2005 do sự  
hợp tác của Viện Phát Triển Kinh Tế Trung Ương, Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội,  
Development Economics Research Group (DERG) tại University of Copenhagen và United  
Nations University. Tính tới thời điểm hiện tại, bộ dữ liệu này được cập nhật đến năm 2015.  
Như vậy dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu của sáu cuộc khảo sát vào các năm 2005, 2007,  
245  
2009, 2011, 2013 và 2015. Bên cạnh dữ liệu vi mô về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên  
cứu sử dụng dữ liệu về toàn cầu hóa KOF Globalization Index do Swiss Institute of  
Technology cung cấp. KOF Globalisation Index là một trong những chỉ số tổng hợp đo lường  
toàn cầu hóa được sử dụng phổ biến nhất (Gygli và cộng sự, 2019).  
Phương trình (1) được ước lượng và kiểm định bằng mô hình Probit do biến phụ thuộc  
INV_it là biến nhị phân. Mô hình Probit được sử dụng để ước lượng phương trình (1) với toàn  
bộ quan sát doanh nghiệp theo năm có được từ các cuộc khảo sát (tổng cộng 14,802 quan sát  
cho 5,017 doanh nghiệp trong 06 năm, trung bình một doanh nghiệp có 03 năm quan sát).  
5. Kết quả nghiên cứu  
Phương trình (1) được hồi quy lần lượt với từng biến đại diện cho đổi mới dựa trên  
14,802 quan sát doanh nghiệp – năm. Kết quả hồi quy của bước này được thể hiện chi tiết  
trong Bảng 1. Trong cả ba mô hình A1, A2 và A3, biến KOFGI đều mang dấu âm và có ý  
nghĩa thống kê. Hệ số hồi quy âm của KOFGI hàm ý trong giai đoạn nghiên cứu toàn cầu hóa  
nói chung có mối quan hệ nghịch biến với khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Điều này cho  
thấy toàn cầu hóa có tác động tiêu cực đến sáng tạo và đổi mới đối với trường hợp các doanh  
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Kết quả này có thể được giải thích theo lập luận của  
Danaeefard và Abbasi (2011), tác động chính yếu của toàn cầu hóa là xu hướng tiến đến sự hội  
tụ (convergence) và hợp nhất (intergration) trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa  
và xã hội. Xu hướng hợp nhất này dẫn đến việc đánh mất tính đa dạng trong các khía cạnh kinh  
tế, chính trị và xã hội. Do tính đa dạng được xem là nguồn gốc của đổi mới, việc đánh mất tính  
đa dạng trong quá trình toàn cầu hóa có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đổi mới của quốc gia nói  
chung và của các doanh nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, Sander và Janovsky (2016) thảo luận  
cụ thể một số rủi ro đối với đổi mới của doanh nghiệp trong quá trình toàn cầu hóa như sự quá  
tải về mặt thông tin, xu hướng chuẩn hóa sản phẩm trên thị trường quốc tế, trở ngại trong giao  
tiếp do thiếu sự tiếp xúc trực diện, tiêu tốn nguồn lực của doanh nghiệp để đáp ứng các yêu cầu  
ngày càng tăng trong quá trình toàn cầu hóa và sự gia tăng áp lực thời gian mà các doanh  
nghiệp phải đối mặt. Mối quan hệ nghịch biến này không chỉ tồn tại ở Việt Nam – một nước  
đang phát triển, mà còn hiện diện ở Đức – một quốc gia có trình độ phát triển cao như phân  
tích trong kết quả thực nghiệm của Sander và Janovsky (2016).  
Bảng 1: Kết quả ước lượng mô hình  
Mô hình  
A1  
A2  
A3  
Biến  
new_product new_improve  
new_tech  
Globalization  
KOFGI  
-0.035***  
[-12.030]  
-0.100***  
[-30.270]  
-0.082***  
[-20.400]  
Competition  
com_foreign  
0.0973*  
[1.928]  
0.135***  
[3.211]  
0.128***  
[3.027]  
0.278***  
[7.855]  
-0.013  
0.0267  
[0.557]  
0.0318  
[0.754]  
0.0164  
com_domestic  
com_state  
0.082**  
246  
Mô hình  
A1  
A2  
A3  
Biến  
new_product new_improve  
new_tech  
[0.424]  
0.138***  
[2.668]  
[2.021]  
0.0341  
[0.613]  
[-0.394]  
0.146***  
[3.191]  
com_smuggling  
Knowledge Transfer  
sales_fdi  
0.0204  
[0.254]  
0.144**  
[2.180]  
0.156*  
[1.874]  
14,802  
5,017  
0.188***  
[2.920]  
0.137**  
[2.290]  
0.053  
[0.692]  
14,802  
5,017  
0.039  
[0.574]  
0.0545  
[0.916]  
0.156**  
[2.088]  
14,802  
5,017  
export  
import  
Số quan sát  
Số doanh nghiệp  
***, **, * lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.  
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích của tác giả  
Bên cạnh biến KOFGI đo lường toàn cầu hóa ở cấp độ vĩ mô, nghiên cứu cũng xem xét  
tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới thông qua các kênh truyền dẫn vi mô bao gồm cạnh  
tranh và chuyển giao tri thức tương tự như các nghiên cứu trước đây như Goronidchenko  
(2010) và Nguyen và cộng sự (2011). Về cạnh tranh, kết quả cho thấy cạnh tranh nói chung có  
ảnh hưởng tích cực đến đổi mới của doanh nghiệp. Cụ thể áp lực cạnh tranh cao từ các doanh  
nghiệp nước ngoài trong quá trình toàn cầu hóa có thể làm tăng khả năng doanh nghiệp đổi  
mới. Kết quả này tương đồng với Gorodnichenko (2010) và Nguyen và cộng sự (2011). Tác  
giả cho rằng quá trình toàn cầu hóa không chỉ làm tăng áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp  
nước ngoài mà còn làm tăng áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước do toàn cầu  
hóa có thể cải thiện năng suất của các doanh nghiệp này. Thậm chí toàn cầu hóa còn mang lại  
môi trường thuận lợi cho các hoạt động thương mại bất hợp pháp (như EMCDDA, 2016 đã  
phân tích), từ đó làm tăng áp lực cạnh tranh từ khu vực này. Kết quả thực nghiệm khẳng định  
dự báo của tác giả khi cho thấy các hình thức cạnh tranh này cũng có khả năng thúc đẩy khả  
năng đổi mới của doanh nghiệp. Goronidchenko (2010) cũng xem xét biến cạnh tranh từ doanh  
nghiệp trong nước mặc dù không xem biến này là biến giải thích chính mà chỉ đóng vai trò  
biến kiểm soát. Goronidchenko (2010) cũng thu được kết quả tương tự như nghiên cứu này.  
Không chỉ như vậy, Goronidchenko (2010) cho thấy áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp  
trong nước còn có ảnh hưởng lớn hơn áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài. Trong  
nghiên cứu này, kết quả trên có thể quan sát gián tiếp thông qua độ lớn của hệ số hồi quy.  
Kênh truyền dẫn thứ hai để toàn cầu hóa tác động đến doanh nghiệp ở cấp độ vi mô là  
việc chuyển giao tri thức từ các doanh nghiệp nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu  
và giao dịch với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả cho thấy các biến thuộc  
nhóm này đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê. Điều này hàm ý doanh nghiệp có mối  
quan hệ mạnh mẽ với các công ty nước ngoài có nhiều khả năng đổi mới hơn các doanh nghiệp  
khác. Nguyen và cộng sự (2011) không tìm thấy bằng chứng ủng hộ tác động tích cực của việc  
xuất khẩu đến đổi mới của doanh nghiệp. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng ta cho thấy nhập  
247  
khẩu có vai trò trong việc khuyến khích đổi mới nhất là trường hợp đổi mới sản phẩm và đổi  
mới quy trình.  
6. Kết luận  
Toàn cầu hóa là một trong những chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm cả về mặt lý  
thuyết và thực nghiệm. Tuy nhiên các nghiên cứu thường cung cấp những quan điểm trái chiều  
về vai trò và mức độ ảnh hưởng của toàn cầu hóa trong các khía cạnh khác nhau của đời sống  
kinh tế, chính trị và xã hội. Khác với các nghiên cứu trước đây trong cùng lĩnh vực, tác giả xem  
xét tác động của toàn cầu hóa ở cả hai khía cạnh vi mô và vĩ mô. Kết quả nghiên cứu chính cho  
thấy ở cấp độ vĩ mô, toàn cầu hóa có mối quan hệ nghịch biến với khả năng đổi mới của doanh  
nghiệp. Ở cấp độ vi mô, áp lực cạnh tranh và mức độ chuyển giao tri thức gia tăng do toàn cầu  
hóa có tương quan dương với khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Một mặt áp lực cạnh tranh  
và việc chuyển giao tri thức bắt nguồn từ toàn cầu hóa góp phần nâng cao khả năng đổi mới.  
Mặt khác toàn cầu hóa khi được đo lường ở cấp độ tổng hợp bằng sự vận động trong các dòng  
lưu chuyển kinh tế, chính trị và xã hội có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đổi mới. Kết quả  
nghiên cứu này hàm ý chúng ta cần có sự cẩn trọng và kỹ lưỡng trong việc đánh giá tác động  
của toàn cầu hóa. Với vị trí là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam hiện đang nỗ lực hội  
nhập trong tất cả các lĩnh vực để có thể nâng cao trình độ phát triển kinh tế, chính trị và xã hội.  
Tuy nhiên trong quá trình hội nhập chúng ta cần cân nhắc các nguy cơ tiềm ẩn của toàn cầu  
hóa để có các chính sách phù hợp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Aghion, P. and Howitt, P. (1992). A Model of Growth through Creative Destruction.  
Econometrica, 60(2): 323-251.  
Aghion P and Howitt P. (1998). Endogenous Growth Theory. Cambridge, MA: MIT Press.  
Beroc, M. A. (2015). Does Gender Matter for the Innovativeness of SMEs?. FREE Policy Brief  
Series.  
Bordo M. D., Eichengreen B., Irwin A. D, Frankel J and Taylor M. A. (1999). Is Globalization  
Today Really Different than Globalization a Hunderd Years Ago. NBER Working Paper  
No. W7195  
Chen, V.Z., Li, J., Shapiro, D.M. and Zhang, X. (2014). Ownership structure and innovation:  
an emerging market perspective. Asia Pacific Journal of Management, Vol. 31 No. 1, pp. 1-  
24.  
CIEM (2016). Characteristics of the Vietnamese Business Environment: Evidence from An  
SME Survey in 2015. Hanoi.  
Clark, W. C. (2000). Governance in a Globalizing World. Environmental Globalization, p. 86–  
108. Brookings Institution Press.  
Dreher, A. (2006). Does Globalization Affect Growth? Evidence from A New Index of  
Globalization. Applied Economics, 38(10), 1091–1110.  
Dreher, A., Gaston, N. and Martens, P. (2008). Measuring Globalisation - Gauging Its  
248  
Consequences. New York: Springer  
El Elj M.and Abassi B. (2014). The Determinants of Innovation: An Empirical Analysis in  
Egypt, Jordan, Syria and Turkey. Canadian Journal of Development Studies/Revue  
Canadienne D'études Du Développement, 35:4, 560-578.  
Gorodnichenko, Y., Svejnar J, and Terrell K. (2011). Globalization and Innovation in  
Emerging Markets. American Economic Journal: Macroeconomics, 2 (2): 194-226.  
Hahn, C. H. and D. Narjoko (2011). Globalization and Innovation in East Asia, in Hahn, C. H.  
and D. Narjoko (eds.), Globalization and Innovation in East Asia. ERIA Research Project  
Report 2010-04, pp.1-19. Jakarta: ERIA.  
Hopper, T. and Lassou, P. J. C. and Soobaroyen, T. (2017). Globalisation, Accounting and  
Developing Countries. Critical Perspectives on Accounting, Vol. 43, No. 1, 2017.  
Howitt, P. (2000). Endogenous Growth and Cross-Country Income Differences. American  
Economic Review, 90 (September 2000): 829-46.  
Kuncoro A. (2012). Globalization and Innovation in Indonesia: Evidence from Micro-Data on  
Medium and Large Manufacturing Establishments. Working Papers DP-2012-09, Economic  
Research Institute for ASEAN and East Asia (ERIA).  
Nguyen, N. A., P. M. Nguyen, D. N. Nguyen and D. C. Nguyen (2011). Trade Liberalization  
and Innovation Linkages Micro-evidence from Vietnam SME Surveys, in Hahn, C. H. and  
D. Narjoko (eds.), Globalization and Innovation in East Asia. ERIA Research Project  
Report 2010-04, pp.315-340. Jakarta: ERIA.  
OECD (2010). SMEs, Entrepreneurship and Innovation. Organisation for Economic Co-  
operation and Development.  
Romer, P.M. (1986). Increasing Returns and Long-Run Growth. Journal of Political  
Economy, 94, 1002-1037.  
Romer, P. M. (1990). Endogenous Technological Change. Journal of Political Economy 98(5):  
S71-S102.  
Sander F. and Janovsky J. (2016). Globalization as A Risk Factor for Creativity and  
Innovativeness. Review of Contemporary Entrepreneurship, Business, and Economic Issues,  
Vol 29, No 1.  
Schumpeter, J. A. (1943). Capitalism, Socialism, and Democracy. New York: Harper.  
Sutton, J. (2007). Quality, Trade and the Moving Window: The Globalization Process,  
manuscript.  
Wolf, M. (2003). Is Globalisation in Danger?. The World Economy, Vol. 26, pp. 393-411,  
April 2003.  
Wagner, J. (2007). Exports and Productivity: A Survey of the Evidence from Firm-level Data.  
World Economy, 30 (1): 60-8.  
249  
pdf 12 trang Thùy Anh 15220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến đổi mới tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_toan_cau_hoa_den_doi_moi_tai_cac_doanh_nghiep.pdf