Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ: Nghiên cứu tại công ty Cổ phần Giao nhận vận tải con ong chi nhánh Hải Phòng

TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG  
VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ: NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN  
GIAO NHẬN VẬN TẢI CON ONG CHI NHÁNH HẢI PHÒNG  
FACTORS INFLUENCING CUSTOMER SATISFACTION OF SERVICE  
QUALITY: THE STUDY IN HAIPHONG BRANCH BEE LOGISTICS JOINT  
STOCK COMPANY  
LÊ SƠN TÙNG*, NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH2*, PHẠM THỊ SÓNG HỒNG2,  
NGUYỄN THỊ KIM THOA3  
1Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam  
2Sinh viên lớp, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam  
*Email liên hệ: [email protected]  
The results show that there are 5 factors affecting  
Tóm tắt  
customer satisfaction about service quality,  
Khách hàng là yếu tố then chốt trong sự phát triển  
including: Tangibles, responsiveness, assurance,  
empathy and reability.  
và thành công của một doanh nghiệp. Sự hài lòng  
của khách hàng được xem là nhân tố ảnh hưởng  
đến lượng khách hàng trung thành cũng như tạo  
ra sự gắn kết giữa doanh nghiệp và các khách  
hàng. Do vậy, các doanh nghiệp luôn tìm cách  
thức để giúp gia tăng sự hài lòng của người tiêu  
dùng. Chính vì lẽ đó, phương pháp này được  
nghiên cứu để khám phá các nhân tố ảnh hưởng  
đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch  
vụ bằng việc khảo sát 186 khách hàng tại Công ty  
Cổ phần Giao nhận vận tải Con Ong chi nhánh  
Hải Phòng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp  
định lượng và áp dụng mô hình SERVPERF của  
Cronin và Taylor (1992). Kết quả đã thể hiện rõ  
mức độ của 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng  
của khách hàng về chất lượng dịch vụ gồm: Tính  
hữu hình, sự đáp ứng, sự tin cậy và sự đảm bảo và  
sự đồng cảm.  
Keywords: Customer Satisfaction, responsiveness,  
qssurance, empathy, SERVPERF model, Bee  
Logistics.  
1. Mở đầu  
Trong những năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước  
ta luôn đề ra chủ trương tích cực hội nhập vào sự phát  
triển của nền kinh tế toàn cầu, đồng thời chủ động ký  
kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và  
đa phương để được hưởng các lợi thế về tiếp cận thị  
trường mới, cắt giảm rào cản thuế quan, phi thuế quan.  
Trong bối cảnh như vậy, không ít doanh nghiệp phải  
đối diện với vấn đề cạnh tranh ngày một gay gắt. Với  
doanh nghiệp, các khách hàng là tác nhân quyết định  
đến việc thất bại hay thành danh của doanh nghiệp, do  
họ là người đem lại doanh thu và lợi nhuận. Vì vậy,  
việc có được sự hài lòng của khách hàng là tiền đề  
giúp doanh nghiệp gia tăng lượng khách hàng trung  
thành để phát triển và có vị thế trên thị trường.  
Từ khóa: Sự hài lòng khách hàng, sự đáp ứng, sự  
đảm bảo, sự đồng cảm, mô hình SERVPERF, Bee  
Logistics.  
Abstract  
Customers play an important role in the success  
and development of the companies. Customer  
satisfaction is considered a factor affecting the  
number of loyal customers as well as creating a  
bond between businesses and customers.  
Companies are always looking for ways to help  
increase customer satisfaction. The purpose of  
this study is to explore the factors affecting  
customer satisfaction on service quality by  
surveying 186 customers at Bee Logistics Joint  
Stock Company, Hai Phong branch. The study  
uses quantitative methods and applies the  
SERVPERF model of Cronin and Taylor (1992).  
Trên thực tế, sự hài lòng của khách hàng lại là một  
phạm trù phức tạp, mỗi một đối tượng lại có những  
tiêu chuẩn về sự hài lòng khác nhau. Logistics là một  
trong những ngành dịch vụ đòi hỏi sự hài lòng của  
khách hàng về chất lượng dịch vụ rất cao. Các công ty  
logistics xây dựng bộ tiêu chuẩn 7 “Đúng” để nâng  
cao năng lực cạnh tranh bao gồm: “Đúng sản phẩm,  
Đúng khách hàng, Đúng số lượng, Đúng điều kiện,  
Đúng địa điểm, Đúng thời điểm, và Đúng chi phí”.  
Tuy nhiên, hiện nay việc tìm hiểu các nhân tố ảnh  
hưởng tới sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực  
logistics vẫn còn khá ít.  
Mục đích của nghiên cứu này là khám phá các  
nhân tố quan trọng tác động đến sự hài lòng của khách  
SỐ 68 (11-2021)  
90  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
hàng tại công ty logistics. Đối tượng nghiên cứu là sự  
hài lòng của khách hàng tại công ty logistics. Nghiên  
cứu sẽ được thực hiện tại công ty Cổ phần Giao nhận  
vận tải Con Ong - chi nhánh tại Hải Phòng, với  
phương châm luôn đặt khách hàng là ưu tiên hàng đầu,  
là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.  
với sự khác nhau giữa những gì khách hàng dự báo  
nhận được so với những gì họ nhận được, đối với sự  
thỏa mãn các mục tiêu, yêu cầu hay mong ước.  
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
khách hàng  
Nghiên cứu dựa trên mô hình SERVPERF của tác  
giả Cronin và Taylor (1992). Theo mô hình này, có 5  
tác nhân tác động đến sự hài lòng khách hàng về chất  
lượng dịch vụ là tính hữu hình, sự đáp ứng, sự đảm  
bảo, sự đồng cảm và sự tin cậy. Đây là 5 nhân tố đã  
được nhóm tác giả Parasuraman kiểm định trong mô  
hình 5 khoảng cách (1985), mô hình SERVQUAL  
(1988) và được các tác giả sau này, điển hình như  
Cronin & Taylor (1992) dùng để thiết kế mô hình  
SERVPERF. Những tác giả này đều cho rằng 5 nhân  
tố kể trên đều có sự ảnh hưởng mang tín hiệu tích cực  
đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ.  
Mặc dù SERVPERF là mô hình được phát triển dựa  
trên mô hình SERVQUAL, vẫn giữ lại các biến quan  
sát và nhân tố ảnh hưởng, nhưng so với việc đo lường  
sự hài lòng về chất lượng dịch vụ dựa trên sự chênh  
lệch giữa trải nghiệm kỳ vọng và thực tế nhận được  
như mô hình gốc thì chỉ đánh giá dựa trên trải nghiệm  
thực tế của khách hàng.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng  
dịch vụ  
Như Zeithaml (2003) đã từng đề cập: Chất lượng  
dịch vụ chính là nhận xét của khách hàng về tính vượt  
trội và sự xuất sắc của một sự tồn tại độc lập. Nó là  
một hình thức của thái độ và là kết quả sau khi có sự  
so sánh giữa những gì được kỳ vọng và đánh giá về  
những điều mà khách hàng thực tiễn được nhận.  
Tuy rằng giữa sự thỏa mãn của khách hàng và chất  
lượng dịch vụ có mối tương quan với nhau nhưng có  
ít báo cáo phân tích tập trung vào việc đánh giá mức  
ý nghĩa các yếu tố của chất lượng dịch vụ đối với sự  
hài lòng, đặc biệt là trong mỗi ngành dịch vụ riêng biệt  
(Lassar và các cộng sự, 2000). Zeithaml và Bitner  
(2000) đã chỉ ra sau khi nghiên cứu: Ngoài xem xét  
dịch vụ có chất lượng như thế nào thì giá cả, chất  
lượng sản phẩm, yếu tố hoàn cảnh, sở thích của từng  
cá nhân cũng tác động trực tiếp đến việc làm khách  
hàng có cảm giác thỏa mãn. Mặt khác, sự thỏa mãn  
được xem là kết quả còn chất lượng dịch vụ là nguyên  
nhân; đặc điểm của sự hài lòng mang tính dự đoán, kỳ  
vọng, trong khi chất lượng dịch vụ được coi là một  
tiêu chuẩn hoàn hảo. Trong các lĩnh vực khác nhau, đã  
có nhiều báo cáo chứng minh được mối quan hệ giữa  
chất lượng dịch vụ và việc làm khách hàng thấy thỏa  
mãn. Những tác giả Baski & Paria (2011); Seth,  
Momaya and Gupta (2008); Rakesh (2012) đều cho  
rằng chất lượng dịch vụ tốt là tác nhân tác động tới sự  
hài lòng của khách hàng (Lê Tấn Tường, 2013).  
[1] Tính hữu hình: Đại diện cho những trang thiết  
bị vật chất của một doanh nghiệp về sự đầy đủ, hiện  
đại. Ngoài ra, hữu hình còn chỉ về đội ngũ nhân viên  
như sự ưa nhìn, trang phục đẹp, thời gian phục vụ lưu  
động (Parasuraman, 1988). Tính hữu hình cũng được  
hiểu là yếu tố mà khách hàng có thể quan sát bằng mắt  
thường. Khi kết luận có nên sử dụng dịch vụ một lần  
nữa tại doanh nghiệp không, một số nhà tiêu dùng  
nghĩ rằng họ sẽ đối diện với một rủi ro nào đó do dịch  
vụ là một sản phẩm vô hình. Họ không thể nào biết  
được công ty sẽ đem lại cho mình điều gì cho đến khi  
trực tiếp trải nghiệm chúng. Do vậy, yếu tố hữu hình  
là điều cần thiết mà khách hàng quan tâm để họ cảm  
thấy yên tâm, không cần phải lo lắng khi sử dụng.  
Theo nghiên cứu của Fornell (1995) kết luận cảm  
giác thất vọng hay thỏa mãn sau khi sử dụng là cách  
thức mà khách hàng đưa ra đánh giá về việc so sánh  
sự khác nhau khi cảm nhận giữa kỳ vọng, mong đợi  
về sản phẩm, dịch vụ trước khi sử dụng với cảm nhận  
thực tiễn về sản phẩm, dịch vụ sau khi sử dụng.  
Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng việc khách hàng  
có cảm thấy hài lòng hay không phụ thuộc vào nhận  
định của họ về một sản phẩm hay một dịch vụ đã thỏa  
mãn được những mong đợi, nhu cầu của họ.  
Hansemark, O. C., & Albinson (2004) đưa ra khái  
niệm sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch  
vụ là cách nhìn nhận tổng quan của khách hàng đối  
với công ty cung cấp dịch vụ, hoặc sự thay đổi thái độ  
Giả thuyết H1: Có sự tác động tích cực của nhân  
tố tính hữu hình tới sự hài lòng về chất lượng dịch vụ.  
[2] Sự đáp ứng: Theo Parasuraman, yếu tố này  
đưa ra đánh giá khách quan về khả năng doanh nghiệp  
sẵn sàng giúp đỡ người sử dụng dịch vụ, giải quyết  
các khiếu nại một cách kịp thời và hiệu quả, hay có  
thể hiểu đây là cách thức công ty cung cấp dịch vụ  
phản hồi lại đối với những nhu cầu khác nhau từ khách  
hàng. Một biểu hiện khác của việc đáp ứng nhu cầu là  
có khả năng cung cấp dịch vụ theo từng đòi hỏi của  
từng khách hàng riêng lẻ hay nhóm khách hàng riêng  
biệt, đồng thời doanh nghiệp cũng cần để ý đến thời  
SỐ 68 (11-2021)  
91  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
gian xử lý xác yêu cầu phát sinh khác. Không chỉ đáp  
ứng dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng và đáp ứng  
nhanh nhất có thể, mà việc cung cấp thêm các dịch vụ  
gia tăng, dịch vụ sau khi bán và tăng cường sự giúp  
đỡ đối với khách hàng cũng là nguyên nhân giúp nâng  
cao sự đáp ứng. Điều này sẽ khiến khách hàng có cảm  
giác thỏa mãn khi tiêu dùng dịch vụ, tạo lập nên lòng  
trung thành của khách hàng.  
doanh nghiệp giữ được lời hứa, đặc biệt là cam kết  
liên quan tới kết quả của quá trình sử dụng dịch vụ  
hay thuộc tính dịch vụ cốt lõi. Khi công ty thực hiện  
điều này một cách hiệu quả nhất sẽ đem lại cho khách  
hàng sự tin tưởng từ đó nâng cao, cải thiện trải nghiệm  
của người tiêu dùng trong quá trình trải nghiệm dịch  
vụ tại doanh nghiệp, khiến họ cảm thấy hài lòng.  
Giả thuyết H5: Có sự tác động tích cực của nhân  
tố Sự tin cậy tới sự hài lòng về chất lượng dịch vụ.  
Giả thuyết H2: Có sự tác động tích cực của nhân  
tố sự đáp ứng tới sự hài lòng về chất lượng dịch vụ  
=> Mô hình nghiên cứu mà nhóm chúng tôi đề  
xuất được thể hiện như hình dưới đây:  
[3] Sự đảm bảo: Theo Parasuraman đây thành  
phần giúp đo lường khả năng tạo cho khách hàng sự  
tín nhiệm, cảm giác yên tâm khi sử dụng dịch vụ thông  
qua quy cách phục vụ của nhân viên tại công ty. Để  
cải thiện chất lượng dịch vụ thì việc thúc đẩy đội ngũ  
nhân viên là vô cùng quan trọng vì họ là “bộ mặt” của  
doanh nghiệp, là người trực tiếp đứng ra giao tiếp với  
khách hàng. Đây có thể nói là chìa khoá then chốt cho  
việc khách hàng duy trì sử dụng dịch vụ của doanh  
nghiệp nữa hay không. Với doanh nghiệp, khi nhân  
viên của họ có sự kết hợp giữa biểu hiện phục vụ tốt  
và sở hữu kiến thức chuyên môn cao sẽ tạo niềm tin,  
cảm giác hài lòng cho khách hàng khi tiêu dùng dịch  
vụ, từ đó khiến họ trở thành khách hàng trung thành  
của doanh nghiệp.  
Hình 1. Mô hình đề xuất các nhân tố tác động  
đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng  
dịch vụ  
Giả thuyết H3: Có sự tác động tích cực của nhân  
tố sự đảm bảo tới sự hài lòng về chất lượng dịch vụ  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
[4] Sự đồng cảm: Đo lường mức độ săn sóc, quan  
tâm để ý tới mỗi cá nhân khi họ trải nghiệm dịch vụ  
để khiến họ luôn cảm nhận được sự đón tiếp nhiệt tình  
(Parasuraman, 1988). Mỗi khách hàng lại có nhu cầu,  
kỳ vọng vào dịch vụ, thái độ và sự hài lòng khác nhau  
và ai cũng muốn được đối xử như cá thể đặc biệt, được  
cung cấp dịch vụ tận tình, chu đáo. Công ty cung cấp  
dịch vụ có thể đặt mình vào vị trí của khách hàng sẽ  
giúp doanh nghiệp có cái nhìn rõ hơn về quan điểm  
của người sử dụng dịch vụ. Khách hàng sẽ có nhận xét,  
phản hồi tốt nếu như thấy được nhà cung cấp dịch vụ  
đang rất cố gắng để hiểu hết nhu cầu của mình.  
Theo Hair và cộng sự (2006), “đối với phân tích  
nhân tố khám phá (EFA) thì số lượng mẫu tối thiểu  
đảm bảo theo công thức: n ≥ 5*x (n: Là cỡ mẫu, và x:  
Là số biến quan sát). Áp dụng với công thức trên ta có  
số mẫu tối thiểu với 15 biến quan sát và 3 biến cho sự  
hài lòng là: n ≥ 5*18 = 90 mẫu.  
Có thể thấy, để đảm bảo tính chính xác và hợp lý  
của nghiên cứu, kích thước tệp mẫu yêu cầu cần tối  
thiểu là 90 đối tượng tham gia khảo sát. Để đảm bảo  
số lượng mẫu hợp lệ thu thập được và để tăng mức độ  
tin cậy trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tiến  
hành khảo sát 186 khách hàng tại Công ty cổ phần  
Giao nhận vận tải Con Ong chi nhánh Hải Phòng  
thông qua hình thức phát phiếu điều tra, hỏi qua điện  
thoại và gửi thư điện tử để lấy ý kiến. Nghiên cứu sử  
dụng thang đo Likert 5 mức độ để thu thập dữ liệu.  
Sau khi có dữ liệu thu thập được, nhóm tác giả tiến  
hành đánh giá độ tin cậy của dữ liệu thông qua hệ số  
Cronbach’s Alpha. Sau đó, sử dụng phương pháp phân  
tích nhân tố khám phá (EFA) để tìm ra các biến quan  
sát có ý nghĩa lớn và tương quan với nhau.  
Giả thuyết H4: Có sự tác động tích cực của nhân  
tố Sự đồng cảm tới sự hài lòng về chất lượng dịch vụ  
[5] Sự tin cậy: Theo Parasuraman (1988) sự tin  
cậy đánh giá năng lực cung cấp, thực hiện các dịnh vụ  
đã đề ra đúng với những gì công ty đã cam kết, hứa  
hẹn ngay từ lần đầu tiên. Các cam kết thường được  
doanh nghiệp đưa ra bằng việc ứng dụng các phương  
pháp marketing, trong hợp đồng và thư tín của công  
ty, hoặc trong chính sách dịch vụ được công ty công  
bố và các gói bảo hiểm. Thông thường, khách hàng có  
xu hướng muốn hợp tác kinh doanh đối với những  
SỐ 68 (11-2021)  
92  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
4. Kết quả nghiên cứu  
Total Varicance  
Explained  
4.1. Kiểm định Cronbachs Alpha  
Giá trị Eigenvalue  
1.317  
2.092  
Theo Nunnally (1978), Peterson (1994), thang đo  
được chấp nhận và đánh giá tốt cần đáp ứng 2 điều  
kiện: Hệ số Cronbach`s Alpha của tổng thể > 0,6; và  
Hệ số tương quan tổng biến (Corrected Item -Total  
Correlation) > 0,3 [9].  
Nguồn: Tác giả tổng hợp sau khi phân tích bằng SPSS  
4.3. Ma trận xoay  
Bảng 3. Ma trận xoay  
Component  
Bảng 1. Kết quả độ tin cậy của các nhân tố  
1
2
3
4
5
Corre  
cted  
Cronb  
ach's  
Correc Cronb  
HH1  
HH2  
HH3  
DU1  
DU2  
DU3  
DB1  
DB2  
DB3  
DC1  
DC2  
DC3  
TC1  
TC2  
TC3  
.879  
.873  
.871  
ted  
ach's  
Alpha  
if Item  
Biến  
quan  
sát  
Biến  
quan  
sát  
Item-  
Total  
Alpha  
if Item  
Item-  
Total  
.890  
.879  
.867  
Correl Delete  
ation  
Cronbach’s Alpha: .879  
Correl Delete  
ation  
Cronbach’s Alpha: .851  
d
d
.827  
.897  
.860  
HH1  
HH2  
HH3  
.794  
.762  
.745  
.803  
.833  
.848  
DU1  
DU2  
DU3  
.739  
.756  
.720  
.808  
.762  
.800  
.867  
.876  
.850  
Cronbach’s Alpha: .862  
Cronbach’s Alpha: .837  
DB1  
DB2  
DB3  
.721  
.7805  
.694  
.822  
.746  
.849  
DC1  
DC2  
DC3  
.703  
.704  
.692  
.771  
.770  
.782  
.821  
.824  
.736  
Cronbach’s Alpha: .698  
Cronbach’s Alpha: .780  
TC1  
TC2  
TC3  
.551  
.561  
.505  
.559  
.613  
.650  
HL1  
HL2  
HL3  
.600  
.548  
.720  
.728  
.775  
.765  
Nguồn: Kết quả sau khi phân tích bằng phần mềm SPSS  
=> Từ bảng phân tích của ma trận xoay ta thấy, 5  
yếu tố hội tụ từ 5 biến, hệ số tải nhân tố Factor  
Loading của tất cả các biến đều lớn hơn 0,5. Như vậy,  
không có biến nào bị loại.  
Nguồn: Tổng hợp sau khi phân tích bằng SPSS  
Theo mô hình lý thuyết đã đưa ra, bảng câu hỏi  
gồm 5 nhóm biến độc lập và 1 biến phụ thuộc. Thang  
đo Likert hiện hữu dòng giá trị 1 đến 5 sử dụng nhằm  
đo lường mức cảm nhận của người tham gia khảo sát  
về các biến ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.  
4.4. Kiểm định tương quan  
Từ ma trận này ta sẽ thấy được mối liên quan giữa  
giá trị phụ thuộc HLso cùng các biến độc lập HH, DU,  
DB, DC, TC. Với giá trị Sig. đều nhỏ (<0,05) nên ý  
nghĩa thống kê đều được thể hiện qua hệ số tương  
quan của các biến.  
Dưới đây là bảng Kết quả phân tích độ tin cậy  
Cronbachs Alpha cho các nhóm biến.  
4.2. Kiểm định EFA  
Bảng 4. Kiểm định tương quan  
Nhằm thỏa mãn các yêu cầu của việc phân tích,  
cần: Hệ số KMO đạt 0,5 =< KMO =< 1; Hệ số tải nhân  
tố (Factor loading) > 0,5; Kiểm định Bartlett thể hiện  
ý nghĩa thống kê Sig. < 0,05; Phần trăm phương sai  
toàn bộ (Percentage of variance) > 50%.  
HH_ DU_ DB_ DC_ TC HL  
tb  
tb  
tb  
tb  
tb  
tb  
Pearson  
Correlatio  
n
1
HH  
Bảng 2. Kiểm định Bartlett (giá trị sig.)  
_tb Sig. (2-  
Chỉ tiêu  
Hệ số KMO  
Biến độc lập Biến phụ thuộc  
tailed)  
N
.732  
.654  
186  
Kiểm định Bartlett  
(giá trị sig.)  
Pearson  
DU  
.000  
.000  
Correlatio -.060  
n
1
_tb  
Phương sai trích  
76.078  
69.737  
SỐ 68 (11-2021)  
93  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
Sig. (2-  
.412  
sự hài lòng của khách hàng về chất lượng sản phẩm  
dịch vụ với các hệ số lần lượt là 1 = 0,138; 2 = 0,348;  
3 = 0,259; 4 = 0,259.  
tailed)  
N
186 186  
Bảng 5. Phân tích hồi quy  
Pearson  
Correlatio .424** .069  
1
n
DB  
_tb  
Hệ số  
Hệ số chưa  
chuẩn hoá  
Hiện tượng đa  
cộng tuyến  
Sig. (2-  
.000 .346  
tailed)  
chuẩn  
Giá trị  
hoá  
Mô hình  
t
Sig  
N
186 186 186  
Sai số  
B
Pearson  
Beta  
Tolerance VIF  
chuẩn  
Correlatio .083 .009 .039  
1
Hằng  
số  
n
1.577 .281  
5.606 .000  
DC  
_tb  
Sig. (2-  
.258 .903 .594 .002  
186 186 186 186  
1
HH .064 .029 .138 2.194 .030  
DU .194 .036 .348 5.419 .000  
DC .196 .048 .259 4.079 .000  
TC .128 .032 .259 3.981 .000  
.982  
.942  
.963  
.917  
1.018  
1.061  
1.039  
1.090  
tailed)  
N
Pearson  
TC  
_tb  
Correlatio .053 .223** .071 -.161*  
1
Nguồn: Kết quả sau khi phân tích bằng phần mềm  
n
Hàm hồi quy của nghiên cứu có dạng như sau: HL  
= 1,1577 + 0,138*HH + 0,348*DU + 0,259*DC +  
0,259*TC + e.  
Sig. (2-  
.472 .002 .339 .028  
tailed)  
N
186 186 186 186 186  
Bảng 6. Giá trị R  
Pearson  
Yếu tố đánh giá  
R bình phương hiệu chỉnh  
Sig kiểm định của F  
Giá trị chạy bảng  
0,282  
Correlatio  
.152* .399** .132 .232** .302**  
.038 .000 .072 .001 .000  
1
HL n  
0,000  
_tb Sig. (2-  
186 186 186 186 186 186  
HL = 1,1577 + 0,138*HH +  
0,348*DU + 0,259*DC +  
0,259*TC + e.  
tailed)  
N
Phương trình hồi quy chuẩn  
hoá  
Nguồn: Kết quả sau khi phân tích bằng phần mềm  
Nguồn:Tác giả tổng hợp sau khi phân tích bằng SPSS  
Từ bảng kết quả tương quan ta thấy giá trị sig giữa  
biến Sự hài lòng (biến phụ thuộc) và biến Sự đảm bảo  
(biến độc lập) lớn hơn 0,05 (0,072), vì vậy không có  
sự tương quan tuyến tính giữa cặp biến này => biến  
Sự đảm bảo sẽ không được đưa vào phân tích hồi quy.  
Trong phân tích phương sai, kiểm định F được coi  
là phương pháp khẳng định giả thuyết về mức phù hợp  
của mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát từ đó nhận  
định sự liên hệ tuyến tính của biến phụ thuộc với toàn  
bộ tập hợp của các biến độc lập. Với trường hợp trên,  
có thể nhận định rằng thống kê F có giá trị Sig. = 0.000  
< 0.05 vậy nên mô hình sử dụng là hoàn toàn phù hợp.  
4.5. Mô hình hồi quy đa nhân tố  
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có dạng: y =   
+ 1x1i + 2x2i + 3x3i + ...... + kxki + i. Trong nghiên  
cứu hiện tại, phương trình hồi quy tuyến tính đa biến  
với 4 yếu tố (x1 = tính hữu hình, x2 = sự đáp ứng, x3 =  
sự đồng cảm, x4 = sự tin cậy) sẽ có dạng như sau: Sự  
hài lòng = + 1 (tính hữu hình) + 2 (sự đáp ứng ) +  
3 (sự đồng cảm) + 4 (sự tin cậy) ....+ .  
Căn cứ vào phương trình hồi quy tuyến tính trong  
phần phân tích nêu trên, nhận thấy nhân tố cấu trúc  
giá có hệ số β chuẩn hóa là 0,348 lớn nhất, bên cạnh  
đó hệ số β chuẩn hóa của nhân tố sự đồng cảm là 0,259  
và nhân tố sự tin cậy là 0,259 cũng có độ lớn bằng hệ  
số β chuẩn hóa của nhân tố sự đáp ứng, nhân tố tính  
hữu hình có hệ số β chuẩn hóa là 0,138. Đây là bước  
tiền đề quan trọng, định hướng doanh nghiệp hướng  
đến yếu tố then chốt quyết định sự hài lòng của khách  
hàng đối với doanh nghiệp mình.  
Kết quả chỉ ra rằng các giả thuyết nghiên cứu có  
hệ số sig < 0,05. Do vậy, các giả thuyết nghiên cứu  
H1, H2, H4, H5 được chấp nhận. Kết quả phân tích dữ  
liệu chỉ ra rằng, các biến (tính hữu hình, sự đáp ứng,  
sự đồng cảm và sự tin cậy) có tác động tích cực đến  
SỐ 68 (11-2021)  
94  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XàHỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
5. Kết luận  
nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở con số 186 khách hàng,  
vẫn còn rất nhỏ so với lượng khách hàng thực tế tại  
công ty, do vậy khả năng nhận định tổng quát của đề  
tài luận án chưa thật sự cao.  
Sau khi áp dụng mô hình SERVPERF vào nghiên  
cứu đã xác định được những tác nhân tác động đến  
mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch  
vụ. Cụ thể, mô hình đã lược bỏ biến Sự đảm bảo do  
không đáp ứng được điều kiện khi phân tích tương  
quan, 4 nhân tố còn lại được sắp xếp theo mức độ tác  
động từ mạnh mẽ đến yếu nhất là: Sự đáp ứng, sự đồng  
cảm, sự tin cậy và tính hữu hình theo mô hình dưới.  
Thứ hai, nghiên cứu chỉ giải thích được 76,078%  
sự biến thiên của Sự hài lòng khách hàng về chất  
lượng dịch vụ bởi sự biến thiên của 5 nhân tố độc lập.  
Như vậy, ngoài các nhân tố như đã đề cập đến trong  
bài, còn nhiều nhân tố khác có thể giải thích cho sự  
hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ như:  
Giá cả dịch vụ, mối quan hệ với khách hàng,...  
Có thể nhận xét rằng, với kết quả phân tích như ở  
phía trên đã đánh giá rằng khách hàng của Công ty Cổ  
phần Giao nhận vận tải Con Ong trong thời gian qua  
chưa thật sự thấy thỏa mãn về chất lượng dịch vụ mà  
công ty đem lại. Mặc dù đa số các biến quan sát đều  
được khách hàng nhận xét giá ở mức “rất hài lòng”  
nhưng vẫn tồn đọng những ý kiến đánh giá “rất không  
hài lòng”.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Zeithaml, V. and Bitner, M.J., Services Marketing,  
Integrating Customer Focus Across the Firm,  
New York: McGraw-Hill, 2003.  
[2] Walfried M.Lassar, Chris Manolis, Robert D.W.,  
Service quality perspectives and satisfaction in  
private banking, Journal of services Marketing, 2000.  
[3] Zeithaml, V. E-Service quality: Definition,  
dimensions and conceptual model, Cambridge,  
MA: Marketing Science Institute, 2000.  
[4] Lê Tấn Tường, Nghiên cứu sự hài lòng của khách  
hàng với sản phẩm nước uống đóng chai tại CTCP  
cấp nước Hải Dương, Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ,  
Shu - Te University, 2013.  
Hình 2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hài lòng về chất  
Do đó, để tạo dựng được thương hiệu đáng tin hơn  
nữa với mỗi khách hàng thì Công ty Cổ phần Giao  
nhận vận tải Con Ong cần nâng cao chất lượng dịch  
vụ của công ty. Cụ thể tác giả xin đề xuất một số  
khuyến nghị với công ty dựa trên kết quả nghiên cứu:  
- Như nhân tố Sự đồng cảm, công ty cần có kế  
hoạch liên tục kiểm tra, đánh giá thái độ, cung cách  
phục vụ của nhân viên đã đúng mực, đúng chuẩn hay  
chưa là điều cần thiết. Bên cạnh đó, nên thiết lập các  
chỉ tiêu về văn hóa ứng xử của nhân viên vào bảng  
đánh giá, khen thưởng hàng tháng, hàng năm để công  
nhận công sức nỗ lực đóng góp của nhân viên và tạo  
tiền đề, khuyến khích các nhân viên cùng nhau hoàn  
thiện bản thân trong tác phong phục vụ;  
[5] Michael D.J., Eugene W.A., Claes Fornell,  
Rational and Adaptive Performance Expectations  
in a Customer Satisfaction Framework, Jounal of  
Consumer Research, 1995.  
[6] Hansemark, O. C., & Albinsson, M., Customer  
satisfaction and retention: The experiences of  
individual Employees, Managing Service Quality,  
An International Journal, 2004.  
[7] JJ Cronin Jr, SA Taylor, Measuring service  
quality: a reexamination and extension, Journal of  
Marketing, 1992.  
[8]  
A
Parasuraman, VA Zeithaml,  
L Berry,  
SERVQUAL: A multiple-item scale for measuring  
- Hay với nhân tố Sự đáp ứng nên xây dựng môi  
trường làm việc, thay đổi suy nghĩ, quan điểm của đối  
tượng lao động từ “hoàn thành tốt kết quả kinh doanh  
và đạt lợi nhuận cao” sang mục tiêu “thỏa mãn tối đa  
nhu cầu của khách hàng, từ đó hoàn thành kế hoạch  
kinh doanh, tăng trưởng lợi nhuận”.  
consumer perceptions of service quality, 1988  
[9] Tabachnick, B.G., Fidell, L.S., Using Multivariate  
Statistics, 3rd Edition, NewYork Harper Collins, 1996.  
[10] Hair, J., Black, W., Babin, B., Anderson, R.,  
Tatham, R., Multivariate Data Analysi, 6th Edition,  
Person Prentice Hall, 2006.  
Cùng với những đóng góp đã được trình bày,  
nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định.  
Thứ nhất, nghiên cứu mới chỉ đạt hiệu quả khi áp  
dụng và thực hiện với các khách hàng mới. Mẫu  
Ngày nhận bài:  
26/5/2021  
17/6/2021  
09/7/2021  
Ngày nhận bản sửa:  
Ngày duyệt đăng:  
SỐ 68 (11-2021)  
95  
pdf 6 trang Thùy Anh 13780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ: Nghiên cứu tại công ty Cổ phần Giao nhận vận tải con ong chi nhánh Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_tac_dong_den_su_hai_long_cua_khach_hang_ve_chat.pdf