Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ Kế toán viên và kiểm toán viên - Nghiên cứu thực nghiệm tạ

78  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ Kế toán viên và  
Kiểm toán viên - Nghiên cứu thực nghiệm tại Cần Thơ  
Factors influencing on the intention towards getting the Vietnamese  
certified public accountant certificate - An empirical in Can Tho  
Nguyễn Thúy An1*, Lê Phước Hương1, Huỳnh Nhựt Phương1  
1Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: n[email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định  
tham dự thi lấy chứng chỉ kế toán viên và kiểm toán viên (Certified  
Public Accountant - CPA) của Việt Nam đối với cá nhân có chuyên  
ngành bậc đại học là kế toán và kiểm toán trên địa bàn thành phố  
Cần Thơ. Nghiên cứu này dựa trên thuyết hành vi hợp lý (Theory  
of Reasoned Action - TRA) và thuyết dự định hành vi (Theory of  
Planned Behaviour - TPB) để xây dựng mô hình nghiên cứu. Dữ  
liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn 400 đáp viên thông qua  
bảng câu hỏi. Sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích  
nhân tố khẳng định CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM,  
nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ thuận chiều của quy định  
liên quan kỳ thi, quan điểm cá nhân về nghề nghiệp, yếu tố kỳ vọng  
và thái độ đối với việc dự thi, tiếp theo đó, thái độ dự thi lấy chứng  
chỉ và sự hỗ trợ từ trường đại học đào tạo ngành có mối quan hệ  
thuận chiều với ý định dự thi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số  
giải pháp để thúc đẩy ý định dự thi của những cá nhân phù hợp với  
chuyên ngành đào tạo, và các hướng nghiên cứu tiếp theo để xác  
định các nhân tố thúc đẩy từ ý định đến quyết định dự thi lấy chứng  
chỉ CPA Việt Nam.  
Ngày nhận: 14/04/2021  
Ngày nhận lại: 18/05/2021  
Duyệt đăng: 25/05/2021  
Từ khóa:  
chứng chỉ kế toán viên và kiểm  
toán viên Việt Nam; ý định dự  
thi; thái độ dự thi  
ABSTRACT  
The study aims to investigate the drivers of the intention of  
person majoring in accounting and auditing in Can Tho City towards  
getting Certified Public Accountant (CPA) Certificate in Vietnam.  
The study is based on the Theory of Reasoned Action (TRA) and the  
Theory of Planned Behaviour (TPB). By adopting the quantitative  
research, the study applies Exploratory Factor Analysis (EFA),  
Confirmatory Factor Analysis (CFA), Structural Equation Model  
(SEM) in figuring out the drivers of the intention of getting the CPA  
certificate. The outcome shows that regulation of CPA examination,  
career viewpoint, expectation positively effect on attitude of  
participating the Exam, from that the attitude and university’ support  
have significant positive influence on personal intention of sitting  
for the CPA examination. Also, the research gives some suggestions  
Keywords:  
Vietnamese certified public  
accountant certificate;  
intention; attitude  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
79  
and some future research in order to improve attitude and motivate  
people to decide to sit for the CPA Exam.  
1. Giới thiệu  
Một trong những nội dung trong tầm nhìn đến 2030 đã được Chính phủ Việt Nam phê  
duyệt theo Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 (Thủ tướng chính phủ, 2013) là cần phát  
triển mạnh hơn về thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán trong và ngoài nước và tăng nhanh số  
lượng kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề. Bên cạnh đó, Luật Kiểm Toán Độc Lập (KTĐL)  
được Quốc hội ban hành vào năm 2011 khuyến khích việc mở rộng đầu vào dự thi để tăng số lượng  
người có chứng chỉ kiểm kế toán viên và kiểm toán viên (Certified Public Accountant - CPA) Việt  
Nam (Quốc hội, 2011). Thêm vào đó, nguồn nhân lực kế toán hành nghề và kiểm toán viên còn có  
cơ hội làm việc ngoài nước nhờ vào sự thỏa thuận của Việt Nam và các nước ASEAN. Nhân viên  
đạt được chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp có thể được tuyển chọn vào làm kế toán ở cấp cao,  
từ đó gia tăng mức thu nhập, có cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn ở những công ty kiểm toán lớn.  
Bên cạnh chiến lược quốc gia và cơ hội rõ ràng để nguồn nhân lực kế toán và kiểm toán  
Việt Nam phát triển ở thị trường trong và ngoài nước thì vẫn còn tồn tại một số khó khăn cho  
nguồn nhân lực trên, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Thứ nhất, do đội ngũ lao  
động ngành kế toán, kiểm toán được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trong khu vực là nhiều,  
tuy nhiên trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác của sinh viên chưa  
cao, số lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường chỉ nắm lý thuyết, chưa có kinh nghiệm thực tế còn  
nhiều. Thứ hai, số lượng sinh viên kế toán ra trường mặc dù tìm được việc làm nhưng do hạn chế  
về kiến thức, khả năng ngoại ngữ và áp lực công việc hiện tại nên số lượng nhân viên kế toán chưa  
đủ tự tin để dự thi lấy chứng chỉ kế toán viên và kiểm toán viên tại Việt Nam. Do đó rất cần thiết  
để đào tạo được đội ngũ nhân viên kế toán và kiểm toán có nhận thức và có khả năng đạt được  
chứng chỉ CPA Việt Nam. Vì thế, việc thay đổi nhận thức và cải thiện năng lực của nhóm đối  
tượng có chuyên ngành kế toán và kiểm toán nhằm thúc đẩy ý định dự thi và đạt được chứng chỉ  
CPA Việt Nam khi dự thi là việc làm cần thiết. Bên cạnh nhiều nghiên cứu liên quan đến ý định  
dự thi lấy chứng chỉ CPA đã được thực hiện ngoài nước, vấn đề này chưa được quan tâm nghiên  
cứu ở Việt Nam. Chính vì các lý do nêu trên, mục tiêu bài viết này là đánh giá các nhân tố ảnh  
hưởng đến ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA Việt Nam của đối tượng có chuyên ngành bậc đại học  
là kế toán và kiểm toán ở thành phố Cần Thơ, từ đó tìm ra các giải pháp để thúc đẩy cá nhân dự  
thi lấy chứng chỉ nghề nghiệp khi họ đủ điều kiện để đăng ký thi.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Khái niệm chính  
Ý định là một yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng một cá nhân thực hiện hành vi  
của mình trong tương lai. Ý định là kế hoạch hay khả năng mà một cá nhân sẽ thực hiện một hành  
động cụ thể trong một hoàn cảnh nhất định. Ngoài ra, ý định còn thể hiện về mặt nhận thức của họ  
về sự sẵn sàng thực hiện một hành động nào đó (Ajzen & Fishbein, 1975). Theo Ajzen (1991) thì  
ý định hành vi là dấu hiệu của một cá nhân có khả năng thực hiện một hành vi đặc biệt và nó là  
tiền đề của hành vi. Trong khi quan hệ giữa ý định và hành vi thực tế là không hòa hợp hoàn toàn  
nhưng ý định có thể được sử dụng như là nhân tố tốt nhất để dự đoán hành vi (Ajzen, 1991). Thuyết  
hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Fishbein (1967) phát triển từ năm 1967.  
Trong mô hình TRA, các cá nhân có thái độ và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và  
đưa ra sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, thì cách tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và  
hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi. Trong khi đó thuyết dự định hành vi (TPB)  
thể hiện được ý định hành vi là hành động của một cá nhân bị tác động bởi ba yếu tố gồm niềm tin  
80  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh  
mẽ thì ý định thực hiện hành động của cá nhân đó càng lớn.  
2.2. Các nghiên cứu trước có liên quan  
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ kế toán viên hành nghề  
và kiểm toán viên (CPA) đã được thực hiện nhiều bởi các tác giả nước ngoài. Đa số các nghiên  
cứu này đã tìm ra được những nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA và các  
chứng chỉ khác của đối tượng là sinh viên như thái độ tích cực đối với chứng chỉ nghề nghiệp,  
năng lực, động lực bên trong và yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài. Cụ thể, Coe (2016) đã cho thấy các  
yếu tố có tác động tích cực đến dự định dự thi gồm yếu tố liên quan đến kỳ thi, sự hỗ trợ và yếu tố  
nghề nghiệp đối với đối tượng khảo sát là sinh viên. Yếu tố thành công của kỳ thi từ năng lực và  
nổ lực của cá nhân cũng có tác động tích cực đến ý định dự thi. Trong khi đó, sự cấp bách khi tham  
dự kỳ thi và yếu tố chi phí được xác định là không có tác động đến ý định dự thi chứng chỉ nghề.  
Solikhah (2014) đã chỉ ra rằng thái độ đối với chứng chỉ kế toán chuyên nghiệp, các chủ thể khách  
quan và các hành vi kiểm soát tác động đến dự định sở hữu chứng chỉ hành nghề đó, kết quả này  
phù hợp với Thuyết dự định hành vi. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Aziz, Ibrahim, Sidik, và  
Tajuddin (2017) chỉ ra rằng sự bền vững của nghề nghiệp, sự tài trợ tài chính và lòng quyết tâm  
của con người có tác động cùng chiều đến dự định đạt chứng chỉ hành nghề. Nghiên cứu này hàm  
ý rằng đội ngũ giảng dạy kế toán và những tổ chức nghề nghiệp cũng như các tổ chức có liên quan  
cần có vai trò trong việc gia tăng số lượng kế toán viên chuyên nghiệp ở Malaysia. Nói chung, các  
nghiên cứu có những đóng góp trong việc đưa ra ngụ ý cho các nhà hoạch định chính sách, những  
nhà giáo dục trong việc thúc đẩy ý định của sinh viên đạt được chứng chỉ nghề nghiệp chuyên  
nghiệp (Aziz et al., 2017; Wen, Hao, & Bu, 2015). Tuy nhiên, do đối tượng khảo sát của các nghiên  
cứu là sinh viên nước ngoài với thái độ đối với nghề nghiệp, hay các chính sách từ chính phủ,  
trường đại học là khác biệt với đặc điểm của mẫu nghiên cứu tại Việt Nam. Trong khi đó, nghiên  
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi đã được thực hiện ở Việt Nam khá nhiều  
nhưng chủ đề về ý định dự thi lấy chứng chỉ hành nghề nói chung còn hạn chế. Chẳng hạn, kết quả  
nghiên cứu của Ho và Phan (2017) đã cho thấy ý định của hành vi đăng ký chọn theo học cao học  
tại Trường Đại học bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gồm thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát  
hành vi và lòng trung thành với thương hiệu của Trường. Mặc dù đây không phải nghiên cứu tập  
trung về ý định dự thi lấy chứng chỉ hành nghề nhưng cũng cho thấy ý định của thực hiện hành vi  
hướng đến nhóm đối tượng chưa thi cao học. Điều này là tương đồng đối với nghiên cứu này vì  
cũng tập trung vào nhóm khảo sát mà họ chưa thực hiện hành vi thi lấy chứng chỉ kế toán viên và  
kiểm toán viên. Thêm vào đó, do nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ nên việc nghiên  
cứu chủ đề này có giá trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, để có thể hướng sinh viên đi đến quyết định  
tham gia một kỳ thi chuyên nghiệp, ngoài động lực bản thân thì thành phần đóng vai trò quan trọng  
góp phần thúc đẩy sinh viên ra quyết định là giảng viên - người trực tiếp giới thiệu đến sinh viên  
về tầm quan trọng, những cơ hội khi sinh viên có được chứng chỉ nghề nghiệp. Đó là điểm hạn  
chế của các nghiên cứu ngoài nước là chưa nhận thấy tầm quan trọng của người giảng viên nên  
chưa và/hoặc ít được cho biến quan sát liên quan đến sự hỗ trợ của giảng viên trong nghiên cứu.  
Theo Nguyen và Nguyen (2016), trong môi trường giáo dục, ý định phụ thuộc rất lớn vào hoạt  
động giảng dạy và hoạt động ngoại khóa nhằm rèn luyện cho sinh viên về kiến thức, kỹ năng và  
thái độ. Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề này cần thiết được thực hiện cho nhóm sinh viên nhằm  
để thúc đẩy họ hình thành ý định dự thi.  
2.3. Mô hình nghiên cứu  
Dựa vào cơ sở lý thuyết cùng các nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được đề xuất theo hình  
sau đây:  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
81  
H1  
H4  
H5  
Quy định liên quan đến  
Thái độ đối với việc dự thi chứng  
kỳ thi CPA  
chỉ CPA  
H2  
H3  
Ý định thi  
chứng chỉ  
CPA  
Sự hỗ trợ từ trường đại học  
Quan điểm cá nhân về  
nghề nghiệp  
H6  
H7  
Phí ôn thi và lệ phí của kỳ thi  
Yếu tố về kỳ vọng  
Mức độ chấp nhận rủi ro  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Xác định cỡ mẫu  
Theo Hoang và Chu (2008) để cỡ mẫu đảm bảo phù hợp với phương pháp phân tích EFA  
thì số quan sát ít nhất phải bằng 04 - 05 lần số biến, trong mô hình nghiên cứu này có 29 biến, tức  
có nghĩa là cần ít nhất là 145 quan sát. Vì vậy, nhằm hạn chế các vấn đề xảy ra khi khảo sát, tác  
giả tiến hành điều tra nhiều hơn số quan sát tối thiểu.  
3.2. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu  
Thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp qua email cho các đối tượng đáp  
viên đang học chuyên ngành kế toán, kiểm toán và đang làm công tác kế toán, kiểm toán liên quan  
nhưng chưa tham dự kỳ thi lấy chứng chỉ CPA Việt Nam. Lý do tập trung vào hai nhóm này là bởi  
vì hai trong những điều kiện dự thi lấy chứng chỉ kế toán viên và kiểm toán viên theo thông tư  
91/2017/TT-BTC của Bộ Tài Chính đã quy định rõ là thí sinh phải có bằng tốt nghiệp đại học trở  
lên về chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các  
chuyên ngành khác với tổng số tiết học các môn học như Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích  
hoạt động tài chính, Thuế từ 7% trở lên … và điều kiện về thời gian làm việc thực tế là  
tối thiểu 36 tháng (Bộ Tài chính, 2017). Mặc dù đối tượng là sinh viên chưa tốt nghiệp nhưng  
chính bởi do việc thúc đẩy ý định dự thi lấy chứng chỉ nên cần được hình thành ngay trên ghế Nhà  
trường vì ý định phụ thuộc vào hoạt động giảng dạy và ngoại khóa (Nguyen & Nguyen, 2016) và  
từ việc hình thành ý định, họ có hoạch định tốt cho việc trở thành kế toán viên và kiểm toán viên  
hành nghề. Trong bảng khảo sát, để đo lường các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất,  
đáp viên sẽ cho biết quan điểm của mình về các khái niệm có liên quan, biết rằng các tiêu chí được  
xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ, với 1 là rất không đồng ý, đến 5 là rất đồng ý.  
Trong nghiên cứu có sử dụng các phương pháp bao gồm kiểm định thang đo bằng  
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô  
hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Trong đó, mô hình SEM được thực hiện bằng phần mềm IBM  
SPSS kết hợp với AMOS 21. Mô hình SEM sẽ cho phép đo lường mối quan hệ giữa các nhân tố  
trong tất cả các biến quan sát và biến tiềm ẩn. Bảng 1 dưới đây trình bày các biến trong mô hình  
nghiên cứu. Trong đó, những biến nhóm tác giả tự thiết kế được xây dựng từ quy định về việc thi,  
cấp, quản lý chứng chỉ kiểm toán viên và kế toán viên (Bộ Tài chính, 2017) và từ thông báo tổ  
chức kỳ thi lấy chứng chỉ kế toán viên và kiểm toán viên hàng năm của Bộ Tài Chính nhằm đánh  
giá tính phù hợp với người có ý định dự thi. Cụ thể, là nhóm “quy định liên quan kỳ thi” và “Phí  
ôn thi và lệ phí thi.” Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn và thảo luận với  
các chuyên gia để xây dựng các biến tự thiết kế còn lại, cụ thể là tiếp cận các nhân viên đã có  
chứng chỉ kiểm toán viên nhằm khám phá ra các nội dung cần thiết của thang đo.  
82  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
Bảng 1  
Các biến trong mô hình  
Thành  
phần  
Biến quan sát  
Nguồn  
[QD1] Quy định về thời gian công tác là phù hợp khi  
tham dự kỳ thi  
Tự thiết kế  
Quy định  
liên quan  
kỳ thi  
[QD2] Các môn dự thi theo quy định của kỳ thi là hợp lý Tự thiết kế  
[QD3] Đối tượng dự thi là phù hợp  
Tự thiết kế  
[NN1]Bạn tự quyết định nghề nghiệp của mình  
Coe (2013)  
[NN2] Bạn nhận thức được trách nhiệm trong việc phát  
triển nghề nghiệp của mình  
Coe (2013)  
Coe (2013)  
Coe (2013)  
Quan điểm  
cá nhân về  
nghề  
[NN3] Đối với bạn, thành công chính là bạn có được sự  
tự do và khẳng định vị trí trong công việc  
nghiệp  
[NN4] Thành công nghề nghiệp chính là bạn xử lý được  
linh hoạt trong mọi tình huống nghề nghiệp  
[KV1] Đạt được chứng chỉ CPA sẽ giúp cho bạn kiếm  
được việc làm mong muốn  
Sugahara và Boland  
(2006); Coe (2013)  
Sugahara và Boland  
(2006); Tan và  
Laswad (2006)  
[KV2] Đạt được chứng chỉ CPA sẽ giúp cho bạn đạt  
được nhiều cơ hội nghề nghiệp trong và ngoài nước  
Yếu tố kỳ  
vọng  
[KV3] Bạn có thể kiếm được việc làm mong muốn mà  
không cần có chứng chỉ CPA  
Coe (2013)  
Sugahara và Boland  
[KV4] Đạt được chứng chỉ CPA sẽ giúp bạn có thu nhập (2006); Tan và  
nhiều hơn và thăng tiến Laswad (2006); Coe  
(2013)  
[TD1] Chứng chỉ CPA VN là cần thiết và quan trọng đối Churchman (2013);  
với kế toán và kiểm toán viên ở Việt Nam và vì thế việc Solikhah (2014);  
dự thi là cần thiết  
Hammour (2018)  
[TD2] Bạn nghĩ rằng thông tin về chứng chỉ CPA VN  
nên được phổ biến rộng rãi cho sinh viên càng sớm càng Tự thiết kế  
tốt để thúc đẩy việc dự thi càng sớm càng tốt  
Thái độ đối  
với việc dự  
thi CPA  
[TD3] Bạn có thái độ hào hứng khi nhận được chia sẻ  
Tự thiết kế  
và/hoặc chia sẻ thông tin về chứng chỉ này  
[TD4] Bạn hài lòng về các quy định liên quan đến kỳ thi  
CPA  
Tự thiết kế  
[PH1] Bạn nghĩ học phí của khóa ôn thi kỳ thi CPA là  
đắt  
Coe (2013)  
Phí ôn thi  
và lệ phí  
thi  
[PH2] Nếu bạn dự thi, bạn nghĩ rằng bạn khó có thể  
Coe (2013)  
tham gia khóa ôn thi  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
83  
Thành  
phần  
Biến quan sát  
Nguồn  
[PH3] Chi phí tham dự thi bao gồm phí hồ sơ và lệ phí  
thi là cao  
Tự thiết kế  
Coe (2013)  
[PH4] Nếu bạn dự thi, bạn nghĩ rằng bạn không có khả  
năng tài chính để trang trãi cho chi phí của kỳ thi  
Coe (2013); Solikhah  
(2014)  
[DH1] Giảng viên bộ môn đã khuyến khích bạn dự thi  
Sự hỗ trợ  
từ Trường  
Đại học  
[DH2] Giảng viên bộ môn đã chỉ ra các nội dung có liên Coe (2013); Solikhah  
quan đến kỳ thi trong quá trình giảng dạy môn học (2014)  
[DH3] Giảng viên bộ môn đã cho bài tập hữu ích có liên Coe (2013); Solikhah  
quan để giúp bạn tham dự kỳ thi  
(2014)  
[RR1] Bạn sẵn sàng chấp nhận kết quả không đạt trong  
trường hợp thi trượt.  
Aziz và cộng sự  
(2017)  
Mức độ  
Aziz và cộng sự  
(2017)  
chấp nhận [RR2] Bạn sẵn lòng ôn thi nữa để thi lần sau  
rủi ro  
[RR3] Nhìn chung, bạn dễ dàng vượt qua được nỗi buồn  
phiền khi có kết quả không tốt  
Tự thiết kế  
[YD1] Bạn sẽ tham dự kỳ thi lấy chứng chỉ CPA VN  
ngay khi đủ điều kiện  
Coe (2013)  
Ý định dự  
thi chứng  
[YD2] Bạn có ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA  
Coe (2013)  
[YD3] Bạn sẽ lên kế hoạch dự thi lấy chứng chỉ CPA  
chỉ CPA  
Tự thiết kế  
[YD4] Bạn sẽ giới thiệu cho những người khác về  
chứng chỉ này.  
Coe (2013)  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các tài liệu có liên quan  
3.3. Giả thuyết nghiên cứu  
Các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình gồm:  
H1: Quy định liên quan đến kỳ thi CPA có tác động cùng chiều đến thái độ dự thi chứng  
chỉ CPA  
H2: Quan điểm cá nhân về nghề nghiệp có tác động cùng chiều đến thái độ dự thi chứng  
chỉ CPA  
H3: Yếu tố về kỳ vọng có tác động cùng chiều đến thái độ dự thi chứng chỉ CPA  
H4: Thái độ đối với việc dự thi chứng chỉ CPA VN có tác động cùng chiều đến ý định dự  
thi chứng chỉ CPA  
H5: Sự hỗ trợ từ trường đại học ảnh hưởng có tác động cùng chiều đến ý định dự thi chứng  
chỉ CPA  
H6: Phí ôn thi và lệ phí dự thi có tác động ngược chiều đến ý định dự thi chứng chỉ CPA  
H7: Mức độ chấp nhận rủi ro có tác động cùng chiều đến ý định dự thi chứng chỉ CPA  
84  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
Bảng 2 trình bày thông tin chung của mẫu nghiên cứu. Cụ thể, về mặt thống kê về chuyên  
ngành của đáp viên, mẫu nghiên cứu có 260 người được phỏng vấn có chuyên ngành kế toán,  
chiếm tỷ lệ 65%, 130 người có chuyên ngành kiểm toán, chiếm tỷ lệ 32.5%, còn lại 2.5% đáp viên  
có chuyên ngành khác nhưng đang làm công tác kế toán. Về nhóm tuổi, có 65.3% đáp viên thuộc  
độ tuổi thuộc nhóm 18 đến 22 tuổi, 33.2% thuộc nhóm tuổi từ 23 - 40 tuổi. Thêm vào đó, có 06  
đáp viên được hỏi có độ tuổi thuộc nhóm thứ 03 là trên 40 tuổi. Mẫu nghiên cứu có 312 đáp viên  
là nữ, chiếm tỷ lệ 78% và 88 đáp viên là nam, chiếm tỷ lệ là 22%.  
Bảng 2  
Thông tin chung của đối tượng được khảo sát  
Đặc điểm  
Chuyên ngành  
Phân loại  
Kế toán  
Tần số  
260  
130  
10  
Phần trăm (%)  
65.0  
32.5  
2.5  
Kiểm toán  
Khác  
Giới tính  
Độ tuổi  
Nam  
88  
22.0  
78.0  
65.3  
33.2  
1.5  
Nữ  
312  
261  
133  
6
Nhóm 18 - 22 tuổi  
Nhóm 23 - 40 tuổi  
Nhóm trên 40 tuổi  
Cỡ mẫu  
100  
400  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát (2020)  
Bảng 3  
Giá trị Cronbach’s Alpha của các thành phần trong mô hình  
Nhóm thành phần  
Quy định liên quan kỳ thi  
Biến  
Cronbach’s Alpha  
0.762  
[QD1] QD2, QD3  
Quan điểm cá nhân về nghề nghiệp  
NN1, NN2, NN3, NN4  
0.774  
Yếu tố kỳ vọng  
KV1, KV2, KV3, KV4  
TD1, TD2, TD3, TD4  
DH1, DH2, DH3  
0.751  
0.729  
0.840  
0.741  
0.706  
Thái độ đối với việc dự thi  
Sự hỗ trợ từ Trường Đại học  
Phí ôn thi và lệ phí thi  
Mức độ chấp nhận rủi ro  
PH1, PH2, PH3, PH4  
RR1, RR2, RR3  
Ý định dự thi chứng chỉ CPA  
YD1, YD2, YD3, YD4  
0.845  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát (2020)  
Bảng 3 trình bày kết quả của việc đánh giá độ tin cậy được phản ánh qua giá trị Cronbach’s  
Alpha của những thang đo trong các khái niệm của mô hình. Để có thể hình thành một đo lường  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
85  
đáng tin cậy thì giá trị này phải lớn hơn 0.7 (Nunnally & Bernstein, 1994). Kết quả trong nghiên  
cứu này cho thấy các thang đo đã đảm bảo được độ tin cậy để đưa vào mô hình nghiên cứu đề  
xuất. Tuy nhiên, biến KV3 trong khái niệm Yếu tố kỳ vọng và biến YD4 trong khái niệm Ý định  
dự thi chứng chỉ CPA bị loại bỏ khỏi mô hình vì việc loại bỏ biến này làm tăng giá trị Cronbach’s  
Alpha cho đo lường này lên giá trị 0.751 và 0.845 tương ứng.  
Bảng 4  
Giá trị của hệ số tải nhân tố của các biến trong mô hình  
Biến  
Hệ số tải nhân tố  
[NN3] Đối với bạn, thành công chính là bạn có được sự tự do và khẳng  
định vị trí trong công việc  
0.750  
[NN2] Bạn nhận thức được trách nhiệm trong việc phát triển nghề nghiệp  
của mình  
0.690  
0.664  
[NN4] Thành công nghề nghiệp chính là bạn xử lý được linh hoạt trong  
mọi tình huống nghề nghiệp  
[NN1]Bạn tự quyết định nghề nghiệp của mình  
[QD2] Các môn dự thi theo quy định của kỳ thi là hợp lý  
[QD1] Quy định về thời gian công tác là phù hợp khi tham dự kỳ thi  
[QD3] Đối tượng dự thi là phù hợp  
0.578  
0.795  
0.684  
0.654  
[KV2] Đạt được chứng chỉ CPA sẽ giúp cho bạn đạt được nhiều cơ hội  
nghề nghiệp trong và ngoài nước  
0.828  
0.621  
[KV1] Đạt được chứng chỉ CPA sẽ giúp cho bạn kiếm được việc làm mong  
muốn  
[DH2] Giảng viên bộ môn đã chỉ ra các nội dung có liên quan đến kỳ thi  
trong quá trình giảng dạy môn học  
0.873  
0.779  
0.733  
[DH1] Giảng viên bộ môn đã khuyến khích bạn dự thi  
[DH3] Giảng viên bộ môn đã cho bài tập hữu ích có liên quan để giúp bạn  
tham dự kỳ thi  
[PH3] Chi phí tham dự thi bao gồm phí hồ sơ và lệ phí thi là cao  
[PH1] Bạn nghĩ học phí của khóa ôn thi kỳ thi CPA là đắt  
0.857  
0.727  
[PH4] Nếu bạn dự thi, bạn nghĩ rằng bạn không có khả năng tài chính để  
trang trãi cho chi phí của kỳ thi  
0.571  
0.884  
0.614  
[RR1] Bạn sẵn sàng chấp nhận kết quả không đạt trong trường hợp thi trượt  
[RR3] Nhìn chung, bạn dễ dàng vượt qua được nỗi buồn phiền khi có kết  
quả không tốt  
[TD3] Bạn có thái độ hào hứng khi nhận được chia sẻ và/hoặc chia sẻ thông  
tin về chứng chỉ này  
0.768  
0.751  
0.517  
[TD2] Bạn nghĩ rằng thông tin về chứng chỉ CPA VN nên được phổ biến  
rộng rãi cho sinh viên càng sớm càng tốt để thúc đẩy việc dự thi càng sớm  
càng tốt  
[TD1] Chứng chỉ CPA VN là cần thiết và quan trọng đối với kế toán và  
kiểm toán viên ở Việt Nam và vì thế việc dự thi là cần thiết  
86  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
Biến  
Hệ số tải nhân tố  
[YD2] Bạn có ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA  
0.908  
0.798  
0.709  
[YD3] Bạn sẽ lên kế hoạch dự thi lấy chứng chỉ CPA  
[YD1] Bạn sẽ tham dự kỳ thi lấy chứng chỉ CPA VN ngay khi đủ điều kiện  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2020  
Kết quả của phân tích nhân tố khám phá EFA thể hiện được tất cả các biến được gom lại  
mà không xảy ra bất kỳ sự xáo trộn các biến đo lường giữa các nhóm thành phần, với giá trị hệ số  
tải nhân tố đòi hỏi phải lớn hơn hoặc bằng 0.5 (Hair, Black, Babin, & Anderson, 2010) được trình  
bày ở Bảng 4. Trong nghiên cứu này, phương pháp phân tích EFA có sử dụng phương pháp rút  
trích Principal Axis Factoring với phép xoay Promax để gom gọn dữ liệu. Kết quả được trình bày  
ở Bảng 4 thể hiện kết quả của EFA lần thứ 02 với các biến PH2 trong khái niệm Phí ôn thi và lệ  
phí thi và RR2 trong khái niệm Mức độ chấp nhận rủi ro bị loại sau khi chạy EFA lần đầu vì có  
hệ số tải nhân tố thấp hơn 0.5.  
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (Hình 2) có 23 biến quan sát đo lường cho 08 biến  
tiềm ẩn được đưa vào xử lý từ kết quả của phân tích EFA. Qua đó, kết quả của CFA đã cho thấy  
các chỉ số đánh giá độ phù hợp chung của mô hình đo lường đều phù hợp với dữ liệu thị trường  
(Hu & Bentler, 1999; MacCallum, Browne, & Sugawara, 1996; Schumacker & Lomax, 2004). Cụ  
thể, mô hình có các giá trị χ2 = 359.946, (df) = 200, χ2 /df = 1.800 và p = 0.000, với GFI = 0.929,  
CFI = 0.955, TLI = 0.943 và RMSEA = 0.045. Bên cạnh đó, các trọng số chuẩn hoá đều lớn hơn  
0.5 và các trọng số chưa chuẩn hoá đều có ý nghĩa thống kê nên các khái niệm đạt được giá trị hội  
tụ. Như vậy, 23 biến quan sát này đủ ý nghĩa đo lường để đưa vào mô hình cấu trúc tuyến tính  
SEM.  
Để ước lượng mô hình nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết đưa ra, nghiên cứu sử dụng  
phương pháp ước lượng maximum likelihood. Kết quả xử lý cho thấy mối quan hệ giữa các nhóm  
yếu tố khá chặt chẽ với độ tin cậy và độ phù hợp tốt. Điều này đã chứng minh được rằng có mối  
quan hệ đáng tin cậy giữa các nhóm yếu tố của thái độ đối với việc dự thi bao gồm quy định liên  
quan kỳ thi, quan điểm cá nhân về nghề nghiệp và yếu tố kỳ vọng. Biến thái độ là biến trung gian  
trong mô hình nên đến lượt thái độ đối với việc dự thi và sự hỗ trợ từ Trường Đại học tác động  
tích cực đến ý định dự thi của đáp viên. Hình 3 thể hiện kết quả của độ phù hợp với dữ liệu thị  
trường của mô hình SEM (MacCallum et al., 1996; Schumacker & Lomax, 2004) với các giá trị  
χ2 = 386.279, (df) = 206, χ2 /df = 1.875 và p = 0.000, với GFI = 0.924, CFI = 0.949, TLI = 0.937  
và RMSEA = 0.047.  
Bảng 5 dưới đây trình bày kết quả ước lượng cấu trúc tuyến tính của mô hình, ta thấy quan  
điểm cá nhân về nghề nghiệp, quy định liên quan kỳ thi và yếu tố kỳ vọng có mối quan hệ với thái  
độ của đáp viên với giá trị ước lượng cho thấy tác động này là tác động cùng chiều với các trọng  
số chưa chuẩn hoá lần lượt là là 0.553 (p = 0.000), 0.165 (p = 0.077) và 0.191 (0.018) tương ứng  
với biến quan điểm cá nhân về nghề nghiệp, quy định liên quan kỳ thi và yếu tố kỳ vọng. Thêm  
vào đó, giá trị biến thiên của dữ liệu của biến Thái độ cho thấy được ba khái niệm trên giải thích  
được 59% biến thiên của thái độ đối với việc dự thi.  
Tiếp theo đó, kết quả cho thấy có sự tác động tích cực của thái độ dự thi và sự hỗ trợ từ  
Trường Đại học lên ý định dự thi đều có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, trong khi tác động  
của mức độ chấp nhận rủi ro và phí, lệ phí lên ý định dự thi không đạt ý nghĩa thống kê. Điều này  
có nghĩa là đáp viên có thái độ càng tốt với việc dự thi lấy chứng chỉ CPA thì ý định dự thi để lấy  
chứng chỉ càng cao, và tương tự vậy khi đáp viên đánh giá sự hỗ trợ từ Trường Đại học càng cao  
thì ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA càng cao. Hai khái niệm này giải thích 42% biến thiên của ý  
định dự thi.  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
87  
Hình 2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) - mô hình đã chuẩn hoá  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu (2020)  
Hình 3. Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính SEM  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát (2019 - 2020)  
88  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
Bảng 5  
Ước lượng cấu trúc tuyến tính - chưa chuẩn hóa  
Mối quan hệ  
THAIDO< --- NGHENGHIEP  
THAIDO< --- QUYDINH  
THAIDO< --- KYVONG  
YDINH< ---THAIDO  
YDINH< --- DAIHOC  
YDINH< --- RUIRO  
Ước lượng  
S.E.  
C.R.  
4.865  
1.766  
2.374  
7.651  
3.246  
0.637  
-0.593  
P
0.553  
0.165  
0.191  
0.616  
0.182  
0.049  
-0.033  
0.114  
0.093  
0.080  
0.056  
0.076  
0.055  
0.080  
***  
0.077  
0.018  
***  
0.001  
0.524ns  
0.553ns  
YDINH< --- PHI  
Độ biến thiên của dữ liệu (Squared Multiple Correlations -SMC): THAIDO = 0.590; YDINH=  
0.420, ***p < 0.001  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát (2020)  
4.2. Thảo luận  
Đầu tiên, kết quả phân tích đã cho thấy yếu tố “Quan điểm cá nhân về nghề nghiệp” có ảnh  
hưởng đến thái độ dự thi của đáp viên. Do đó, để mọi người có thái độ theo chiều hướng tích cực  
đối với chứng chỉ hành nghề và đối với việc dự thi lấy chứng chỉ này đòi hỏi cần tác động đến  
cách nhìn nhận về nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Nếu đáp viên có quan điểm tích cực về nghề  
nghiệp, và có sự tin tưởng đối với nghề nghiệp mình đã chọn sẽ làm tăng thái độ đối với việc dự  
thi lấy chứng chỉ đó. Vì vậy, giả thuyết H2 được ủng hộ trong nghiên cứu này. Tiếp theo là, “yếu  
tố kỳ vọng” có tác động cùng chiều với thái độ dự thi của đáp viên cũng được khẳng định trong  
nghiên cứu này. Hay nói cách khác, chứng chỉ CPA Việt Nam đem đến cho cá nhân càng nhiều  
kỳ vọng thì việc sở hữu chứng chỉ CPA Việt Nam sẽ là một trong những mục tiêu cần phải phấn  
đấu trong nghề nghiệp của những nhân viên có chuyên ngành kế toán và kiểm toán. Chính vì vậy,  
cá nhân có kỳ vọng về tương lai nghề nghiệp càng cao thì càng có thái độ tích cực tham dự kỳ thi  
lấy chứng chỉ. Do đó, giả thuyết H3 được chấp nhận trong nghiên cứu này. Điều này cho thấy có  
điểm giống nhau với nghiên cứu của Coe (2016) khi cho rằng sự kỳ vọng về một công việc có thu  
nhập tốt và khả năng thăng tiến cao khi sở hữu được chứng chỉ nghề có ảnh hưởng đến dự định  
thi. Nghiên cứu của Schoenfeld, Segal, và Borgia (2017) cũng đồng tình với luận điểm trên. Tiếp  
theo, mối quan hệ giữa quy định liên quan kỳ thi CPA Việt Nam có tác động đến thái độ dự thi lấy  
chứng chỉ. Rõ ràng rằng muốn thúc đẩy thái độ tích cực đối với việc dự thi lấy chứng chỉ CPA của  
thí sinh thì các quy định liên quan về kỳ thi cần thiết phải rõ ràng, minh bạch, và tạo điều kiện cho  
thí sinh đăng ký dự thi. Kết quả nghiên cứu này cho thấy các quy định có ảnh hưởng đến thái độ  
của người dự thi, và do đó H1 được ủng hộ trong kết quả nghiên cứu trên. Từ đây, chúng ta có thể  
thấy rằng quy định liên quan sẽ tác động đến ý định dự thi thông qua biến trung gian là thái độ.  
Kết quả này có cùng kết quả với các nghiên cứu trước đây của Solikhah (2014) và Coe (2016) khi  
cho rằng quy định liên quan kỳ thi có tác động cùng chiều đến việc dự thi.  
Trong kết quả nghiên cứu về ý định dự thi, thái độ dự thi có tác động cùng chiều đến ý định  
dự thi lấy chứng chỉ. Điều này có nghĩa là muốn cho cá nhân có ý định dự thi lấy chứng chỉ CPA  
Việt Nam đòi hỏi cần nâng cao thái độ của họ đối với chứng chỉ này. Nếu đáp viên có thái độ tích  
cực, có sự tin tưởng đối với chứng chỉ CPA Việt Nam càng cao sẽ làm tăng ý định của việc dự thi  
lấy chứng chỉ đó. Như vậy, giả thuyết H4 được khẳng định trong nghiên cứu. Kết quả này một lần  
nữa ủng hộ các nghiên cứu trước đây trong việc khẳng định thái độ của cá nhân là tác nhân quan  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
89  
trọng của dự định hành vi (Churchman, 2013; Coe, 2016; Hammour, 2018; Solikhah, 2014). Ngoài  
ra, kết quả nghiên cứu cũng đã thể hiện được sự ủng hộ Lý thuyết hành vi dự định của Ajzen  
(1991). Điều này cho thấy sự áp dụng rộng rãi mô hình của Lý thuyết dự định hành vi không chỉ  
trong lĩnh vực marketing mà còn trong những lĩnh vực khác, cụ thể là trong lĩnh vực giáo dục.  
Thêm vào đó, “Sự hỗ trợ từ Trường Đại học đào tạo ngành” có ảnh hưởng tích cực đến ý định dự  
thi của đáp viên được tìm thấy trong nghiên cứu qua việc chấp nhận giả thuyết H5. Chúng ta thấy  
rằng điều cần thiết là trường Đại học phải nâng cao vai trò hỗ trợ của trường trong việc hình thành  
và thúc đẩy ý định của sinh viên. Trong đó, giảng viên đại học đóng một vai trò rất quan trọng khi  
chia sẻ thông tin và định hướng cho sinh viên. Chính vì vậy, giảng viên và trường đại học đào tạo  
ngành cần tăng cường việc tuyên truyền và phổ biến sự cần thiết và ý nghĩa quan trọng khi sở hữu  
chứng chỉ CPA Việt Nam và những chứng chỉ nghề nghiệp chuyên nghiệp khác. Điều này sẽ là  
một nền tảng cho sinh viên hình thành ý định theo đuổi chứng chỉ này sau khi tốt nghiệp. Kết quả  
nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Solikhah (2014), Wen và cộng sự (2015), Coe  
(2016) khi tìm ra mối quan hệ thuận chiều của sự hỗ trợ từ các giảng viên giảng dạy với ý định dự  
thi lấy chứng chỉ.  
Ngoài ra, nghiên cứu này chưa xác định được “Mức độ chấp nhận rủi ro” tác động đến ý  
định dự thi lấy chứng chỉ CPA Việt Nam vì giá trị p lớn hơn 10%. Cho nên giả thuyết H7 không  
được chấp nhận trong nghiên cứu. Điều này có thể giải thích rằng do mẫu nghiên cứu này có đến  
hơn 65% đáp viên có độ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, vì là thế hệ trẻ, cho nên mức độ chấp nhận rủi ro  
của họ sẽ cao. Bên cạnh đó, rủi ro không đạt kết quả cao, hay rủi ro bị trượt kỳ thi không làm cho  
cá nhân bị thiệt hại vật chất nhiều, hoặc các vấn đề khác. Chính điều đó là một nguyên nhân giúp  
cho cá nhân nhận thức rủi ro này là không cao. Một kết quả nằm ngoài kỳ vọng của nhóm tác giả  
là yếu tố “Phí ôn thi và lệ phí” của kỳ thi vì được tìm thấy là không có ý nghĩa thống kê ở độ tin  
cậy 90%. Lệ phí dự thi của kỳ thi là 250,000 đồng/môn (Bộ Tài chính, 2019) là không quá cao,  
còn tùy theo hình thức, địa điểm ôn thi, … sẽ có mức phí ôn thi là khác nhau. Nếu cá nhân đã  
quyết định chọn cách thức ôn thi qua các khóa học sẽ chủ động lập cho riêng mình một kế hoạch  
tài chính nhằm đáp ứng được khoản phí này cũng như khoảng thời gian khi tạm nghỉ để ôn thi. Do  
đó, giả thuyết H6 bị bác bỏ trong kết quả nghiên cứu này.  
5. Kết luận và hàm ý  
Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ hành vi và từ đó thái độ của hành  
vi kết hợp với sự hỗ trợ từ trường đại học, có ảnh hưởng tích cực tới ý định tham dự thi lấy chứng  
chỉ CPA Việt Nam. Trên cơ sở nhận diện các yếu tố, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng  
cao nhận thức và thúc đẩy ý định dự thi. Cụ thể như sau:  
Thứ nhất, ở góc độ trường Đại học, giảng viên cần nhấn mạnh kiến thức, kỹ năng và lồng  
ghép các tình huống trong việc giảng dạy bởi vì hầu hết các môn thi đều có nội dung giải quyết  
vấn đề. Điều này giúp cho sinh viên hình dung và quen dần với kiểu cho đề thi của kỳ thi. Song  
song đó, giảng viên cần thường xuyên phổ biến các quy định, thông tư mới, … về kế toán, kiểm  
toán, thuế, luật kinh doanh và các kiến thức có liên quan phù hợp trong giảng dạy học phần. Cụ  
thể trong việc giảng dạy các học phần có liên quan đến môn thi, giảng viên nên lồng ghép nội dung  
các môn thi của kỳ thi lấy chứng chỉ vào các bài tập nhóm, đánh giá giữa kỳ hay kỳ thi kết thúc  
học phần, trong đó nên có phần giải quyết tình huống thực tế dựa trên lý thuyết và quy định cụ thể  
hiện hành. Ví dụ, trong nội dung thi của môn Kế toán tài chính, Kế toán quản trị nâng cao sẽ được  
đưa vào học phần Kế toán tài chính 01, 02, 03, và Kế toán quản trị 01, 02 và các học phần như  
Phân tích hoạt động kinh doanh, Quản trị tài chính, Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán,  
Đạo đức nghề nghiệp nhằm giúp cho sinh viên có kiến thức nền tảng phục vụ cho kỳ thi lấy chứng  
chỉ sau này. Ngoài ra, trường Đại học cần liên kết với các cơ sở đào tạo về chứng chỉ nghề nghiệp  
thực hiện tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi để nâng cao nhận thức của sinh viên chuyên ngành  
90  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
kế toán và kiểm toán, giúp sinh viên được tiếp cận và trao đổi trực tiếp mà không cần phải tìm hiểu  
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, điều này giúp họ cảm thấy hứng thú và có thái độ  
tích cực hơn đối với chứng chỉ cũng như việc dự thi lấy chứng chỉ này.  
Thứ hai, về phía doanh nghiệp có sử dụng đội ngũ nhân viên kế toán và kiểm toán, doanh  
nghiệp cần ban hành các quy định về chính sách tuyển dụng nhân sự của doanh nghiệp nhằm thu  
hút, tuyển chọn được nhân viên có trình độ chuyên môn vững chắc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp  
cần tác động mạnh mẽ đến việc dự thi như yêu cầu nhân viên có được chứng chỉ CPA ở những vị  
trí cấp cao, kết hợp cùng với chính sách đãi ngộ hấp dẫn hay yêu cầu về nâng cao năng lực qua  
việc đạt được chứng chỉ CPA khi có thời gian công tác tối thiểu 36 tháng.  
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu này có một số hạn chế sau. Cụ thể, nghiên  
cứu chỉ dừng lại ở việc khảo sát đến ý định dự thi. Trong khi đó, quyết định để cá nhân thực hiện  
hành vi sẽ mang đến những kỳ vọng tốt đẹp cho người dự thi hơn là việc chỉ ấp ủ dự định đó. Vì  
vậy, hướng đề xuất cho nghiên cứu tiếp theo là tìm ra các yếu tố tác động đến quyết định dự thi  
lấy chứng chỉ CPA Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này xây dựng mô hình chung cho hai  
nhóm đối tượng gồm những người đang học và những người đã tốt nghiệp. Vì vậy, hướng nghiên  
cứu tiếp theo cần thực hiện với mô hình được xây dựng riêng cho nhóm đối tượng là nhân viên để  
nhằm tìm ra các nhân tố khác có ảnh hưởng tích cực đến ý định của nhân viên.  
Tài liệu tham khảo  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision  
Processes, 50(2), 179-211.  
Ajzen, I., & Fishbein, M. (1975). Belief, attitude, intention and behavior. An introduction to  
Theory and Research. Boston, MA: Addison-Wesley.  
Aziz, D. A., Ibrahim, M. A., Sidik, M. H. Z., & Tajuddin, M. (2017). Accounting students’  
perception and their intention to become professionally qualified accountants. Proceedings  
of International Conference on Governance and Accountability, SHS Web Conferences, 36,  
Article 00008. doi:10.1051/shsconf/20173600008  
Bộ Tài chính. (2017). Thông tư số 91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp quản lý chứng chỉ  
kiểm toán viên và chứng chỉ kế toán viên [Circular No. 91/2017/TT-BTC on Exams,  
Issuance, and Management of audit practising certificate and accounting practising  
luocdo.aspx?ItemID=125395  
Bộ Tài chính. (2019). Thông báo số 01/TB-HĐT về kỳ thi chứng chỉ Kiểm toán viên, Kế toán viên  
năm 2019 [Announcement No. 01/TB-HDT on the Exam of audit practising certificate and  
accounting practising certificate]. Retrieved February 20, 2021, from  
ke-toan-vien-nam-2019/  
Churchman, R. J. (2013). Attracting the best and brightest: An examination of the factors that  
influence students’ intent to enter the accounting profession (Publication No. 3579633)  
(Doctoral dissertation). Anderson University, Anderson, South Carolina, USA.  
Coe, M. J. (2013). Intention to sit for the CPA examination: An investigation of cost, exam, support  
and career factors (Publication No. 3569326) (Doctoral dissertation). St. Ambrose  
University, Davenport, Iowa, USA.  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
91  
Coe, M. J. (2016). Factors that influence a student’s intention to sit for the CPA Exam. Retrieved  
February 20, 2021, from The CPA Journal website:  
Fishbein, M. (1967). Readings in attitude theory and measurement. New York, NY: Wiley.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th  
ed.). New York, NY: Pearson.  
Hammour, H. (2018). Influence of the attitudes of emirati students on their choice of accounting  
as  
a
profession.  
Accounting  
Education,  
27(4),  
433-451.  
doi:10.1080/09639284.2018.1490913  
Ho, V. T., & Phan, N. T. (2017). Các nhân tố tác động đến ý định thực hiện hành vi theo học cao  
học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh [ Factors affecting  
the intention to continue studying at master level of students at industrial university of  
HoChiMinh City]. Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt, 8(1S), 20-33.  
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Phân tích dữ liệu với SPSS [Analysing research data with  
SPSS]. Hanoi,Vietnam: NXB Hồng Đức.  
Hu, L. T., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis:  
Conventional criteria versus new alternatives. Structural Equation Modeling: A  
Multidisciplinary Journal, 6(1), 1-55.  
MacCallum, R. C., Browne, M. W., & Sugawara, H. M. (1996). Power analysis and determination  
of sample size for covariance structure modeling. Psychological Methods, 1(2), 130-49.  
Nguyen, H. T., & Nguyen, P. T. K. (2016). Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên trường Đại học Trà Vinh [Factors affecting entrepreneurship intention of students  
at Tra Vinh University]. Tạp chí khoa học Đại học Trà Vinh, 23, 1-9.  
Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory. NewYork, NY: McGraw-Hill.  
Quốc hội. (2011). Luật Kiểm toán độc lập [Independent Audit Law]. Retrieved August 20, 2020,  
from  
Schoenfeld, J., Segal, G., & Borgia, D. (2017). Social cognitive career theory and the goal of  
becoming a certified public accountant. Accounting Education, 26(2), 109-126.  
doi:10.1080/09639284.2016.1274909  
Schumacker, R. E., & Lomax, R. G. (2004). A beginner’s guide to structural equation modeling  
(2nd ed.). Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.  
Solikhah, B. (2014). An application of theory of planned behavior towards CPA career in  
Indonesia. Procedia - Social and Behavioral Sciences, 164, 397-402.  
Sugahara, S., & Boland, G. (2006). Perception of the certified public accountants by accounting  
and non-accounting tertiary students in Japan. Asian Review of Accounting, 14(1/2), 149-  
167. doi:10.1108/13217340610729518  
Tan, L. M., & Laswad, F. (2006). Students’ beliefs, attitudes and intentions to major in accounting.  
Accounting Education, 15(2), 167-187. doi:10.1080/09639280600787194  
Thủ tướng chính phủ. (2013). Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 của Thủ tướng Chính  
phủ về việc phê duyệt chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 [ Decision  
92  
Nguyễn Thúy An và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 78-92  
No. 480/QD-TTg on March 18, 2013 of the Prime Minister on approving the accounting -  
auditing strategy up to 2020, the vision up to 2030]. Retrieved August 20, 2020, from  
Wen, L., Hao, Q., & Bu, D. (2015). Understanding the intentions of accounting students in China  
to pursue certified public accountant designation. Accounting Education, 24(4), 341-359.  
doi:10.1080/09639284.2015.1051561  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 15 trang Thùy Anh 21960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ Kế toán viên và kiểm toán viên - Nghiên cứu thực nghiệm tạ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_du_thi_chung_chi_ke_toan_vi.pdf