Đạo đức kinh doanh - Trong quan hệ với người tiêu dùng và những việc cần làm ở nước ta hiện nay
ts. đinH công sơn - tHs. võ tHị dương
117
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH - TRONG QUAN HỆ
VỚI NGƯꢀI TIÊU DÙNG VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TS. ĐINH CôNG SơN,
ThS. Võ THỊ DƯơNG
Học viên Tài chính,
Đại học Kinh Tế – Kỹ Thuật
TÓM TẮT
Đạo đức kinh doanh là một thành tố cấu thành văn hóa kinh doanh. Trong các
thành tố cấu thành đó, đạo đức kinh doanh là sự biểu hiện tập trung của văn hóa
kinh doanh. Đạo đức kinh doanh có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và
kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh một cách tự giác, tự nguyện. Điều này
rất cần cho người tiêu dùng và xã hội. Tuy nhiên, thời gian qua, với những vụ việc
gian lận thương mại, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, gây ô nhiễm môi trường,
v.v. đã làm cho người tiêu dùng hết sức lo lắng và phẫn nộ. Dẫu biết rằng, kinh
doanh là phải sinh lợi, nhưng không phải vì lợi mà người kinh doanh bất chấp tất cả.
Người kinh doanh chân chính, trong hoạt động của mình luôn có ý thức trách nhiệm
góp phần vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để
đội ngũ những người kinh doanh luôn có ý thức trách nhiệm như vậy, cần phải tạo
điều kiện cho việc trau dồi, nâng cao đạo đức kinh doanh.
Từ khóa: đạo đức; kinh doanh; văn hóa; người tiêu dùng; việc cần làm.
ăn hóa kinh doanh, hiểu một
cách đơn giản, là biểu hiện của
sự gắn kết cái lợi với những giá
Trong sự phát triển xã hội, đạo đức ra đời
rất sớm. Nó là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm,
quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn
mực của xã hội, nhờ đó con người tự điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi
ích, hạnh phúc của cộng đồng và sự tiến bộ
của xã hội trong mối quan hệ giữa con người
với con người, giữa cá nhân với xã hội.
V
trị Chân – Thiện – Mỹ để tạo ra bản sắc kinh
doanh nhằm đem lại sự phát triển bền vững
của các chủ thể kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh bao gồm: văn hóa
doanh nhân, triết lý kinh doanh, đạo đức
kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp. Trong đó đạo đức kinh doanh là biểu
hiện tập trung của văn hóa kinh doanh. Bởi
vì, mọi hoạt động của doanh nghiệp (từ tuyển
dụng, bổ nhiệm, đánh giá người lao động,
hoạt động quảng cáo, hoạt động kế toán – tài
chính, vấn đề bí mật thương mại, chất lượng
hàng hóa, bảo vệ môi trường…) đều gắn liền
với đạo đức kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức nói
chung được vận dụng vào toàn bộ các hoạt
động và quan hệ kinh doanh (sản xuất, buôn
bán và dịch vụ sao cho sinh lợi). Có thể định
nghĩa, đạo đức kinh doanh là một tập hợp các
nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức có tác dụng
điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát
hành vi của các chủ thể kinh doanh một cách
tự giác, tự nguyện.
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
118
Tuy nhiên, kinh doanh là hoạt động gắn và nuôi dưỡng sự vô trách nhiệm kiểu “sống
liền với lợi ích kinh tế, do vậy sự thể hiện
trong ứng xử về đạo đức của nó không hoàn
toàn giống các hoạt động khác. Vấn đề đạo
đức kinh doanh phải được đặt ra và giải quyết
trong mối quan hệ tương hỗ về lợi ích giữa
ba chủ thể chính của nền kinh tế thị trường:
ngưꢀi tiêu dùng - ngưꢀi kinh doanh/doanh
nghiệp - nhà nước. Giữa ba chủ thể đó có mối
quan hệ với nhau và ảnh hưởng tới toàn bộ
quá trình kinh tế. Việc giải quyết đúng đắn
lợi ích của các chủ thể trong mối quan hệ này
có ý nghĩa quyết định đối với việc tồn tại hay
không tồn tại đạo đức kinh doanh.
chết mặc bay” của một số doanh nhân kém
đạo đức. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng tâm
lý này để tuyên truyền, quảng cáo che đậy
cho những chiêu: “xả hàng”, “giảm giá”, “quà
tặng”, v.v. mà thực chất là bán hàng kém chất
lượng, hàng “quá đát”. Khách hàng không
những bị lừa dối mà việc sử dụng những sản
phẩm kém chất lượng sễ rất nguy hiểm đối
với sức khỏe người tiêu dùng và môi trường.
Hiện tượng này những năm gần đây không
thiếu trong nền kinh tế nước ta. Bởi vậy, cần
chú trọng công tác giáo dục, nâng cao hiểu
biết về thị trường cho người tiêu dùng, đảm
bảo người tiêu dùng luôn là nhà “thông thái”.
Trong mối quan hệ trên, người tiêu dùng
giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là trung
tâm của thị trường, là người quyết định sự
tồn tại của các doanh nghiệp, là “Thượng đế”.
Chúng ta đều biết, yếu tố quyết định đối với
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là
lợi nhuận. Nhưng, lợi nhuận hoàn toàn phụ
thuộc vào sức mua của người tiêu dùng. Nếu
hàng hóa chất lượng kém, hình thức xấu, hay
giá quá cao so với giá trị của nó thì người tiêu
dùng sẽ không mua, hoặc chỉ mua một lần vì
coi như “bị mắc lừa”. Người kinh doanh chỉ
có thể kiếm được lợi nhuận lâu dài, bền vững
thông qua việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của
người tiêu dùng trên thị trường. Đó chính là
thể hiện sự kinh doanh có đạo đức. Bởi vậy,
trước khi đưa hàng hóa ra thị trường, nhà kinh
doanh cần phải nghiêm túc xét xem liệu hàng
hóa có bán được không và có nên đem bán
không, chứ không phải cứ có hàng là đem
bán. Về phía mình, người tiêu dùng luôn đòi
hỏi hàng hóa trên thị trường phải thỏa mãn
các yêu cầu tốt, đẹp và rẻ. Thực tế cho thấy,
có một bộ phận không nhỏ người tiêu dung
ít hiểu biết về hàng hóa mà mình mua để sử
dụng, hoặc có tâm lý tham rẻ mà xem nhẹ
Đạo đức kinh doanh đòi hỏi khi nhà kinh
doanh thu được lợi nhuận, thì đồng thời cũng
phải đưa lại lợi ích cho người tiêu dùng. Thực
tiễn cuộc sống cho thấy, nhà doanh nghiệp
nào mà cả trong tư duy lẫn hành động đều
thực sự coi khách hàng là “Thượng đế”, thì
nhà doanh nghiệp đó sẽ thành công.
Các nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế
cho thấy, luôn có sự tồn tại mối quan hệ chặt
chẽ giữa hành vi có đạo đức của người kinh
doanh và sự hài lòng của người tiêu dùng.
Các hành vi vô đạo đức có thể làm suy giảm
lòng tin của người tiêu dùng và họ sẽ chuyển
sang mua hàng của các thương hiệu khác.
Ngược lại, hành vi có đạo đức có thể lôi cuốn
người tiêu dùng đến với sản phẩm của công
ty. Người tiêu dùng thường chỉ thích mua sản
phẩm của các công ty có danh tiếng tốt, quan
tâm đến khách hàng và xã hội. Người tiêu
dùng không ngần ngại nói rằng, họ ưu tiên
những thương hiệu nào làm điều kiện nếu
giá cả và chất lượng các thương hiệu như
nhau. Các công ty có đạo đức luôn đối xử
công bằng với khách hàng và liên tục cải tiến
yêu cầu về chất lượng hàng hóa. Đây chính là chất lượng sản phẩm cũng như cung cấp cho
điều kiện, là đất sống của cách làm ăn “chụp khách hàng các thông tin dễ tiếp cận và dễ
giật”, “lừa đảo”, “làm hàng nhái”; là lỗ hổng hiểu. Điều đó khiến họ có lợi thế cạnh tranh
để những tiêu cực có thể phát sinh, tồn tại
tốt hơn và giành được nhiều lợi nhuận hơn.
ts. đinH công sơn - tHs. võ tHị dương
119
Người tiêu dùng là đối tượng dễ bị tổn như vậy, lợi ích doanh nghiệp có được sẽ tăng
thương nhất vỡ việc khai thác và hoạt động
của các công ty không tôn trọng các quyền
của con người. Sự công bằng trong dịch vụ
là quan điểm của người tiêu dùng về mức
độ công bằng trong hành vi của một công ty.
Bởi vậy, khi nghe được thông tin tăng thêm
giá dịch vụ và không bảo hành thì người tiêu
dùng sẽ phản ứng tiêu cực đối với sự bất công
này. Phản ứng của người tiêu dùng đối với sự
bất công - ví dụ như phàn nàn hoặc từ chối
không mua bán với doanh nghiệp đó nữa - có
thể được thúc đẩy bởi nhu cầu trừng phạt và
mong muốn hạn chế sự bất công trong tương
lai. Nếu người tiêu dùng phải mua một mặt
hàng đắt hơn hẳn thì cảm giác không công
bằng sẽ tăng lên và có thể bùng nổ thành một
sự giận dữ.
gấp đôi, không chỉ tạo dựng một vị thế cạnh
tranh vững chắc mà còn hướng tới một sự
phát triển toàn diện lâu dài.
Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp xây
dựng uy tín đảm bảo chất lượng cho sản phẩm
như trên là chưa nhiều. Bên cạnh đó, không ít
doanh nghiệp đánh lừa người tiêu dùng dưới
nhãn mác đảm bảo chất lượng. Gần đây, các
vụ việc tiêu cực về chất lượng sản phẩm thực
phẩm ở Việt Nam đang xảy ra liên tiếp, đe
dọa sức khỏe người tiêu dùng. Nhiều doanh
nghiệp cố tình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
kém chất lượng, như mũ bảo hiểm cho người
tham gia giao thông không hợp chuẩn (theo
các phương tiện thông tin đại chúng, hiện nay
chỉ có 25% số người tham gia giao thông đội
mũ hợp chuẩn); “kẹo bột đá”; sữa tươi tiệt
trùng nhưng 78% là sữa bột; sữa siêu nghèo
đạm; nước tương có chứa chất 3-MCPD;
thực phẩm, hoa quả để cả tháng không hỏng
vì được ngâm hóa chất; rau xanh đẹp vì vừa
được phun thuốc trừ sâu; bánh chưng mau
nhừ là nhờ luộc với pin; bánh cuốn, giò chả
giòn, dai vì đã tẩm hàn the; nước giải khát =
nước giếng khoan + hương liệu + phẩm màu
+ đường hóa học, v.v.. Việc tiêu thụ những
sản phẩm như vậy đa số không gây hại ngay
lập tức, mà có tác động từ từ và hậu quả sau
này khó có thể tưởng tượng được. Đặc biệt
nguy hiểm là những sản phẩm sữa không đủ
tiêu chuẩn có thể đầu độc cả một thế hệ tương
lai của đất nước. Điều này không chỉ đơn
thuần là sự vi phạm pháp luật kinh doanh, mà
còn là sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức
kinh doanh của doanh nghiệp và là một tội ác.
Thực tế cho thấy, một bộ phận không
nhỏ các doanh nghiệp Việt Nam luôn cố gắng
hoàn thiện và phát triển chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp mình để thỏa mãn những
yêu cầu chính đáng của người tiêu dùng. Theo
xu thế hiện nay, nhiều doanh nghiệp bắt đầu
quan tâm đến một số hệ thống tiêu chuẩn có
thể giúp cho hình ảnh của họ trong mắt người
tiêu dùng ngày một nâng cao và có uy tín
vững chắc. Bên cạnh các tiêu chuẩn riêng biệt
về sản phẩm, hiện nay một số doanh nghiệp
đã áp dụng thành công các tiêu chuẩn quản
lý, như ISO 9000, ISO 14000, ISO 18000,
v.v.. Các hệ thống quản lý chất lượng tiên
tiến và nhiều phương pháp, công cụ quản lý
chất lượng hiện đại khác, như TQM, Q-base,
HACCP, GMP, 5S, QC, v.v. cũng được đưa
vào áp dụng. Việc xây dựng và áp dụng hệ
thống quản lý tiêu chuẩn chất lượng đang trở
thành một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Nó được coi như một giấy
thông hành giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn
khi xâm nhập vào thị trường, đặc biệt là các
doanh nghiệp xuất khẩu cần phải đáp ứng yêu
cầu về chất lượng hàng hóa của đối tác nước
Trong kinh tế thị trường, giá cả hàng hóa
cũng là vấn đề rất được quan tâm. Nguyên
tắc đạo đức kinh doanh về giá cả hàng hóa
thường chỉ phụ thuộc vào tinh thần tự nguyện
và tính thiện chí của doanh nghiệp đối với
khách hàng. Hiện nay ở Việt Nam, văn bản
ngoài. Khi áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn pháp luật có tính cưỡng chế cao nhất điều
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
120
chỉnh mối quan hệ này của doanh nghiệp là giảm. Đó là do giá cả trên thị trường thế giới
Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 1999 và các nghị định hướng dẫn liên
quan. Ví dụ, điều 14 trong Pháp lệnh bảo vệ
người tiêu dùng năm 1999 đã quy định rõ:
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ có đăng ký kinh doanh phải đăng
ký, công bố tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá,
dịch vụ theo quy định của pháp luật và thực
hiện đúng cam kết với người tiêu dùng; phải
thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng
hàng hoá, dịch vụ, thực hiện việc cân, đong,
đo, đếm chính xác. Chính phủ quy định cụ thể
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
trường hợp sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ không đăng ký, công bố tiêu chuẩn,
chất lượng hàng hoá, dịch vụ. Điều 15: Tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ phải thông tin, quảng cáo chính xác
và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; niêm yết
giá hàng hoá, dịch vụ; công bố điều kiện, thời
hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng
hàng hoá, dịch vụ của mình cho người tiêu
dùng. Điều 16: Tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải giải quyết
kịp thời mọi khiếu nại của người tiêu dùng
về hàng hoá, dịch vụ của mình không đúng
tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã
công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; thực hiện
trách nhiệm bảo hành hàng hoá, dịch vụ đối
với khách hàng.
giảm mạnh; các biện pháp kiềm chế lạm phát
của Chính phủ đã phát huy tác dụng, trong đó
lãi suất ngân hàng đã giảm; nhu cầu và giá cả
nhiều mặt hàng, nhất là các hàng hóa vật tư
quan trọng, như xăng dầu, sắt thép, gạo đều
giảm, v.v.. Thế nhưng, thực tế giá cả các mặt
hàng thực phẩm, dịch vụ trong nước không
những không giảm, mà còn gia tăng. Nhiều
doanh nghiệp đã lợi dụng tình trạng bão lụt,
ngập úng, v.v. để tăng giá, hoặc chây ỳ không
chịu giảm giá. Nhu cầu sử dụng hàng hoá,
dịch vụ của người tiêu dùng luôn tồn tại, dù
trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế có giảm
nhưng chỉ ở mức độ nhất định chứ không thể
giảm ở mức tối đa, nên những sản phẩm thiết
yếu thì ai cũng phải mua. Lợi dụng thực tế đó,
các nhà kinh doanh gồm cả người sản xuất và
người bán hàng đã làm giá để kiếm lời cao.
Đáng lo ngại là các nhà kinh doanh thậm chí
đã liên minh làm giá để trục lợi. Đây chính
là cơ sở hình thành “lợi ích nhóm” – vấn đề
mà Đảng và Nhà nước ta rất quan ngại và
kiên quyết đấu tranh phòng chống hiện nay.
Những kẻ trong “nhóm lợi ích” không từ bất
kể thủ đoạn nào để thu lời bất chính. Họ sẵn
sàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây thiệt hại
cho đối tác liên doanh, cho người tiêu dùng
và đất nước. Đáng ngại hơn, họ đang làm
giảm niềm tin và thiện cảm của bạn bè quốc
tế đối với dân tộc Việt Nam.
Nói chung, do tính chất cạnh tranh ngày
một tăng trong nền kinh tế thị trường mở cửa
của Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp
đều cố gắng cung cấp sản phẩm với mức giá
hợp lý, giữ uy tín và thương hiệu với người
tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại việc ép giá
của một số doanh nghiệp và tập trung ở các
doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng độc
quyền. Mặc dù tốc độ gia tăng lạm phát đã và
đang chậm lại, song giá cả nhiều mặt hàng,
dịch vụ thiết yếu đối với người dân vẫn giữ
Cũng vì có sự liên minh trên mà không
ít lần giá sữa bột dành cho trẻ em tăng liên
tục, mặc dù người dân Việt Nam đang phải
đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chính;
bởi sữa cho trẻ là mặt hàng không thể thiếu
với những gia đình có con nhỏ, cộng với tâm
lý người Việt Nam dù có tiết kiệm vẫn luôn
cố gắng dành những loại sữa tốt nhất cho con.
Một ví dụ khác là việc giảm giá nhỏ giọt xăng
dầu trong một thời gian dài vừa qua. Khi giá
xăng trên thế giới tăng thì doanh nghiệp luôn
nguyên hoặc tăng cao hơn. Về nguyên tắc, có đòi hỏi phải tăng giá bán lẻ. Tăng thì luôn đột
ngột và được thực hiện ngay lập tức; ngược
rất nhiều lý do giúp giá cả hàng hoá ở nước ta
ts. đinH công sơn - tHs. võ tHị dương
121
lại, khi giá xăng trên thế giới giảm thì doanh nhà kinh doanh "liên minh" làm giá và họ có
nghiệp lại không giảm giá hoặc giảm nhỏ giọt
với lý do bù lỗ. Liên quan tới giá xăng dầu là
giá cước vận tải. Phải biết rằng, cước vận tải
nói chung và hành khách nói riêng, phụ thuộc
vào giá xăng dầu. Khi giá xăng tăng, cước
vận tải tăng, ngược lại, khi giá xăng giảm,
cước vận tải giảm. Thực tế những năm qua
cho thấy, khi giá xăng tăng thì doanh nhân
và doanh nghiệp vận tải luôn đòi hỏi phải
tăng giá cước vận tải (số lần tăng và tiền tăng
“chóng mặt”). Nhưng nay, khi giá xăng giảm
liên tục, thậm chí giảm sâu thì doanh nhân,
doanh nghiệp vận tải không giảm giá hoặc
giảm nhỏ giọt với lí do có nhiều khoản… “chi
phí”. Nhận xét về vấn đề này, nhiều nhà phân
tích cho rằng đây là tình trạng lạm dụng độc
quyền doanh nghiệp để xâm phạm lợi ích xã
hội, khi mà các doanh nghiệp vận tải cùng
liên minh giá. Rõ ràng điều này vi phạm các
nguyên tắc về đạo đức kinh doanh. Hay có
thể lấy một ví dụ khác cũng đang được đông
đảo người tiêu dùng quan tâm là mặt hàng
dược phẩm. Theo nhận định của các chuyên
gia Cục Quản lý cạnh tranh thì các công ty
phân phối dược phẩm trong và ngoài nước
đang cấu kết với nhau đẩy giá thuốc tại Việt
Nam cao gấp 200%- 300% giá gốc. Trong hệ
thống phân phối dược phẩm Việt Nam diễn ra
một thực trạng là các đơn vị môi giới, nhập
khẩu, v.v. đang liên kết với nhau để lách luật.
Thuốc trước khi nhập khẩu vào Việt Nam đã
đủ tiềm lực để thoả thuận trong khi nhu cầu
người tiêu dùng không thể giảm quá mức. Ở
khía cạnh thứ hai, Nhà nước sẽ không cho
phép các nhà kinh doanh vì siêu lợi nhuận
mà móc túi người tiêu dùng. Nhưng, một
mặt, các nhà kinh doanh tránh né sự điều tiết
của Nhà nước với lý do quy luật thị trường tự
điều chỉnh cung cầu. Mặt khác, việc các chế
tài còn chưa đủ mạnh cũng như các cơ quan
chức năng chưa kiên quyết điều tiết đã tạo
“cơ hội”cho họ vi phạm. Do đó, việc làm trái
đạo đức kinh doanh của các nhà kinh doanh
vẫn ngang nhiên tồn tại. Trước tình trạng giá
cả tăng, cuộc sống của hầu hết những người
dân bình thường có thu nhập trung bình hoặc
thấp đều bị ảnh hưởng rất lớn. Ở nước ta,
những người như vậy lại chiếm đa số. Có thể
nói, trục lợi trên lưng người nghèo không chỉ
trái với đạo đức kinh doanh, mà còn là tội ác.
Trong cơ chế thị trường, không phải lúc nào
cũng có sự can thiệp của Nhà nước. Nhưng
trong bối cảnh hiện nay, sự can thiệp của Nhà
nước về giá cả với biện pháp mạnh là hết sức
cần thiết. Bởi lẽ, điều đó sẽ góp phần ngăn
chặn những tội ác trong kinh doanh nhằm
đảm bảo sự hài hoà, ổn định của xã hội.
Trongbachủthểchínhcủathịtrường, Nhà
nước là người cầm lái đưa con thuyền kinh tế
đất nước đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”(1) mà Đảng
được các nhà phân phối, công ty môi giới cấu ta luôn khẳng định. Nhà nước là người đại
kết với văn phòng đại diện của công ty nước
ngoài ấn định giá. Như vậy, rõ ràng, người
tiêu dùng đang rất thiệt thòi khi phải chi trả số
tiền gấp nhiều lần giá trị đích thực của lượng
dược phẩm mình mua. Giá cả hàng hoá, dịch
vụ mà các nhà kinh doanh làm giá không
đứng trên giá trị hàng hoá.
diện cho lợi ích xã hội, là người quyết định sự
thành công hay thất bại trong việc thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vì
vậy, sự điều tiết của Nhà nước đối với nền
kinh tế là không thể thiếu. Sự điều tiết, thông
qua chủ trương, chính sách và luật lệ của Nhà
nước có tác động tích cực hay tiêu cực đến
hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, mỗi
biện pháp, mỗi chính sách trước khi ban hành
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước. Ở khía
cạnh thứ nhất, quy luật thị trường sẽ điều
chỉnh giá cả. Nhưng nguyên tắc mua bán theo
thoả thuận đã không được tôn trọng khi các
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia - sự thật,
Hà Nội, 2011, tr35
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
122
cần được phân tích và xây dựng trên luận cứ các doanh nghiệp đi vào con đường làm ăn
phi pháp, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức
kinh doanh, đối lập với lợi ích xã hội. Đồng
thời, người tiêu dùng cần phải trung thực để
tránh gây thiệt hại cho người sản xuất, buôn
bán, không nên tham rẻ để tránh tiếp tay cho
bọn buôn lậu, trốn thuế, v.v..
khoa học chắc chắn, có tính đến mối quan hệ
giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Một chính
sách đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt
động của các doanh nghiệp và do đó, thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Ngược lại, mộtchính sách không phù hợp
sẽ dẫn đến những hậuquả khó lường. Trong
công cuộc đổi mới, những đường lối, chính
sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã thúc
đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Nhờ
vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu to
lớn trên lĩnh vực kinh tế từ khi chuyển sang
cơ chế thị trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số
chính sách chưa thật hợp lý, hoặc chưa đầy
đủ dẫn tới hạn chế hoạt động sản xuất, kinh
doanh, như tình trạng thuế chồng thuế (một
sản phẩm khi đưa ra được thị trường phải trải
qua quá nhiều lần đánh thuế khác nhau trong
quá trình vận hành từ doanh nghiệp này đến
doanh nghiệp khác, làm cho giá thành sản
Rõ ràng, để xây dựng và hoàn thiện đạo
đức kinh doanh không những cần đến sự nỗ
lực của người kinh doanh, mà còn phải có sự
hỗ trợ của những chủ thể khác của nền kinh
tế thị trường, đặc biệt là của người tiêu dùng
– Thượng đế. Người tiêu dùng là mục đích
phục vụ cao cả của các doanh nghiệp. Họ là
nhân tố quyết định hàng đầu cho sự tồn tại
và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Một sản
phẩm làm ra phải hướng tới mục đích phục vụ
người tiêu dùng và mong muốn được người
tiêu dùng chấp nhận. Chính nhờ sự chấp nhận
của người tiêu dùng mà doanh nghiệp mới tồn
tại, làm ăn có lãi và phát triển. Ngược lại, khi
phẩm cao), chưa có chính sách bảo hộ hàng người tiêu dùng quay lưng với sản phẩm hay
với doanh nghiệp nào đó thì cũng có nghĩa
doanh nghiệp ấy cần phải kịp thời điều chỉnh
theo hướng tích cực nếu không muốn đi tới
sự phá sản.
nội địa một cách thật hiệu quả, luật bản quyền
chưa thật chặt chẽ, v.v..
Điều quan trọng hơn nữa là, Nhà nước
phải đóng vai trò đại biểu cho quyền lợi của
người tiêu dùng trong xã hội. Nhà nước phải
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đảmbảo
cho người tiêu dùng không bị “tiền mất tật
mang”. Đặc biệt, Nhà nước cần quản lý chặt
chẽ thị trường, không để xảy ra tình trạng các
nhà kinh doanh lũng đoạn thị trường, không
để cho họ đầu cơ, tích trữ gây khan hiếm hàng
hóa giả tạo, tùy tiện nâng giá hàng, “móc túi”
người tiêu dùng một cách trắng trợn.
Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng là những
thành viên trong môi trường xã hội, chịu sự
tác động từ môi trường xã hội và nảy sinh
những nhu cầu tiêu dùng có thể tích cực hoặc
tiêu cực, đúng hoặc sai, phù hợp hoặc không
phù hợp, v.v.. Điều này cũng tác động không
nhỏ tới việc sản xuất của doanh nghiệp. Sự
tác động đó chỉ có thể làm cho doanh nghiệp
biến đổi theo hai hướng, đó là tạo điều kiện
làm ăn có lãi hoặc thua lỗ.
Về phía mình, người tiêu dùng – trung
tâm của thị trường – cũng cần phải thấy
những nhu cầu của mình phải chính đáng để
có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh
tranh lành mạnh, đáp ứng được nhu cầu của
mình, từ đó làm cho đời sống xã hội phát triển
theo chiều hướng tốt đẹp. Ngược lại, những
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có
thể lợi dụng những nhu cầu thái quá của thị
trường để trục lợi, làm giàu bất chính, theo
kiểu “chụp giật”.
Để giảm thiểu những tiêu cực trong mối
quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản
nhu cầu phi lý của người tiêu dùng có thể đẩy xuất,nên thường xuyên tổ chức các cuộc hội
ts. đinH công sơn - tHs. võ tHị dương
123
sự phản ứng của một bộ phận không ít người
tiêu dùng tẩy chay, không mua sản phẩm
của Vedan. Lúc đó nhiều siêu thị không dám
bán hàng của Vedan nữa. Đó là một thiệt hại
không nhỏ mà Vedan đã tự gây ra cho mình.
thảo về đạo đức kinh doanh và quảng bá đạo
đức kinh doanh.
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước cần
chú ý tạo điều kiện:
-
Phát huy vai trò của hiệp hội người
Việc tạo ra dư luận xã hội đúng đắn là
một trong những biện pháp quan trọng để
ngăn ngừa hành vi đi ngược lại lợi ích của
cộng đồng, khuyến khích việc bảo vệ những
giá trị chân chính. Để làm được điều đó, Nhà
nước cần ngăn chặn những thủ đoạn tung tin
đồn thất thiệt, đồng thời quản lý chặt chất
lượng sản phẩm và kịp thời tôn vinh những
sản phẩm tốt, những doanh nghiệp luôn đặt
người tiêu dùng lên trên hết, biết tôn trọng lợi
ích trước mắt và lợi ích lâu dài, kinh doanh
chân chính. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần
tận dụng tối đa vai trò của các phương tiện
thông tin đại chúng, vì đây là hình thức hữu
hiệu để hình thành và hướng dẫn dư luận xã
hội mang tính tích cực. Cũng thông qua kênh
này, quần chúng có thể bày tỏ tâm tư, nguyện
vọng, ý kiến, đề xuất của mình để góp phần
hình thành các chuẩn mực và các định hướng,
giá trị đạo đức kinh doanh phù hợp với yêu
cầu của các giai đoạn phát triển kinh tế đất
nước.
tiêu dùng.
- Trang bị cho người dân về kiến thức thị
trường để tránh bị “lừa”.
- Tăng cường sự quản lý của Nhà nước
đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Cần phải thấy rằng, sự tồn vong, phát
triển của doanh nghiệp, của người kinh
doanh, suy cho cùng, chính là ở khách hàng.
Vì vậy, người sản xuất, kinh doanh phải xác
định rõ thái độ phục vụ tất cả vì khách hàng.
Khách hàng là đối tượng cần chiếm lĩnh, phục
vụ khách hàng phải đạt tới đỉnh cao là nghệ
thuật chinh phục khách hàng. Chinh phục
khách hàng ở đây phải bằng chất lượng sản
phẩm tốt, mẫu mã đẹp, giá cả rẻ, không gây
độc hại cho người dùng và môi trường, đặc
biệt phải quan tâm tới việc chăm sóc khách
hàng chứ không phải trao tay là phủi trách
nhiệm theo kiểu “sống chết mặc bay”, v.v..
Trong ngạn ngữ có câu: “tiếng lành đồn xa”
nhưng trong thực tế “tiếng dữ” cũng đồn xa.
Chính vì vậy, một hành vi tốt, một sản phẩm
tốt sẽ được khách hàng ca ngợi, và vượt qua
cả mong đợi của người kinh doanh, dư luận
xã hội sẽ “chắp cánh” cho sản phẩm bay cao,
người người hưởng ứng và tuyên truyền nhau
sử dụng sản phẩm đó, thương hiệu đó, doanh
nghiệp đó, v v.. Ngược lại, với hành vi không
chấp nhận được của người kinh doanh, của
doanh nghiệp hay một sản phẩm không tốt sẽ
bị người tiêu dùng tránh xa và họ cũng tuyên
truyền mọi người tẩy chay sản phẩm hay
doanh nghiệp. Chúng ta còn nhớ khi Vedan
xả thải độc xuống sông Thị Vải gây nguy hại
tới môi trường và cuộc sống của dân cư Đồng
Sức mạnh của dư luận xã hội là rất lớn.
Nhiều trường hợp khi luật pháp không quy
định chặt chẽ, và không thể buộc tội vi phạm
cho doanh nghiệp, nhưng chính luồng dư
luận lại có sức mạnh khiến doanh nghiệp phải
có hành động đền bù, hoặc có ý thức trách
nhiệm hơn. Để làm tốt điều này, Nhà nước
cần thường xuyên quan tâm việc phổ biến
thêm về kiến thức thị trường cho người dân,
để họ nhận thức được quyền lợi của mình
bằng cách thực hiện các chương trình truyền
thông, quảng cáo phi lợi nhuận. Đồng thời,
Nhà nước nên quan tâm chỉ đạo các phương
tiện thông tin đại chúng dành một thời lượng
Nai, Bình Dương, Vũng Tàu, TPHCM, v.v. nhất định quảng cáo miễn phí cho các mục
đã có rất nhiều người căm phẫn và dấy lên tiêu công cộng.
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
124
Để nâng cao tinh thần tự nguyện xây nhận sự vinh danh của xã hội. Thông qua đó,
dựng đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp,
Nhà nước cần kịp thời trao tặng các doanh
nghiệp điển hình các giải thưởng, cho phép
các doanh nghiệp làm ăn có lãi, thực hiện
tốt trách nhiệm xã hội, được khách hàng tín
nhiệm, tích cực tham gia các công tác xã hội,
v.v. được hưởng các chế độ ưu đãi. Đó là
uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp càng
được tăng thêm, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển các hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Nhận thức được điều này, các doanh
nghiệp khác cũng sẽ cố gắng, tạo nên một
phong trào thi đua rộng rãi vì mục tiêu phát
những doanh nghiệp thực sự xứng đáng được triển đất nước phồn thịnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội, 2001
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội, 2006
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội, 2011
4. Nguyễn Trọng Chuẩn – Nguyễn Văn Phúc đồng chủ biên, “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị
trưꢀng ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003
5. Nguyễn Văn Phúc, “Khía cạnh đạo đức của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”,
Tạp chí Triết học số 1-1995
6. Nguyễn Văn Phúc, “Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện
nay” , Tạp chí Triết học số 11-2006
7. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999
Bạn đang xem tài liệu "Đạo đức kinh doanh - Trong quan hệ với người tiêu dùng và những việc cần làm ở nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dao_duc_kinh_doanh_trong_quan_he_voi_nguoi_tieu_dung_va_nhun.pdf

