Xây dựng chữ tín trong văn hóa kinh doanh thời kỳ hội nhập ở Việt Nam
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
200
XÂY DỰNG CHỮ TÍN TRONG VĂN HꢀA KINH DOANH
THꢁI KỲ HꢂI NHꢃP Ở VIỆT NAM
ThS. TrầN Thị ThÚy – NgUyễN VăN Vỹ
Hꢀc viện chính trị khu vực IV
TꢀM TꢁT
Để hoạt đꢂng kinh doanh đạt hiꢃu quꢄ trong nꢅn kinh tꢆ thꢇ trưꢈng đꢇnh hưꢉng
xꢊ hꢂi chꢋ nghꢌa ở Viꢃt Nam hiꢃn nay, chꢍ tín đꢎng mꢂt vꢇ trí đặc biꢃt quan trọng.
Chꢍ tín chi phꢏi hoạt đꢂng kinh doanh cꢋa doanh nghiꢃp. Chính chꢍ tín đꢊ lꢐm nên
nhꢍng thương hiꢃu lꢉn mạnh. Giꢍ chꢍ tín lꢐ cơ sở cꢋa thꢐnh công vꢐ lꢐ điꢅu kiꢃn cꢋa
sꢑ tồn tại trong kinh doanh. Nhꢍng khẩu hiꢃu rꢒt quen thuꢂc trong kinh doanh như:
“mꢂt sꢑ bꢒt tín, vạn sꢑ bꢒt tin”, “uy tín quꢓ hơn vꢐng, khꢔch hꢐng lꢐ thưꢕng đꢆ”…
cꢐng khẳng đꢇnh vai trꢖ cꢋa chꢍ tín bởi chꢍ tín nhiꢅu khi cꢖn quꢓ hơn cꢄ vꢐng, vꢐ
trong hoạt đꢂng kinh doanh, chꢍ tín cꢖn lꢐ thương hiꢃu, lꢐ sức mạnh nꢂi sinh, lꢐ cꢔi
giꢗp doanh nghiꢃp cạnh tranh vꢉi thꢇ trưꢈng, lꢐ cꢔi để ngưꢈi tiêu dùng lꢑa chọn mỗi
khi cần đꢆn,… hơn hꢆt, chꢍ tín lꢐ cꢔi lꢐm nên thꢐnh công vꢐ sꢑ phꢔt triển bꢅn vꢍng
cꢋa doanh nghiꢃp.
Tꢀ khꢁa: Đꢂo đꢃc, đꢂo đꢃc kinh doanh, chꢄ tꢅn, cꢂnh tranh, thương hiꢆu
NỘI DUNg:
rong văn hóa kinh doanh, chữ tín
Cho đến nay, nhiều định nghĩa, khái niệm
về văn hóa kinh doanh của các học giả đề cập
đến nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có
thể hiểu một cách khái quát:Văn hóa kinh
doanhlà việc sử dụng các yếu tố của văn hóa
vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là
cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo
ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên
những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù
của họ. Hay nói một cách ngắn gọn theo ngữ
nghĩa cổ điển: văn hóa là một cái “đạo”, một
con đường để đi tới đích, một phương cách
chỉ đạo hành động và kinh doanh là các hoạt
động kinh tế để đi đến cái lợi nhuận, làm tăng
thêm giá trị vật chất với mục đích để làm
giàu. Cho nên, văn hóa kinh doanh nói một
cách ngắn gọn nhất chính là “đạo làm giàu”.
Nhưng, làm giàu như thế nào? Làm giàu bằng
cách nào? Những yếu tố nào tham gia vào quá
luôn giữ vai trò hết sức quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của
T
các hoạt động kinh doanh. Đặc biệt, trong
thời kỳ hội nhập, chữ tín góp phần tạo nên
bản sắc, thương hiệu và là yếu tố quan trọng
đối với năng lực cạnh tranh và sức “vươn xa”
của doanh nghiệp trên thị trường. Đối với
nước ta hiện nay, trong xu hướng phát triển,
và hội nhập, việc xây dựng chữ tín trong văn
hoá kinh doanh vừa là mục tiêu vừa là yêu
cầu đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh
nhân. Ngày nay, chữ tín trong văn hóa kinh
doanh tự nó được xem như là một nhu cầu
của văn minh thị trường và là đòi hỏi của sự
phát triển.
1. Khái niệm, bản chất của văn hóa kinh
doanh
ThS. TrầN Thị ThÚy – NgUyễN VăN Vỹ
201
trình này? Đó là những câu hỏi mà đáp án của lượng và uy tín đối với các đơn vị sản xuất và
nó chính trong nội hàm của khái niệm văn kinh doanh.
hóa kinh doanh. Cũng cần phải hiểu bản chất
của văn hóa kinh doanh đó là cái lợi gắn với
Ở nước ta, bài học về chữ tíndường như
được các doanh nghiệp, doanh nhân thuộc
cái tốt, cái đúng, cái đẹp. Trong đó, lợi ích cá
lòng, những khẩu hiệu rất quen thuộc trong
nhân phải gắn với lợi ích tập thể, cộng đồng,
kinh doanh như: “một sự bất tín, vꢄn sự bất
giai cấp và cao hơn là lợi ích của dân tộc, lợi
tin”, “uy tín quý hơn vꢁng, khách hꢁng lꢁ
ích xuất phát từ cái đúng, tuân theo cái đúng,
thượng đꢃ”. Hay nhiều doanh nghiệp thực
cái đẹp, gắn với những giá trị đạo đức, pháp
hiện bộ chuẩn về chất lượng ISO-9000 về
luật. Vì thế, văn hóa kinh doanh phải gắn với
quản lý chất lượng thường nêu cao khẩu
lợi ích và văn hóa của dân tộc.
hiệu “thỏa mãn tối đa yêu cầu của ngưꢂi tiêu
2. chữ “tín” trong văn hóa kinh doanh
dùng” hoặc “lấy việc phục vụ ngưꢂi tiêu dùng
lꢁm phương châm hꢁnh động của doanh
nghiệp” và khi thực hiện các hoạt động trên
thị trường thì “khách hꢁng luôn luôn đúng”,
“bảo hꢁnh vĩnh viễn”. Quả thực, chữ tín là
“cầu nối” giữa chủ doanh nghiệp, doanh nhân
với khách hàng nhưng cũng là thước đo về
về chất lượng và hiệu quả trong vấn đề kinh
doanh.
Ngay từ thời xa xưa, con người đã rất coi
trọng khái niệm chữ “Tín”. Xem đó là một
trong 5 đức cơ bản trong hành vi thường nhật
của con người, được gọi là ngũ thường: Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nguyễn Trãi đã từng nói
“Tín giả quốc chi bảo”, nghĩa là điều Tín là
của quý của quốc gia. Ông cũng từng dẫn
lại lời của Khổng Tử trong sách Luận ngữ:
Phꢁm ngưꢂi không có đức tín thì phỏng lꢁm
được gì. Ông xem chữ Tín là một trong bốn
đức của con người (Trung, Tín, Hiếu, Lễ) ví
như trời đất có bốn mùa vậy!
Vậy chữ tín ở đây là gì? Chữ tín được xây
dựng, hình thành và tồn tại như thế nào? Vai
trò của chữ tín thể hiện ra sao?... nhiều câu
hỏi, nhiều vấn đề có thể thấy rõ trong sự tồn
tại và uy tín của nhiều nhà kinh doanh. Tín là
sự tin cậy lẫn nhau, là tình cảm, danh dự mà
bản thân của mỗi con người tạo ra với những
lời nói, hành động, việc làm chân thực, đúng
đắn, mang lại lợi ích, niềm tin cho người
khác. Trong cuộc sống cũng như các hoạt
động, để xây dựng chữ tín trước hꢃt phải giữ
chính mình, từ suy nghĩ, lời nói, hành động,
việc làm phải gắn với sự chân thực, cùng với
những chuẩn mực của đạo đức, xã hội, pháp
luật để tạo ra tình cảm, niềm tin đối với người
khác. Trong tất cả các lĩnh vực, phương diện
chữ tín không chỉ thể hiện về mặt tình cảm,
đạo đức, các chuẩn mực giá trị trong xã hội,
mà còn thể hiện khả năng, vai trò của mình
đối với mọi người xung quanh với tập thể và
với toàn xã hội. Từ đó, khi tham gia vào các
hoạt động tạo ra lợi ích cho chính mình, cho
mọi người và cho xã hội. Trong cuộc sống,
chữ tín trước hꢃt là bản lĩnh, sự tự tin hay
Chữ tín không chỉ rất được coi trọng với
người xưa mà cả ngày nay, trong tất cả các
lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh,
chữ tín chi phối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Tại Nhật Bản mấy thập niên
về trước, khi sản xuất và kinh doanh người
Nhật luôn nêu cao khẩu hiệu “chất lượng sản
phẩm lꢁ danh dự của quốc gia”. Nhờ vậy,
cả thế giới biết đến, tin tưởng và khâm phục
các sản phẩm mang tên “Made in Japan”. Tại
Mỹ, trong lần phát biểu của mình trước trước
Thượng viện Mỹ năm 1962, cố Tổng thống
John Kenedy từng nói: “Ngưꢂi tiêu dùng lꢁ
tất cả của chúng ta, hꢀ lꢁ lớp ngưꢂi đông đảo
nhất, có ảnh hưởng vꢁ chịu ảnh hưởng của
tất cả các quyꢃt định về kinh tꢃ, kể cả của nhꢁ
nước vꢁ tư nhân”. Với cách nhìn đó, người
tiêu dùng là người “kiểm định” khách quan,
đúng đắn nhất về chất lượng sản phẩm và sự
lựa chọn của khách hàng là thước đo về chất
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
202
tin vào chính mình, tin vào tài đức, khả năng tranh kéo dài để lại những hậu quả nặng nề,
của mình, với những gì đã làm được và sẽ cùng với sự chi phối của văn hóa, lối sống
làm được. Tiꢃp theo, tín là tin người, tin vào cộng đồng nặng tình cảm quan hệ xã làng đã
khách thể trong mối quan hệ với chính mình, có ảnh hưởng không nhỏ trong văn hóa kinh
lòng tin đó thật sự trong sáng và có cơ sở để doanh cũng như xây dựng chữ tín trong văn
từ đó toàn tâm, toàn lực để cùng chung sức, hóa kinh doanh. Vì thế, một nền sản xuất và
hợp tác thực hiện công việc nào đó. Khi đã kinh doanh nhỏ lẻ, nặng tính cộng đồng, coi
tin vào mình, tin vào người thì chữ tín là sự trọng lợi ích, không chú trọng chữ tín đó là
tin cậy lẫn nhau, là thực hiện đúng lời nói, lời tình trạng thường gặp trong các hoạt động
hứa, không thất hứa, không làm sai trái, dám kinh doanh nước ta. Những đặc điểm này
làm dám chịu trách nhiệm.
khi bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế đã gặp
không ít những khó khăn, thất bại trong sân
chơi của kinh tế thị trường.
Trong các hoꢄt động của đꢂi sống, người
không giữ được chữ tín sẽ không thể có niềm
tin, danh dự và uy tín từ người khác, vì thế,
các hoạt động, các mối quan hệ chỉ mang
tính xã giao, nương tựa, dựa dẫm vào nhau
hoặc luôn trong tình trạng thăm dò. Cho nên,
sẽ khó có sự vững bền nếu như các chủ thể
không tạo dựng chữ tín cho mình.
Trước đây, nhiều sản phẩm trong nước kinh
doanh rất hiệu quả nhưng khi ra thị trường
quốc tế đều thất bại hoặc không cạnh tranh
được với các sản phẩm của các nướchoặc hiệu
quả không cao như lúa gạo.Chúng ta xuất
khẩu gạo đứng thứ hai thế giới trong nhiều
năm, nhưng chưa bao giờ chúng ta được đánh
giá cao về chất lượng, sự vững bền và mức an
toàn sản phẩm. Trong khi Thái Lan - một nước
trữ lượng lúa gạo sản xuất thấp hơn nước ta
nhưng luôn đứng đầu về xuất khẩu lúa. Hay
gần đây một số thương hiệu như cà phê, chè
nước ta bị bị các công ty nước ngoài lấy thương
hiệu sản phẩm sản xuất và bán ra thị trường.
Những vấn đề về xuất khẩu lao động, gần đây
nhiều nước buộc phải hủy nhiều hợp đồng lao
động với thị trường lao động Việt Nam hoặc
hạn chế các hợp đồng xuất khẩu lao động của
Việt Nam do chất lượng lao động, ý thức lao
động, tính kỷ luật trong lao trong khi đó người
quản lý lao động không có các chế tài khi các
lao động vi phạm hợp đồng lao động...
Trong các hoꢄt động kinh tꢃ, chữ tín có
vai trò rất quan trọng đặc biệt trong các mối
quan hệ làm ăn, kinh doanh. Chữ tín không
chỉ tạo ra mối quan hệ lâu dài, sự bền vững
trong kinh doanh mà còn liên quan trực tiếp
đến quyền lợi, lợi ích của các chủ thể. Chính
điều này, chữ tín trong văn hóa kinh doanh
luôn được các chủ thể tham gia kinh doanh
dày công xây dựng.
Trong sản xuất, kinh doanh, các yếu tố về
sản phẩm như số lượng, chất lượng, chủng
loại, thời gian hoàn thành và chuyển giao là
những chỉ số quan trọng. Chính chữ tín đã
làm nên những thương hiệu lớn mạnh và bản
thân thương hiệu cũng chính là một thứ hàng
hóa. Giữ chữ tín là cơ sở của thành công và
là điều kiện của sự tồn tại trong kinh doanh.
Hơn nữa, một điều chúng ta dễ thấy
rằng,trong khi kinh doanh, nhiều chủ thể chỉ
biết lợi ích mà không chú trọng chữ tín và xây
dựng bảo vệ chữ tín. Đây là vấn đề bất cập và
“nguy hiểm” cho sự tồn tại nhiều sản phẩm
trong kinh doanh trên thị trường. Vấn đề sản
xuất ra sản phẩm, quản lý sản phẩm và bảo
vệ sản phẩm là trách nhiệm và cách để các
nhà kinh doanh bảo vệ lợi ích và chữ tín cho
chính mình.
3. Những hạn chế về chữ tín trong văn
hóa kinh doanh ở nước ta
Ở nước ta, do những đặc điểm khách quan
của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp,
sản xuất nhỏ lẽ, mục tiêu chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng, không nặng về kinh
doanh. Quá trình phát triển kinh tế của đất
nước chúng ta lại trải qua những cuộc chiến
ThS. TrầN Thị ThÚy – NgUyễN VăN Vỹ
203
4. các giải pháp nhằm nâng cao chữ
“tín” trong văn hóa kinh doanh trong nước
thời kỳ hội nhập
thì không có một ranh giới, giới hạn nào để
quy định nó mà chính khách hàng, người tiêu
dùng là chủ thể để kiểm nghiệm chữ tín trong
kinh doanh. Vì thế, sẽ không thể có tín nếu
như kinh doanh không mang lại lợi ích, hiệu
quả cho chính chủ thể thực hiện kinh doanh
cũng như khách thể tham gia.
Chữ tín trong văn hóa kinh doanh thời kỳ
hội nhập có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhất
là khi nền kinh tế nước ta ngày càng vươn
xa, vươn rộng ra thế giới, các chủ thể tham
gia kinh doanh để tồn tại và phát triển bên
cạnh luôn tuân thủ các quy luật của kinh tế
thị trường cần thực hiện tốt các yêu cầu của
thị trường và đáp ứng thị hiếu của khách
hàng. Để thực hiện được điều đó, đảm bảo
hiệu quả và sự bền vững trong văn hóa kinh
doanh, các doanh nghiệp cần luôn đặt chữ tín
lên hàng đầu và gắn nó trong các hoạt động
kinh doanh.
Thứ hai, có chiꢃn lược xây dựng vꢁ phát
triển các sản phẩm, nguồn lực lꢁ thꢃ mꢄnh
trong kinh doanh.
Xây dựng và có lộ trình phát triển các sản
phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị
trường tiêu dùng là một chiến lược có vị trí
đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Bởi nhu cầu của con người ngày càng cao,
sản xuất xã hội ngày càng phát triển, nếu kinh
doanh mà không chú ý đến chiến lược phát
triển sản phẩm sẽ dễ bị đối thủ vượt qua.
Thứ nhất, xây dựng văn hóa kinh doanh đi
đôi với việc xác lập vꢁ xây dựng chữ tín trong
kinh doanh.
Ở nước ta hiện nay, nhiều sản phẩm uy tín,
chất lượng vươn ra thị trường thế giới trong
sự cạnh tranh khóc liệt của kinh tế thị trường
nhưng vẫn tồn tại, phát triển và mang lại hiệu
quả cao. Trong sự chi phối đó, một mặt tuân
thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của thị trường,
các quy luật của kinh tế nhưng mặt khác
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm,
bởi cốt lỏi vẫn là sản phẩm, sản phẩm là thế
mạnh, sản phẩm mang tính đặc thù của Việt
Nam. Các sản phẩm nông sản như lúa gạo,
cà phê, hạt tiêu, cá, tôm xuất khẩu...mang lại
nguồn lợi lớn nhưng vẫn cạnh tranh tốt trên
thị trường, đó là một thực tế về phát huy các
Đó là việc gắn lợi ích kinh doanh của chủ
thể với lợi ích của cộng đồng, trực tiếp là
quyền lợi của các bên tham gia vào quá trình
kinh doanh. Xây dựng văn hóa kinh doanh
là xây dựng cả chiều rộng lẫn chiều sâu, xây
dựng về lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích cá
nhân với cộng đồng, tập thể, lớn hơn là lợi ích
cá nhân với quốc gia, dân tộc căn cứ trên các
giá trị, chuẩn mực đạo đức, chính trị, pháp
luật, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo và chủ
thể tham gia kinh doanh làm trung tâm.
Chữ tín trong văn hóa kinh doanh sẽ tạo
nên những “bản sắc”, thương hiệu, đặc điểm,
nét riêng đối với chủ thể kinh doanh. Chính nguồn lực là thế mạnh để tạo nên thương hiệu
từ bản sắc, thương hiệu sẽ tạo ra hiệu quả đối uy tín trong kinh doanh của nước ta.
với chủ thể kinh doanh và vai trò của chủ thể
Tuy nhiên, trong chiến lược phát triển
đối với cộng đồng và dân tộc. Đây là mối
lâu dài để tạo nên những thương hiệu, uy tín
quan hệ biện chứng giữa chữ tín trong kinh
đảm bảo tính cạnh tranh và để tồn tại trên
thị trường thời gian tới chúng ta cần thực
doanh và lợi ích kinh doanh.
Thực tế trên thế giới, văn hóa kinh doanh
là quá trình kéo dài được xây đắp trong quá
trình kinh doanh. Mỗi quốc gia, dân tộc đều
có những giá trị riêng và bản sắc về văn hóa
kinh doanh, nhưng chữ tín trong kinh doanh
hiện nhiều vấn đề quan trọng như áp dụng
các thành tựu khoa học, công nghệ cao vào
sản xuất, chế biến trong các sản phẩm, quản
lý nghiêm ngặt các khâu trong quá trình sản
xuất, kinh doanh.
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
204
Thứ ba,hoꢁn thiện hệ thống thể chꢃ vꢁ vai thức văn hóa kinh doanh càng có ý nghĩa hết
trò quản lý của nhꢁ nước trong lĩnh vực kinh sức quan trọng, đảm bảo cho sự vững bền và
doanh.
xây dựng chữ tín trong kinh doanh. Nhất là với
đội ngũ các doanh nghiệp, doanh nhân tài giỏi
khi tham gia vào sân chơi quốc tế thì lực lượng
này là “đại diện của dân tộc”, “bộ mặt của quốc
gia”.
Kinh doanh trên thị trường trong thời kỳ
hội nhập luôn mở đường và tạo ra cơ hội
cho các chủ thể mới hình thành và tham gia.
Nhưng sẽ rất khó lấy lại cơ hội cho các chủ
thể thất bại và đánh mất uy tín thương hiệu
của mình khi tham gia kinh doanh. Trong một
nền kinh tế chưa nhiều những kinh nghiệm
kinh doanh, chưa cao về trình độ kinh doanh
và chưa có một nền tảng trong văn hóa kinh
doanh thì vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của
nhà nước hết sức quan trọng. Đặc biệt, đối
với các sản phẩm xuất khẩu, các mặt hàng để
đưa ra thị trường quốc tế và các chủ thể làm
ăn, kinh doanh với nước ngoài. Sự quản lý
của nhà nước sẽ đảm bảo tính hệ thống, tính
chặt chẽ, nghiêm túc trong sản xuất và kinh
doanh. Đặc biệt, các mặt hàng liên quan đến
lợi ích quốc gia, dân tộc. Các vấn đề có liên
quan đến an ninh quốc gia, sự quản lý của nhà
nước càng không thể tách rời. Điều này vừa
đảm bảo lợi ích của dân tộc, vừa không ảnh
hưởng đến các chủ thể tham gia kinh doanh
khi xây dựng văn hóa kinh doanh và chữ tín
trong kinh doanh.
Khi tiến tới một sân chơi với nhiều “khắc
nghiệt”, nghiêm ngặt của kinh tế thị trường
rõ ràng điều chúng ta cần là có một đội ngũ
kinh doanh chuyên nghiệp, đủ mạnh, đủ chữ
tín để thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh
đồng thời đội ngũ này có đủ khả năng, nguồn
lực, và đủ sức để cạnh tranh trên thị trường
quốc tế. “Thương trường là chiến trường”
một khi vào “cuộc chơi” của kinh doanh sẽ
không có chỗ cho sự yếu kém và mỗi chủ
thể tham gia kinh doanh sẽ tự đào thải chính
mình khi không tự xây dựng cho mình uy tín,
chất lượng trong quá trình kinh doanh.
Kết luận
Nước ta đang xây dựng nền và phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, vấn đề phát triển thị trường kinh doanh
tạo ra đội ngũ các doanh nhân, doanh nghiệp
phát triển về cả số lượng và chất lượng, điều
này là khách quan và hết sức cần thiết để phát
huy các nguồn lực trong nước đồng thời tạo
ra lượng của cải làm giàu cho đất nước. Thời
kỳ hội nhập quốc tế đang tạo ra nhiều thời cơ
nhưng cũng không ít những thách thức, khó
khăn cho việc xây dựng văn hóa kinh doanh
và chữ tín trong văn hóa kinh doanh. Song, để
đảm cho sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp và doanh nhân Việt Nam thì việc xây
dựng chữ tín trong văn hóa kinh doanh có ý
nghĩa hết sức to lớn, bởi chữ tín nhiều khi
còn quý hơn cả vàng, và trong hoạt động
kinh doanh, chữ tín còn là thương hiệu, là sức
mạnh nội sinh, là cái giúp doanh nghiệp cạnh
Thứ tư, tuyên truyền, giáo dục đꢁo tꢄo
nâng cao nhận thức về văn hóa kinh doanh.
Kinh doanh là làm giàu, là tạo ra của cải
cho xã hội. Điều đó là tích cực khi nó đúng
nghĩa của văn hóa kinh doanh, tuy nhiên,
không ít người khi quan niệm “vi nhân bất
phú, vi phú bất nhân” vì lợi ích trong kinh
doanh mà bất chấp tất cả. Điều này tạo ra
những tiêu cực, mặt trái ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong phạm vi của một đất nước, giáo dục
văn hóa kinh doanh nhằm tạo cho người kinh
doanh hiểu biết những giá trị của đạo đức,
chuẩn mực xã hội, nắm bắt được pháp luật để tranh với thị trường, là cái để người tiêu dùng
từ đó điều chỉnh các hoạt động phù hợp và hiệu lựa chọn mỗi khi cần đến,.. hơn hết, chữ tín
quả nhất khi tham gia kinh doanh. Đặc biệt, là cái làm nên thành công và sự phát triển bền
trong thời kỳ hội nhập, giáo dục nâng cao nhận
vững của doanh nghiệp./.
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng chữ tín trong văn hóa kinh doanh thời kỳ hội nhập ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xay_dung_chu_tin_trong_van_hoa_kinh_doanh_thoi_ky_hoi_nhap_o.pdf

