Nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương hợp hình ảnh cá nhân đến thái độ và dự định mua của người tiêu dùng đối với thương hiệu: Ứng dụng cho ngành ô tô

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TƯƠNG HỢP HÌNH ẢNH CÁ NHÂN  
ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ DỰ ĐỊNH MUA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI  
THƯƠNG HIỆU: ỨNG DỤNG CHO NGÀNH Ô TÔ  
THE INFLUENCE OF SELF IMAGE CONGRUENCE ON BRAND ATTITUDE AND  
PURCHASE INTENTION: CASE STUDY OF AUTOMOBILE INDUSTRY  
TS. Phạm Thị Lan Hương, Trương Đình Quốc Bảo  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Bài báo này nhằm mục tiêu tìm ra ảnh hưởng của sự tương hợp hình ảnh cá nhân đến thái độ và dự định  
mua của người tiêu dùng đối với thương hiệu. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Đà Nẵng trên mẫu là  
261 bản câu hỏi. Nhìn chung, kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng tích cực và thuận chiều giữa các loại sự  
tương hợp hình ảnh cá nhân đến thái độ và dự định mua. Tuy nhiên chỉ có sự tương hợp hình ảnh xã hội có  
ảnh hưởng đến cả thái độ và dự định mua thương hiệu xe ô tô của người tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cho  
phép đề xuất một số kiến nghị có giá trị hỗ trợ cho chiến lược xây dựng thương hiệu của các hãng ô tô nhằm  
thu hút và giữ chân khách hàng.  
Từ khóa: sự tương hợp hình ảnh xã hội; sự tương hợp hình ảnh cá nhân lý tưởng; sự tương hợp hình  
ảnh xã hội lý tưởng; hình ảnh cá nhân; cái tôi.  
ABSTRACT  
This paper aims to study the impact of self image congruence on customer brand attitude and purchase  
intention. This paper reports findings from a research study which was conducted to determine the effect of  
self-image congruity on brand attitude and intention in the automobile industry. This research was conducted  
in Da Nang, on a sample of 261. Overall, the results show a positive influence between self image congruence  
and brand attitude and purchase intention. However, only the social self image congruence affects both  
attitude and purchase intention. The results help to suggest some valuable recommendations to support brand  
strategies of automobile companies.  
Keywords: social self image congruence; ideal self image congruence; ideal social self image congruity;  
self image; self concept.  
cần thiết cho các hãng ô tô để phát triển thương  
hiệu.  
1. Đặt vấn đề  
Một trong những mục tiêu quan trọng của  
các nhà quản trị thương hiệu là tạo ra hình ảnh  
thương hiệu phù hợp với hình ảnh cá nhân của  
người tiêu dùng. Điều này thực tế là do sức  
mạnh của hình ảnh thương hiệu phụ thuộc rất  
lớn vào mối tương quan giữa hình ảnh thương  
hiệu và hình ảnh của cá nhân người tiêu dùng  
(Zinkhan và Hong, 1995)[4]. Vì thế, trong bối  
cảnh nghiên cứu sự tương hợp, bái báo đặt ra 2  
mục tiêu: (1) Nghiên cứu ảnh hưởng của các  
loại tương hợp hình ảnh đến các biến thái độ và  
dự định mua của người tiêu dùng. (2) Dựa trên  
kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị  
2. Cơ sở lý luận  
2.1. Cái tôi (self-concept)  
Thuật ngữ cái tôi được định nghĩa là “toàn  
bộ các suy nghĩ và cảm xúc của cá nhân có sự  
tham chiếu với chính bản thân cá nhân đó như  
là một đối tượng” (Rosenberg, 1986)[9]. Nó là  
nhận thức của một người về các khả năng của  
mình, các hạn chế của mình, bề ngoài của  
mình, và tính cách cá nhân (Graeff, 1996)[3].  
Cái tôi cũng là một thuật ngữ đa chiều, một  
người có thể có nhiều vai trò khác nhau tương  
ứng với từng khuôn mẫu khác nhau (Hong và  
Zinkan, 1995)[4]. Theo Sirgy (1997)[10] có  
190  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
bốn loại cái tôi đó là cái tôi thực tế, cái tôi lý  
cách thương hiệu và hình ảnh người sử dụng  
tưởng, cái tôi xã hội, và cái tôi xã hội lý tưởng.  
Trong đó cái tôi thực tế là cách mà một cá  
nhân nhìn thấy thực tế mình như thế nào, cái  
tôi lý tưởng là cách mà cá nhân muốn thấy  
mình như thế nào, cái tôi xã hội là cách mà  
một cá nhân tin rằng người khác thấy mình như  
thế nào, và cái tôi xã hội lý tưởng là cách mà  
một cá nhân mong muốn người khác thấy mình  
như thế nào.  
thương hiệu.  
2.3.1. Tính cách thương hiệu  
Tính cách thương hiệu có thể được định  
nghĩa là tập hợp các đặc điểm con người được  
gắn cho một thương hiệu (Aaker, 1996)[1]. Vì  
vậy nó bao gồm các đặc điểm như giới tính,  
tuổi và tầng lớp xã hội, cũng như các đặc điểm  
về tính cách con người như gần gũi, ấm áp,  
quan tâm, tình cảm (Aaker, 1996)[1].  
2.2. Hình ảnh cá nhân (self image)  
2.3.2. Hình ảnh người sử dụng thương hiệu  
Khái niệm hình ảnh cá nhân là trung tâm  
của cái tôi, mỗi cá nhân được thúc đẩy bởi một  
“xu hướng hiện thực hóa”, xu hướng này có  
mục đích cơ bản là thúc đẩy các khả năng theo  
cách có thể duy trì và tăng cường hình ảnh cá  
nhân của một người (tức là sự tăng cường cái  
tôi). Hình ảnh là cầu nối giữa cá nhân với  
thương hiệu mà họ mua. Hình ảnh mà cá nhân  
cảm nhận về mình ảnh hưởng đến việc họ mua  
một thương hiệu (Sirgy, 1982)[11]. Bằng cách  
lựa chọn thương hiệu có các liên tưởng hình  
ảnh mạnh mẽ (ví dụ: khỏe khoắn, sang trọng),  
một cá nhân có thể giao tiếp với những người  
khác, những người có những hình ảnh giống  
với cá nhân đó hoặc là có những hình ảnh mà  
cá nhân đó muốn được như vậy, các cá nhân  
luôn cố gắng tăng cường hình ảnh cá nhân của  
họ (Graeff, 1996)[3].  
Hình ảnh người sử dụng là một quan niệm  
rập khuôn của người sử dụng “tổng quát” (hay  
chung nhất) của một thương hiệu, nó mô tả đặc  
điểm của người sử dụng thương hiệu điển hình  
(Sirgy, 1982)[11]. Ví dụ, áo sơ mi Izod có thể  
được mô tả như là giành cho những người  
“yuppies” (những người trẻ tuổi có nhiều hoài  
bão). Tương tự tính cách thương hiệu, hình ảnh  
người sử dụng thương hiệu cũng là đặc điểm  
con người gắn liền với một thương hiệu. Tuy  
nhiên, hình ảnh người sử dụng thương hiệu chỉ  
đơn giản thể hiện hình ảnh một người nguyên  
mẫu và đóng vai trò quan trọng trong việc hình  
thành tổng thể hình ảnh thương hiệu (Parker,  
2009)[8], trong khi tính cách thương hiệu được  
tạo lập từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến  
thương hiệu và được cấu trúc hóa thành một  
thang đo khái quát áp dụng cho nhiều tình  
huống sản phẩm/ quốc gia khác nhau, đặc biệt  
là ở nghiên cứu của Aaker J (1997)[2].  
2.3. Hình ảnh thương hiệu  
Hình ảnh thương hiệu là các liên tưởng  
mạnh mẽ, thuận lợi, và độc đáo của một  
thương hiệu trong tâm trí của người tiêu dùng  
(Keller, 1998)[6]. Đối với người tiêu dùng,  
hình ảnh thương hiệu có thể dựa trên kinh  
nghiệm trực tiếp với thương hiệu, cũng như  
thông qua việc quảng bá thương hiệu, và thậm  
chí thông qua quan sát những kiểu người sử  
dụng thương hiệu hoặc thời điểm khi mà  
thương hiệu được sử dụng là tốt nhất. Bằng  
cách lựa chọn một thương hiệu, một cá nhân có  
thể giao tiếp với những người khác hoặc chính  
bản thân họ (Keller, 1998). Hai thành phần  
quan trọng của hình ảnh thương hiệu là tính  
2.4. Sự tương hợp hình ảnh cá nhân  
Sự tương hợp hình ảnh cá nhân là một sự  
so sánh giữa hình ảnh cá nhân của người tiêu  
dùng và hình ảnh thương hiệu. Có thể sử dụng  
hình ảnh người sử dụng điển hình để đo sự  
tương đồng (kí hiệu là UIC – brand user image  
congruence). Như vậy sự tương hợp hình ảnh  
cá nhân là sự tương đồng giữa hình ảnh cá  
nhân người tiêu dùng và hình ảnh người sử  
dụng thương hiệu điển hình. Theo phương  
pháp khác dựa trên nghiên cứu của Aaker  
(1996)[1], sự tương hợp này được đo lường  
191  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
bằng cách so sánh tính cách thương hiệu và  
nguyên tắc bù trừ trên từng tính từ. Đo lường  
gián tiếp cho phép chúng ta mô tả chính xác sự  
tương đồng giữa hình ảnh cá nhân và hình ảnh  
của sản phẩm trên từng đặc tính, nhưng theo  
Sirgy (1982)[11], phương pháp này có 3 nhược  
điểm: thứ nhất, việc đo lường sự tương đồng  
của từng đặc tính cá nhân đơn lẻ có thể không  
chính xác, vì các đặc tính này không tồn tại  
độc lập, do đó có thể tồn tại quan hệ tương  
quan giữa chúng. Thứ hai, đo lường sự tương  
đồng được thực hiện trên một bảng liệt kê các  
đặc tính cá nhân có sẵn, vì vậy kết quả nghiên  
cứu bị ảnh hưởng bởi việc liệt kê các đặc tính  
này. Nếu những đặc tính được lựa chọn không  
phù hợp với sản phẩm/thương hiệu, kết quả thu  
được sẽ không chính xác. Cuối cùng, việc tính  
toán bù trừ cũng là một nhược điểm của đo  
lường gián tiếp, vì về mặt bản chất, bản chất  
bình quân chủ nghĩa của nguyên tắc bù trừ sẽ  
không cho phép thấy được những điểm khác  
biệt của hình ảnh cá nhân hay hình ảnh thương  
hiệu.  
tính cách cá nhân của người tiêu dùng như là  
cơ sở để tính khoảng cách, phương pháp này  
được gọi là sự tương hợp tính cách thương hiệu  
(kí hiệu BPC – Brand Personality congruence).  
Trong cách tiếp cận theo tính cách thương  
hiệu, các nhà nghiên cứu giả định rằng tính  
cách thương hiệu và hình ảnh người sử dụng về  
mặt lý thuyết có thể thay thế nhau, hoặc ít nhất  
là là bỏ qua sự khác biệt về mặt khái niệm và  
tác dụng của các từ ngữ và chúng có thể thay  
thế cho nhau.  
Tính cách thương hiệu và hình ảnh người  
sử dụng thương hiệu được bổ sung để xây  
dựng hình ảnh thương hiệu, tuy nhiên các tài  
liệu cho thấy hai thuật ngữ này rõ ràng là có sự  
phân biệt về mặt khái niệm, tức là khác nhau  
(Aaker, 1996)[1]. Hơn nữa, Parker (2009)[8]  
cho rằng hình ảnh người sử dụng thương hiệu  
và tính cách thương hiệu phải được coi là  
những cấu trúc riêng biệt. Vì vậy trong nghiên  
cứu này, tác giả nhận định rằng, hình ảnh  
người sử dụng thương hiệu và tính cách thương  
hiệu là hai khái niệm khác nhau, và nghiên cứu  
này sử dụng hình ảnh người sử dụng thương  
hiệu để đo lường sự tương hợp hình ảnh cá  
nhân.  
Trong phương pháp trực tiếp, các đối  
tượng điều tra được gợi ý để nghĩ về hình ảnh  
của một sản phẩm/thương hiệu nào đó, tiếp  
theo họ được kích hoạt để nghĩ về người tiêu  
dùng điển hình của sản phẩm/thương hiệu đó.  
Cuối cùng, đối tượng điều tra sẽ trả lời một câu  
hỏi duy nhất “Sản phẩm/thương hiệu X có  
tương đồng với những đặc tính cá nhân của bạn  
không?” trên thang Likert. Sirgy (1997)[2] cho  
rằng việc đo lường trực tiếp tổng hợp có thể  
giải quyết được toàn bộ những nhược điểm của  
các phương pháp đo lường khác. Bên cạnh đó,  
Parker (2009)[8] đã thực hiện một nghiên cứu  
so sánh giữa UIC và BPC, kết quả cho thấy  
UIC có độ tin cậy và đo lường chính xác sự  
tương hợp hơn BPC. Vì vậy, nghiên cứu này  
chọn phương pháp UIC.  
2.5. Phương pháp đo lường sự tương hợp  
Sự tương hợp được đo lường bằng hai  
phương pháp chính đó là phương pháp gián  
tiếp và phương pháp trực tiếp (Sirgy,  
1997)[10]. Trong đó, BPC sử dụng phương  
pháp gián tiếp, còn UIC sử dụng phương pháp  
trực tiếp.  
Trong phương pháp gián tiếp, sự tương  
hợp hình ảnh cá nhân được đánh giá bằng cách  
đo lường nhận thức của người trả lời về hình  
ảnh sản phẩm/thương hiệu và sự tự nhận thức  
về hình ảnh của riêng mình bằng cách sử dụng  
chung một danh sách tính từ đã cho trước, các  
đối tượng trả lời hai lần, trên hai thang đo khác  
nhau, sau đó nhà nghiên cứu tính toán theo  
3. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu  
Hai yếu tố cần lưu ý của bối cảnh nghiên  
cứu là loại sản phẩm và đặc điểm văn hóa. Thứ  
nhất, nghiên cứu này thực hiện đối với sản  
192  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
phẩm là xe ô tô, đây được xem là loại hàng hóa  
Khổng Tử, đó là sự vượt trội của cái tôi xã hội  
(Xue, 2005)[13]. Vì thế, sản phẩm tiêu dùng dễ  
thấy thì các loại tương hợp hình ảnh xã hội,  
tương hợp hình ảnh xã hội lý tưởng ảnh hưởng  
mạnh hơn cả đến hành vi mua của người tiêu  
dùng.  
tiêu dùng dễ thấy (cho phép thể hiện hình ảnh  
xã hội của cá nhân). Vì vậy, sự tương hợp hình  
ảnh xã hội (SSIC), sự tương hợp hình xã hội lý  
tưởng (SISIC) và sự tương hợp hình ảnh cá  
nhân lý tưởng (ISIC) được xem là các loại sự  
tương hợp có ảnh hưởng mạnh nhất so với các  
loại sự tương hợp khác (O’Cass và Frost,  
2002)[7]. Thứ hai, bối cảnh văn hóa, nghiên  
cứu này thực hiện tại Việt Nam, đất nước có  
nền văn hóa bị ảnh hưởng lớn bởi văn hóa  
Dựa trên các lập luận trên, mô hình và các  
giả thuyết được đề xuất với các lý thuyết hỗ trợ  
của Sirgy (1982, 1997)[10][11] và các nghiên  
cứu thực tế của Xue (2005); Parker (2009)[8];  
và Teimourpour & Hanzaee (2011)[12].  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
H1.1: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh xã hội và thái độ đối với  
thương hiệu của người tiêu dùng.  
H4.2: Sự tương hợp hình ảnh xã hội ảnh  
hưởng lớn nhất trong ba loại sự tương hợp  
hình ảnh đến dự định mua thương hiệu của  
người tiêu dùng.  
H1.2: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh xã hội lý tưởng và thái độ  
đối với thương hiệu của người tiêu dùng.  
4. Phát triển thang đo  
Thang đo của Sirgy (1997) được sử dụng  
để đo lường sự tương hợp hình ảnh cá nhân và  
hình ảnh thương hiệu:  
H1.3: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh cá nhân lý tưởng và thái  
độ đối với thương hiệu của người tiêu dùng.  
“Hãy dành một chút thời gian để suy nghĩ  
về thương hiệu X. Hãy suy nghĩ về những  
người sử dụng thương hiệu X. Hãy tưởng  
tượng người này nằm trong tâm trí của bạn và  
sau đó mô tả người này bằng cách sử dụng một  
hay nhiều tính từ như phong cách, sang trọng,  
nam tính, già cỗi để mô tả người sử dụng điển  
hình thương hiệu X.  
H2.1: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh xã hội với thương hiệu và  
dự định mua thương hiệu của người tiêu dùng.  
H2.2: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh xã hội lý tưởng và dự định  
mua thương hiệu của người tiêu dùng..  
H2.3: Có mối quan hệ tích cực giữa sự  
tương hợp hình ảnh cá nhân lý tưởng và dự  
định mua thương hiệu của người tiêu dùng.  
Hình ảnh 1 … Hình ảnh 2 …  
Một khi bạn đã làm điều này vui lòng cho  
biết mức độ đồng ý của bạn với các phát biểu  
sau: Thương hiệu X có những hình ảnh mà tôi  
tin rằng người khác sẽ thấy ở tôi khi tôi sử  
dụng thương hiệu này; Thương hiệu X có  
những hình ảnh mà tôi muốn có khi tôi sử dụng  
H4.1: Sự tương hợp hình ảnh xã hội ảnh  
hưởng lớn nhất trong ba loại sự tương hợp  
hình ảnh đến thái độ đối với thương hiệu của  
người tiêu dùng.  
193  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thương hiệu này; Thương hiệu X có những  
hình ảnh mà tôi muốn người khác sẽ thấy ở tôi  
khi tôi sử dụng thương hiệu này”.  
“đẳng cấp – sang trọng – lịch lãm”; đối với  
Lexus là “ sang trọng – gợi cảm – lịch lãm”;  
đối với Civic là “tiết kiệm”; đối với Fortuner là  
“nam tính”; đối với Accord là “đẳng cấp – sang  
trọng”  
Thang đo thái độ được sử dụng gồm 7 chỉ  
báo: Tôi đánh giá thương hiệu X rất tốt; Tôi rất  
thích thương hiệu X; Tôi rất vừa ý với thương  
hiệu X; Thương hiệu X rất hấp dẫn; Thương  
hiệu X rất có giá trị; Thương hiệu X rất đáng  
ao ước; Thương hiệu X rất có ích (Graeff,  
1996)[3]. Thang dự định mua gồm 4 chỉ báo:  
Khi có ý định mua xe, tôi chắc chắn sẽ chọn  
thương hiệu X; Khi có ý định mua xe, có khả  
năng tôi sẽ mua X; Tôi có ý định mua một  
chiếc xe X; Tôi sẽ xem xét mua thương hiệu X  
trong thời gian tới (Holzwarth & ctg, 2006)[5].  
5.2. Đánh giá thang đo  
Kết quả phân tích nhân tố thì thang đo thái  
độ, chỉ báo “đáng ao ước” có chỉ số  
communilities <0.5 nên bị loại; các chỉ báo còn  
lại được nhóm thành một nhóm nhân tố và đạt  
yêu cầu về độ tin cậy Cronbach Alpha (>0,05).  
Thang đo đự định mua cũng rút được một  
nhóm, và có độ tin cậy cao. Sau khi kiểm định  
sơ bộ, thang đo được kiểm định thông qua  
phân tích nhân tố khẳng định CFA. Kết quả  
CFA cho thấy mô hình này có 57 bậc tự do,  
Chi-bình phương =105.850 với giá trị p=.000.  
Các chỉ tiêu khác cho thấy mô hình này phù  
hợp với dữ liệu thị trường (CFI=.979,  
LTI=.971, và RMSEA=0.57).  
5. Kết quả nghiên cứu  
5.1. Thống kê mô tả thương hiệu  
Điều tra được thực hiện đối với 29 thương  
hiệu khác nhau, trên 261 bản câu hỏi được  
khảo sát tại các cửa hàng (showroom) ô tô,  
trung tâm dạy lái xe, cơ quan, và trường đại  
học. Việc lưa chọn các tính từ hình ảnh thương  
hiệu điển hình cho các thương hiệu ở trên theo  
quy trình 3 bước: (1) liệt kê tất cả các tính từ,  
tính tần suất tính từ cho các thương hiệu; (2)  
nhóm gộp các tính từ tương đồng về mặt ngữ  
nghĩa thành một nhóm và tính lại tần suất cho  
từng nhóm; (3) kiểm định các nhóm tính từ  
bằng chỉ số chi-square; nếu Sig. của chi-square  
<0.05 thì sẽ có đủ cơ sở để chọn nhóm tính từ  
đại diện.  
5.3. Kiểm định các giả thuyết và mô hình  
nghiên cứu  
Kết quả SEM cho thấy mô hình nghiên cứu  
này có 59 bậc tự do, và mô hình này thích hợp  
với dữ liệu thị trường (Chi- bình phương =  
106.787, p=.000, CFI=.980, TLI=.973,  
RMSEA =0.56). Tuy nhiên kết quả ước lượng  
(chưa chuẩn hóa) của các nhân tố bảng 1 cho  
thấy giữa ISIC và thái độ; và giữa SISIC và dự  
định mua không có ý nghĩa thống kê ở độ tin  
cậy 95% vì giá trị p>0.05. Vì vậy hai mối quan  
hệ này bị loại khỏi mô hình. Giả thuyết H4.1  
được chấp nhận (Estimates chuẩn hóa SISC =  
.388), như vậy, sự tương hợp hình ảnh cá nhân  
xã hội ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ; còn  
giả thuyết H4.2 không được chấp nhận, và có  
thể thấy sự tương hợp hình ảnh cá nhân lý  
tưởng mới là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến  
dự định mua.  
Kết quả cho thấy có 5 thương hiệu có Sig.  
<0.05; các thương hiệu này đạt yêu cầu về chỉ  
số Chi-square để kết luận rằng các tính  
từ/nhóm tính từ đại diện cho hình ảnh người sử  
dụng thương hiệu là khác nhau, và có một số  
các tính từ nổi bật hơn các tính từ còn lại. Cụ  
thể: đối với Camry các tính từ được chọn là  
Bảng 1. Mối quan hệ giữa các khái niệm và kết quả giả thuyết nghiên cứu  
194  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
muốn và kỳ vọng bởi vì tính cá nhân hóa của  
6. Bàn luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương hợp  
xe hơi càng ngày càng tăng, tỉ lệ mua xe theo  
sở thích về hình ảnh cá nhân mong muốn đang  
tăng.  
hình ảnh xã hội ảnh hưởng đến cả thái độ và dự  
định mua thương hiệu của người tiêu dùng.  
Điều này khẳng định tầm quan trọng của hình  
ảnh xã hội trong nhận thức của người tiêu dùng  
tại Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung,  
phù hợp với suy nghĩ và quan niệm Á Đông.  
7. Ý nghĩa của nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà  
quản trị thương hiệu của các hãng ô tô nhận ra  
được ảnh hưởng quan trọng của sự tương hợp  
hình ảnh đến thái độ, dự định mua và lạ trọng  
tâm của chiến lược định vị. Cụ thể, các hãng ô  
tô có thể nâng cao một cách hiệu quả chiến  
lược định vị thương hiệu của họ bằng cách phát  
triển thông điệp quảng cáo khuyến khích người  
tiêu dùng phải suy nghĩ về hình ảnh cá nhân  
của họ. Qua việc làm này, những thông điệp  
quảng cáo có sự đồng nhất với hình ảnh cá  
nhân của người tiêu dùng sẽ thu được một phản  
ứng tích cực hơn một quảng cáo không đồng  
nhất, giúp nâng cao hiệu quả quảng cáo.  
Sự tương hợp hình ảnh lý tưởng không ảnh  
hưởng đến thái độ có thể được giải thích do  
tâm lý đánh giá của người Việt thiên về đánh  
xã hội, đánh giá của công chúng nhiều hơn là  
đánh giá của cá nhân. Sự tương hợp hình ảnh  
xã hội lý tưởng không ảnh hưởng đến dự định  
mua có thể được giải thích là do người mua xe  
tin tưởng sẽ có được hình ảnh xã hội khi dùng  
thương hiệu, họ không chỉ muốn mà tin chắc  
những hình ảnh của chiếc xe là phù hợp với  
những hình ảnh xã hội họ muốn đạt được.  
Hình ảnh cá nhân lý tưởng ảnh hưởng  
mạnh nhất trong ba loại sự tương hợp đến dự  
định mua cho thấy một tín hiệu trong việc lựa  
chọn xe hơi của người tiêu dùng đang có xu  
hướng nhằm thỏa mãn hình ảnh bản thân họ  
Nghiên cứu chỉ thực hiện ở thành phố Đà  
Nẵng nên khả năng đồng nhất sẽ cao hơn nếu  
được khảo sát tại các thành phố khác. Tương  
lai, nghiên cứu có thể được mở rộng với các  
biến số khác của hành vi người tiêu dùng./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Aaker, David (1996), “Measuring brand equity across products and markets”, California  
management review, vol 38, no.3.  
[2] Aaker, L. Jennifer (1997), ‘’Dimensions of Brand Personality’’, Journal of Marketing  
Research, August, 34,3, ABI/INFORM Global, p.347.  
[3] Graeff, T.R. (1996), “Using promotional messages to manage the effects of brand and self-  
image on brand evaluations”, Journal of Consumer Marketing, Vol. 13, pp. 4-18.  
[4] Hong, Jae W và Zinkhan, George M (1995), “Self-concept and Advertising effectiveness: The  
Influence of congruency, conspicuousness, and response mode”, Psychology & Marketing  
(1986-1998), Vol. 12 (I), p 53-77  
[5] Holzwarth, M.C. Janiszewski, và N.M. Neumann (2006), "The Influence of Avatars on Online  
Consumer Shopping Behavior," Journal of Marketing, Vol. 70, No. 4, 19-36.  
[6] Keller KL (1998), “Conceptualizing, meauring and managing customer based brand  
equity”, Journal of Marketing 57:1.  
[7] O’Cass, Aron và Frost, Hmily (2002), “Status brands: examining the effects of non-product  
related brand associations on status and conspicuous consumption”, The Journal of Product  
and Brand Management, 2002, 11, 2/3, pg.67.  
[8] Paker, Brian T (2009), “A comparison of brand personality and brand user-imagery congruence”,  
Journal of Consumer Marketing, vol. 26/3 (2009), pag. 175-184  
[9] Rosenberg, M (1986), Conceving the self, Florida: Robert E. Krieger Publishing Co. Inc.  
[10] Sirgy, M Joseph; Grewal, Dhruv; Mangleburg, Tamara F; Park, Jae-ok (1997), “Assessing  
the predictive validity of two methods of measuring self-image congruence”, Academy of  
Marketing Science. Journal; No. 25, 3, pag. 229  
195  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
[11] Sirgy, M Joseph (1982), “Self-concept in customer behaviour: A Critical Review”, Journal of  
Consumer Research.  
[12] Teimourpour, B và Hanzaee, K H (2011), “The impact of culture on luxury consumption  
behaviour among Iranian consumers”, Journal of Islamic Marketing, Vol. 2, No. 3  
[13] Xue, Fei (2005), “Self-concept, consumption and advertising effectiveness”, American  
Academy of Advertising. Conference Proceedings.  
196  
pdf 7 trang Thùy Anh 14360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương hợp hình ảnh cá nhân đến thái độ và dự định mua của người tiêu dùng đối với thương hiệu: Ứng dụng cho ngành ô tô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_su_tuong_hop_hinh_anh_ca_nhan_den_t.pdf