Văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp sáng tạo tri thức - bài học từ Nhật Bản

ts. trần Hoài nam - tHs. nguyễn minH đức  
63  
VĂN HÓA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP  
SÁNG TẠO TRI THỨC - BÀI HꢀC Tꢁ NHẬT BẢN  
TS. TRầN HOÀI NAM,  
THS. NGUyễN MINH ĐỨC  
Đại học Thương mại Hà Nội  
TÓM TẮT  
Hiện nay, các doanh nghiệp đều muốn hướng tới sự phát triển bền vững nhưng  
để đạt được kết quả đó lại có nhiều yếu tố ảnh hưởng. Văn hóa kinh doanh được  
xem như làmột trong những yếu tố quan trọng nhất. Nhắc đến văn hóa kinh doanh  
không thể không nhắc đến các doanh nghiệp sáng tạo tri thức Nhật Bản.Sau chiến  
tranh thế giới lần thứ hai, họ chính là những thành công điển hình trên thế giới nhờ  
sự đề cao và chú trọng vào văn hóa kinh doanh. Với sự tương đồng trong văn hóa  
và con người của hai nước, thành công từ các doanh nghiệp sáng tạo tri thức Nhật  
Bản sẽ là những bài học giúp đưa ra giải pháp xây dựng văn hóa kinh doanh cho các  
doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  
hiện nay.  
Từ khóa: văn hóa kinh doanh; doanh nghiệp sáng tạo tri thức; quản trị tri thức  
1. Khái quát về văn hóa kinh doanh.  
của tổ chức hoặc cá nhân thông qua các hoạt  
động thương mại như bán hàng, sản xuất,  
quảng cáo,... nhằm thu lại lợi nhuận.  
Khái niệm  
Trong cuốn Văn hóa nguyên thủy, tác giả  
Edward Burnett Tylor (1871) đã đưa ra khái  
niệm được nhiều người chấp nhận và sử dụng  
rộng rãi là:“Văn hóa là một tổng thể phức  
tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo  
đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả  
năng, thói quen, tập quán mà con ngưꢀi đạt  
được với tư cách là thành viên của một xã  
hội” [4]. Có thể thấy văn hóa là một khái  
niệm rất rộng, thậm chí là có tới hàng trăm  
khái niệm về văn hóa trong những lĩnh vực  
khác nhau. Tuy nhiên, dù trong lĩnh vực nào,  
các khái niệm đều thống nhất rằng văn hóa  
và con ngưꢀilà không thể tách rời, văn hóa là  
con người sáng tạo ra, đúc kết thành tri thức,  
con người lại sử dụng văn hóa và tri thức đó  
để làm nền tảng, mục tiêu trong các hoạt động  
đời sống của mình. Kinh doanh được hiểu là  
“tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh  
Như vậy, có thể hiểu khái niệm văn hóa  
kinh doanh là:  
“Văn hóa kinh doanh là một hệ thống  
các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và  
hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong  
quá trình kinh doanh, được thể hiện trong các  
ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng  
đồng hay một khu vực”. [1]  
“Văn hóa kinh doanh là những giá trị  
văn hóa gắn với hoạt động kinh doanh một  
món hàng hóa cụ thể (thương phẩm/dịch vụ)  
trong toàn cảnh mọi mối quan hệ văn hóa - xã  
hội khác nhau của nó. [2]  
Từ các khái niệm nêu trên, chúng tôi cho  
rằng:”Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các giá  
trị văn hóa, tri thức được doanh nghiệp sáng  
tạo, tiếp thu và sử dụng để tạo nên bản sắc  
kinh doanh cho riêng mình trong xã hội”.  
lꢀi” [5]. Như vậy, kinh doanh là hoạt động Theo quan điểm này, văn hóa kinh doanh của  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
64  
doanh nghiệp bao gồm những giá trị văn hóa và sự coi trọng của doanh nghiệp đối với các  
có sẵn, được doanh nghiệp tiếp thu, lĩnh hội, giá trị tốt đẹp, trách nhiệm với xã hội, với  
khách hàng và đối tác. Thể hiện uy tín của  
doanh nghiệp trên thương trường, định hướng  
hoạt động kinh doanh theo cái đúng, cái đẹp  
và đem lại ích lợi đối với xã hội. Chính vì  
vậy, văn hóa kinh doanh còn được coi là một  
khía cạnh trong văn hóa xã hội nói chung.  
và những giá trị văn hóa được doanh nghiệp  
sáng tạo ra trong quá trình hoạt động kinh  
doanh.  
Bản chất và vai trò của văn hóa kinh  
doanh  
Văn hóa kinh doanh là những giá trị văn  
hóa gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh  
doanh của doanh nghiệp; Do đó, xét về bản  
chất, văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp  
bao gồm các yếu tố: triết lý kinh doanh, đạo  
đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân, văn hóa  
doanh nghiệp và văn hóa ứng xử trong hoạt  
động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu  
tố riêng biệt này có những điểm giao thoavới  
nhau, tạo nên một thể thống nhất là văn hóa  
kinh doanh của doanh nghiệp. Hình 1 dưới  
đây thể hiện sự giao thoa các yếu tố của văn  
hóa kinh doanh.  
2.Văn hóa kinh doanh của các doanh  
nghiệp sáng tạo tri thức.  
Văn hóa kinh doanh bao trùm rất nhiều  
hoạt động trong và ngoài doanh nghiệp như  
quản trị, sản xuất, nghiên cứu... Song bản  
thân nó chịu sự tác động và chi phối của chính  
các yếu tố môi trường, con người, quá trình  
quản trị, sản xuất,... Mỗi một doanh nghiệp  
có những yếu tố, điều kiện khác nhau sẽ hình  
thành nên văn hóa kinh doanh khác nhau. Vì  
vậy, có thể khẳng định văn hóa kinh doanh  
là một phần vốn tri thức của doanh nghiệp,  
được doanh nghiệp sáng tạo ra trong quá trình  
sản xuất, kinh doanh của mình. Do đó, việc  
xây dựng, sử dụng và phổ biến tri thức trong  
doanh nghiệp có tính chất quyết định tới việc  
hình thành văn hóa kinh doanh của doanh  
nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải có  
sự kết hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong tổ  
chức, kết hợp được tri thức của mỗi người sẽ  
tạo ra được tri thức của tập thể. Để đạt được  
điều đó, một trong những hoạt động không  
thể thiếu của doanh nghiệp hiện đại chính là  
quản trị tri thức. Hoạt động quản trị tri thức  
là xu hướng mà các doanh nghiệp Việt Nam  
nói riêng, các doanh nghiệp trên thế giới đang  
đặc biệt quan tâm trong những năm qua. Đó  
là một trong các lí do thôi thúc các doanh  
nghiệp đang dần đổi mới để trở thành doanh  
nghiệp sáng tạo tri thức.  
Nguồn:[1]  
Hình 1: Sự giao thoa các yếu tố của văn  
hóa kinh doanh  
Với những yếu tố cấu thành như trên, ta  
thấy rằng văn hóa kinh doanh bao trùm rất  
rộng những hoạt động trong doanh nghiệp.  
Xét về vai trò, văn hóa kinh doanh có ý nghĩa  
quan trọng trong hoạt động nội bộ doanh  
nghiệp như các hoạt động quản trị; hoạt động  
sản xuất; tác phong làm việc; phương pháp  
tác nghiệp hay sự thống nhất trong văn hóa  
ứng xử trong doanh nghiệp,… Không những  
vậy, đối với hoạt động bên ngoài, các hoạt  
động ứng xử với đối tác, khách hàng; đạo  
đức, trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh  
Nói về doanh nghiệp sáng tạo tri thức,  
Ikujiro Nonaka cho rằng đó là những chủ  
thể sáng tạo tri thức thông qua tổng hợp  
mâu thuẫn và định hình lại môi trưꢀng cũng  
như quá trình sáng tạo tri thức [3]. Theo  
Nonaka,nếu nhưcác doanh nghiệp thông  
doanh,… Văn hóa kinh doanh cũng đóng vai thường chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề  
tồn tại, thì các doanh nghiệp sáng tạo tri thức  
trò then chốt, thể hiện rằng thể hiện nhận thức  
ts. trần Hoài nam - tHs. nguyễn minH đức  
65  
quả cao; và văn hóa kinh doanh là điều mà  
họ luôn chú trọng xây dựng, bảo tồn và phát  
triển. Dưới đây là một số điển hình tiêu biểu  
của các doanh nghiệp loại này:  
còn chủ động tìm kiếm, phát hiện vấn đề và  
kiểm soátcác vấn đề đó. Ông cho rằng, doanh  
nghiệp sáng tạo tri thức trở nên khác biệt do  
có những nhà quản lý có tầm nhìn, có mong  
muốn và nỗ lực tạo ra sự khác biệt. Nói cách  
khác, bản chất của doanh nghiệp sáng tạo tri  
thức, theo Nonaka, là sáng tạo và đổi mới dựa  
trên tri thức. Trong các doanh nghiệp sáng tạo  
tri thức, quá trình sản xuất kinh doanh được  
định nghĩalà quá trình sử dụng tri thức để tạo  
ra các giá trị vật chất và tri thức mới cho xã  
hội; Đồng thời quá trình này cũng giúp hình  
thànhvăn hóa kinh doanh của doanh nghiệp.  
Do vậy, các doanh nghiệp sáng tạo tri thức là  
những doanh nghiệp hiểu rõ nhất vị trí và vai  
trò của tri thức trong việc hình thành văn hóa  
kinh doanh, các giá trị văn hóa có mối liên hệ  
chặt chẽ với hoạt động kinh doanh dưới dạng  
tri thức, kiến thức, thúc đẩy và đảm bảo cho  
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được  
phát triển bền vững.  
Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược  
phẩm EISAI  
Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm  
Eisai được Toyoji Naito thành lập năm 1941.  
Công ty được tái cấu trúc mạnh mẽ dưới sự  
lãnh đạo của Haruo Naito (chủ tịch kiếm  
CEO đời thứ ba) vào năm 1988. Năm 1989,  
ông đưa ra một sứ mệnh gọi là “Cam kết đổi  
mới”, với câu hỏi: “Thế giới đang thay đổi,  
bạn có thể thay đổi cùng thế giới?”. Kèm theo  
đó là câu trả lời trong tuyên bố “Cam kết đổi  
mới” của công ty: bệnh nhân và gia đình họ  
là những đối tượng tham gia quan trọng nhất  
trong quá trình chăm sóc sức khỏe, công ty sẽ  
gia tăng lợi ích của họ thông qua hoạt động  
kinh doanh của mình. Đây là thông điệp rất rõ  
ràng về văn hóa kinh doanh của công ty: Cam  
kết phục vụ những người cần dược phẩm của  
mình. Do vậy, câu hỏi quan trọng của Eisai  
chuyển từ “Chúng ta nên làm gì để có sản  
phẩm chất lượng cao với chi phí thấp?” sang  
“Chúng ta sản xuất dược phẩm với mục đích  
gì?”. Và ta cũng hiểu rằng, văn hóa kinh  
doanh của Eisai là nhằm đem lại lợi ích từ  
quá trình cung cấp dược phẩm chứ không  
phải là lợi nhuận từ việc bán hàng. Khẩu hiệu  
của văn hóa kinh doanh mới là “human health  
care” (viết tắt là hhc) được phổ biến rộng rãi  
tới từng nhân viên trong công ty để trở thành  
mục tiêu làm việc, kim chỉ nam trong văn hóa  
kinh doanh của họ.Công ty xúc tiến các hoạt  
động đẩy mạnh việc phổ biến, tiếp thu, thấm  
nhuần văn hóa kinh doanh hhc tới từng cá  
nhân trong công ty. Để giải quyết vấn đề này,  
năm 1997, Eisai đã trở thành công ty đầu tiên  
của Nhật Bản thành lập bộ phận sáng tạo tri  
thức nhằm phổ biến văn hóa kinh doanh hhc  
ra toàn công ty và quản trị quá trình sáng tạo  
tri thức.  
Văn hóa kinh doanh là tri thức được  
doanh nghiệp sáng tạo, đúc kết trong quá  
trình kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy,  
để hình thành và phổ biến văn hóa kinh doanh  
tới từng thành viên, tới đối tác và khách hàng  
đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải áp dụng  
các nguyên tắc và mô hình quản trị tri thức.  
Điều này, đã được khẳng định qua thực tế hoạt  
động của các doanh nghiệp sáng tạo tri thức  
Nhật Bản, quốc gia có nhiều đặc điểm văn  
hóa xã hội tương đồng với Việt Nam, khiến  
họ trở thành các hình mẫu thành công và luôn  
được nhắc đến với một thái độ tôn trọng.  
Đặc trưng văn hoá kinh doanh của Nhật  
Bản là mô hình quản lý chú trọng nguồn lực  
con người, coi trọng con người và sự hài hòa  
trong mối quan hệ con người, mọi người  
trong tổ chức đều tham gia vào quá trình hoạt  
động quản lý và tập thể quan trọng hơn cá  
nhân. Con người của đất nước mặt trời mọc  
luôn nổi tiếng về tính nghiêm túc, “làm ra  
làm, chơi ra chơi” trong mọi hoạt động. Các  
doanh nghiệp sáng tạo tri thức của Nhật Bản  
dưới đây cũng luôn được biết đến là những  
doanh nghiệp có tính kỉ luật, làm việc hiệu  
Bộ phận sáng tạo tri thức của Eisai đã thực  
hiện nhiều công việc nhằm đẩy mạnh văn hóa  
kinh doanh hhc tới được với các thành viên  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
66  
trong công ty. Từ đó, các nhân viên của Eisai loại xe có trách nhiệm phục vụ con người,  
vì vậy, sự an toàn và thoải mái của người sử  
dụng bao giờ cũng được ưu tiên. Mặc dù công  
ty Honda là chủ thể kinh doanh nên rất cần  
lợi nhuận nhưng Soichiro Honda nhấn mạnh  
rằng công ty tồn tại để phục vụ con người và  
xã hội, vì vậy mọi hoạt động từ nghiên cứu,  
sáng tạo tri thức cho tới sản xuất đều hướng  
tới đóng góp cho xã hội.  
giờ đây suy nghĩ và hành động đều dựa trên  
xem xét ý nghĩa xã hội của các mục tiêu đề  
ra dưới góc độ văn hóa kinh doanh hhc. CEO  
Naito khẳng định mục tiêu duy nhất và số  
một của công ty là đạt được sự hài lòng của  
bệnh nhân. Điều này đã được đưa vào Điều  
lệ công ty, đưa hhc “hãy nghĩ trước tiên đến  
bệnh nhân và gia đình họ, và gia tăng lợi ích  
của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe” trở thành  
khái niệm của công ty. Công ty Eisai cho rằng  
việc tuyên truyền hhclà để nhân viên trong  
công ty thực hiện nó thông qua hoạt động  
sáng tạo tri thức liên tục trong công việc. Nhờ  
vậy, thay vì tập trung vào khách hàng chủ yếu  
của công ty là bác sỹ và bệnh viện của họ, các  
nhân viên của công ty đã nghiên cứu, sáng  
tạo ra sản phẩm nhằm mục đích đem lại lợi  
ích nhiều hơn cho người bệnh. Với công ty  
Eisai, một loại thuốc tốt phải vượt qua hiệu  
quả của nó, không chỉ chữa được cho người  
bệnh mà phải giúp đỡ được tình trạng của gia  
đình họ như: tính toán khoa học để chi phí  
chữa bệnh không quá cao, không đem lại tác  
dụng phụ,… Và như thế, văn hóa kinh doanh  
của Eisai đã thể hiện rõ ràng: lợi nhuận không  
phải mục tiêu mà đóng góp cho lợi ích của  
người bệnh mới là quan trọng nhất.  
Ở công ty Honda, sáng tạo tri thức của  
nhân viên được coi là vô tận, người quản  
lý phải có trách nhiệm nhận ra điều đó. Do  
vậy, công ty đánh giá rất cao tri thức ẩn thu  
được từ quá trình sản xuất trực tiếp, đồng thời  
nhấn mạnh vai trò của các lý thuyết đúng đắn  
trong sáng tạo và thực thi hiệu quả những ý  
tưởng mới để có thể trở thành một công ty đổi  
mới. Và để nhân viên công ty luôn tập trung  
hướng tới việc tạo ra giá trị cho xã hội, công  
ty Honda có một nền tảng của văn hóa kinh  
doanh, đó là “ba niềm vui”: mua hàng, bán  
hàng và sáng tạo. Niềm vui là một dạng cảm  
xúc của con người, nó đem đến cảm giác thoải  
mái, dễ chịu khi người ta đạt được điều gì đó.  
Niềm vui mua hàng là của khách hàng, người  
cảm thấy vui khi mua được một món hàng ưng  
ý. Niềm vui của người bán hàng là bán được  
hàng, là đem lại niềm vui cho khách hàng của  
mình. Và cuối cùng, niềm vui sáng tạo là của  
những nhân viên ngày đêm đem trí tuệ, sức  
lực của mình nghiên cứu nhằm tạo ra công  
nghệ mới phục vụ con người. Ba niềm vui này  
được coi như là ước mơ theo đuổi của công ty.  
Do vậy, nó được duy trì, nhấn mạnh, phổ biến  
rộng rãi tới từng nhân viên của Honda từ thời  
kì nhà sáng lập Soichiro cho đến những CEO  
sau này của Honda. Với kim chỉ nam đó, quá  
trình sáng tạo tri thức ở Honda đều được định  
hướng bởi lý tưởng, ước mơ và những trải  
nghiệm thực tế. Như vậy có thể thấy, Honda  
không chỉ là một công ty không chỉ nghiên  
cứu về công nghệ mà còn nghiên cứu về con  
người. Nghiên cứu bởi con người nhằm phục  
vụ chính bản thân con người. “Ba niềm vui”  
ở trên chính là thước đo cho sự thành công và  
cũng là văn hóa kinh doanh mang đậm trách  
Công ty trách nhiệm hữu hạn HONDA  
MOTOR  
Năm 1948, Soichiro Honda đã sáng lập  
ra Công ty TNHH Honda Motor tại thành  
phố Hamamatsu. Từ đó, công ty đã phát triển  
thành một đối thủ cạnh tranh toàn cầu trong  
ngành xe hơi với quá trình phát triển chiến  
lược, văn hóa kinh doanh và công nghệ độc  
đáo. Honda tham gia vào ngành kinh doanh  
sản xuất, bán các loại ô tô, xe máy và các sản  
phẩm tạo năng lượng: động cơ đốt trong, máy  
phát điện,… Đến năm 2008, doanh thu bán  
hàng của Honda đạt được 95,5 tỷ đô la Mỹ  
và có 167.200 nhân viên.Soichiro Honda cho  
rằng “trên cả công nghệ, cái chúng ta phải  
đánh giá cao nhất là con người. Công nghệ sẽ  
không có ý nghĩa gì cả nếu nó không dựa trên  
nền tảng vì con người”. Do đó, trong phát  
triển sản phẩm, công ty nhận thức rằng các nhiệm xã hội của công ty Honda.  
ts. trần Hoài nam - tHs. nguyễn minH đức  
67  
Qua hai ví dụ điển hình từ các doanh Nam, nhóm tác giả đã xây dựng một số câu  
nghiệp sáng tạo tri thức của Nhật Bản, ta khẳng  
định được rằngvăn hóa kinh doanh chính là  
tri thức được doanh nghiệp hình thành và xây  
dựng từ quá trình hoạt động của mình. Các  
doanh nghiệp sáng tạo tri thức của Nhật Bản  
là những doanh nghiệp thực hiện rất tốt hoạt  
động quản trị tri thức. Do đó, văn hóa kinh  
doanh của những doanh nghiệp này luôn được  
chú trọng giữ gìn, phát triển. Kết quả của việc  
xây dựng văn hóa kinh doanh dựa trên quản trị  
tri thức này đã tạo ra một công ty có tầm nhìn  
và hướng tới trách nhiệm xã hội, hoạt động vì  
lợi ích chung; kèm theo đó là một kết quả kinh  
doanh tốt đẹp và bền vững.  
hỏi trắc nghiệm trực tuyến gửi tới các doanh  
nghiệp và thu về được 92 phiếu trả lời, trong  
đó có 89 phiếu hợp lệ và 03 phiếu trả lời  
không đầy đủ (không hợp lệ). Kết quả khảo  
sát nhóm tác giả tóm lược như sau:  
Nguồn: Điều tra của tác giả  
Hình 1.2: Đánh giá của doanh nghiệp về  
văn hóa kinh doanh  
3. Một số vấn đề về văn hóa kinh doanh  
của các doanh nghiệp Việt Nam.  
Theo hình 1.2 trên, có một tín hiệu vui là  
các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhận thức  
về việc xây dựng văn hóa kinh doanh của  
mình: với 74/89 phiếu (83%) cho rằng văn  
hóa kinh doanh ở mức cần thiết trở lên, chỉ có  
17% doanh nghiệp cho rằng không cần thiết  
phải xây dựng văn hóa kinh doanh. Điều này  
có thể giải thích là do đặc thù nền kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới được  
hình thành ở Việt Nam chưa lâu, nên thực tế ở  
nước ta môi trường kinh doanh có văn hóa là  
điều khá mới mẻ trong nhận thức của doanh  
nghiệp. Doanh nghiệp đến với thương trường  
kinh doanh với sự mò mẫm, có người thành  
công, có người thì thất bại. Việc kinh doanh  
là phải có lãi theo đuổi lợi nhuận bằng bất cứ  
giá nào. Quan niệm này được thể hiện khá rõ  
ràng khi doanh nghiệp trả lời câu hỏi: mục  
tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp anh/  
chị là gì?  
Kể từ khi nước chuyển sang nền kinh  
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,  
các doanh nghiệp Việt Nam cũng dần chuyển  
mình, đóng góp to lớn cho sự phát triển của  
đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển  
đó thì mặt tiêu cực của các doanh nghiệp  
cũng có tỉ lệ thuận. Ở đây có thể hiểu mặt  
trái là những biểu hiện kém văn hóa trong  
kinh doanh. Thực tế cho thấy rằng, các doanh  
nghiệp Việt Nam chưa thực sự đầu tư và quan  
tâm đúng mức tới văn hóa kinh doanh trong  
hoạt động của mình. Những áp lực về kinh tế,  
lợi nhuận đã khiến các doanh nghiệp coi văn  
hóa kinh doanh chỉ là yếu tố phụ. Có thể kể  
đến nhiều vấn đề trong văn hóa kinh doanh  
của các doanh nghiệp Việt Nam như nạn hàng  
giả, hàng nhái, kém chất lượng; làm ăn nhỏ  
lẻ, manh mún, tùy tiện; tầm nhìn hạn hẹp, tư  
duy ngắn; thiếu tính cộng đồng; hay như nặng  
về “quan hệ”, “chạy chọt;… Tất cả những vấn  
đề trên đã khiến cho các doanh nghiệp Việt  
Nam mất uy tín, không chuyên nghiệp và khó  
trở thành một doanh nghiệp lớn. Theo thống  
kê của UNDP về 200 doanh nghiệp hàng đầu  
Việt Nam thì vẫn chưa có doanh nghiệp nào  
được xếp vào tầm cỡ thế giới [7]. Điều này  
cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam còn rất  
nhiều bất cập cần phải thay đổi.  
Nguồn: Điều tra của tác giả  
Để có cái nhìn rõ ràng hơn về nhận thức  
văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Việt  
Hình 1.3: Mục tiêu quan trọng nhất của DN  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
68  
Ở hình 1.3, ta thấy có điều đáng tiếc là mặc chưa thực sự được các doanh nghiệp Việt  
dù có tới 83% doanh nghiệp cho là văn hóa  
Nam quan tâm và chủ đích xây dựng để phục  
kinh doanh là cần thiết phải xây dựng nhưng vụ hoạt động kinh doanh. Cũng chính đặc  
điểm này làm cho các doanh nghiệp Việt Nam  
thiếu sự phát triển bền vững, trở nên tụt hậu  
khi so với thế giới. Tuy nhiên, với sự tương  
đồng về văn hóa và con người giữa nước ta và  
Nhật Bản, một số bài học trong xây dựng văn  
hóa kinh doanh của doanh nghiệp ở Nhật Bản  
có thểáp dụng được tại Việt Nam. Các doanh  
nghiệp nước ta hoàn toàn phù hợp với những  
kinh nghiệm rút ra mà nhóm tác giả đưa ra  
dưới đây để vận dụng trong quá trình xây  
dựng văn hóa kinh doanh tại doanh nghiệp  
mình:  
các doanh nghiệp vẫn còn coi trọng tính kinh  
tế cao hơn tính văn hoá (79% đặt mục tiêu  
lợi nhuận so với 17% mục tiêu xây dựng văn  
hóa kinh doanh). Các doanh nghiệpcho rằng  
đạt được kinh tế rồi thì kinh tế sẽ bù lấp văn  
hoá. Suy nghĩ này không chỉ nằm ở đại đa  
số những người kinh doanh mà còn tồn tại  
trong phần lớn tầng lớp của xã hội. Để làm rõ  
hơn câu trả lời về mục tiêu của doanh nghiệp,  
nhóm tác giả đã đưa ra một câu hỏi để doanh  
nghiệp tự đánh giá về những điểm yếu của  
doanh nghiệp mình.  
Xây dựng văn hóa kinh doanh là trước  
tiên  
Xây dựng văn hóa kinh doanh luôn là ưu  
tiên mà các doanh nghiệp Nhật Bản luôn cố  
gắng thực hiện ngay khi thành lập. Văn hóa  
kinh doanh sẽ là mục tiêu xuyên suốt, bền  
vững, tồn tại lâu dài trong thời gian tồn tại  
doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh sẽ giúp  
những thành viên trong doanh nghiệp xác  
Nguồn: Điều tra của tác giả  
Hình 1.4: Doanh nghiệp đánh giá về  
điểm yếu của mình  
Có thể thấy, ngay bản thân các doanh định tư tưởng, gắn kết và cùng hướng tới mục  
tiêu tốt đẹp trong kinh doanh. Nếu không có  
văn hóa kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ dễ  
bị tác động làm thay đổi mục đích kinh doanh,  
trách nhiệm xã hội,… và dẫn tới những hoạt  
động không phù hợp, trái với đạo đức xã hội.  
Chính vì vậy, mọi thành viên trong doanh  
nghiệp đều phải thấu hiểu và có trách nhiệm  
giữ gìn, tuyên truyền văn hóa kinh doanh  
trong doanh nghiệp cũng như phổ biến ra bên  
ngoài xã hội.  
nghiệp cũng tự nhận thấy rằng mình có rất  
nhiều vấn đề trong hoạt động kinh doanh.  
Những con số trong hình 1.4 đã cho thấy điều  
đó. Mặc dù chỉ có 89 phiếu trả lời là hợp lệ  
nhưng có thể thấy tỉ lệ các doanh nghiệp đánh  
giá doanh nghiệp mình có các vấn đề kể trên  
là khá nhiều: 40/89 phiếu cho rằng doanh  
nghiệp chưa thực sự coi trọng chữ tín, hơn  
94% (84/89 phiếu)doanh nghiệp cho rằng còn  
thiếu hoạt động cộng đồng ở doanh nghiệp  
mình và cả những yếu tố như tầm nhìn hạn  
hẹp hay làm ăn nhỏ,… Tất cả tựu chung là  
cũng để thấy rằng dù có thể các doanh nghiệp  
Việt Nam đang phát triển rất nhanh, đang có  
những thành công nhất định nhưng vẫn còn  
những vấn đề nội tại cần phải thay đổi để đạt  
được sự phát triển lâu dài, bền vững.  
Xây dựng cộng đồng trong doanh nghiệp  
Văn hóa kinh doanh của Nhật Bản hướng  
tới việc gắn kết những thành viên với nhau  
trên yếu tố tinh thần, mang tính chất tình cảm,  
chia sẻ trách nhiệm hơn là hệ thống quyền lực  
cứng nhắc. Nhân viên và chủ doanh nghiệp  
là những người hiểu rõ sự nghiệp, công việc  
của mỗi thành viên đều gắn liền với nhau. Do  
đó, mọi suy nghĩ và hành động của chủ doanh  
4. Kết luận và bài học cho các doanh  
nghiệp Việt Nam.  
Có thể thấy rằng văn hóa kinh doanh vẫn nghiệp đều được nhân viên hiểu rõ và được  
ts. trần Hoài nam - tHs. nguyễn minH đức  
69  
coi là chuẩn mực trong công việc. Người cung cấp quỹ học bổng dành cho sinh viên  
cũng được các doanh nghiệp quan tâm và đầu  
tư. Việc này vừa đem lại nguồn nhân lực có  
chất lượng cho doanh nghiệp, vừa thể hiện  
được trách nhiệm xã hội trong văn hóa kinh  
doanh của doanh nghiệp đó.  
đứng đầu có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần  
của nhân viên. Từ đó hình thành nên cộng  
đồng trong doanh nghiệp, có sự thống nhất  
cao, bền chặt. Chính vì vậy, ta có thể thấy có  
những nhân viên làm việc hàng chục năm cho  
một doanh nghiệp ở đất nước này.  
Sáng tạo tri thức phải gắn với văn hóa  
kinh doanh  
Đào tạo nguồn nhân lực là trách nhiệm  
của doanh nghiệp  
Văn hóa kinh doanh là định hướng, mục  
tiêu thì hoạt động sáng tạo tri thức trong  
doanh nghiệp là cốt lõi cho sự thành công của  
doanh nghiệp sáng tạo tri thức. Khi doanh  
nghiệp có văn hóa kinh doanh hướng tới lợi  
ích của con người, của khách hàng, của xã hội  
thì mọi hoạt động sáng tạo tri thức, nghiên  
cứu sản xuất sẽ đi theo đúng định hướng.  
Những kết quả của hoạt động này sẽ được xã  
hội chấp nhận vì tính ích lợi mà sản phẩm  
đem lại. Không những vậy, việc gắn liền văn  
hóa kinh doanh và sáng tạo tri thức sẽ giúp  
các doanh nghiệp có được sự phát triển bền  
Con người dù ở vị trí nào, bên trong  
hay bên ngoài doanh nghiệp đều được coi là  
yếu tố chủ đạo trong xây dựng văn hóa kinh  
doanh. Ở vị trí khách hàng, lợi ích của con  
người được coi là mục tiêu cao nhất mà văn  
hóa kinh doanh của doanh nghiêp hướng tới.  
Ở vị trí nhân viên, con người lại là nguồn lực  
đem lại thành công cho doanh nghiệp. Do  
vậy, các doanh nghiệp rất coi trọng công tác  
đào tạo và sử dụng con người. Hầu như trong  
mọi lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh ở Nhật  
Bản, các doanh nghiệp đều tổ chức đào tạo, vững, lâu dài vì đã đặt lợi ích con người làm  
nâng cao trình độ cho nhân viên. Thậm chí, yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Dương Thị Liễu (2011), Tập bài giảng Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân  
2. Huỳnh Quốc Thắng, (2012), Văn hóa kinh doanh – Văn hóa doanh nghiệp, Trường Đại học Khoa học xã  
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
3. Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama, Toru Hirata (2011), Quản trị dựa vào tri thức, NXB Thời đại  
4. Nguyễn Văn Diễn, Luận văn Văn hóa kinh doanh ở nước ta hiện nay  
5. Từ điển Tiếng Việt  
6. Nguyễn Tất Thịnh (2014), Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản,  
(truy cập ngày 20/11/2014)  
1. Dương Thị Liễu, Nguyễn Vân Hà, Hội nhập và văn hoá kinh doanh Việt Nam, Tạp chí hoạt động khoa  
học  
pdf 7 trang Thùy Anh 18380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp sáng tạo tri thức - bài học từ Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_kinh_doanh_cua_doanh_nghiep_sang_tao_tri_thuc_bai_ho.pdf