Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng tại Thành phố Hồ chí Minh

Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
193  
Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội  
thất phòng khách của khách hàng tại Tp. HCM  
Factors affecting consumer’s purchase decision on interior decoration  
for living room in Ho Chi Minh City  
Trꢀn Thꢁ Hương1*  
1Trường Cao Đẳng GTVT Trung Ương VI, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: hu[email protected]m  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.16.2.982.2021  
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố tác động  
đến quyết đꢁnh chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách  
của khách hàng tại TP. HCM. Mô hình nghiên cứu được kiểm  
đꢁnh với 275 khách hàng mua mặt hàng trang trí nội thất phòng  
khách tại đꢁa bàn TP. HCM. Phương pháp phân tích Cronbach’s  
Alpha, phân tích EFA và hồi quy được dùng để xác đꢁnh các yếu  
tố tác động chính đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất.  
Kết quả kiểm đꢁnh cho thấy ba yếu tố chính tác động đến quyết  
đꢁnh mua hàng trang trí nội thất phòng khách là: (1) Sự cꢀn thiết  
trang trí nội thất phòng khách; (2) Yếu tố giá cả và (3) Yếu tố  
chất liệu của mặt hàng trang trí nội thất phòng khách. Cuối cùng  
nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghꢁ cho các doanh nghiệp,  
đơn vꢁ kinh doanh mặt hàng trang trí nội thất.  
Ngày nhận: 21/09/2020  
Ngày nhận lại: 08/11/2020  
Duyệt đăng: 20/11/2020  
Từ khóa:  
ABSTRACT  
yếu tố, trang trí nội thất, nội thất  
phòng khách, chọn mua, quyết  
đꢁnh mua  
The research examines factors affecting decisions to buy  
interior decoration in HCMC. These factors are tested by 275  
customers to buy interior decoration in HCMC. The study uses a  
combination of Cronbach’s Alpha, EFA and Recurrent for  
defining main factors affecting decisions to buy interior  
decoration. The results reveal two factors affecting such as: (1)  
Necessaries of interior decoration in living room; (2) Price; and  
(3) Material of interior decoration in living room. The research  
also suggests some recommendations for real interior decoration  
companies.  
Keywords:  
factor, interior decoration,  
interior decoration in living  
room, purchase decision  
1. Giới thiệu  
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố đông dân nhất cả nước, tăng trung  
bình gꢀn 183 ngàn người/năm (Nhat Minh, 2020). Theo tờ trình của Sở Xây dựng TP. HCM, năm  
2019 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 1,92 triệu căn nhà, căn hộ chung cư. Mật độ nhà ở trung  
bình là 913 căn/km2. Dự báo năm 2030, TP cꢀn xây thêm 830.000 căn nhà với 150 triệu m2 sàn  
nhà ở (Le, 2020). Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mức sống cao ở Việt Nam. Với mức lương  
trung bình của người lao động là 456 USD/tháng (khoảng 10,3 triệu đồng/tháng), thành phố Hồ  
Chí Minh có mức lương dẫn đꢀu toàn quốc, cao hơn 38% so với mức bình quân cả nước (Thu  
194  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
Hang, 2018).  
Cùng với các chi tiêu cho cuộc sống, người dân thành phố cũng rất quan tâm đến không  
gian sống trong căn nhà của họ. Căn nhà là nơi để ở và phục vụ các nhu cꢀu sinh hoạt của hộ gia  
đình, cá nhân; là nơi để thư giãn lấy lại sức sau những lúc làm việc mệt nhọc và là nơi để gia đình  
quay quꢀn đꢀm ấm bên nhau. Theo nghiên cứu sơ bộ, có hai xu hướng rõ rệt mà các hộ gia đình  
chăm chút cho không gian sống của họ: (1) là trang trí hàng nội thất theo kiểu đơn giản thông  
thường được làm từ các doanh nghiệp đꢁa phương; (2) là trang trí nội thất với các sản phẩm cao  
cấp được làm từ các doanh nghiệp lớn hay hàng nhập khẩu từ các nước tiên tiến.  
Với số dân tăng và lượng nhà ở cũng tăng nhanh thì nhu cꢀu về mặt hàng trang trí nội thất  
ở TP. HCM là một con số lớn. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác đꢁnh và kiểm đꢁnh mô hình  
một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua mặt hàng trang trí nội thất của các hộ gia đình tại  
TP.HCM. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý quản trꢁ cho các đơn vꢁ sản xuất kinh  
doanh mặt hàng trang trí nội thất.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn mua sản phẩm của khách hàng  
Theo Kotler và Keller (2012), việc mua sắm của người tiêu dùng chꢁu ảnh hưởng của nhiều  
yếu tố khác nhau, trong đó phải kể đến bốn nhóm yếu tố chính là: văn hóa, xã hội, cá nhân và  
tâm lý.  
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết đꢁnh cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một  
người. Những người sống trong môi trường văn hóa khác nhau sẽ có hàng vi tiêu dùng khác nhau.  
Ngoài ra, hành vi mua sắm còn phụ thuộc vào nhánh văn hóa, nhánh văn hóa là bộ phận cấu thành  
nhỏ hơn của nền văn hóa có thể chia theo đꢁa lý, dân tộc, tôn giáo. Các nhánh văn hóa khác nhau  
có lối sống riêng, phong cách tiêu dùng riêng.  
- Các yếu tố xã hội: Hành vi mua sắm của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng bởi những yếu  
tố xã hội như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của vꢁ trí xã hội.  
- Các yếu tố cá nhân: Những quyết đꢁnh mua sắm của người tiêu dùng cũng chꢁu ảnh hưởng  
bởi những đặc điểm cá nhân như: giới tính, tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống, nghề nghiệp và  
thu nhập, lối sống.  
- Nhóm yếu tố tâm lý: Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chꢁu ảnh hưởng của bốn  
yếu tố tâm lý là động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin.  
Theo Engel–Kollat–Blackwell (1968) và Howard và Sheth (1969 as cited in Jeff, n.d.), việc  
mua sắm của người tiêu dùng chꢁu tác động bởi nhóm yếu tố môi trường như chất lượng, giá cả,  
gia đình và nhóm yếu tố cá nhân như động cơ, tài chính, kiến thức, thái độ, cá tính, lối sống.  
Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) do Fishbein và Ajzen xây dựng năm 1975. Lý  
thuyết này cho rằng ý đꢁnh hành vi được quyết đꢁnh bởi thái độ cá nhân đối với hành vi, cùng sự  
ảnh hưởng của chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó. Trong đó, thái độ và  
chuẩn chủ quan có tꢀm quan trọng trong ý đꢁnh hành vi.  
Theo Solomon, Bamossy, Akegaard, và Hogg (2006), cho rằng quyết đꢁnh mua sắm của  
người tiêu dùng thường được dựa trên sự đánh giá về chất lượng của sản phẩm hay thương hiệu  
của nó. Trước khi quyết đꢁnh mua một sản phẩm nào thì người tiêu dùng thường có mức độ đắn  
đo lo lắng nhiều hay ít tỷ lệ thuận với giá trꢁ của sản phẩm. Để giảm thiểu rủi ro, họ thường tham  
khảo trên internet hay hỏi thăm tin tức của sản phẩm từ bạn bè, người thân.  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
195  
Nghiên cứu của Huynh (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua xe tay ga hãng  
Honda của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất mô hình gồm 05 yếu tố ảnh  
hưởng: (1) Giá trꢁ nhân sự; (2) Giá trꢁ chất lượng; (3) Giá trꢁ tính theo giá; (4) giá trꢁ cảm xúc; (5)  
giá trꢁ xã hội.  
Nghiên cứu của Do (2017) về các các yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua ô tô tại Việt Nam.  
Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 06 yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua ô tô tại Việt  
Nam: (1) Nhận thức về sự hữu ích; (2) Nhận thức kiểm soát hành vi – tài chính; (3) Cảm nhận về  
giá cả - chi phí; (4) Cảm nhận về an toàn - chất lượng; (5) Nhận thức rủi ro; và (6) Chuẩn chủ quan.  
Hay theo luận văn Thạc sĩ của Vo (2013) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết  
đꢁnh mua nhà của khách hàng tại Tp.HCM có 07 yếu tố gồm: (1) Tình hình tài chính; (2) Đặc điểm  
nhà; (3) Không gian sống; (4) Vꢁ trí nhà; (5) Tiện nghi công cộng; (6) Môi trường sống; (7) Bằng  
chứng thực tế.  
Nghiên cứu của T. Q. Nguyen (2014) về “Một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua  
căn hộ chung cư cao cấp của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh” cho rằng việc quyết đꢁnh  
chọn mua căn hộ chung cư cao cấp của người dân TP. HCM ảnh hưởng bởi các yếu tố: (1) Các  
yếu tố văn hóa xã hội; (2) Yếu tố thuộc tính sản phẩm; (3) Yếu tố ảnh hưởng; (4) Thuế và thủ tục  
giấy tờ sở hữu căn hộ.  
Ngoài ra, có hai nghiên cứu liên quan đến quyết đꢁnh mua vật dụng cho ngôi nhà như  
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua Vật liệu nhẹ - Thạch cao của Pham (2009)  
nêu ra 08 yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết đꢁnh mua vật liệu nhẹ - thạch cao gồm: (1) Uy tín trong  
kinh doanh, (2) Giá cả sản phẩm, (3) Dꢁch vụ khách hàng, (4) Cửa hàng liên hệ mua sản phẩm, (5)  
Chất lượng và đặc tính của sản phẩm, (6) Ích lợi của sản phẩm, (7) Hoạt động giao nhận, (8)  
Thương hiệu sản phẩm. Nghiên cứu của V. V. Nguyen (2016) về các yếu tố giá trꢁ thương hiệu  
ảnh hưởng đến ý đꢁnh chọn mua nệm Kim Đan của người tiêu dùng TP. HCM gồm 06 yếu tố: (1)  
Nhận biết thương hiệu; (2) Liên tưởng thương hiệu; (3) Chất lượng cảm nhận; (4) Lòng trung  
thành thương hiệu; (5) Giá cả cảm nhận.  
Đối với mặt hàng trang trí nội thất để trang trí cho căn nhà, việc mua sắm thường là sự  
đồng ý của cả hai vợ chồng. Hay trang trí phòng khách thường là quyết đꢁnh của người chồng, còn  
trang trí phòng ngủ và nhà bếp thì nghiêng về quyết đꢁnh của người vợ. Nhưng việc trang trí trong  
ngôi nhà có tính đồng nhất giữa các phòng, giữa các không gian với nhau nên cꢀn sự đồng ý của  
cả hai người. Khi mua sắm hàng nội thất, thường người tiêu dùng quan tâm đến thuộc tính của sản  
phẩm. Các thuộc tính của sản phẩm bao gồm: Chức năng của sản phẩm, giá thành và chất lượng  
của sản phẩm (Kaplan & Norton, 1996). Đối với sản phẩm là mặt hàng trang trí nội thất thì thuộc  
tính sản phẩm là chất lượng, kiểu dáng, chất liệu, màu sắc và giá cả sản phẩm.  
Tác giả chưa thấy nghiên cứu nào thực hiện về các yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt  
hàng trang trí nội thất của người tiêu dùng (các hộ gia đình) tại TP.HCM. Trong khi đó nhu cꢀu và  
thực tế mua sắm mặt hàng này rất cao. Nên cꢀn thiết có nghiên cứu liên quan đến việc xem xét các  
yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất.  
Căn cứ vào những yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua của người tiêu dùng qua các lý  
thuyết, mô hình, nghiên cứu kể trên. Sau khi quan sát, tham khảo ý kiến của một số khách hàng và  
những người bán hàng nội thất, tác giả đưa ra các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua  
hàng trang trí nội thất của các chủ hộ ở đꢁa bàn TP. HCM như sau: (1) sự cꢀn thiết của đồ nội thất,  
(2) giá cả đồ nội thất, (3) chất liệu đồ nội thất, (4) kiểu dáng đồ nội thất, (5) màu sắc đồ nội thất.  
2.2. Mặt hàng trang trí nội thất  
196  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
Đồ nội thất hay vật dụng, thiết bꢁ nội thất là những loại tài sản (thường là động sản) và các  
vật dụng khác được bố trí, trang trí bên trong một không gian nội thất như căn nhà, căn phòng hay  
cả tòa nhà nhằm mục đích hỗ trợ cho các hoạt động khác nhau của con người trong công việc, học  
tập, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí như ghế, bàn, giường, tủ, ….  
Với mỗi ngôi nhà, phòng khách là căn phòng quan trọng. Khi mọi tinh hoa trang trí ở đây  
đều được gia chủ chăm chút kỹ lưỡng. Vì thế có thể nói phòng khách là bộ mặt của gia chủ. Phòng  
khách là nơi tiếp đón khách, bạn bè thân hữu và cũng là nơi nghỉ ngơi, sum họp của các thành viên  
trong gia đình. Khi lựa chọn các món đồ trang trí cho phòng khách, gia chủ thường căn cứ vào tính  
thẩm mỹ, sự sang trọng, tính hợp phong thủy hay sự yêu thích của bản thân và gia đình. Các đồ  
dùng trang trí nội thất trong phòng khách thường là:  
- Bàn, ghế uống nước, ghế sofa: Vật liệu của bàn ghế uống nước, ghế sofa có thể là gỗ, bộc  
nệm, thủy tinh, mây tre lá…Đây là món đồ nội thất quan trọng bậc nhất trong phòng khách. Chúng  
giúp không gian phòng khách đẹp, sang trọng và để sử dụng đón tiếp khách và có thể là nơi nghỉ  
ngơi thư giãn cho các thành viên trong gia đình.  
- Bàn trà: Đi kèm theo bộ ghế sofa là bàn trà với các kiểu dáng đa dạng. Dù phòng khách  
nhỏ hay lớn, chật hay rộng bộ ghế sofa và bàn trà cũng đi kèm với nhau. Bàn trà sofa có nhiều chất  
liệu khác nhau như bàn trà mặt đá, bàn trà mặt kính hay bàn trà mặt gỗ.  
- Kệ tivi: Món đồ nội thất đa số các hộ gia đình có trang bꢁ là kệ tivi. Chúng không những  
đơn thuꢀn là giá mà chúng còn được sử dụng như món đồ trang trí. Do đó, kệ tivi cũng được các  
gia chủ lựa chọn kỹ.  
- Kệ trang trí, vách ngăn: Kệ trang trí, vách ngăn giúp phòng khách đẹp hơn khi bài trí  
nhiều món đồ khác nhau. Nếu phòng khách có nhiều không gian thì kệ trang trí có thể đi kèm với  
vách ngăn và tủ rượu.  
Bên cạnh phòng khách, phòng ngủ và nhà ăn cũng không kém phꢀn quan trọng và được  
chủ căn hộ chăm chút trang trí nội thất phù hợp.  
Đồ trang trí phòng ngủ gồm: giường ngủ, tủ quꢀn áo, bàn trang điểm, kệ tivi, rèm.  
Đồ trang trí phòng bếp gồm: bộ bàn ăn, tủ bếp.  
Ngoài ra, chủ căn nhà có thể trang trí thêm cho căn nhà những đồ vật mà mình ưa thích.  
3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Mô hình nghiên cứu  
Mô hình nghiên cứu một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất,  
chủ yếu nghiên cứu về đồ nội thất trang trí phòng khách của ngôi nhà và các giả thuyết được trình  
bày ở Hình 1, gồm: (1) Sự cꢀn thiết trang trí nội thất phòng khách; (2) Yếu tố giá cả của đồ nội  
thất; (3) Yếu tố chất liệu của đồ nội thất; (4) Yếu tố kiểu dáng của đồ nội thất; (5) Yếu tố màu sắc  
của đồ nội thất.  
Các giả thuyết đặt ra:  
Giả thuyết H1: Sự cꢀn thiết trang trí phòng khách có tác động đồng biến với quyết đꢁnh  
chọn mua đồ nội thất.  
Giả thuyết H2: Yếu tố giá cả của đồ nội thất có tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn  
mua đồ nội thất.  
Giả thuyết H3: Yếu tố chất liệu của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn  
mua đồ nội thất.  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
197  
Giả thuyết H4: Yếu tố kiểu dáng của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn  
mua đồ nội thất.  
Giả thuyết H5: Yếu tố màu sắc của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn mua  
đồ nội thất.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Trên cơ sở nghiên cứu và quan sát, tác giả đã phỏng vấn với 10 chuyên gia (gồm 06 khách  
hàng đã mua hàng nội thất, 04 người kinh doanh hàng nội thất) để xác đꢁnh lại câu chữ trong bảng  
câu hỏi. Nghiên cứu đã xây dựng các biến số tiềm ẩn (latent variable), biến số quan sát (observed  
variable) làm cơ sở cho việc hình thành bảng câu hỏi và thiết kế mô hình nghiên cứu.  
Bảng 1  
Các khái niệm, thang đo và ký hiệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu  
Biến số  
Sự cꢀn thiết trang trí nội thất  
Yếu tố giá cả  
Thang đo  
Liker 5 điểm  
Liker 5 điểm  
Liker 5 điểm  
Liker 5 điểm  
Liker 5 điểm  
Liker 5 điểm  
Tỷ lệ  
Các ký hiệu  
CTHIET  
GIACA  
Yếu tố chất liệu  
CHATLIEU  
KIEUDANG  
MAUSAC  
KHAC  
Yếu tố kiểu dáng  
Yếu tố màu sắc  
Yếu tố khác  
Tuổi  
TUOI  
Mức thu nhập  
Tỷ lệ  
THUNHAP  
CONGVIEC  
THOIGIAN  
TTIN  
Công việc hiện tại  
Thời gian mua sắm  
Thông tin về mặt hàng TTNT  
Nơi thường mua mặt hàng TTNT  
Tỷ lệ  
Khoảng cách  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ  
TMUANT  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 của tác giả  
Thang đo sự cꢀn thiết trang trí nội thất được đo lường bằng năm biến quan sát, với nội  
dung: (1) Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp; (2) Trang trí phòng khách theo phong  
198  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
cách sang trọng; (3) Trang trí phòng khách theo kiểu ấm cúng; (4) Trang trí phòng khách theo sự  
đơn giản, tiện dụng; (5) Trang trí phòng khách theo đồ nội thất thông minh. Thang đo yếu tố giá  
cả của đồ trang trí nội thất phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1)  
Chọn mặt hàng cao cấp; (2) Chọn mặt hàng trung bình; (3) Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt; (4)  
Chọn mặt hàng nhập khẩu; (5) Không quan trọng giá cả miễn là thích. Yếu tố chất liệu của đồ  
trang trí nội thất được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Gỗ là chất liệu quan tâm  
nhất; (2) Chọn chất liệu thủy tinh; (3) Chọn chất liệu vải nhung, nhựa; (4) Chọn chất liệu hàng  
mây tre lá; (5) Chọn chất liệu gạch, đá đẹp. Thang đo yếu tố kiểu dáng của đồ trang trí nội thất  
phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Thích chọn kiểu dáng cꢀu  
kỳ tỉ mĩ; (2) Thích chọn kiểu dáng Châu Âu, sang trọng; (3) Thích chọn kiểu cổ điển; (4) Thích  
chọn kiểu hài hòa; (5) Thích chọn kiểu mộc mạc đơn giản. Thang đo yếu tố màu sắc của đồ trang  
trí nội thất phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Thích chọn màu  
sắc tươi sáng; (2) Thích chọn màu tối mạnh mẽ; (3) Thích chọn màu cá tính, lạ mắt; (4) Thích  
chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc; (5) Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tĩnh.  
Nghiên cứu này được sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với  
các cư dân sống tại TP. Hồ Chí Minh (chọn ngẫu nhiên những người đã từng mua sắm mặt hàng  
trang trí nội thất phòng khách). Thời gian thực hiện điều tra khảo sát từ tháng 05/2020 đến 06/2020.  
Kích thước mẫu là n=300 phiếu, thu về 287 phiếu. Mẫu chính thức sử dụng được là 275 phiếu,  
loại 12 phiếu không hợp lệ. Người tham gia trả lời bảng câu hỏi với tỉ lệ nam giới là 113 người  
(chiếm 41%) và nữ giới là 162 người (chiếm 59%) có độ tuổi từ 25 tuổi trở lên; với 112 người tuổi  
từ 25-30 (chiếm 40%), 93 người tuổi từ 31-40 (chiếm 34%) và 71 người tuổi từ 41 trở lên (chiếm  
26%). Về thành phꢀn, có 93 người là nhân viên (chiếm 35%); 67 người là tự kinh doanh (chiếm  
24%); 21 người là chuyên viên (chiếm 7%) và 94 người là công việc khác (chiếm 34%).  
Theo Hair, Black, Babin, và Anderson (2014), tỷ lệ quan sát/biến đo lường tối thiểu là 5:1.  
Nghiên cứu có 30 biến đo lường nên số mẫu dự kiến là 5 x 30 = 150. Thực tế, tổng số lượng mẫu  
hợp lệ thu thập được là 275. Bảng câu hỏi sử dụng thang đo dạng Likert 5 điểm được sử dụng từ  
1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý) (Bảng 1). Dữ liệu thu thập được tiến hành  
sàng lọc và xử lý dữ liệu bằng phꢀn mềm SPSS thông qua các phân tích giá trꢁ trung bình, phân  
tích Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá (EFA), tương quan và hồi quy đa biến. Theo T. D.  
Nguyen (2013), Cronbach’s Alpha là hệ số được nhiều nghiên cứu ứng dụng nhất trong việc đánh  
giá độ tin cậy của những thang đo đa biến, bởi vì nó có thể được dùng để đánh giá tính nhất quán  
của các biến quan sát trong cùng một thang đo để đo lường một khái niệm.  
4. Phân tích dꢀ liệu và phương pháp nghiên cứu  
4.1. Phân tích giá trị trung bình  
Bảng 2  
Kết quả khảo sát thực trạng mua mặt hàng trang trí nội thất tại TP. HCM  
Giá trị  
trung bình chuẩn  
Độ lệch  
Biến quan sát  
Diễn giải  
CTHIET1  
CTHIET2  
CTHIET3  
CTHIET4  
Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp  
Trang trí phòng khách theo phong cách sang trọng  
Trang trí phòng khách theo kiểu ấm cúng  
4,78  
4,56  
4,65  
4,61  
0,638  
0,924  
0,820  
0,853  
Trang trí phòng khách theo sự đơn giản, tiện dụng  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
199  
Giá trị  
trung bình chuẩn  
Độ lệch  
Biến quan sát  
Diễn giải  
CTHIET5  
GIACA  
Trang trí phòng khách theo đồ nội thất thông minh  
Chọn mặt hàng cao cấp  
4,00  
4,13  
4,16  
4,75  
4,16  
4,06  
4,62  
3,67  
3,75  
3,68  
3,87  
3,85  
3,91  
3,85  
4,65  
4,62  
4,52  
3,73  
3,85  
4,37  
4,66  
4,17  
0,667  
0,936  
1,033  
0,715  
0,817  
0,946  
0,910  
0,942  
0,861  
0,892  
0,886  
0,808  
0,754  
0,774  
0,817  
0,910  
1,095  
0,933  
0,835  
0,694  
0,754  
0,749  
GIACA2  
GIACA3  
GIACA4  
GIACA5  
Chọn mặt hàng trung bình  
Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt  
Chọn mặt hàng nhập khẩu  
Không quan trọng giá cả miễn là thích  
CHATLIEU1 Gỗ là chất liệu quan tâm nhất  
CHATLIEU2 Chọn chất liệu thủy tinh  
CHATLIEU3 Chọn chất liệu vải nhung, nhựa  
CHATLIEU4 Chọn chất liệu hàng mây tre lá  
CHATLIEU5 Chọn chất liệu gạch, đá đẹp  
KIEUDANG1 Thích chọn kiểu dáng cꢀu kỳ tỉ mĩ  
KIEUDANG2 Thích chọn kiểu dáng Châu Âu, sang trọng  
KIEUDANG3 Thích chọn kiểu cổ điển  
KIEUDANG4 Thích chọn kiểu hài hòa  
KIEUDANG5 Thích chọn kiểu mộc mạc đơn giản  
MAUSAC1  
MAUSAC2  
MAUSAC3  
MAUSAC4  
MAUSAC5  
K1  
Thích chọn màu sắc tươi sang  
Thích chọn màu tối mạnh mẽ  
Thích chọn màu cá tính, lạ mắt  
Thích chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc  
Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tỉnh.  
Ngoài bàn, ghế, sofa, phòng khách còn được trang trí  
vật khác  
K2  
K3  
K4  
K5  
Vật trang trí khác cũng có giá trꢁ  
4,03  
4,75  
4,69  
4,78  
0,701  
0,668  
0,751  
0,626  
Hài lòng về chất lượng mặt hàng TTNT đã mua  
Hài lòng về dꢁch vụ kèm theo khi mua hàng TTNT  
Hài lòng về quyết đꢁnh mua hàng TTNT  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS 26 của tác giả  
Gia đình là nhân tố xã hội, gia đình có ấm no hạnh phúc thì xã hội mới hòa bình và phát  
triển. Mỗi căn nhà là một tổ ấm của gia đình, nơi mà các thành viên thư giãn, nghỉ ngơi và tái tạo  
lại sức lao động, làm việc cho xã hội. Tùy theo hoàn cảnh, sở thích và thu nhập, các gia đình luôn  
ý thức chăm chút cho không gian sống của họ sao cho thoải mái nhất. Việc trang trí mặt hàng nội  
thất cho phòng khách là một trong những quan tâm của các hộ gia đình cho căn nhà của họ. Kết  
quả nghiên cứu từ khảo sát cho thấy điểm trung bình của các yếu tố khá cao từ 3,67 đến 4,78. Các  
200  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
yếu tố có giá trꢁ trung bình lớn hơn 3 là các yếu tố được khách hàng quan tâm. Giá trꢁ trung bình  
của yếu tố “Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp” có mức cao nhất trong nhóm các yếu  
tố cꢀn thiết trang trí phòng khách, với giá trꢁ là 4,78; cho thấy các hộ gia đình rất quan trọng việc  
trang trí phòng khách, nó như là bộ mặt của ngôi nhà họ đang sống. Kế đến nhóm các yếu tố về  
giá cả thì các khách hàng của hộ gia đình ở TP. HCM quan tâm đến những hàng hóa có thương  
hiệu, điểm trung bình của yếu tố “Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt” đạt 4,75; hàng nhập khẩu,  
hàng cao cấp cũng được quan tâm nhưng không nhiều. Về chất liệu của mặt hàng trang trí nội thất  
rất đa dạng nhưng đa số khách hàng vẫn thích chất liệu bằng gỗ, yếu tố “Gỗ là chất liệu quan tâm  
nhất” có điểm trung bình cao nhất là 4,62. Sự chọn lựa về kiểu dáng của mặt hàng trang trí nội thất  
của khách hàng không có sự chênh lệch nhau nhiều, giá trꢁ trung bình của nhóm yếu tố này đạt  
mức từ 3,85 đến 4,65 trong đó yếu tố “Thích chọn kiểu hài hòa” có giá trꢁ trung bình cao nhất là  
4,65. Khách hàng vẫn ưu tiên cho sự hài hòa trong không gian sống, căn nhà đẹp thì đồ trang trí  
nội thất sang trọng, còn căn nhà đơn giản thì đồ nội thất cũng đơn giản tương xứng. Nhóm yếu tố  
màu sắc cũng là một sự cân nhắc của khách hàng khi mua sắm mặt hàng trang trí nội thất, yếu tố  
“Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tĩnh” đạt giá trꢁ trung bình cao nhất là 4,66 cao hơn giá  
trꢁ trung bình của yếu tố “Thích chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc” là 4,37. Điều đó  
cho thấy xu hướng tiêu dùng của khách hàng muốn sống trong thiên nhiên, hòa mình vào thiên  
nhiên yên tĩnh, họ sợ sự ồn ào ô nhiễm của thành phố.  
4.2. Phân tích nhân tố EFA  
Nhóm nhân tố CANTHIET có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,664 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy  
nhiên có nhân tố CANTHIET5 có hệ số Corrected Item – Total Correlation là 0,166 < 0,3 nên bꢁ  
loại. Nhóm nhân tố GIACA sau khi loại biến GIACA2 có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,711 > 0,6  
đạt yêu cꢀu. Nhóm nhân tố CHATLIEU có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,699 > 06 đạt yêu cꢀu, tuy  
nhiên có nhân tố CHATLIEU5 có hệ số Corrected Item – Total Correlation là 0,275 < 0,3 nên bꢁ  
loại. Nhóm nhân tố KIEUDANG có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,622 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy nhiên  
có nhân tố KIEUDANG1 và KIEUDANG2 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn  
0,3 nên bꢁ loại. Nhóm nhân tố MAUSAC có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,615 > 0,6 đạt yêu cꢀu,  
tuy nhiên có nhân tố MAUSAC1 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0,3 nên bꢁ  
loại. Nhóm nhân tố K có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,649 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy nhiên có nhân tố  
K1 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0,3 nên bꢁ loại.  
Trong 25 biến độc lập sau khi nghiên cứu sơ bộ đã loại ra 06 biến còn 19 biến đưa vào  
phân tích nhân tố EFA. Bảng phân tích EFA cho thấy có bốn yếu tố được trích tại eigenvalue bằng  
bằng 1,152; tổng phương sai trích là 62,513% > 50% hợp lệ. Biến quan sát MAUSAC3 tiếp tục bꢁ  
loại vì có trọng số < 0,5. Chỉ số KMO đạt 0,861 và sig = 0,000 cho thấy phân tích nhân tố là thích  
hợp với dữ liệu hiện tại. Phương pháp phân tích nhân tố dựa vào thông số Eigenvalue, chỉ có những  
nhân tố nào có Eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích và sau khi chuẩn  
hóa mỗi biến gốc có phương sai là 1.  
Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập cho thấy có một yếu tố được trích tại  
eigenvalue bằng bằng 2,189; tổng phương sai trích là 54,717% > 50% hợp lệ. Biến quan sát K2 bꢁ  
loại vì có trọng số < 0,5. Chỉ số KMO đạt 0,714 và sig = 0,000 cho thấy phân tích nhân tố là thích  
hợp với dữ liệu hiện tại. Theo kết quả ma trận xoay lꢀn cuối, các nhân tố được tập hợp tại Bảng 3,  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
201  
Bảng 3  
Tổng hợp kết quả kiểm đꢁnh thang đo  
Số thứ tự  
Nhân tố  
CTNT  
GIACA  
Các biến quan sát  
CTNT1, CTNT2, CTNT3, CTNT4  
GC1, GC3, GC4, GC5  
Loại biến Kết luận  
1
2
3
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
CHATLIEU CHATLEU1, CHATLIEU2, CHATLIEU3,  
CHATLIEU4  
4
5
6
KIEUDANG KIEUDANG3, KIEUDANG4, KIEUDANG5 Độc lập  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
MAUSAC  
KHAC  
MAUSAC2, MAUSAC4, MAUSAC5  
KHAC3, KHAC4, KHAC5  
Độc lập  
Phụ  
thuộc  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả  
Mô hình lý thuyết có 6 nhân tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất  
phòng khách của các hộ gia đình tại đꢁa bàn TP. HCM với 21 biến quan sát được chấp nhận. Việc  
phân tích hồi quy được thực hiện để xác đꢁnh mức độ tác động của 05 nhân tố (Sự cꢀn thiết trang  
trí nội thất phòng khách; Giá cả; Chất liệu mặt hàng nội thất; Kiểu dáng hàng nội thất và màu sắc  
mặt hàng nội thất) đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất như thế nào.  
4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến  
Hồi quy đa biến trong SPSS cho thấy các mức độ phụ thuộc của các biến phụ thuộc vào  
biến độc lập như thế nào. Trước khi tiến hàng kiểm đꢁnh bằng phân tích hồi quy tuyến tính bội,  
mối tương quan giữa các biến mô hình được xem xét dựa vào phương pháp phân tích Correlation  
(hệ số Pearson Correlation) tại Bảng 4. Kết quả cho thấy biến độc lập có tương quan khá cao với  
biến phụ thuộc, mối tương quan cao nhất là biến CANTHIET với hệ số r là 0,726 không vượt quá  
hệ số điều kiện là 0,85 (John & Benet-Martinez, 2000) và yếu nhất là biến MAUSAC với hệ số là  
0,533. Mặc khác, các biến độc lập cũng tương quan với nhau khá lớn. Điều đó chứng minh giá trꢁ  
nghiên cứu giữa các khái niệm đã đạt được. Sau khi phân tích Correlation, phép hồi quy bội được  
sử dụng để phân tích tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc.  
Bảng 4  
Các hệ số tương quan giữa các biến (Correlations)  
K
CANTHIET GIÁCẢ  
CHATLIEU  
0,636**  
0,000  
KIEUDANG MAUSAC  
K
Hệ số tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
1
0,726**  
0,000  
275  
0,608**  
0,000  
275  
0,555**  
0,000  
275  
0,532**  
0,000  
275  
275  
275  
CANTHIET Hệ số tương quan Pearson 0,726**  
1
0,655**  
0,000  
275  
0,761**  
0,000  
0,776**  
0,000  
275  
0,681**  
0,000  
275  
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
0,000  
275  
275  
0,655**  
0,000  
275  
275  
GIACA  
Hệ số tương quan Pearson 0,608**  
1
0,593**  
0,000  
0,407**  
0,000  
275  
0,440**  
0,000  
275  
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
0,000  
275  
275  
275  
202  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
K
CANTHIET GIÁCẢ  
CHATLIEU  
KIEUDANG MAUSAC  
CHATLIEU Hệ số tương quan Pearson 0,636**  
0,761**  
0,000  
275  
0,593**  
0,000  
275  
1
0,656**  
0,000  
275  
0,640**  
0,000  
275  
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
0,000  
275  
275  
0,656**  
0,000  
275  
KIEUDANG Hệ số tương quan Pearson 0,555**  
0,776**  
0,000  
275  
0,407**  
0,000  
275  
1
0,605**  
0,000  
275  
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
0,000  
275  
275  
0,605**  
0,000  
275  
MAUSAC Hệ số tương quan Pearson 0,532**  
0,681**  
0,000  
275  
0,440**  
0,000  
275  
0,640**  
0,000  
275  
1
Mức ý nghĩa (2 đuôi)  
Số quan sát  
0,000  
275  
275  
Chú thích: ** Có ý nghĩa với độ tin cậy 99% (2 đuôi)  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả  
Bảng 5  
Phân tích phương sai  
Mô  
hình  
Tổng bình  
phương  
Sai số chuẩn của  
Df  
F
Mức ý nghĩa  
ước lượng  
1
Hồi quy  
Sồ dư  
Tổng  
37,861  
28,744  
66,605  
5
7,577  
70,863  
0,000b  
269  
274  
0,107  
Chú thích:  
a. Biến phụ thuộc: K (HÀI LÒNG)  
b. Ước lượng: (Hằng số) CANTHIET, GIACA, CHATLIEU, MAUSAC, KIEUDANG  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả  
Bảng 5 cho thấy Sig kiểm đꢁnh = 0 < 0.05, như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính bội phù  
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.  
Bảng 6  
Hệ số tương quan  
Coefficientsa  
Hệ số chưa chuẩn hóa Hệ số chuẩn hóa  
Mức ý  
nghĩa  
Mô hình  
Giá trꢁ t  
8,834  
Dung sai  
B
Lỗi tiêu chuẩn  
0,175  
Beta  
(Constant)  
CANTHIET  
GIACA  
1,547  
0,377  
0,165  
0,104  
0,000  
0,36  
0,000  
0,000  
0,000  
0,035  
0,998  
0,472  
0,072  
0,454  
0,210  
0,140  
0,000  
0,041  
5,235  
3,759  
2,115  
0,002  
0,721  
0,213  
0,515  
0,366  
0,358  
0,492  
0,044  
1
CHATLIEU  
KIEUDANG  
MAUSAC  
0,049  
0,049  
0,050  
Chú thích: a. Biến phụ thuộc: K (HÀI LÒNG)  
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
203  
Bảng 6 cho thấy mức ý nghĩa kiểm đꢁnh giá trꢁ t hệ số hồi quy của các biến độc lập có hai  
biến bꢁ loại là MAUSAC (màu sắc) và KIEUDANG (kiểu dáng) > 0,05. Hay nói cách khác là hai  
biến này không có tác động nhiều đến quyết đꢁnh mua hàng trang trí phòng khách của các khách  
hàng. Hệ số hồi quy của ba biến (CANTHIET, GIACA, CHATLIEU) nhỏ hơn 0,05 nghĩa là có  
tác động cùng chiều với biến phụ thuộc. Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy chuẩn hóa Bata, thứ tự  
tác động từ mạnh nhất tới yếu nhất của các biến độc lập tới biến phụ thuộc là:  
CANTHIET (0,454) > GIACA (0,210) > CHATLIEU (0,140)  
Phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng với:  
HÀI LÒNG = 0,454*CANTHIET + 0,210*GIACA + 0,140*CHATLIEU  
(1)  
Biến Sự cần thiết trang trí nội thất tác động mạnh nhất đến quyết đꢁnh mua và hài lòng  
về hàng trang trí nội thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố cꢀn thiết trang trí nội thất  
phòng khách thì yếu tố “Cần trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp” được lựa chọn nhiều  
hơn cả, kế đến là yếu tố “đơn giản tiện dụng” và “ấm cúng”. Yếu tố “dùng đồ nội thất thông minh”  
trong phòng khách chưa được khách hàng chú trọng lắm, có thể vì diện tích phòng khách của các  
căn hộ ở TP. HCM vẫn còn đủ rộng hoặc vì người dân chưa có thói quen dùng hàng nội thất  
thông minh.  
Biến Giá cả tác động mạnh thứ hai đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội  
thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố giá cả hàng trang trí nội thất có hai yếu tố được  
khách hàng chọn nhiều: (1) Thương hiệu tốt; (2) Hàng nhập khẩu. Biến giá cả “Mặt hàng trung  
bình” không hợp lệ khi phân tích EFA.  
Biến Chất liệu tác động mạnh thứ ba đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội  
thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố chất liệu hàng trang trí nội thất có hai yếu tố được  
khách hàng chọn nhiều: (1) Chất liệu gỗ; (2) Chất liệu vải nhung, nhựa;  
Biến Kiểu dáng và Màu sắc không xét đến trong phân tích phương trình hồi quy tuyến tính  
đa biến vì có hệ số kiểm đꢁnh Sig > 0,05. Điều đó có nghĩa là hai nhóm biến này không ảnh hưởng  
nhiều đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng như nhóm yếu  
tố Sự cần thiết trang trí nội thất, nhóm yếu tố Giá cả và Chất liệu.  
5. Thảo luꢁn kết quả và gợi ý quản lý  
5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu  
Nghiên cứu này đã kế thừa các lý thuyết nền tảng và kết quả của các nghiên cứu trước để  
xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất trong  
phòng khách của người tiêu dùng tại TP. HCM, gồm 06 yếu tố với 30 biến quan sát.  
Sau khi tiến hành phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá  
EFA, mô hình còn 04 yếu tố với 21 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu này cho thấy yếu tố tác  
động mạnh nhất đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội thất đã mua của khách hàng  
là yếu tố sự cꢀn thiết trang trí nội thất. Có thể thấy, các chủ hộ ai cũng muốn phòng khách ngôi  
nhà cꢀn phải trang trí mặt hàng nội thất để tiện lợi trong sinh hoạt gia đình và tiếp khách, không  
nhất thiết mặt hàng này phải đắt tiền, sang trọng. Tác động kế đến là yếu tố giá cả và yếu tố chất  
liệu của mặt hàng trang trí nội thất. Yếu tố kiểu dáng và màu sắc mặt hàng nội thất cũng quan  
trọng nhưng không phải là yếu tố được xem xét khi người tiêu dùng quyết đꢁnh mua mặt hàng này.  
Một số gợi ý quản lý được đề xuất như sau:  
5.2. Gợi ý quản lý  
204  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
Thứ nhất, các đơn vị kinh doanh mặt hàng nội thất nên nâng cao sự thuận tiện mua  
sắm cho người tiêu dùng. Trước đây, các đơn vꢁ kinh doanh bán sản phẩm tại công ty, cửa hàng  
hay trung tâm nội thất nay nên chuyển sang tiếp cận thêm và chào bán cho khách hàng với nhiều  
ưu đãi và thuận tiện qua hình thức online, bán hàng trực tuyến. Theo truyền thống, người dân thích  
được nhìn ngắm và lựa chọn hàng nội thất trước khi mua, nhưng cũng có nhiều khách hàng chuộng  
hình thức mua hàng online, trực tuyến. Các đơn vꢁ bán nên tạo một phiên bản trên điện thoại di  
động cho trang web, đây là cách tối ưu để tiếp cận khách hàng vì đa số khách hàng ngày nay  
thường dùng điện thoại thông minh để tìm kiếm, lựa chọn và mua sắm và sản phẩm.  
Tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng ở cửa hàng, showroom, công ty thực tế hay  
qua phương thức trực tuyến trên mạng internet để khách hàng có thể tiếp cận xem xét lựa chọn sản  
phẩm, phương thức thanh toán đơn giản nhanh chóng, thủ tục giao nhận và đổi trả hàng dễ dàng  
và nhất là quan tâm đến chế độ bảo hành.  
Kết quả khảo sát khách hàng đã mua sắm hàng nội thất phòng khách tại các đꢁa điểm cho  
thấy, có 176 khách hàng (64%) đã mua sắm hàng nội thất phòng khách tại cửa hàng. 31 khách  
hàng (11%) mua sắm hàng nội thất phòng khách tại công ty; 51 khách hàng (19%) mua sắm hàng  
nội thất phòng khách qua hình thức online; 17 khách hàng (6%) mua sắm hàng nội thất phòng  
khách tại những nơi khác như siêu thꢁ, hội chợ triển lãm, thiết kế riêng…  
Thứ hai, về chiến lược sản phẩm. Các cửa hàng, công ty kinh doanh hàng nội thất đã có  
lựa chọn chủng loại mặt hàng để kinh doanh. Mặt hàng nội thất rất đa dạng chủng loại gồm cả chất  
liệu, kết cấu, màu sắc, hình dáng; tuy nhiên gỗ vẫn là chất liệu được ưa chuộng của khách hàng  
(TP. HCM), hình dáng thì đa số khách hàng chuộng kiểu hài hòa mộc mạc đơn giản với màu sắc  
nghiêng về màu của thiên nhiên thư giãn (màu của gỗ, màu xanh lá cây, màu thiên nhiên). Những  
mặt hàng nội thất có kiểu dáng kết cấu cꢀu kỳ và tỉ mỉ chỉ được quan tâm bởi số ít khách hàng,  
đây là phân khúc khách hàng có thu nhập cao. Khách hàng ngày nay có xu hướng đặt làm những  
bộ nội thất theo thiết kế riêng của họ để phù hợp với không gian căn nhà. Vì vậy các đơn vꢁ kinh  
doanh nội thất nên có đội ngũ tư vấn thiết kế giỏi và chuyên môn để thiết kế ra những sản phẩm  
có tính thẩm mỹ.  
Thứ ba, chú ý về dịch vụ kèm theo khi bán sản phẩm và bán sản phẩm có khuyến mãi.  
Khi khách hàng mua mặt hàng trang trí nội thất, họ quan tâm đến giá cả và dꢁch vụ kèm theo của  
đơn vꢁ bán sản phẩm, đó là dꢁch vụ vận chuyển, lắp ráp, bảo hành, bảo trì, đổi hàng và nếu sản  
phẩm có khuyến mãi những vật dụng khác khi mua thì sẽ làm khách hàng hài lòng hơn.  
Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ hài lòng về dꢁch vụ kèm theo khi mua mặt hàng trang  
trí nội thất có thang điểm từ 1-5, trong đó có 192 người (chiếm 70%) đã hài lòng với điểm số 4  
và 5.  
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu này có mục tiêu chính là khám phá các yếu tố có tác động đến quyết đꢁnh mua  
mặt hàng trang trí nội thất của khách hàng (các hộ gia đình) tại TP. HCM từ đó giúp cho các đơn  
vꢁ kinh doanh hàng nội thất nắm bắt được nhu cꢀu và xu hướng mua sắm mặt hàng trang trí nội  
thất của người dân nói chung và các hộ gia đình nói riêng. Tuy nhiên nghiên cứu này còn tồn tại  
một số hạn chế như:  
Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ được thực hiện ở TP. HCM với số lượng mẫu tương đối thấp  
(275 mẫu chính thức) do đó tính tổng quát và đại diện chưa cao. Thứ hai, nghiên cứu chỉ mới thực  
hiện được cho mặt hàng nội thất phòng khách, còn chưa nghiên cứu cho nội thất nhà bếp, phòng  
ngủ và tính phong thủy trong trang trí nội thất. Thứ ba, nghiên cứu chưa phân loại trang trí nội thất  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
205  
cho căn hộ chung cư và nhà phố, nhà biệt thự. Thứ tư, các nhóm yếu tố ảnh hưởng vẫn còn hạn  
chế chưa bao quát hết về quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất của khách hàng.  
Những vấn đề này sẽ đꢁnh hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.  
Tài liệu tham khảo  
Do, H. T. H. (2017). Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua ô tô tại Việt Nam [Research  
on factors affecting the decision to buy a car in Vietnam] (Master’s thesis, University of  
Economics, Ho Chi Minh, Vietnam).  
Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975), Belief attitude,intention and behavior: An introduction to the  
theory and research. Boston, MA: Addison-Wesley.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2014). Multivariate data analysis (7th  
ed.). London, UK: Pearson Education Limited.  
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS [Analyze research  
data with SPSS]. Ho Chi Minh, Vietnam: NXB Hồng Đức.  
Huynh, T. T. Q. (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe tay ga hãng Honda của  
người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh [Factors affecting consumers' decision to buy  
Honda scooters in Ho Chi Minh City] (Master’s thesis, University of Economics, Ho Chi  
Minh, Vietnam).  
Jeff, B. (n.d.) Consumer behaviour theory: Approaches and models. Retrieved May 20, 2020, from  
John, O. P., & Benet-Martinez, V. (2000). Measurement: Reliabitily, construct vilidation, and  
scale construction. In H. T. Reis & C. M. Judd (Eds.), Handbook of research methods in  
social psychology (pp. 39-369). New York, NY: Cambridge University Press.  
Kotler, P., & Kelle, K. L. (2012). Marketing management. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall  
Le, P. (2020). TP. HCM ưu tiên phát triển nhà ở [City. Ho Chi Minh City prioritizes housing  
tien-phat-trien-nha-o-20200702093802185.chn  
Nguyen, T. D. (2013). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research  
methods in business]. Hanoi, Vietnam: NXB Lao động - Xã hội.  
Nguyen, T. Q. (2014). Một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua căn hộ chung cư cao cấp  
của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh [Some factors affecting customers' decision to  
buy luxury apartments in Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 279.  
Nguyen, V. V. (2016). Các yếu tố giá trị thương hiệu ảnh hưởng đến ý định chọn mua nệm Kim  
đan của NTD TP. HCM [Brand value factors affect the intention to buy needle knit mattress  
of NTD TP. Ho Chi Minh City] (Master’s thesis, University of Finance-Marketing, Ho Chi  
Minh, Vietnam).  
Nhat Minh. (2020). TPHCM - Trung tâm kinh tế, không ngừng đột phá, sáng tạo, phát triển [Ho  
Chi Minh City - Economic center, constantly breaking through, creating and developing].  
Retrieved May 25, 2020, from Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh website:  
206  
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206  
tao-phat-trien-1491864607  
Pham, P. T. H. (2009). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua vật liệu nhẹ- Thạch  
cao [Research on factors affecting the decision to buy lightweight materials – Gypsum]  
(Master’s thesis, Open University, Ho Chi Minh, Vietnam).  
Kaplan, R. S., & Norton, D. P. (1996). The balanced scorecard. Boston, MA: Havard Business  
School Press.  
Solomon, M., Bamossy, G., Akegaard, S., & Hogg, M. K. (2006). Cosumer behavior: A european  
perspective (3rd ed.). London, UK: Person Education Lomited.  
Thu Hang. (2018). TP. HCM có mức lương trung bình cao nhất toàn quốc [City. Ho Chi Minh  
City has the highest average salary in the country]. Retrieved May 26, 2020, from Thanh  
cao-nhat-toan-quoc-938809.html  
Vo, N. P. T. (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của khách hàng tại Tp.HCM  
[Factors affecting customers' decision to buy a house in Ho Chi Minh City] (Master’s thesis,  
University of Economics, Ho Chi Minh, Vietnam).  
pdf 14 trang Thùy Anh 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng tại Thành phố Hồ chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_tac_dong_den_quyet_dinh_chon_mua_mat_hang_tran.pdf