Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng tại Thành phố Hồ chí Minh
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
193
Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội
thất phòng khách của khách hàng tại Tp. HCM
Factors affecting consumer’s purchase decision on interior decoration
for living room in Ho Chi Minh City
Trꢀn Thꢁ Hương1*
1Trường Cao Đẳng GTVT Trung Ương VI, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
econ.vi.16.2.982.2021
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố tác động
đến quyết đꢁnh chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách
của khách hàng tại TP. HCM. Mô hình nghiên cứu được kiểm
đꢁnh với 275 khách hàng mua mặt hàng trang trí nội thất phòng
khách tại đꢁa bàn TP. HCM. Phương pháp phân tích Cronbach’s
Alpha, phân tích EFA và hồi quy được dùng để xác đꢁnh các yếu
tố tác động chính đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất.
Kết quả kiểm đꢁnh cho thấy ba yếu tố chính tác động đến quyết
đꢁnh mua hàng trang trí nội thất phòng khách là: (1) Sự cꢀn thiết
trang trí nội thất phòng khách; (2) Yếu tố giá cả và (3) Yếu tố
chất liệu của mặt hàng trang trí nội thất phòng khách. Cuối cùng
nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghꢁ cho các doanh nghiệp,
đơn vꢁ kinh doanh mặt hàng trang trí nội thất.
Ngày nhận: 21/09/2020
Ngày nhận lại: 08/11/2020
Duyệt đăng: 20/11/2020
Từ khóa:
ABSTRACT
yếu tố, trang trí nội thất, nội thất
phòng khách, chọn mua, quyết
đꢁnh mua
The research examines factors affecting decisions to buy
interior decoration in HCMC. These factors are tested by 275
customers to buy interior decoration in HCMC. The study uses a
combination of Cronbach’s Alpha, EFA and Recurrent for
defining main factors affecting decisions to buy interior
decoration. The results reveal two factors affecting such as: (1)
Necessaries of interior decoration in living room; (2) Price; and
(3) Material of interior decoration in living room. The research
also suggests some recommendations for real interior decoration
companies.
Keywords:
factor, interior decoration,
interior decoration in living
room, purchase decision
1. Giới thiệu
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố đông dân nhất cả nước, tăng trung
bình gꢀn 183 ngàn người/năm (Nhat Minh, 2020). Theo tờ trình của Sở Xây dựng TP. HCM, năm
2019 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 1,92 triệu căn nhà, căn hộ chung cư. Mật độ nhà ở trung
bình là 913 căn/km2. Dự báo năm 2030, TP cꢀn xây thêm 830.000 căn nhà với 150 triệu m2 sàn
nhà ở (Le, 2020). Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mức sống cao ở Việt Nam. Với mức lương
trung bình của người lao động là 456 USD/tháng (khoảng 10,3 triệu đồng/tháng), thành phố Hồ
Chí Minh có mức lương dẫn đꢀu toàn quốc, cao hơn 38% so với mức bình quân cả nước (Thu
194
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
Hang, 2018).
Cùng với các chi tiêu cho cuộc sống, người dân thành phố cũng rất quan tâm đến không
gian sống trong căn nhà của họ. Căn nhà là nơi để ở và phục vụ các nhu cꢀu sinh hoạt của hộ gia
đình, cá nhân; là nơi để thư giãn lấy lại sức sau những lúc làm việc mệt nhọc và là nơi để gia đình
quay quꢀn đꢀm ấm bên nhau. Theo nghiên cứu sơ bộ, có hai xu hướng rõ rệt mà các hộ gia đình
chăm chút cho không gian sống của họ: (1) là trang trí hàng nội thất theo kiểu đơn giản thông
thường được làm từ các doanh nghiệp đꢁa phương; (2) là trang trí nội thất với các sản phẩm cao
cấp được làm từ các doanh nghiệp lớn hay hàng nhập khẩu từ các nước tiên tiến.
Với số dân tăng và lượng nhà ở cũng tăng nhanh thì nhu cꢀu về mặt hàng trang trí nội thất
ở TP. HCM là một con số lớn. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác đꢁnh và kiểm đꢁnh mô hình
một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua mặt hàng trang trí nội thất của các hộ gia đình tại
TP.HCM. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý quản trꢁ cho các đơn vꢁ sản xuất kinh
doanh mặt hàng trang trí nội thất.
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn mua sản phẩm của khách hàng
Theo Kotler và Keller (2012), việc mua sắm của người tiêu dùng chꢁu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố khác nhau, trong đó phải kể đến bốn nhóm yếu tố chính là: văn hóa, xã hội, cá nhân và
tâm lý.
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết đꢁnh cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một
người. Những người sống trong môi trường văn hóa khác nhau sẽ có hàng vi tiêu dùng khác nhau.
Ngoài ra, hành vi mua sắm còn phụ thuộc vào nhánh văn hóa, nhánh văn hóa là bộ phận cấu thành
nhỏ hơn của nền văn hóa có thể chia theo đꢁa lý, dân tộc, tôn giáo. Các nhánh văn hóa khác nhau
có lối sống riêng, phong cách tiêu dùng riêng.
- Các yếu tố xã hội: Hành vi mua sắm của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng bởi những yếu
tố xã hội như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của vꢁ trí xã hội.
- Các yếu tố cá nhân: Những quyết đꢁnh mua sắm của người tiêu dùng cũng chꢁu ảnh hưởng
bởi những đặc điểm cá nhân như: giới tính, tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống, nghề nghiệp và
thu nhập, lối sống.
- Nhóm yếu tố tâm lý: Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chꢁu ảnh hưởng của bốn
yếu tố tâm lý là động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin.
Theo Engel–Kollat–Blackwell (1968) và Howard và Sheth (1969 as cited in Jeff, n.d.), việc
mua sắm của người tiêu dùng chꢁu tác động bởi nhóm yếu tố môi trường như chất lượng, giá cả,
gia đình và nhóm yếu tố cá nhân như động cơ, tài chính, kiến thức, thái độ, cá tính, lối sống.
Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) do Fishbein và Ajzen xây dựng năm 1975. Lý
thuyết này cho rằng ý đꢁnh hành vi được quyết đꢁnh bởi thái độ cá nhân đối với hành vi, cùng sự
ảnh hưởng của chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó. Trong đó, thái độ và
chuẩn chủ quan có tꢀm quan trọng trong ý đꢁnh hành vi.
Theo Solomon, Bamossy, Akegaard, và Hogg (2006), cho rằng quyết đꢁnh mua sắm của
người tiêu dùng thường được dựa trên sự đánh giá về chất lượng của sản phẩm hay thương hiệu
của nó. Trước khi quyết đꢁnh mua một sản phẩm nào thì người tiêu dùng thường có mức độ đắn
đo lo lắng nhiều hay ít tỷ lệ thuận với giá trꢁ của sản phẩm. Để giảm thiểu rủi ro, họ thường tham
khảo trên internet hay hỏi thăm tin tức của sản phẩm từ bạn bè, người thân.
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
195
Nghiên cứu của Huynh (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua xe tay ga hãng
Honda của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất mô hình gồm 05 yếu tố ảnh
hưởng: (1) Giá trꢁ nhân sự; (2) Giá trꢁ chất lượng; (3) Giá trꢁ tính theo giá; (4) giá trꢁ cảm xúc; (5)
giá trꢁ xã hội.
Nghiên cứu của Do (2017) về các các yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua ô tô tại Việt Nam.
Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 06 yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua ô tô tại Việt
Nam: (1) Nhận thức về sự hữu ích; (2) Nhận thức kiểm soát hành vi – tài chính; (3) Cảm nhận về
giá cả - chi phí; (4) Cảm nhận về an toàn - chất lượng; (5) Nhận thức rủi ro; và (6) Chuẩn chủ quan.
Hay theo luận văn Thạc sĩ của Vo (2013) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
đꢁnh mua nhà của khách hàng tại Tp.HCM có 07 yếu tố gồm: (1) Tình hình tài chính; (2) Đặc điểm
nhà; (3) Không gian sống; (4) Vꢁ trí nhà; (5) Tiện nghi công cộng; (6) Môi trường sống; (7) Bằng
chứng thực tế.
Nghiên cứu của T. Q. Nguyen (2014) về “Một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua
căn hộ chung cư cao cấp của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh” cho rằng việc quyết đꢁnh
chọn mua căn hộ chung cư cao cấp của người dân TP. HCM ảnh hưởng bởi các yếu tố: (1) Các
yếu tố văn hóa xã hội; (2) Yếu tố thuộc tính sản phẩm; (3) Yếu tố ảnh hưởng; (4) Thuế và thủ tục
giấy tờ sở hữu căn hộ.
Ngoài ra, có hai nghiên cứu liên quan đến quyết đꢁnh mua vật dụng cho ngôi nhà như
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua Vật liệu nhẹ - Thạch cao của Pham (2009)
nêu ra 08 yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết đꢁnh mua vật liệu nhẹ - thạch cao gồm: (1) Uy tín trong
kinh doanh, (2) Giá cả sản phẩm, (3) Dꢁch vụ khách hàng, (4) Cửa hàng liên hệ mua sản phẩm, (5)
Chất lượng và đặc tính của sản phẩm, (6) Ích lợi của sản phẩm, (7) Hoạt động giao nhận, (8)
Thương hiệu sản phẩm. Nghiên cứu của V. V. Nguyen (2016) về các yếu tố giá trꢁ thương hiệu
ảnh hưởng đến ý đꢁnh chọn mua nệm Kim Đan của người tiêu dùng TP. HCM gồm 06 yếu tố: (1)
Nhận biết thương hiệu; (2) Liên tưởng thương hiệu; (3) Chất lượng cảm nhận; (4) Lòng trung
thành thương hiệu; (5) Giá cả cảm nhận.
Đối với mặt hàng trang trí nội thất để trang trí cho căn nhà, việc mua sắm thường là sự
đồng ý của cả hai vợ chồng. Hay trang trí phòng khách thường là quyết đꢁnh của người chồng, còn
trang trí phòng ngủ và nhà bếp thì nghiêng về quyết đꢁnh của người vợ. Nhưng việc trang trí trong
ngôi nhà có tính đồng nhất giữa các phòng, giữa các không gian với nhau nên cꢀn sự đồng ý của
cả hai người. Khi mua sắm hàng nội thất, thường người tiêu dùng quan tâm đến thuộc tính của sản
phẩm. Các thuộc tính của sản phẩm bao gồm: Chức năng của sản phẩm, giá thành và chất lượng
của sản phẩm (Kaplan & Norton, 1996). Đối với sản phẩm là mặt hàng trang trí nội thất thì thuộc
tính sản phẩm là chất lượng, kiểu dáng, chất liệu, màu sắc và giá cả sản phẩm.
Tác giả chưa thấy nghiên cứu nào thực hiện về các yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt
hàng trang trí nội thất của người tiêu dùng (các hộ gia đình) tại TP.HCM. Trong khi đó nhu cꢀu và
thực tế mua sắm mặt hàng này rất cao. Nên cꢀn thiết có nghiên cứu liên quan đến việc xem xét các
yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất.
Căn cứ vào những yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua của người tiêu dùng qua các lý
thuyết, mô hình, nghiên cứu kể trên. Sau khi quan sát, tham khảo ý kiến của một số khách hàng và
những người bán hàng nội thất, tác giả đưa ra các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua
hàng trang trí nội thất của các chủ hộ ở đꢁa bàn TP. HCM như sau: (1) sự cꢀn thiết của đồ nội thất,
(2) giá cả đồ nội thất, (3) chất liệu đồ nội thất, (4) kiểu dáng đồ nội thất, (5) màu sắc đồ nội thất.
2.2. Mặt hàng trang trí nội thất
196
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
Đồ nội thất hay vật dụng, thiết bꢁ nội thất là những loại tài sản (thường là động sản) và các
vật dụng khác được bố trí, trang trí bên trong một không gian nội thất như căn nhà, căn phòng hay
cả tòa nhà nhằm mục đích hỗ trợ cho các hoạt động khác nhau của con người trong công việc, học
tập, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí như ghế, bàn, giường, tủ, ….
Với mỗi ngôi nhà, phòng khách là căn phòng quan trọng. Khi mọi tinh hoa trang trí ở đây
đều được gia chủ chăm chút kỹ lưỡng. Vì thế có thể nói phòng khách là bộ mặt của gia chủ. Phòng
khách là nơi tiếp đón khách, bạn bè thân hữu và cũng là nơi nghỉ ngơi, sum họp của các thành viên
trong gia đình. Khi lựa chọn các món đồ trang trí cho phòng khách, gia chủ thường căn cứ vào tính
thẩm mỹ, sự sang trọng, tính hợp phong thủy hay sự yêu thích của bản thân và gia đình. Các đồ
dùng trang trí nội thất trong phòng khách thường là:
- Bàn, ghế uống nước, ghế sofa: Vật liệu của bàn ghế uống nước, ghế sofa có thể là gỗ, bộc
nệm, thủy tinh, mây tre lá…Đây là món đồ nội thất quan trọng bậc nhất trong phòng khách. Chúng
giúp không gian phòng khách đẹp, sang trọng và để sử dụng đón tiếp khách và có thể là nơi nghỉ
ngơi thư giãn cho các thành viên trong gia đình.
- Bàn trà: Đi kèm theo bộ ghế sofa là bàn trà với các kiểu dáng đa dạng. Dù phòng khách
nhỏ hay lớn, chật hay rộng bộ ghế sofa và bàn trà cũng đi kèm với nhau. Bàn trà sofa có nhiều chất
liệu khác nhau như bàn trà mặt đá, bàn trà mặt kính hay bàn trà mặt gỗ.
- Kệ tivi: Món đồ nội thất đa số các hộ gia đình có trang bꢁ là kệ tivi. Chúng không những
đơn thuꢀn là giá mà chúng còn được sử dụng như món đồ trang trí. Do đó, kệ tivi cũng được các
gia chủ lựa chọn kỹ.
- Kệ trang trí, vách ngăn: Kệ trang trí, vách ngăn giúp phòng khách đẹp hơn khi bài trí
nhiều món đồ khác nhau. Nếu phòng khách có nhiều không gian thì kệ trang trí có thể đi kèm với
vách ngăn và tủ rượu.
Bên cạnh phòng khách, phòng ngủ và nhà ăn cũng không kém phꢀn quan trọng và được
chủ căn hộ chăm chút trang trí nội thất phù hợp.
Đồ trang trí phòng ngủ gồm: giường ngủ, tủ quꢀn áo, bàn trang điểm, kệ tivi, rèm.
Đồ trang trí phòng bếp gồm: bộ bàn ăn, tủ bếp.
Ngoài ra, chủ căn nhà có thể trang trí thêm cho căn nhà những đồ vật mà mình ưa thích.
3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất,
chủ yếu nghiên cứu về đồ nội thất trang trí phòng khách của ngôi nhà và các giả thuyết được trình
bày ở Hình 1, gồm: (1) Sự cꢀn thiết trang trí nội thất phòng khách; (2) Yếu tố giá cả của đồ nội
thất; (3) Yếu tố chất liệu của đồ nội thất; (4) Yếu tố kiểu dáng của đồ nội thất; (5) Yếu tố màu sắc
của đồ nội thất.
Các giả thuyết đặt ra:
Giả thuyết H1: Sự cꢀn thiết trang trí phòng khách có tác động đồng biến với quyết đꢁnh
chọn mua đồ nội thất.
Giả thuyết H2: Yếu tố giá cả của đồ nội thất có tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn
mua đồ nội thất.
Giả thuyết H3: Yếu tố chất liệu của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn
mua đồ nội thất.
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
197
Giả thuyết H4: Yếu tố kiểu dáng của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn
mua đồ nội thất.
Giả thuyết H5: Yếu tố màu sắc của đồ nội thất tác động đồng biến với quyết đꢁnh chọn mua
đồ nội thất.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở nghiên cứu và quan sát, tác giả đã phỏng vấn với 10 chuyên gia (gồm 06 khách
hàng đã mua hàng nội thất, 04 người kinh doanh hàng nội thất) để xác đꢁnh lại câu chữ trong bảng
câu hỏi. Nghiên cứu đã xây dựng các biến số tiềm ẩn (latent variable), biến số quan sát (observed
variable) làm cơ sở cho việc hình thành bảng câu hỏi và thiết kế mô hình nghiên cứu.
Bảng 1
Các khái niệm, thang đo và ký hiệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Biến số
Sự cꢀn thiết trang trí nội thất
Yếu tố giá cả
Thang đo
Liker 5 điểm
Liker 5 điểm
Liker 5 điểm
Liker 5 điểm
Liker 5 điểm
Liker 5 điểm
Tỷ lệ
Các ký hiệu
CTHIET
GIACA
Yếu tố chất liệu
CHATLIEU
KIEUDANG
MAUSAC
KHAC
Yếu tố kiểu dáng
Yếu tố màu sắc
Yếu tố khác
Tuổi
TUOI
Mức thu nhập
Tỷ lệ
THUNHAP
CONGVIEC
THOIGIAN
TTIN
Công việc hiện tại
Thời gian mua sắm
Thông tin về mặt hàng TTNT
Nơi thường mua mặt hàng TTNT
Tỷ lệ
Khoảng cách
Tỷ lệ
Tỷ lệ
TMUANT
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 của tác giả
Thang đo sự cꢀn thiết trang trí nội thất được đo lường bằng năm biến quan sát, với nội
dung: (1) Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp; (2) Trang trí phòng khách theo phong
198
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
cách sang trọng; (3) Trang trí phòng khách theo kiểu ấm cúng; (4) Trang trí phòng khách theo sự
đơn giản, tiện dụng; (5) Trang trí phòng khách theo đồ nội thất thông minh. Thang đo yếu tố giá
cả của đồ trang trí nội thất phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1)
Chọn mặt hàng cao cấp; (2) Chọn mặt hàng trung bình; (3) Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt; (4)
Chọn mặt hàng nhập khẩu; (5) Không quan trọng giá cả miễn là thích. Yếu tố chất liệu của đồ
trang trí nội thất được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Gỗ là chất liệu quan tâm
nhất; (2) Chọn chất liệu thủy tinh; (3) Chọn chất liệu vải nhung, nhựa; (4) Chọn chất liệu hàng
mây tre lá; (5) Chọn chất liệu gạch, đá đẹp. Thang đo yếu tố kiểu dáng của đồ trang trí nội thất
phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Thích chọn kiểu dáng cꢀu
kỳ tỉ mĩ; (2) Thích chọn kiểu dáng Châu Âu, sang trọng; (3) Thích chọn kiểu cổ điển; (4) Thích
chọn kiểu hài hòa; (5) Thích chọn kiểu mộc mạc đơn giản. Thang đo yếu tố màu sắc của đồ trang
trí nội thất phòng khách được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung: (1) Thích chọn màu
sắc tươi sáng; (2) Thích chọn màu tối mạnh mẽ; (3) Thích chọn màu cá tính, lạ mắt; (4) Thích
chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc; (5) Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tĩnh.
Nghiên cứu này được sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với
các cư dân sống tại TP. Hồ Chí Minh (chọn ngẫu nhiên những người đã từng mua sắm mặt hàng
trang trí nội thất phòng khách). Thời gian thực hiện điều tra khảo sát từ tháng 05/2020 đến 06/2020.
Kích thước mẫu là n=300 phiếu, thu về 287 phiếu. Mẫu chính thức sử dụng được là 275 phiếu,
loại 12 phiếu không hợp lệ. Người tham gia trả lời bảng câu hỏi với tỉ lệ nam giới là 113 người
(chiếm 41%) và nữ giới là 162 người (chiếm 59%) có độ tuổi từ 25 tuổi trở lên; với 112 người tuổi
từ 25-30 (chiếm 40%), 93 người tuổi từ 31-40 (chiếm 34%) và 71 người tuổi từ 41 trở lên (chiếm
26%). Về thành phꢀn, có 93 người là nhân viên (chiếm 35%); 67 người là tự kinh doanh (chiếm
24%); 21 người là chuyên viên (chiếm 7%) và 94 người là công việc khác (chiếm 34%).
Theo Hair, Black, Babin, và Anderson (2014), tỷ lệ quan sát/biến đo lường tối thiểu là 5:1.
Nghiên cứu có 30 biến đo lường nên số mẫu dự kiến là 5 x 30 = 150. Thực tế, tổng số lượng mẫu
hợp lệ thu thập được là 275. Bảng câu hỏi sử dụng thang đo dạng Likert 5 điểm được sử dụng từ
1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý) (Bảng 1). Dữ liệu thu thập được tiến hành
sàng lọc và xử lý dữ liệu bằng phꢀn mềm SPSS thông qua các phân tích giá trꢁ trung bình, phân
tích Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá (EFA), tương quan và hồi quy đa biến. Theo T. D.
Nguyen (2013), Cronbach’s Alpha là hệ số được nhiều nghiên cứu ứng dụng nhất trong việc đánh
giá độ tin cậy của những thang đo đa biến, bởi vì nó có thể được dùng để đánh giá tính nhất quán
của các biến quan sát trong cùng một thang đo để đo lường một khái niệm.
4. Phân tích dꢀ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phân tích giá trị trung bình
Bảng 2
Kết quả khảo sát thực trạng mua mặt hàng trang trí nội thất tại TP. HCM
Giá trị
trung bình chuẩn
Độ lệch
Biến quan sát
Diễn giải
CTHIET1
CTHIET2
CTHIET3
CTHIET4
Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp
Trang trí phòng khách theo phong cách sang trọng
Trang trí phòng khách theo kiểu ấm cúng
4,78
4,56
4,65
4,61
0,638
0,924
0,820
0,853
Trang trí phòng khách theo sự đơn giản, tiện dụng
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
199
Giá trị
trung bình chuẩn
Độ lệch
Biến quan sát
Diễn giải
CTHIET5
GIACA
Trang trí phòng khách theo đồ nội thất thông minh
Chọn mặt hàng cao cấp
4,00
4,13
4,16
4,75
4,16
4,06
4,62
3,67
3,75
3,68
3,87
3,85
3,91
3,85
4,65
4,62
4,52
3,73
3,85
4,37
4,66
4,17
0,667
0,936
1,033
0,715
0,817
0,946
0,910
0,942
0,861
0,892
0,886
0,808
0,754
0,774
0,817
0,910
1,095
0,933
0,835
0,694
0,754
0,749
GIACA2
GIACA3
GIACA4
GIACA5
Chọn mặt hàng trung bình
Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt
Chọn mặt hàng nhập khẩu
Không quan trọng giá cả miễn là thích
CHATLIEU1 Gỗ là chất liệu quan tâm nhất
CHATLIEU2 Chọn chất liệu thủy tinh
CHATLIEU3 Chọn chất liệu vải nhung, nhựa
CHATLIEU4 Chọn chất liệu hàng mây tre lá
CHATLIEU5 Chọn chất liệu gạch, đá đẹp
KIEUDANG1 Thích chọn kiểu dáng cꢀu kỳ tỉ mĩ
KIEUDANG2 Thích chọn kiểu dáng Châu Âu, sang trọng
KIEUDANG3 Thích chọn kiểu cổ điển
KIEUDANG4 Thích chọn kiểu hài hòa
KIEUDANG5 Thích chọn kiểu mộc mạc đơn giản
MAUSAC1
MAUSAC2
MAUSAC3
MAUSAC4
MAUSAC5
K1
Thích chọn màu sắc tươi sang
Thích chọn màu tối mạnh mẽ
Thích chọn màu cá tính, lạ mắt
Thích chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc
Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tỉnh.
Ngoài bàn, ghế, sofa, phòng khách còn được trang trí
vật khác
K2
K3
K4
K5
Vật trang trí khác cũng có giá trꢁ
4,03
4,75
4,69
4,78
0,701
0,668
0,751
0,626
Hài lòng về chất lượng mặt hàng TTNT đã mua
Hài lòng về dꢁch vụ kèm theo khi mua hàng TTNT
Hài lòng về quyết đꢁnh mua hàng TTNT
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS 26 của tác giả
Gia đình là nhân tố xã hội, gia đình có ấm no hạnh phúc thì xã hội mới hòa bình và phát
triển. Mỗi căn nhà là một tổ ấm của gia đình, nơi mà các thành viên thư giãn, nghỉ ngơi và tái tạo
lại sức lao động, làm việc cho xã hội. Tùy theo hoàn cảnh, sở thích và thu nhập, các gia đình luôn
ý thức chăm chút cho không gian sống của họ sao cho thoải mái nhất. Việc trang trí mặt hàng nội
thất cho phòng khách là một trong những quan tâm của các hộ gia đình cho căn nhà của họ. Kết
quả nghiên cứu từ khảo sát cho thấy điểm trung bình của các yếu tố khá cao từ 3,67 đến 4,78. Các
200
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
yếu tố có giá trꢁ trung bình lớn hơn 3 là các yếu tố được khách hàng quan tâm. Giá trꢁ trung bình
của yếu tố “Cꢀn trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp” có mức cao nhất trong nhóm các yếu
tố cꢀn thiết trang trí phòng khách, với giá trꢁ là 4,78; cho thấy các hộ gia đình rất quan trọng việc
trang trí phòng khách, nó như là bộ mặt của ngôi nhà họ đang sống. Kế đến nhóm các yếu tố về
giá cả thì các khách hàng của hộ gia đình ở TP. HCM quan tâm đến những hàng hóa có thương
hiệu, điểm trung bình của yếu tố “Chọn mặt hàng có thương hiệu tốt” đạt 4,75; hàng nhập khẩu,
hàng cao cấp cũng được quan tâm nhưng không nhiều. Về chất liệu của mặt hàng trang trí nội thất
rất đa dạng nhưng đa số khách hàng vẫn thích chất liệu bằng gỗ, yếu tố “Gỗ là chất liệu quan tâm
nhất” có điểm trung bình cao nhất là 4,62. Sự chọn lựa về kiểu dáng của mặt hàng trang trí nội thất
của khách hàng không có sự chênh lệch nhau nhiều, giá trꢁ trung bình của nhóm yếu tố này đạt
mức từ 3,85 đến 4,65 trong đó yếu tố “Thích chọn kiểu hài hòa” có giá trꢁ trung bình cao nhất là
4,65. Khách hàng vẫn ưu tiên cho sự hài hòa trong không gian sống, căn nhà đẹp thì đồ trang trí
nội thất sang trọng, còn căn nhà đơn giản thì đồ nội thất cũng đơn giản tương xứng. Nhóm yếu tố
màu sắc cũng là một sự cân nhắc của khách hàng khi mua sắm mặt hàng trang trí nội thất, yếu tố
“Thích màu của thiên nhiên thư giãn, yên tĩnh” đạt giá trꢁ trung bình cao nhất là 4,66 cao hơn giá
trꢁ trung bình của yếu tố “Thích chọn màu ấm cúng tạo không gian hạnh phúc” là 4,37. Điều đó
cho thấy xu hướng tiêu dùng của khách hàng muốn sống trong thiên nhiên, hòa mình vào thiên
nhiên yên tĩnh, họ sợ sự ồn ào ô nhiễm của thành phố.
4.2. Phân tích nhân tố EFA
Nhóm nhân tố CANTHIET có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,664 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy
nhiên có nhân tố CANTHIET5 có hệ số Corrected Item – Total Correlation là 0,166 < 0,3 nên bꢁ
loại. Nhóm nhân tố GIACA sau khi loại biến GIACA2 có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,711 > 0,6
đạt yêu cꢀu. Nhóm nhân tố CHATLIEU có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,699 > 06 đạt yêu cꢀu, tuy
nhiên có nhân tố CHATLIEU5 có hệ số Corrected Item – Total Correlation là 0,275 < 0,3 nên bꢁ
loại. Nhóm nhân tố KIEUDANG có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,622 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy nhiên
có nhân tố KIEUDANG1 và KIEUDANG2 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn
0,3 nên bꢁ loại. Nhóm nhân tố MAUSAC có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,615 > 0,6 đạt yêu cꢀu,
tuy nhiên có nhân tố MAUSAC1 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0,3 nên bꢁ
loại. Nhóm nhân tố K có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,649 > 0,6 đạt yêu cꢀu, tuy nhiên có nhân tố
K1 có hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0,3 nên bꢁ loại.
Trong 25 biến độc lập sau khi nghiên cứu sơ bộ đã loại ra 06 biến còn 19 biến đưa vào
phân tích nhân tố EFA. Bảng phân tích EFA cho thấy có bốn yếu tố được trích tại eigenvalue bằng
bằng 1,152; tổng phương sai trích là 62,513% > 50% hợp lệ. Biến quan sát MAUSAC3 tiếp tục bꢁ
loại vì có trọng số < 0,5. Chỉ số KMO đạt 0,861 và sig = 0,000 cho thấy phân tích nhân tố là thích
hợp với dữ liệu hiện tại. Phương pháp phân tích nhân tố dựa vào thông số Eigenvalue, chỉ có những
nhân tố nào có Eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích và sau khi chuẩn
hóa mỗi biến gốc có phương sai là 1.
Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập cho thấy có một yếu tố được trích tại
eigenvalue bằng bằng 2,189; tổng phương sai trích là 54,717% > 50% hợp lệ. Biến quan sát K2 bꢁ
loại vì có trọng số < 0,5. Chỉ số KMO đạt 0,714 và sig = 0,000 cho thấy phân tích nhân tố là thích
hợp với dữ liệu hiện tại. Theo kết quả ma trận xoay lꢀn cuối, các nhân tố được tập hợp tại Bảng 3,
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
201
Bảng 3
Tổng hợp kết quả kiểm đꢁnh thang đo
Số thứ tự
Nhân tố
CTNT
GIACA
Các biến quan sát
CTNT1, CTNT2, CTNT3, CTNT4
GC1, GC3, GC4, GC5
Loại biến Kết luận
1
2
3
Độc lập
Độc lập
Độc lập
Đạt
Đạt
Đạt
CHATLIEU CHATLEU1, CHATLIEU2, CHATLIEU3,
CHATLIEU4
4
5
6
KIEUDANG KIEUDANG3, KIEUDANG4, KIEUDANG5 Độc lập
Đạt
Đạt
Đạt
MAUSAC
KHAC
MAUSAC2, MAUSAC4, MAUSAC5
KHAC3, KHAC4, KHAC5
Độc lập
Phụ
thuộc
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả
Mô hình lý thuyết có 6 nhân tố tác động đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất
phòng khách của các hộ gia đình tại đꢁa bàn TP. HCM với 21 biến quan sát được chấp nhận. Việc
phân tích hồi quy được thực hiện để xác đꢁnh mức độ tác động của 05 nhân tố (Sự cꢀn thiết trang
trí nội thất phòng khách; Giá cả; Chất liệu mặt hàng nội thất; Kiểu dáng hàng nội thất và màu sắc
mặt hàng nội thất) đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất như thế nào.
4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
Hồi quy đa biến trong SPSS cho thấy các mức độ phụ thuộc của các biến phụ thuộc vào
biến độc lập như thế nào. Trước khi tiến hàng kiểm đꢁnh bằng phân tích hồi quy tuyến tính bội,
mối tương quan giữa các biến mô hình được xem xét dựa vào phương pháp phân tích Correlation
(hệ số Pearson Correlation) tại Bảng 4. Kết quả cho thấy biến độc lập có tương quan khá cao với
biến phụ thuộc, mối tương quan cao nhất là biến CANTHIET với hệ số r là 0,726 không vượt quá
hệ số điều kiện là 0,85 (John & Benet-Martinez, 2000) và yếu nhất là biến MAUSAC với hệ số là
0,533. Mặc khác, các biến độc lập cũng tương quan với nhau khá lớn. Điều đó chứng minh giá trꢁ
nghiên cứu giữa các khái niệm đã đạt được. Sau khi phân tích Correlation, phép hồi quy bội được
sử dụng để phân tích tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc.
Bảng 4
Các hệ số tương quan giữa các biến (Correlations)
K
CANTHIET GIÁCẢ
CHATLIEU
0,636**
0,000
KIEUDANG MAUSAC
K
Hệ số tương quan Pearson
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
1
0,726**
0,000
275
0,608**
0,000
275
0,555**
0,000
275
0,532**
0,000
275
275
275
CANTHIET Hệ số tương quan Pearson 0,726**
1
0,655**
0,000
275
0,761**
0,000
0,776**
0,000
275
0,681**
0,000
275
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
0,000
275
275
0,655**
0,000
275
275
GIACA
Hệ số tương quan Pearson 0,608**
1
0,593**
0,000
0,407**
0,000
275
0,440**
0,000
275
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
0,000
275
275
275
202
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
K
CANTHIET GIÁCẢ
CHATLIEU
KIEUDANG MAUSAC
CHATLIEU Hệ số tương quan Pearson 0,636**
0,761**
0,000
275
0,593**
0,000
275
1
0,656**
0,000
275
0,640**
0,000
275
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
0,000
275
275
0,656**
0,000
275
KIEUDANG Hệ số tương quan Pearson 0,555**
0,776**
0,000
275
0,407**
0,000
275
1
0,605**
0,000
275
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
0,000
275
275
0,605**
0,000
275
MAUSAC Hệ số tương quan Pearson 0,532**
0,681**
0,000
275
0,440**
0,000
275
0,640**
0,000
275
1
Mức ý nghĩa (2 đuôi)
Số quan sát
0,000
275
275
Chú thích: ** Có ý nghĩa với độ tin cậy 99% (2 đuôi)
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả
Bảng 5
Phân tích phương sai
Mô
hình
Tổng bình
phương
Sai số chuẩn của
Df
F
Mức ý nghĩa
ước lượng
1
Hồi quy
Sồ dư
Tổng
37,861
28,744
66,605
5
7,577
70,863
0,000b
269
274
0,107
Chú thích:
a. Biến phụ thuộc: K (HÀI LÒNG)
b. Ước lượng: (Hằng số) CANTHIET, GIACA, CHATLIEU, MAUSAC, KIEUDANG
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả
Bảng 5 cho thấy Sig kiểm đꢁnh = 0 < 0.05, như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Bảng 6
Hệ số tương quan
Coefficientsa
Hệ số chưa chuẩn hóa Hệ số chuẩn hóa
Mức ý
nghĩa
Mô hình
Giá trꢁ t
8,834
Dung sai
B
Lỗi tiêu chuẩn
0,175
Beta
(Constant)
CANTHIET
GIACA
1,547
0,377
0,165
0,104
0,000
0,36
0,000
0,000
0,000
0,035
0,998
0,472
0,072
0,454
0,210
0,140
0,000
0,041
5,235
3,759
2,115
0,002
0,721
0,213
0,515
0,366
0,358
0,492
0,044
1
CHATLIEU
KIEUDANG
MAUSAC
0,049
0,049
0,050
Chú thích: a. Biến phụ thuộc: K (HÀI LÒNG)
Nguồn: Kết quả từ phꢀn mềm SPSS26 phân tích dữ liệu của tác giả
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
203
Bảng 6 cho thấy mức ý nghĩa kiểm đꢁnh giá trꢁ t hệ số hồi quy của các biến độc lập có hai
biến bꢁ loại là MAUSAC (màu sắc) và KIEUDANG (kiểu dáng) > 0,05. Hay nói cách khác là hai
biến này không có tác động nhiều đến quyết đꢁnh mua hàng trang trí phòng khách của các khách
hàng. Hệ số hồi quy của ba biến (CANTHIET, GIACA, CHATLIEU) nhỏ hơn 0,05 nghĩa là có
tác động cùng chiều với biến phụ thuộc. Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy chuẩn hóa Bata, thứ tự
tác động từ mạnh nhất tới yếu nhất của các biến độc lập tới biến phụ thuộc là:
CANTHIET (0,454) > GIACA (0,210) > CHATLIEU (0,140)
Phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng với:
HÀI LÒNG = 0,454*CANTHIET + 0,210*GIACA + 0,140*CHATLIEU
(1)
Biến Sự cần thiết trang trí nội thất tác động mạnh nhất đến quyết đꢁnh mua và hài lòng
về hàng trang trí nội thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố cꢀn thiết trang trí nội thất
phòng khách thì yếu tố “Cần trang trí phòng khách cho ngôi nhà thật đẹp” được lựa chọn nhiều
hơn cả, kế đến là yếu tố “đơn giản tiện dụng” và “ấm cúng”. Yếu tố “dùng đồ nội thất thông minh”
trong phòng khách chưa được khách hàng chú trọng lắm, có thể vì diện tích phòng khách của các
căn hộ ở TP. HCM vẫn còn đủ rộng hoặc vì người dân chưa có thói quen dùng hàng nội thất
thông minh.
Biến Giá cả tác động mạnh thứ hai đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội
thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố giá cả hàng trang trí nội thất có hai yếu tố được
khách hàng chọn nhiều: (1) Thương hiệu tốt; (2) Hàng nhập khẩu. Biến giá cả “Mặt hàng trung
bình” không hợp lệ khi phân tích EFA.
Biến Chất liệu tác động mạnh thứ ba đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội
thất đã mua của khách hàng. Trong nhóm yếu tố chất liệu hàng trang trí nội thất có hai yếu tố được
khách hàng chọn nhiều: (1) Chất liệu gỗ; (2) Chất liệu vải nhung, nhựa;
Biến Kiểu dáng và Màu sắc không xét đến trong phân tích phương trình hồi quy tuyến tính
đa biến vì có hệ số kiểm đꢁnh Sig > 0,05. Điều đó có nghĩa là hai nhóm biến này không ảnh hưởng
nhiều đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng như nhóm yếu
tố Sự cần thiết trang trí nội thất, nhóm yếu tố Giá cả và Chất liệu.
5. Thảo luꢁn kết quả và gợi ý quản lý
5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này đã kế thừa các lý thuyết nền tảng và kết quả của các nghiên cứu trước để
xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất trong
phòng khách của người tiêu dùng tại TP. HCM, gồm 06 yếu tố với 30 biến quan sát.
Sau khi tiến hành phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá
EFA, mô hình còn 04 yếu tố với 21 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu này cho thấy yếu tố tác
động mạnh nhất đến quyết đꢁnh mua và hài lòng về hàng trang trí nội thất đã mua của khách hàng
là yếu tố sự cꢀn thiết trang trí nội thất. Có thể thấy, các chủ hộ ai cũng muốn phòng khách ngôi
nhà cꢀn phải trang trí mặt hàng nội thất để tiện lợi trong sinh hoạt gia đình và tiếp khách, không
nhất thiết mặt hàng này phải đắt tiền, sang trọng. Tác động kế đến là yếu tố giá cả và yếu tố chất
liệu của mặt hàng trang trí nội thất. Yếu tố kiểu dáng và màu sắc mặt hàng nội thất cũng quan
trọng nhưng không phải là yếu tố được xem xét khi người tiêu dùng quyết đꢁnh mua mặt hàng này.
Một số gợi ý quản lý được đề xuất như sau:
5.2. Gợi ý quản lý
204
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
Thứ nhất, các đơn vị kinh doanh mặt hàng nội thất nên nâng cao sự thuận tiện mua
sắm cho người tiêu dùng. Trước đây, các đơn vꢁ kinh doanh bán sản phẩm tại công ty, cửa hàng
hay trung tâm nội thất nay nên chuyển sang tiếp cận thêm và chào bán cho khách hàng với nhiều
ưu đãi và thuận tiện qua hình thức online, bán hàng trực tuyến. Theo truyền thống, người dân thích
được nhìn ngắm và lựa chọn hàng nội thất trước khi mua, nhưng cũng có nhiều khách hàng chuộng
hình thức mua hàng online, trực tuyến. Các đơn vꢁ bán nên tạo một phiên bản trên điện thoại di
động cho trang web, đây là cách tối ưu để tiếp cận khách hàng vì đa số khách hàng ngày nay
thường dùng điện thoại thông minh để tìm kiếm, lựa chọn và mua sắm và sản phẩm.
Tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng ở cửa hàng, showroom, công ty thực tế hay
qua phương thức trực tuyến trên mạng internet để khách hàng có thể tiếp cận xem xét lựa chọn sản
phẩm, phương thức thanh toán đơn giản nhanh chóng, thủ tục giao nhận và đổi trả hàng dễ dàng
và nhất là quan tâm đến chế độ bảo hành.
Kết quả khảo sát khách hàng đã mua sắm hàng nội thất phòng khách tại các đꢁa điểm cho
thấy, có 176 khách hàng (64%) đã mua sắm hàng nội thất phòng khách tại cửa hàng. 31 khách
hàng (11%) mua sắm hàng nội thất phòng khách tại công ty; 51 khách hàng (19%) mua sắm hàng
nội thất phòng khách qua hình thức online; 17 khách hàng (6%) mua sắm hàng nội thất phòng
khách tại những nơi khác như siêu thꢁ, hội chợ triển lãm, thiết kế riêng…
Thứ hai, về chiến lược sản phẩm. Các cửa hàng, công ty kinh doanh hàng nội thất đã có
lựa chọn chủng loại mặt hàng để kinh doanh. Mặt hàng nội thất rất đa dạng chủng loại gồm cả chất
liệu, kết cấu, màu sắc, hình dáng; tuy nhiên gỗ vẫn là chất liệu được ưa chuộng của khách hàng
(TP. HCM), hình dáng thì đa số khách hàng chuộng kiểu hài hòa mộc mạc đơn giản với màu sắc
nghiêng về màu của thiên nhiên thư giãn (màu của gỗ, màu xanh lá cây, màu thiên nhiên). Những
mặt hàng nội thất có kiểu dáng kết cấu cꢀu kỳ và tỉ mỉ chỉ được quan tâm bởi số ít khách hàng,
đây là phân khúc khách hàng có thu nhập cao. Khách hàng ngày nay có xu hướng đặt làm những
bộ nội thất theo thiết kế riêng của họ để phù hợp với không gian căn nhà. Vì vậy các đơn vꢁ kinh
doanh nội thất nên có đội ngũ tư vấn thiết kế giỏi và chuyên môn để thiết kế ra những sản phẩm
có tính thẩm mỹ.
Thứ ba, chú ý về dịch vụ kèm theo khi bán sản phẩm và bán sản phẩm có khuyến mãi.
Khi khách hàng mua mặt hàng trang trí nội thất, họ quan tâm đến giá cả và dꢁch vụ kèm theo của
đơn vꢁ bán sản phẩm, đó là dꢁch vụ vận chuyển, lắp ráp, bảo hành, bảo trì, đổi hàng và nếu sản
phẩm có khuyến mãi những vật dụng khác khi mua thì sẽ làm khách hàng hài lòng hơn.
Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ hài lòng về dꢁch vụ kèm theo khi mua mặt hàng trang
trí nội thất có thang điểm từ 1-5, trong đó có 192 người (chiếm 70%) đã hài lòng với điểm số 4
và 5.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu này có mục tiêu chính là khám phá các yếu tố có tác động đến quyết đꢁnh mua
mặt hàng trang trí nội thất của khách hàng (các hộ gia đình) tại TP. HCM từ đó giúp cho các đơn
vꢁ kinh doanh hàng nội thất nắm bắt được nhu cꢀu và xu hướng mua sắm mặt hàng trang trí nội
thất của người dân nói chung và các hộ gia đình nói riêng. Tuy nhiên nghiên cứu này còn tồn tại
một số hạn chế như:
Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ được thực hiện ở TP. HCM với số lượng mẫu tương đối thấp
(275 mẫu chính thức) do đó tính tổng quát và đại diện chưa cao. Thứ hai, nghiên cứu chỉ mới thực
hiện được cho mặt hàng nội thất phòng khách, còn chưa nghiên cứu cho nội thất nhà bếp, phòng
ngủ và tính phong thủy trong trang trí nội thất. Thứ ba, nghiên cứu chưa phân loại trang trí nội thất
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
205
cho căn hộ chung cư và nhà phố, nhà biệt thự. Thứ tư, các nhóm yếu tố ảnh hưởng vẫn còn hạn
chế chưa bao quát hết về quyết đꢁnh mua mặt hàng trang trí nội thất của khách hàng.
Những vấn đề này sẽ đꢁnh hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo
Do, H. T. H. (2017). Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua ô tô tại Việt Nam [Research
on factors affecting the decision to buy a car in Vietnam] (Master’s thesis, University of
Economics, Ho Chi Minh, Vietnam).
Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975), Belief attitude,intention and behavior: An introduction to the
theory and research. Boston, MA: Addison-Wesley.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2014). Multivariate data analysis (7th
ed.). London, UK: Pearson Education Limited.
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS [Analyze research
data with SPSS]. Ho Chi Minh, Vietnam: NXB Hồng Đức.
Huynh, T. T. Q. (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe tay ga hãng Honda của
người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh [Factors affecting consumers' decision to buy
Honda scooters in Ho Chi Minh City] (Master’s thesis, University of Economics, Ho Chi
Minh, Vietnam).
Jeff, B. (n.d.) Consumer behaviour theory: Approaches and models. Retrieved May 20, 2020, from
John, O. P., & Benet-Martinez, V. (2000). Measurement: Reliabitily, construct vilidation, and
scale construction. In H. T. Reis & C. M. Judd (Eds.), Handbook of research methods in
social psychology (pp. 39-369). New York, NY: Cambridge University Press.
Kotler, P., & Kelle, K. L. (2012). Marketing management. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall
Le, P. (2020). TP. HCM ưu tiên phát triển nhà ở [City. Ho Chi Minh City prioritizes housing
tien-phat-trien-nha-o-20200702093802185.chn
Nguyen, T. D. (2013). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research
methods in business]. Hanoi, Vietnam: NXB Lao động - Xã hội.
Nguyen, T. Q. (2014). Một số yếu tố tác động đến quyết đꢁnh chọn mua căn hộ chung cư cao cấp
của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh [Some factors affecting customers' decision to
buy luxury apartments in Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 279.
Nguyen, V. V. (2016). Các yếu tố giá trị thương hiệu ảnh hưởng đến ý định chọn mua nệm Kim
đan của NTD TP. HCM [Brand value factors affect the intention to buy needle knit mattress
of NTD TP. Ho Chi Minh City] (Master’s thesis, University of Finance-Marketing, Ho Chi
Minh, Vietnam).
Nhat Minh. (2020). TPHCM - Trung tâm kinh tế, không ngừng đột phá, sáng tạo, phát triển [Ho
Chi Minh City - Economic center, constantly breaking through, creating and developing].
Retrieved May 25, 2020, from Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh website:
206
Trần Thị Hương. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 193-206
tao-phat-trien-1491864607
Pham, P. T. H. (2009). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua vật liệu nhẹ- Thạch
cao [Research on factors affecting the decision to buy lightweight materials – Gypsum]
(Master’s thesis, Open University, Ho Chi Minh, Vietnam).
Kaplan, R. S., & Norton, D. P. (1996). The balanced scorecard. Boston, MA: Havard Business
School Press.
Solomon, M., Bamossy, G., Akegaard, S., & Hogg, M. K. (2006). Cosumer behavior: A european
perspective (3rd ed.). London, UK: Person Education Lomited.
Thu Hang. (2018). TP. HCM có mức lương trung bình cao nhất toàn quốc [City. Ho Chi Minh
City has the highest average salary in the country]. Retrieved May 26, 2020, from Thanh
cao-nhat-toan-quoc-938809.html
Vo, N. P. T. (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của khách hàng tại Tp.HCM
[Factors affecting customers' decision to buy a house in Ho Chi Minh City] (Master’s thesis,
University of Economics, Ho Chi Minh, Vietnam).
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng tại Thành phố Hồ chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_yeu_to_tac_dong_den_quyet_dinh_chon_mua_mat_hang_tran.pdf

