Văn hóa hàng ngày với việc kiến tạo và tái kiến tạo bản sắc văn hóa Tây Nam Bộ

38  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT  
VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO VÀ TÁI  
KIẾN TẠO BẢN SẮC VĂN HÓA TÂY NAM Bộ  
TRẦN THỊ AN*  
Văn hóa – lớp vỏ biểu đạt này đã và đang mang nhiều cái được biểu đạt. Sự  
phong phú không chỉ thể hiện ở số lượng vài trăm định nghĩa về nó trên thế giới  
mà còn thể hiện ở sự khác biệt trong các lằn ranh quan niệm về nó, từ đó, dẫn  
đến những định hướng nghiên cứu khác nhau, những định hướng chính sách  
khác nhau gây nên không ít hệ lụy xã hội.  
Bài viết này sẽ sử dụng lý thuyết “văn hóa hàng ngày” (everyday culture) vốn đã  
được đề xuất từ lâu trong nghiên cứu văn hóa trên thế giới nhưng mới được  
quan tâm gần đây ở Việt Nam nhằm tìm hiểu việc kiến tạo và tái kiến tạo bản  
sắc văn hóa Tây Nam Bộ, từ đó làm rõ hơn tính biến đổi và tính đa dạng trong  
văn hóa vùng Tây Nam Bộ hiện nay.  
Từ khóa: văn hóa hàng ngày, bản sắc, không gian văn hóa, văn hóa sông nước,  
chợ nổi, đờn ca tài tử  
Nhận bài ngày: 29/11/2020; đưa vào biên tập: 29/11/2020; phản biện: 29/11/2020;  
duyệt đăng: 3/11/2020  
1. LÝ THUYẾT VĂN HÓA HÀNG NGÀY  
Raymond Henry Williams (1958: 54) cho  
rằng, cần phải hiểu văn hóa theo hai  
khía cạnh, một là toàn bộ đời sống  
theo cách hiểu thông thường nhất (a  
whole way of life - the common meanings)  
và hai là những quá trình đặc biệt của  
khám phá và hiệu quả của sáng tạo  
(the special processes of discovery and  
creative efford). Bài viết của ông về sau  
tạo nên một hướng lý thuyết trong  
nghiên cứu văn hóa, đó là lý thuyết về  
văn hóa hàng ngày (everyday culture).  
Quan điểm coi văn hóa là cái thường  
ngày được bắt đầu từ bài viết Culture  
is Ordinary công bố năm 1958 của  
Raymond Henry Williams (1921-1988).  
Từ trải nghiệm, R. Williams nhận ra  
bên cạnh văn hóa được coi là những  
gì tinh túy, cao cấp còn tồn tại một thứ  
văn hóa của đời sống bình thường.  
* Đại học Quốc gia Hà Nội.  
39  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
Quan điểm lý thuyết văn hóa hàng gọi khác như : miền Tây Nam Phần,  
ngày đã được nhiều tác giả phát triển miền Tây, châu thổ sông Mê Kông,  
thêm, một trong số đó là cuốn Đồng bằng sông Cửu Long.  
Everyday Life and Cultural theory: An  
Introduction của Ben Highmore, đây  
cũng chꢀnh là khung lý thuyết được sử  
dụng để phân tích trong bài viết này.  
Ben Highmore (2001: 1-16) cho rằng:  
cuộc sống hàng ngày là những hành  
động sự lặp đi lặp lại (most repeated  
actions), nghĩa của nó không ngừng  
được tạo thêm ra bởi việc làm quen  
thuộc những thứ mới mẻ. Ba bước  
của quá trình này gồm: i) văn hóa  
hàng ngày khi quen thuộc đủ sẽ kiến  
tạo nên bản sắc, ii) khi nhận được yếu  
tố mới thì sẽ tạo nên những biến đổi,  
iii) khi cái mới đã trở nên quen thuộc  
nghĩa là bản sắc được tái kiến tạo.  
Về đặc điểm tự nhiên, Lê Bá Thảo  
(2001: 254) xem Tây Nam Bộ là “một  
vꢁng đồng bằng mênh mông”, với  
“những dòng sông bờ xa tít tắp”, là  
vꢁng “nửa đất nửa nước”. Đây cũng  
chꢀnh là vꢁng đất nhiều kênh rạch lâu  
đời mà “các cuộc khai quật từ thời L.  
Malleret (1944) đã tìm thấy dấu tích  
khoảng 30 „đường nước cổ‟ là các  
kênh đào ngang dọc ở vùng thấp  
trũng tứ giác Long xuyên” vào thời Óc  
Eo (Nguyễn Thị Hậu, 2017).  
Từ góc độ lịch sử, các tài liệu sử học  
đã khẳng định bằng việc thành lập  
phủ Gia Định vào năm 1678, các chúa  
Nguyễn đã xác lập chủ quyền trên  
vꢁng đất Tây Nam Bộ, phát triển vùng  
đất Tây Nam Bộ thành một vꢁng đất  
Sử dụng lý thuyết “văn hóa hàng  
ngày” làm khung phân tꢀch, bài viết  
này xem những hình ảnh của văn hóa trù phú. Trong đó, việc nạo vét kênh  
hàng ngày chꢀnh là đời sống văn hóa cũ, đào kênh mới, xây dựng các công  
trình tiêu nước được tiến hành trong  
nhiều thế kỷ nhằm phục vụ nông  
nghiệp trồng lúa (Trần Đức Cường,  
2014: 593-594).  
ở các lát cắt thời gian; đặt các lát cắt  
đó so sánh, ta có thể nhận diện sự  
biến đổi của văn hóa, và ở đó, các  
khía cạnh bản sắc luôn được kiến tạo,  
kết tinh, rồi biến đổi và tái kiến tạo.  
Từ góc độ “vꢁng văn hóa”, Tây Nam  
Bộ có khi được được nhận diện là một  
“tiểu vꢁng” trong vꢁng văn hóa Nam  
Bộ (Ngô Đức Thịnh, 2004: 269), và rồi  
được coi là một vꢁng (Đinh Thị Dung,  
2011; Trần Ngọc Thêm, 2014; Nguyễn  
Ngọc Thơ, 2017) với những đặc trưng  
riêng biệt.  
2. THỰC HÀNH VĂN HÓA HÀNG  
NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO MỘT  
KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐẶC SẮC  
TÂY NAM BỘ  
2.1. Văn hóa Tây Nam Bộ: vùng hay  
tiểu vùng?  
Tây Nam Bộ là tên gọi chỉ một vùng  
2.2. Nhận diện đặc trưng văn hóa  
vùng Tây Nam Bộ  
đâ  
́t nằm ơ phia tây cua Nam Bộ , Viêṭ  
́
̉ ̉  
Nam. Nơi đo có những nét đặc trưng  
́
riêng về không gian, lịch sử và văn Về đặc trưng văn hóa, vꢁng Tây Nam  
hóa vꢁng. Vùng đât này có nhiều tên Bộ được nhận diện là vꢁng “văn hóa  
́
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
sông nước”, “văn hóa kênh rạch”, “văn Trong công trình Văn minh sông nước  
hóa miệt vườn” (Sơn Nam, 1992: 11; miền Nam – các suy tưởng về ý niệm  
Bourdeaux, 2009). Về tính chất đặc „văn minh sông nước‟ và về lịch sử  
trưng của vꢁng văn hóa này, nhiều  
nhà nghiên cứu cho rằng, đặc điểm  
của vꢁng đất là thể hiện tập trung ở  
“tꢀnh mới” và “tꢀnh giao lưu” (Ngô Đức  
Thịnh, 2004: 269; Lê Bá Thảo, 2001:  
254; Sơn Nam, 1992: 11) và các hiện  
thể văn hóa cũng như bản sắc của nó  
đều gắn với tính mới này mà ra. Nhà  
Nam Bộ học Sơn Nam trong công  
trình Văn minh miệt vườn, sau khi thể  
hiện thái độ với các các nhà nghiên  
cứu khác quan niệm Nam Phần là  
vꢁng đất “lai căng”, “tạp nhạp”, không  
có di tích hay phong tục lâu đời,  
không thể so sánh với Trung Phần và  
Bắc Phần thì đã đề nghị một hướng  
nghiên cứu đặc điểm của vꢁng đất, cá  
tính của con người Nam Phần để  
nhận diện những nét đặc sắc của con  
người và vꢁng đất này. Không khó  
nhận ra trong lập luận của Sơn Nam  
sự xuất hiện 2 quan điểm về văn hóa:  
văn hóa là cái ổn định, tinh túy, giá trị  
và văn hóa là cái sống động đang diễn  
ra hàng ngày như lý thuyết “văn hóa là  
cái thường ngày” của R. Williams đã  
nhắc tới ở trên. Từ những dữ liệu của  
Sơn Nam về vꢁng đất Tây Nam Bộ  
trong các công trình của ông, sẽ thấy  
hiện ra một vꢁng đất chẳng những là  
sinh động, độc đáo mà còn là vꢁng  
đất có sức mạnh thu hút và hòa đồng  
châu thổ sông Cửu Long nhìn qua một  
vài khía cạnh của cuộc định cư tại xã  
Sóc Sơn (1920-1945) Pascal Bourdeaux  
(2009) đã cung cấp những dữ liệu làm  
hiện thể một bức tranh sinh động và  
muôn màu về đời sống của các tộc  
người ở Tây Nam Bộ. Bằng việc khảo  
sát một số cư dân đầu tiên định cư  
bên bờ con kênh Rạch Giá - Hà Tiên  
(được đào giữa các năm 1926 và  
1930) và những đoạn kênh nhỏ lấy  
nước từ kênh lớn này ở Tri Tôn giữa  
các năm 1927 và 1942, P. Bourdeaux  
đã tái hiện “phong trào di dân” từ thế  
kỷ XVII của những người Việt tiên  
phong vào Tây Nam Bộ. Phân tích các  
nguồn tư liệu, P. Bourdeaux đã mô tả  
quá trình tiếp cận và thích nghi khá  
nhọc nhằn của những di dân người  
Việt trên vꢁng đất mới, và bằng việc  
sử dụng “các quan hệ liên văn hóa”  
với nông dân Tây Nam Bộ, người Việt  
đã góp phần sáng tạo nên “văn hóa  
sông nước” ở vꢁng đất này. Chính  
trong quá trình đó vừa thꢀch nghi để  
sinh tồn vừa giữ gìn bản sắc của cố  
hương, các cộng đồng dân cư ở Tây  
Nam Bộ sáng tạo nên một kiểu văn  
hóa mới. Trong Văn minh miệt vườn,  
Sơn Nam cũng dẫn lời của nhà văn  
Dương Nghiễm Mậu để cho rằng,  
người miền Tây có một lối ứng xử của  
một “trật tự hồn nhiên”, “không hình  
thức lễ nghi”; Sơn Nam (1992: 14)  
cũng dẫn thêm Trương Vĩnh Ký nhận  
định về ngôn ngữ của người miền Tây  
vơi các nền văn hóa khác để tạo nên  
́
một bản sắc văn hóa Tây Nam Bộ.  
Tây Nam Bộ còn được biết đến là một  
vꢁng đất thu hút nhiều dòng di dân.  
41  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
là nói và viết đều sử dụng “tiếng An bản sắc văn hóa của một vꢁng đất  
mới. Bản sắc này được hình thành  
trên một tiểu vꢁng văn hóa có đặc  
điểm là một “không gian địa lý liền kề”  
(Đinh Thị Dung, 2011) mà tính mới  
của nó thể hiện ở “quần cư theo  
tuyến” (Lê Bá Thảo, 2001: 254), được  
nhận diện bởi đặc điểm “giao lưu sống  
động”, “quan hệ cá nhân mạnh hơn  
quan hệ cộng đồng huyết thống”, là  
mảnh đất “xuất hiện nhiều tôn giáo  
mới” (Ngô Đức Thịnh, 2004: 265-291).  
Sự thừa nhận 2 đặc điểm chung của  
văn hóa miền Tây ở “tꢀnh mới”, “tꢀnh  
giao lưu” ở nhiều công trình nghiên  
cứu về Tây Nam Bộ vừa cho thấy tính  
thống nhất cao của các nhà nghiên  
cứu nhưng cũng cho thấy sự chững  
lại trong nhận định, và trong một  
chừng mực nào đó, mới thể hiện một  
cái nhìn tĩnh tại và đơn giản hóa về  
không gian văn hóa và chủ thể văn  
hóa của vꢁng văn hóa này.  
Nam ròng” với ý thức “chống lối văn  
đài các miền Bắc”.  
Quá trình xung đột - dung hòa diễn ra  
trên vꢁng đất Tây Nam Bộ cũng là sự  
minh chứng cho quan điểm lý thuyết  
về sự hiện hữu của văn hóa hàng ngày,  
ở đó, việc quen thuộc hóa những  
nhân tố xa lạ là một quá trình thường  
xuyên, liên tục, ở đó, “cái không  
thường ngày (cái đặc biệt) ở đó được  
tìm thấy trong trái tim của hàng ngày”  
[The non-everyday (the exceptional) is  
there to be found in the heart of the  
everyday], và lối quan sát “nhân học  
phổ biến làm cho các thực hành hàng  
ngày của các nền văn hóa khác cꢁng  
một lúc vừa xa lạ vừa thuần thục”  
(Popular anthropology renders the  
daily practices of other cultures as at  
once both strange and mastered)  
(Highmore, 2001: 3, 4).  
Văn hóa luôn luôn biến đổi. Sau 300  
năm biến đổi để thích ứng, hội nhập  
để giữ gìn bản sắc của từng tộc người  
ở Tây Nam Bộ, nếu nói đặc trưng văn  
hóa vùng Tây Nam Bộ là “mới” e là  
chưa đủ; đồng thời, nếu coi tính chất  
“giao lưu” như là nét đặc trưng của  
vꢁng văn hóa này thì ở bối cảnh toàn  
cầu hóa đặc điểm này không chỉ dành  
cho vꢁng đất Tây Nam Bộ.  
Về không gian văn hóa, P. Bourdeaux  
(2009) cho rằng, châu thổ sông Mê  
Kông là một danh xưng đa nghĩa bao  
hàm trong nó một sự phong phú về  
cảnh quan thiên nhiên và sự đa dạng  
của môi trường xã hội bao gồm “nhiều  
góc cạnh khác nhau về chủng tộc, các  
ranh giới hành chính gần đây và quá  
khứ, các đức tin tôn giáo và các sự  
hành đạo, các biến cố lịch sử, cách  
sống”, khiến cho “châu thổ sông Mê  
Kông khác xa với một đồng bằng  
buồn bã và đơn điệu, mà ngược lại, là  
một không gian thực sự biến hóa”.  
2.3. Đi tìm tên gọi bản sắc văn hóa  
vùng Tây Nam Bộ  
Những tư liệu hồi cố và thư tịch cách  
đây hàng trăm năm cho thấy quá trình  
thích nghi, hòa nhập của người Việt  
với văn hóa Tây Nam Bộ; và đến lượt  
mình, họ đã góp phần kiến tạo nên  
Về tính chất của văn hóa Tây Nam Bộ,  
được gợi ý từ các công trình của Sơn  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
Nam, thông qua cách người Tây Nam viết này thử phác họa một số nét của  
Bộ gọi tên vꢁng đất của mình, Pascal văn hóa thường ngày từ một vài khía  
Bourdeaux đi đến một nhận xét thú vị: cạnh để bước đầu nhận diện sự tái  
“Các cách nói và các thành ngữ địa kiến tạo bản sắc văn hóa vꢁng Tây  
phương này – đôi khi – cho phép xác Nam Bộ trong một không gian xã hội  
định không gian châu thổ với các dấu đổi thay.  
hiệu ranh giới biểu trưng, phát sinh từ  
một văn hóa bình dân sống động”.  
3.1. Chợ Nổi - sinh kế, văn hóa  
thương hồ và di sản văn hóa phi  
vật thể cấp Quốc gia  
Như vậy, trải qua hơn 3 thế kỷ đầy  
biến động, các chủ thể văn hóa, bằng  
những thực hành văn hóa hàng ngày  
thường xuyên, liên tục đã kiến tạo nên  
một tiểu vꢁng văn hóa Tây Nam Bộ  
đậm đà bản sắc. Các nét bản sắc  
mang tính giá trị đó được kết tinh như  
các nét vẽ được bổ sung qua thời  
gian tạo nên một bức tranh đặc sắc  
Tây Nam Bộ. Nhưng đó không phải là  
một bức tranh ổn định và tĩnh tại, bởi  
nó được dệt nên từ những hoạt động  
sống động của cuộc sống hàng ngày.  
Bức tranh ấy sẽ liên tục thay đổi theo  
thời gian, dưới tác động của các nhân  
tố chủ quan và khách quan mà mọi  
mô tả về nó chỉ mang tính chính xác  
tương đối trong những lát cắt đương  
đại.  
Từ một hoạt động sinh kế, chợ nổi đã  
trở thành một nét văn hóa của cuộc  
sống hàng ngày đặc trưng của vùng  
Tây Nam Bộ. Hoạt động tấp nập trên  
bến dưới thuyền, và hình ảnh các  
ghe/thuyền chở đầy trái cây đã làm  
nên một hình ảnh sinh động của miền  
Tây không lẫn vào đâu được. Tư liệu  
sử học cho biết, các trung tâm buôn  
bán lớn dưới thời các chúa Nguyễn  
như Cꢁ lao Phố (trên sông Đồng Nai),  
Mỹ Tho trên sông Tiền, Hà Tiên bên  
bờ vịnh Thái Lan được hình thành từ  
thế kỷ XVII và hoạt động nhộn nhịp  
vào thế kỷ XVIII (Trần Đức Cường,  
2014: 149). Sách Gia Định thành  
thông chí (2005, Q. 4 ) chép: “Ở Gia  
Định chỗ nào cũng có ghe thuyền,  
hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để  
đi chợ, hay để đi thăm người thân,  
hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện  
lợi mà ghe thuyền đi lại chật sông suốt  
ngày đêm nối đuôi nhau. Sách này  
cũng đã chép về các khu chợ tấp nập  
ở các ngã ba sông hoặc bên các sông  
Long Hồ, sông Mỏ Cày, sông Cổ  
Chiên, sông Sa Đéc, sông Cần Thơ,  
sông Trà Ôn (Gia Định thành thông  
chí, 2005, Q. 2). Như vậy, căn cứ vào  
thời điểm Gia Định thành thông chí  
3. THỰC HÀNH VĂN HÓA VÀ VIỆC  
TÁI KIẾN TẠO BẢN SẮC TRONG  
MỘT KHÔNG GIAN XÃ HỘI THAY  
ĐỔI  
Tây Nam Bộ là một vꢁng đất mới và  
cũng là một vùng đất có một tốc độ  
đổi thay nhanh. Sự biến đổi liên tục  
của tự nhiên - xã hội - văn hóa qua  
thời gian chắc chắn sẽ làm xô lệch  
các nhận định về “đặc trưng” hay “bản  
sắc” văn hóa Tây Nam Bộ vốn đã  
được coi như những mặc định. Bài  
43  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
hoàn thành (thời Gia Long, khoảng 2 lưới xã hội, tạo nên “đặc trưng văn  
thập niên đầu thế kỷ XIX), có đoán  
định thời điểm ra đời và hoạt động  
nhộn nhịp của chợ nổi ở Tây Nam Bộ  
là vào khoảng thế kỷ XVIII. Trong một  
nghiên cứu về chợ nổi Cái Bè, Lâm  
Nhân (2014: 250) cũng đã đồng tình  
với nhận định này.  
hóa độc đáo của hoạt động giao dịch  
ở chợ nổi, được lưu truyền từ đời này  
sang đời khác”. Các khái quát về  
truyền thống văn hóa, đặc trưng văn  
hóa của chợ nổi Tây Nam Bộ của hai  
công trình nghiên cứu này đã tô đậm  
thêm điểm nhấn về một nét đặc trưng  
văn hóa sông nước Tây Nam Bộ từ  
chợ nổi.  
Hơn 300 năm thế sự nổi trôi, chợ nổi  
gắn bó với con người và vꢁng đất Tây  
Nam Bộ, ban đầu là một loại sinh kế,  
dần dần trở thành một nét văn hóa  
thương hồ của vꢁng sông nước miền  
Tây đã góp phần kiến tạo bản sắc  
“văn minh sông nước” của vꢁng đất  
này. Các chợ nổi nổi tiếng như Cái Bè  
(Tiền Giang), Cái Răng (Cần Thơ),  
Phong Điền (Cần Thơ), Ngã Bảy  
(Phụng Hiệp, Hậu Giang)… được biết  
đến không chỉ ở phạm vi toàn quốc  
mà còn với cả các du khách quốc tế.  
Nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm  
(2014: 458) về văn hóa của người Việt  
ở Tây Nam Bộ cho biết, việc tận dụng  
môi trường nước và nhu cầu trao đổi  
hàng hóa của người Việt ở Tây Nam  
Bộ đã hình thành nên một truyền  
thống văn hóa, và chꢀnh truyền thống  
văn hóa đó phát triển nghề thương hồ  
và hệ thống chợ nổi, “một sự phát  
triển không có gì ngăn cản được”.  
Khảo sát chợ nổi Cái Bè về chủ thể,  
nguồn hàng, mạng lưới mua bán và  
mạng lưới gia đình/dòng họ trong hoạt  
động buôn bán ở chợ nổi, nghiên cứu  
của Lâm Nhân (2014: 250-263) cho  
Tuy nhiên, trong dòng chảy nhanh của  
cuộc sống, vào thập niên thứ 2 của  
thế kỷ XXI, nhìn từ thực hành văn hóa  
hàng ngày, chợ nổi như là một điểm  
nhấn của “văn hóa sông nước” Tây  
Nam Bộ đang đứng trước nguy cơ  
mai một. Ngoại trừ chợ nổi Cái Răng  
là một trường hợp đặc biệt còn giữ  
chân được số ghe thuyền tới 300-400  
chiếc mỗi ngày (AFP, 2017; Sở Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ,  
2020), hầu hết các chợ nổi còn lại của  
Tây Nam Bộ bị rơi vào cảnh đìu hiu.  
Chợ nổi Cái Bè vốn là một chợ trung  
chuyển sầm uất thì nay chỉ còn vài  
chục ghe thuyền hoạt động. Theo số  
liệu điều tra của Lâm Nhân (2014: 268)  
vào năm 2013 hay số liệu quan sát  
của nhóm phóng viên Đồng bằng  
sông Cửu Long năm 2017 đều cho  
biết chỉ còn khoảng 30 ghe thuyền  
hoạt động mỗi ngày (Phiên An, 2017).  
Còn tại chợ Ngã Bảy - Phụng Hiệp,  
theo quan sát của chúng tôi lúc 5 giờ  
sáng ngày 21/8/2020, số thuyền ghe  
chở trái cây và hàng hóa qua lại khúc  
sông bến Ba Ngàn (địa điểm mới của  
chợ nổi Ngã Bảy - Phụng Hiệp) chỉ  
chưa đến 10 chiếc, hoạt động mua  
biết, hoạt động này diễn ra dựa trên  
cơ sở lòng tin giữa các thành viên của  
cộng đồng và hình thành nên mạng  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
bán hầu như không diễn ra, khách đi nổi đi một địa điểm khác với chợ  
chợ gần như không có (Tư liệu điền truyền thống cũng xảy ra đối với hầu  
dã, 2020).  
hết các chợ nổi từ cuối thế kỷ XX cho  
đến hết thập niên đầu của thế kỷ XXI  
ở chợ nổi Cà Mau (tỉnh Cà Mau), Cái  
Răng (thành phố Cần Thơ), Châu Đốc  
(tỉnh An Giang), Ngã Năm (tỉnh Sóc  
Trăng), và đầu thế kỷ XXI với chợ Ngã  
Bảy (tỉnh Hậu Giang), chợ Long  
Xuyên (tỉnh An Giang), chợ Trà Ôn  
(tỉnh Vĩnh Long), chợ Vĩnh Thuận (tỉnh  
Kiên Giang), chợ Cái Nước (tỉnh Cà  
Mau). Phân tích từ góc độ người mua  
(khoảng cách từ nơi cư trú đến chợ  
xa), người bán (mất vị trí quen thuộc,  
xáo trộn bạn hàng), Nguyễn Trọng  
Nhân 2018: 34-37) cho rằng, việc dời  
chợ có thể giải quyết được vấn đề hệ  
sinh thái nhưng lại gây ra một hệ lụy  
nhân văn rất lớn, khiến cho các chợ  
nổi có nguy cơ biến mất. Các nghiên  
cứu cho thấy, yếu tố địa lý để hình  
thành chợ nổi gồm: i) nơi giao nhau  
của các con sông (ngã ba, ngã bảy), ii)  
khoảng tương đối rộng, iii) nước  
không quá sâu và cũng không quá  
nông để có thể neo đậu khi nước lớn  
và không mắc cạn khi nước ròng  
(Trần Ngọc Thêm, 2013: 448). Trải  
Tình trạng mai một rõ nét của chợ Cái  
Bè, chợ Phụng Hiệp và các chợ nổi  
khác ở Tây Nam Bộ xuất phát từ  
nguyên nhân đầu tiên là do giao thông  
đường bộ ở Tây Nam Bộ phát triển  
trong vài thập niên trơ laị đây . Các  
̉
sản phẩm chủ lực của Đồng bằng  
sông Cửu Long như trái cây, lúa gạo,  
thủy sản được thương lái tiếp cận tại  
nơi sản xuất, đưa thẳng về chủ vựa.  
Tuy nhiên, còn một nguyên nhân khác,  
đến sớm hơn và tác động mạnh hơn,  
đó là việc chuyển chợ nổi khỏi địa  
điểm truyền thống để tránh ách tắc  
giao thông và giảm nguy cơ ô nhiễm.  
Chợ nổi Phụng Hiệp được dời từ Ngã  
Bảy xuống kênh Ba Ngàn, một đoạn  
ngã ba sông cách đó chừng 3 cây số.  
Trên bờ chợ nổi Ngã Bảy nức tiếng  
một thời hiện chỉ còn mô hình chiếc  
ghe lớn, du khách có thể mang cà phê  
của quán bên cạnh lên đó uống để  
ngắm cảnh dòng sông Ngã Bảy nay  
đã thực sự thông thoáng vì hết thuyền  
ghe mà tưởng tượng ra cảnh “ghe  
chiếu Cà Mau năm xưa cắm sào bên  
bờ kinh Ngã Bảy” (bài Tình anh bán qua hàng trăm năm, vị trꢀ địa lý đã  
chiếu, tác giả Viễn Châu) đã thực sự thành địa điểm văn hóa, việc di dời, có  
đi vào tâm cảm của biết bao thế hệ thể đảm bảo được yếu tố địa lý nhưng  
người miền Tây.  
chắc chắn đã bứng hiện tượng văn  
hóa khỏi địa điểm văn hóa đã kết tinh  
thành truyền thống. Sự tiện lợi ở đây,  
rõ ràng không song hành với cảm xúc  
văn hóa.  
Quan sát của nhóm phóng viên Đồng  
bằng sông Cửu Long của báo Tuổi trẻ  
cũng cho thấy một tình trạng tương tự  
diễn ra từ 2017 (Chí Quốc, 2017).  
Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nhân Tuy nhiên, vẫn còn một lý do khác  
(2018: 34-37) cho biết, việc dời chợ  
nữa, đến từ quy hoạch và quản lý của  
45  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
Nhà nước với ý chí tập trung hàng mà được nhấn đậm hơn yếu tố là một  
sản phẩm du lịch văn hóa, và khi trở  
thành một sản phẩm văn hóa, rất  
nhanh chóng, nó trở thành một sinh  
kế mới. Nhờ trở thành sản phẩm du  
lịch, chợ nổi Cái Răng đã xuất hiện  
trên một số tạp chí du lịch và trang  
web du lịch của các nước trên thế giới  
(Báo Pháp luật online, 2019). Sự vào  
cuộc kịp thời của chính quyền trong  
trường hợp này đã có tác động tích  
cực và hiệu quả trong việc giữ gìn nét  
văn hóa đặc trưng của vꢁng đất và  
con người nơi đây (Cổng thông tin Sở  
Văn hóa, Thể thao, Du lịch Cần Thơ).  
hóa từ chợ dưới sông lên bờ để tốt  
hơn trong quản lý. Khi chúng tôi đến  
bến sông Ba Ngàn (vị trí mới cho chợ  
nổi Ngã Bảy - Phụng Hiệp) thì chị bán  
hàng tạp hóa và giải khát ở cạnh bến  
sông chỉ cho chúng tôi một khu chợ  
bỏ hoang ngay cạnh bến sông, và cho  
chúng tôi biết thêm kể từ khi chính  
quyền yêu cầu các chủ thuyền tập kết  
hàng hóa lên khu chợ trên bờ này để  
mua bán thì chợ nổi cũng tan luôn, mà  
từ khi xây dựng khu chợ trên bờ,  
chưa một lần được sử dụng, “cả chục  
năm rồi đó” (Tài liệu điền dã, 9/2020).  
Sự mai một đến mức có thể biến mất  
nhiều chợ nổi – vốn gắn chặt và làm  
hiện hữu một cách sống động đặc  
trưng văn hóa sông nước Tây Nam  
Bộ - chỉ ra tính tự quản với nghĩa là  
vai trò cộng đồng người dân trong  
việc duy trì sinh kế và bảo tồn văn hóa  
là hết sức quan trọng. Sự can thiệp  
hành chꢀnh khi chưa tꢀnh đến các tác  
động đến kinh tế, đặc biệt là truyền  
thống văn hóa, sẽ gây ra những hậu  
quả khó lòng cứu vãn. Vì thế, kế  
hoạch trong năm 2018 di dời chợ nổi  
Ngã Bảy về vị trꢀ cũ (Chí Quốc, 2017)  
là không thực hiện được.  
Một sự điểm xuyết các mốc thời gian,  
các địa điểm chợ nổi cho thấy lịch sử  
chợ nổi gắn với thực hành văn hóa  
của các chủ thể vꢁng sông nước miền  
Tây. Và trong cái “không gian đầy biến  
hóa” (Bourdeaux, 2019) này, chꢀnh  
thực hành văn hóa hàng ngày của  
người dân mới là yếu tố quyết định  
kiến tạo và duy trì bản sắc văn hóa.  
Kết quả phỏng vấn của Lâm Nhân vào  
năm 2013, nhóm phóng viên báo Tuổi  
trẻ năm 2017, Nguyễn Đăng Hai vào  
tháng 12/2019 (Tài liệu điền dã, 2019),  
và của chꢀnh tác giả vào tháng 9/2020  
(Tài liệu điền dã, 9/2020) đều có  
chung một kết quả là mong muốn  
được “lên bờ” của những người nhiều  
năm, nhiều thế hệ gắn bó với chợ nổi.  
Do người dân vốn duy trì sinh kế một  
cách tự nhiên giờ phải phụ thuộc vào  
sự điều tiết của các công ty du lịch, do  
thu nhập ngày càng thấp bởi tính cạnh  
tranh ngày càng cao, do không có  
điều kiện cho con cháu học hành vì  
Và để giữ lại một truyền thống văn  
hóa ở một không gian có nhiều biến  
động về kinh tế và xã hội, giải pháp  
chuyển đổi nó qua mô hình kết hợp  
sinh kế văn hóa với du lịch như  
trường hợp chợ nổi Cái Răng (Cần  
Thơ) là mang tꢀnh hiệu quả. Trong  
trường hợp này, chợ nổi không chỉ  
đơn thuần là một hoạt động sinh kế  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
lênh đênh trên sông nước. Thực trạng Lăm liêu, Saravan..). Bên cạnh đó,  
người Khmer sử dụng loại hình âm  
nhạc khác như Dꢁ kê (trong biểu diễn  
ca kịch Dù kê), nhạc Môhôri (phục vụ  
sinh hoạt dịp sinh hoạt cộng đồng),  
nhạc Dì kê (thường chỉ khi biểu diễn),  
nhạc Aday (khi biểu diễn). Vì những  
giá trị nghệ thuật đặc sắc, Nghệ thuật  
đàn hát Chầm riêng Chà pây của  
đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ và  
Nghệ thuật sân khấu Dù Kê của người  
Khmer đã được vinh danh là Di sản  
văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia vào  
năm 2013 và 2014.  
này cho thấy các cảnh báo về “chợ  
nổi sẽ chìm”, “chợ nổi sống mòn”,  
“chợ nổi trước nguy cơ tan rã” mà các  
báo đưa tin là rất đáng lưu ý.  
3.2. Dân nhạc – thanh âm của đời  
sống hàng ngày  
Có thể nói không quá rằng, không  
gian sinh hoạt đời thường của cư dân  
vùng Tây Nam Bộ vang rộn tiếng đàn  
ca. Ngươi ta g ặp nhau chơi cũng có  
̀
thể ca vài câu tài tử. Trong các lễ hội,  
âm thanh của các nhạc cụ, các làn  
điệu dân ca của người Khmer, người  
Hoa, người Chăm tạo nên một không  
gian văn hóa đặc sắc. Những lời ca,  
tiếng đàn đó dường như không chỉ  
thuần túy là nghệ thuật mà đã thực sự  
là thanh âm của cuộc sống, thể hiện  
nhu cầu cảm xúc, nhu cầu giao lưu,  
nhu cầu lưu giữ giá trị văn hóa cộng  
đồng của các chủ thể văn hóa miền  
Tây. Phần viết này chỉ phân tích dẫn  
Cùng với những thay đổi môi trường  
xã hội trong bối cảnh kinh tế thị  
trường và hội nhập quốc tế, sự phức  
tạp trong thực hành dân nhạc Khmer,  
sự khó khăn trong trao truyền các loại  
hình dân nhạc này đã dẫn đến tình  
trạng giảm dần theo thời gian các  
thực hành diễn xướng dân nhạc trong  
đời sống hàng ngày của người Khmer.  
chứng từ thực hành dân nhạc của Theo thời gian, một số loại hình dân  
người Khmer và người Việt để hiểu  
việc tái kiến tạo bản sắc qua hoạt  
động văn hóa thường ngày này.  
nhạc Khmer như Dì kê, Aday, Chầm  
riêng Chà pây không còn được biểu  
diễn phổ biến trong cộng đồng do  
càng ngày càng có ít nghệ nhân có  
khả năng múa hát hai loại hình này.  
Hiện chỉ có một số nghệ sĩ trong các  
đoàn nghệ thuật Nhà nước có thể  
biểu diễn khi có hội diễn hoặc thu  
sóng truyền hình (Trần Hồng Chinh,  
2016). Sehas Kiên, giảng viên Trường  
Đại học Trà Vinh cho chúng tôi biết,  
loại hình Dì kê đang đối mặt với nhiều  
khó khăn. Hiện nay, trên địa bàn Nam  
Với người Khmer, các loại hình âm  
nhạc khá phong phú và đặc sắc.  
Trong số đó, dàn nhạc ngũ âm là phổ  
biến và không thể thiếu được trong  
đời sống người Khmer vì loại hình âm  
nhạc này gắn liền với lễ tục: lễ xuất  
gia, an vị Phật, lễ tang, lễ Dâng y Cà  
sa... Ngoài ra, nhạc ngũ âm còn phục  
vụ loại hình nghệ thuật múa cổ điển.  
Trong lễ cưới, người Khmer chuộng  
loại nhạc cưới để cử hành lễ và nhạc  
Bộ chỉ có huyêṇ Tri Tôn (An Giang) là  
tân (múa hát cộng đồng: Romvong, có đội văn nghệ quần chúng hoạt  
47  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
động trên lĩnh vực Dì kê nhưng do nó tạo nên điểm khác biệt trong không  
gian văn hóa, không gian xã hội của  
họ.  
điều kiện kinh tế khó khăn nên đa số  
nghệ nhân, nghệ sĩ đành bỏ nghề để  
đi mưu sinh bằng các nghề khác. Kết  
quả khảo sát mới đây của nhóm tác  
giả nghiên cứu âm nhạc Khmer (Phạm  
Tiết Khánh - Nguyễn Đăng Hai - Phạm  
Thị Tố Thy, 2019) phần nào cho thấy  
độ phức tạp của các loại hình dân  
nhạc Khmer đang tồn tại; chúng đòi  
hỏi một trình độ chuyên môn cao trong  
thực hành dân nhạc trong đời sống  
hàng ngày.  
Với người Việt, những lưu dân trên  
miền đất mới, thanh âm cuộc sống  
hàng ngày là những làn điệu dân ca  
vọng cố hương. Trải qua thời gian,  
vốn cổ phôi phai, họ đã bắt nhịp với  
vꢁng đất mới bằng những sáng tạo  
mới. Đờn ca tài tử ra đời, trở thành  
một món ăn tinh thần quan trọng trong  
đời sống hàng ngày. Với nội dung là  
những câu chuyện thương ngày, với  
̀
giai điệu diết da, xoáy sâu nỗi buồn lữ  
thứ, với các nhạc cụ không quá cầu  
kỳ, đờn ca tài tử như một thông điệp  
mạnh mẽ bật lên của đời sống văn  
hóa bình dân của người Việt ở miền  
Tây. Trải qua bao thăng trầm, hiện  
nay, đờn ca tài tử là một phần không  
thể thiếu của văn hóa hàng ngày của  
người Việt ở đây. Đồng thời, trong  
thực hành văn hóa hàng ngày, loại  
hình nghệ thuật này đang hiện hữu  
với nhiều màu sắc hết sức đa dạng.  
Nhưng dꢁ phức tạp, người Khmer đã  
luôn nỗ lực gìn giữ và trao truyền các  
sản phẩm âm nhạc đặc sắc tộc người.  
Trong các nhạc cụ, dàn nhạc ngũ âm  
được giữ gìn và trao truyền rất tốt, bởi  
đối với người Khmer, nhạc ngũ âm là  
phổ biến nhất và không thể thiếu vì nó  
gắn liền với các hoạt động văn hóa,  
nghi lễ tộc người. Cộng đồng người  
dân Khmer đã thể hiện vai trò quan  
trọng trong việc gìn giữ và trao truyền  
sản phẩm âm nhạc mang đậm bản  
sắc tộc người này. Trong các phum,  
Sự phổ biến trong sinh hoạt văn hóa  
srok, các hoạt động truyền dạy nhạc hàng ngày, sự tồn tại trong các sinh  
ngũ âm từ nghệ nhân dân gian cho hoạt cộng đồng của đờn ca tài tử là  
các thế hệ trẻ theo hình thức truyền một thực tế có thể thấy ở nhiều nơi.  
nghề, truyền ngón được thực hành Ông Nguyễn Quốc V. và ông Lê Hồng  
Th. ở ấp Doanh Điền, xã Điền Hải,  
thường xuyên. Đồng thời, trong sinh  
hoạt hàng ngày, các nghệ nhân đã giữ huyện Đông Hải (tỉnh Bạc Liêu) cho  
được nghề bằng việc biểu diễn âm chúng tôi biết, 70% người dân trong  
nhạc cho cộng đồng khi cộng đồng có xã biết ca tài tử, mọi người hát theo  
nhu cầu. Chính vì vậy, sự biến động các clip trên mạng, ca cổ, ca mới, tân  
nhanh của kinh tế và xã hội không làm cổ giao duyên đều hát được. Xã Điền  
Hải đã thành lập một câu lạc bộ đờn  
ca tài tử, mỗi ấp có một nhóm. Vào  
biến mất đi thanh âm cuộc sống vẫn  
ngân nga trong đời sống cảm xúc của  
người Khmer Tây Nam Bộ, và chính các dịp lễ như ngày hội Đại đoàn kết  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
toàn dân, ngày truyền thống của thanh Long (tỉnh Trà Vinh), ông cho chúng  
niên, phụ nữ, hoặc các sinh hoạt cộng  
đồng như đám giỗ, đám cưới, đám  
tiệc nói chung đều có tổ chức hát đàn  
ca tai tư . Các đoàn thể trong xã tổ  
tôi biết, đờn ca tài tử là một phần  
không thể thiếu đối với gia đình ông.  
Giữa buổi nói chuyện, ông gọi điện  
cho con trai mang đàn kìm đến đệm  
cho vợ chồng ông cùng ca cho chúng  
tôi nghe. Ông kể nhiều về các nghệ  
nhân bậc thầy về đờn ca tài tử miền  
Tây và trăn trở nhiều về sự pha tạp  
của các kiểu ca, sự giảm dần chất  
lượng của các ngón đàn trong loại  
hình âm nhạc này. Những trăn trở của  
nghệ nhân Tám Dấu cũng như trăn  
̀
̉
chức các phong trào “tiếng hát thanh  
niên”, “tiếng hát phụ nữ”, “hát cho  
nhau nghe”. Ngoài ra hàng năm còn  
cử một vài người hát hay đi tham dự  
các giải trong huyện.  
Anh Ngọc T., một nghệ nhân đờn ca  
tài tử ở thành phố Trà Vinh cho biết ,  
“đờn ca tài tử không biết thì thôi, biết  
là nghiền; mỗi khi đi đâu qua chỗ có  
đám hát tài tử là nhào vô hát vài câu”.  
Chiều 20/6/2020, anh rủ chúng tôi  
xuống nhà một người bạn ở huyện  
Châu Thành (tỉnh Trà Vinh) nhậu lẩu  
cá khoai và ca tài tử. Chúng tôi đến  
Châu Thành tầm 5 giờ chiều, nồi lẩu  
cá khoai đã xong, đặt lên bàn. Ban  
đầu, chủ và khách đꢁn đẩy nhau,  
không ai chịu ca trước, cho đến khi  
trơ cua anh Hoài P. (phường 7, thành  
̉
̉
phố Bạc Liêu) và anh Quách B.  
(phường 8, thành phố Bạc Liêu) (PVS,  
tháng 12/2019). Anh P. có một quán  
cà phê trong hẻm nhỏ, hàng ngày bạn  
bè đến chơi, trò chuyện chuyên môn  
và đờn ca cho thỏa dạ yêu nghề.  
Trong buổi chuyện trò với chúng tôi,  
anh B. nay giọng đã hơi yếu nên đã  
mang theo băng catsset thu âm giọng  
trời chợt đổ mưa, chủ nhà bỗng nhiên hát của mình từ trước để mở cho  
cất giọng ngọt lịm 1 câu trong vở cải chúng tôi nghe giọng chuẩn. Hai anh  
lương Lan và Điệp (tác giả Loan mở băng, ca câu vọng cổ Dạ cổ hoài  
Thảo): “Mỗi khi thấy trời bắt đầu lất lang và giảng kỹ sự ngắt nhịp, nhả  
phất hạt mưa...”. Không gian chùng  
xuống trong một sự cảm thông, xúc  
cảm trào dâng qua giọng ca da diết.  
Thế là mọi người cùng cất lời ca, lời  
tiếp lời, giọng tiếp giọng. Cuộc ca kéo  
đến nửa đêm, khi ra về vẫn lưu luyến  
dùng dằng.  
chữ của từng câu.  
Khác với dân nhạc Khmer đòi hỏi sự  
chuyên sâu về giọng và đàn, đờn ca  
tài tử có tính phóng khoáng trong thể  
hiện, tính mời gọi sự đồng cảm của  
xúc cảm và tính dễ kết nối. Vì thế,  
không gian dành cho thực hành dân  
nhạc đờn ca tài tử rộng rãi hơn nhiều.  
Các điểm tập trung khách du lịch  
thường có những tốp ca sĩ không  
Tuy nhiên, lại có một hình ảnh khác về  
sự hiện hữu của đờn ca tài tử ở Tây  
Nam Bộ. Tháng 12/2019, trong cuộc  
trò chuyện với ông Tám Dấu, nghệ chuyên ca tài tử phục vụ. Theo các  
nhân ưu tú (2015) ở thị trấn Càng nghệ nhân chuyên nghiệp, nhiều  
49  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
người trong số họ ca sai, đờn sai hóa là chợ nổi và dân nhạc ở Tây  
nhưng không sao, khi tiếng đờn kìm  
và giọng vọng cổ cất lên, thực sự là  
một không gian văn hóa miền Tây  
hiện ra, mời gọi và níu giữ. Tuy nhiên,  
trong cuộc trò chuyện với anh Hoài P.,  
anh Quách B. (Bạc Liêu) hay các thành  
viên trong câu lạc bộ của anh Võ  
Thành H. ở ấp Chợ, xã Tân Hoàng,  
huyện Tiểu Cần (tỉnh Trà Vinh) vào  
ngày 18/8/2020, các nghệ nhân đã  
bày tỏ sự quan ngại khi đờn ca tài tử  
hiện nay được hát theo các clip tràn  
lan trên mạng internet, bỏ qua các  
kiểu ngắt nhịp chuẩn, làm mất đi tꢀnh  
đặc sắc của loại hình nghệ thuật này.  
Đồng thời, việc truyền dạy ca tài tử  
trong cộng đồng hiện đang gặp khó  
khăn bởi ca tài tử phải học 3 năm mới  
thấm, việc học mất thời gian mà biết  
ca biết đàn cũng không sống được với  
nghề nên lớp trẻ không mặn mà với  
loại hình nghệ thuật này. Như vậy thì,  
mặc dù nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam  
Bộ được UNESCO vinh danh là di sản  
văn hóa phi vật thể đại diện của nhân  
loại (2013) và mặc dù lối hát này  
không quá khó nhưng có thể nói, việc  
giảm chất lượng nghệ thuật và tình  
trạng mai một nó trong đời sống hàng  
ngày đang chầm chậm diễn ra.  
Nam Bộ, bài viết đi tới các kết luận  
sau:  
1. Sau hơn 300 năm hình thành và  
phát triển, đặc trưng văn hóa vꢁng đất  
Tây Nam Bộ không chỉ dừng lại ở các  
cụm cố định là không hoàn toàn giữ  
nguyên nghĩa. Dưới tác động của kinh  
tế thị trường, sự phát triển kinh tế đã  
làm thay đổi không gian xã hội, ở đó,  
các nghĩa của văn hóa không ngừng  
được bổ sung, mà khi nghĩa mới đã  
trở thành quen thuộc thì các nét đặc  
trưng hay bản sắc đã được nhận diện  
cũng thay đổi. Mặc định “văn hóa  
sông nước” gắn với chợ nổi hay “văn  
hóa bình dân sống động” gắn với thực  
hành đờn ca tài tử cũng đang thay đổi  
từng ngày.  
2. Một vấn đề mang tính lý thuyết  
trong cách mô tả “văn hóa hàng ngày”  
là sự đồng bộ hóa xã hội hậu công  
nghiệp thậm chí có thể tꢀnh đến từng  
giây từng phút (a synchronization  
based on minutes and seconds). Soi  
điều này vào văn hóa hàng ngày của  
cư dân Tây Nam Bộ, tự nhiên, một  
bức tranh các màu sắc đậm nhạt hiện  
ra, mà ở đó, tốc độ nhanh chậm của  
nhịp điệu cuộc sống giữa các tộc  
người là không như nhau. Sự mô tả  
thô phác trên đây cho thấy rõ rằng,  
trên nền văn hóa Tây Nam Bộ, nổi bật  
lên tꢀnh đa dạng của văn hóa tộc  
người, và để hiểu được tꢀnh đa dạng  
đó, rất cần khám phá từ tính sinh  
động, tính khả biến của văn hóa hàng  
ngày. Điều này cũng phꢁ hợp với tinh  
thần của Công ước Bảo vệ và phát  
4. KẾT LUẬN  
Việc đưa ra khung lý thuyết văn hóa  
hàng ngày với quan niệm rằng, văn  
hóa luôn được sản sinh nghĩa trong  
các bối cảnh mới, bằng việc điểm lại  
các nhận định được thừa nhận về đặc  
trưng văn hóa Tây Nam Bộ và qua  
khảo sát điền dã hai hiện tượng văn  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
huy sự đa dạng của các biểu đạt văn phức tạp và tân kỳ nhưng đòi hỏi  
hóa của UNESCO. Cách tiếp cận “văn những nỗ lực và sự thay đổi một hệ  
hóa hàng ngày”, vì thế, tuy không hình nghiên cứu mới.  
CHÚ THÍCH  
Bài viết trong khuôn khổ đề tài cấp quốc gia: Văn hóa trong phát triển bền vững vùng Tây  
Nam Bộ thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia: Khoa học và  
công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ.  
(1) Pascal Bourdeaux dẫn các tài liệu nói về những khó khăn trong hội nhập bước đầu của di  
dân người Việt ở miền Bắc vào Tây Nam Bộ ở sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, cách  
thức canh tác, phương thức làm thủy lợi, và những trở ngại đối với người miền Bắc vì việc  
ly hương đã khiến họ phải rút khỏi hệ thống tái phân chia đất công cũng như đứt sợi dây liên  
kết về nghi lễ với tổ tiên và sự thiêng liêng của vꢁng quê cha đất tổ (Bourdeaux, 2009).  
(2)  
Nguyễn Đăng Hai phỏng vấn ông Nguyễn Văn A., sinh năm 1976, ở khu vực 5, phường  
An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ngày 10/12/2019.  
(3)  
Trần Thị An phỏng vấn anh Sáu D., sinh năm 1968 ở khu vực 5, phường An Bình, quận  
Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ngày 22/9/2020.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Ái Lam. 2018. “Bảo tồn chợ nổi Cái Răng bền vững”. https://baocantho.com.vn/bao-  
ton-cho-noi-cai-rang-ben-vung-a99896.html, truy cập ngày 15/8/2020.  
2. Bourdeaux, Pascal. 2009. Văn minh sông nước miền Nam – các suy tưởng về ý niệm  
“văn minh sông nước” và về lịch sử châu thổ sông Cửu Long nhìn qua một vài khía cạnh  
của cuộc định cư tại xã Sóc Sơn (1920-1945). http://www.gio-o.com/NgoBac/  
NgoBacBourdeauxVanMinhSongNuoc.htm, truy cập ngày 15/6/2020)  
3. Cẩm Giang. 2019. “Chợ nổi Cái Răng lọt vào top 10 chợ ấn tượng nhất thế giới”.  
844828.html, truy cập ngày 20/8/2020.  
4. Đinh Thị Dung. 2011. “Tây Nam Bộ với tư cách là một vꢁng văn hóa và các tiểu vùng  
truy cập ngày 15/10/2020.  
5. Highmore, Ben. 2001. Everyday Life and Cultural Theory: An Introduction. UK:  
Routledge.  
6. Huỳnh Kim. 2020. “Bảo tồn chợ nổi Cái Răng trong yêu cầu phát triển du lịch bền  
7. Chí Quốc. 2017. “Chợ nổi ... bên bờ vực tan rã”. https://tuoitre.vn/cho-noi-ben-bo-vuc-  
tan-ra-1411611.htm, truy cập ngày 10/9/2020.  
8. Lâm Nhân. 2014. Chợ nổi Cái Bè – nhìn từ góc độ di sản. trong sách Di sản văn hóa  
trong xã hội Việt Nam đương đại. Hà Nội: Nxb. Tri thức.  
51  
TRẦN THỊ AN – VĂN HÓA HÀNG NGÀY VỚI VIỆC KIẾN TẠO…  
9. Lê Bá Thảo. 2001. Thiên nhiên Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
10. Ngô Đức Thịnh. 2004. Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam. TPHCM: Nxb.  
Trẻ.  
11. Nguyễn Ngọc Thơ. 2017. Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ. Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
12. Nguyễn Thị Hậu. 2017. “Văn hóa sông nước ở Nam Bộ nhìn từ khảo cổ học”, tham  
luận đọc tại Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa sông nước Đồng bằng sông  
Cửu Long trong quá trình hội nhập và phát triển, Đại học Cần Thơ, 28/11/2017.  
13. Nguyễn Trọng Nhân. 2018. “Chợ nổi vꢁng Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc  
nhìn sinh thái nhân văn”. Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam, số 60(11).  
14. Nhẫn Nam. 2020. “Làm gì để bảo tồn chợ Nổi Cái Răng?”. https://plo.vn/van-  
15. Pascal Bourdeaux. 2009. “Văn minh sông nước miền Nam - các suy tưởng về ý  
niệm „văn minh sông nước‟ và về lịch sử châu thổ sông Cửu Long nhìn qua một vài khía  
cạnh của cuộc định cư tại xã Sóc Sơn (1920-1945)”. http://www.gio-o.com/NgoBac/  
NgoBacBourdeauxVanMinhSongNuoc.htm, truy cập ngày 15/6/2020).  
16. Phạm Tiết Khánh, Nguyễn Đăng Hai, Phạm Thị Tố Thy. 2019. “Thực trạng bảo tồn  
và phát huy giá trị văn hóa âm nhạc dân gian Khmer Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay”.  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Trà Vinh, số 35.  
17. Phiên An. 2017. “Chợ nổi miền Tây đang sống mòn”, https://vnexpress.net/cho-noi-  
mien-tay-dang-song-mon-3639943.html, truy cập ngày 15/11/2020.  
18. Sơn Nam. 1992. Văn minh miệt vườn. Hà Nội: Nxb. Văn hóa.  
19. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ. 2020. Hội thảo Làm gì để bảo tồn chợ  
943.html, truy cập ngày 10/7/2020.  
21. Trần Đức Cường (chủ biên). 2014. Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam  
Bộ. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
22. Trần Hồng Chinh. 2016. “Nghệ thuật Chầm riêng Chà pây của người Khmer”.  
ngày 20/5/2020.  
23. Trần Hữu Hiệp. 2003. An Giang – văn hóa một vùng đất. Hà Nội: Nxb. Văn hóa  
Thông tin.  
24. Trần Ngọc Thêm (chủ biên). 2014. Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ. TPHCM:  
Nxb. Văn hóa - Văn nghệ TPHCM.  
25. Trịnh Hoài Đức. 2005. Gia Định thành thông chí. Lý Việt Dũng dịch. Đồng Nai: Nxb.  
Đồng Nai.  
26. UNESCO. 2005. Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn  
hóa. https://UNESCO.  
27. Williams, Raymond Henry. 1958, “Culture is ordinary”, In Cultural Theory: An  
Anthology, edited by Imre Szeman, Timothy Kaposy, UK: Blackwell Publishing, 2011.  
pdf 14 trang Thùy Anh 17420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa hàng ngày với việc kiến tạo và tái kiến tạo bản sắc văn hóa Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_hang_ngay_voi_viec_kien_tao_va_tai_kien_tao_ban_sac.pdf