Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0036  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 2, pp. 161-168  
SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ TRONG ĐÀO TẠO LƯU HỌC SINH VIỆT NAM  
GIAI ĐOẠN 1954-1975  
Nguyễn Duy Phương  
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt. Trên lĩnh vực giáo dục đào tạo, Liên Xô đã dành nhiều sự giúp đỡ cho Việt Nam,  
nhất là trong đào tạo lưu học sinh (LHS- Lưu học sinh ở đây là gọi chung cho tất cả những  
người Việt Nam đến học tại Liên Xô ở tất cả các cấp học trong những năm 1954 – 1975)…  
tuy nhiên vấn đề này ít được các nhà khoa học tập trung đi sâu phân tích. Với nguồn tư liệu  
là các văn kiện ngoại giao, các kế hoạch, báo cáo..., bài viết làm rõ cơ sở pháp lí của việc  
Liên Xô giúp đỡ đào tạo các LHS Việt Nam (1954 – 1975); phân tích số lượng, chất lượng  
của các LHS được đào tạo tại Liên Xô trong giai đoạn 1954 - 1975, đánh giá hiệu quả, cũng  
như ảnh hưởng của sự giúp đỡ này đối với Việt Nam không chỉ đối với cuộc kháng chiến  
chống Mĩ cứu nước mà cả trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.  
Từ khóa: Liên Xô, Việt Nam, lưu học sinh, chiến tranh Việt Nam, giáo dục.  
1. Mở đầu  
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 21/7/1954, Hiệp định Genève về Đông Dương được  
kí kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc thắng lợi, đưa Miền Bắc Việt Nam  
bước vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc,  
dân chủ nhân dân. Để đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược này đòi hỏi Việt Nam phải  
có đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật nhiều về số lượng và tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ.  
Do vậy, bên cạnh nâng cao công tác giáo dục đào tạo trong nước, Việt Nam đã thúc đẩy việc gửi  
cán bộ, học sinh đi học tập, nghiên cứu ở các nước Xã hội chủ nghĩa. Liên Xô – người anh cả  
của phe Xã hội chủ nghĩa đã luôn là nước tiếp nhận các lưu học sinh Việt Nam nhiều nhất cũng  
như dành nhiều sự giúp đỡ cho hoạt động giáo dục đào tạo của Việt Nam trong suốt những năm  
1954 đến năm 1975.  
Sự giúp đỡ này đã được một số công trình nghiên cứu đề cập đến trong tổng thể của mối  
quan hệ Việt Nam và Liên Xô như Lê Văn Thịnh (2009), Sự chi viện, giúp đỡ của Liên Xô với  
Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) [1]; Nguyễn Thị Mai Hoa  
(2013), Các nước Xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-  
1975) [2]; Phạm Thị Thu Hương, Tác động của chiến tranh Việt Nam đối với việc Mĩ triển khai  
hoạt động “ngoại giao tam giác” với Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn 1969-1972 [3]. Những  
nghiên cứu về hoạt động giáo dục đào tạo ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 như  
công trình Giáo dục đại học ở miền Bắc thời kì 1954 – 1975 của Ngô Văn Hà [4]; Công tác đào  
tạo đội ngũ cán bộ của miền Bắc Việt Nam ở nước ngoài thời kì 1954 – 1975 của Trần Thị Thu  
Hương, Phạm Đức Kiên [5]; luận văn của Nguyễn Thị Hoài, Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên  
Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ  
Ngày nhận bài: 2/3/2021. Ngày sửa bài: 29/4/2021. Ngày nhận đăng: 10/5/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Duy Phương. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
161  
Nguyễn Duy Phương  
quốc gia III [6] cũng đã có những phân tích liên quan đến công tác giáo dục đào tạo của Việt  
Nam ở Liên Xô. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Liên Xô đối với LHS Việt Nam (1954 - 1975) chỉ  
mới được các công trình kể trên tiếp cận ở mức độ khái quát, còn nhiều vấn đề liên quan đến sự  
hỗ trợ này như số lượng, nội dung, hiệu quả, chất lượng đào tạo... chưa được đề cập đến. Trên  
cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố, cập nhật thêm nguồn tư liệu lưu trữ là các văn  
kiện ngoại giao, các văn bản hành chính... do hai nhà nước Liên Xô và Việt Nam ban hành, bài  
viết này tập trung làm rõ cơ sở pháp lí cùng sự giúp đỡ của Liên Xô dành cho LHS của Việt  
Nam trong những năm 1954 đến năm 1975 nhằm khẳng định những đóng góp to lớn của Liên  
Xô trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam, góp phần giúp Việt Nam đáng  
Mĩ và thắng Mĩ bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời qua đó góp  
phần giải thích những ảnh hưởng của “mô hình Xô Viết” tại Việt Nam trong quá khứ cũng như  
hiện nay.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Cơ sở pháp lí của việc Liên Xô giúp đỡ đào tạo các lưu học sinh Việt Nam  
(1954 – 1975)  
Bản tuyên bố của các Đảng Cộng sản và công nhân tại Matxcơva năm 1957 đã nêu rõ: “các  
nước XHCN đều tập hợp trong khối liên minh thống nhất vì cùng chung một con đường đi tới  
chủ nghĩa xã hội, cùng chung một tính chất giai cấp của chế độ xã hội, kinh tế và chính quyền  
Nhà nước, vì yêu cầu ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau, vì cùng chung những lợi ích và mục đích  
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội và chủ  
nghĩa cộng sản, vì tất cả đều chung nhau một hệ thống tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin” [7].  
Trên cơ sở bản tuyên bố đó, trong giai đoạn 1954-1975, giữa Việt Nam và Liên Xô đã kí nhiều  
hiệp định, kế hoạch hợp tác, nghị định thư, văn bản, công văn liên quan đến lĩnh vực giáo dục  
đào tạo. Mở đầu bằng Hiệp nghị giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ  
Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết về vấn đề học tập của những người công dân  
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại các trường trung và cao cấp ở Liên Xô, kí tại Moskva  
ngày 27/8/1955 [8]. Văn kiện này có 9 điều khoản với nội dung chủ yếu là Liên Xô đồng ý tiếp  
nhận công dân Việt Nam làm học sinh, hoặc sinh viên bổ túc tại các trường trung và cao cấp ở  
Liên Xô, quy định các điều kiện và thể lệ học tập, thể lệ hoàn lại chi phí về học bổng… Đáng  
lưu ý là hiệp định này đã dành cho lưu học sinh, sinh viên Việt Nam khá nhiều chế độ ưu đãi  
như sinh viên không phải trải qua kì thi nhập học, được cấp kí túc xá với điều kiện giống như  
các sinh viên Liên Xô, được Liên Xô trả tất cả các chi phí liên quan đến việc học tập, cho vay  
trước học bổng và cấp cho các giấy đi nghỉ tại các nơi an dưỡng và các nhà nghỉ mát…[9]. Kế  
tiếp là 5 Hiệp định hợp tác giữa Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ  
Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết về đào tạo, văn hóa và khoa học kĩ thuật, được kí  
kết vào các năm 1957, năm 1959, năm 1961, năm 1973, năm 1974 (Bảng 1). Đây là những văn  
kiện hợp tác quốc tế có giá trị pháp lí cao nhất làm cơ sở để hai nước triển khai các kế hoạch và  
biện pháp hiện thực hóa những cam kết trong đào tạo nguồn nhân lực.  
Trong số các văn kiện kể trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến Hiệp định hợp tác văn hóa và  
khoa học giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Liên bang Cộng hòa Xã  
hội chủ nghĩa Xô viết, kí tại Moskva ngày 11/11/1974. Với 19 điều khoản, 8 trang nội dung,  
hiệp định này đã có những thỏa thuận cụ thể liên quan đến việc phát triển và củng cố hơn nữa sự  
hợp tác trong lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa… Đối với lĩnh vực giáo dục, đại học và  
trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, hiệp định này khuyến khích: sự hợp tác và trao đổi kinh  
nghiệm trong lĩnh vực giáo dục của hai nước về các vấn đề giáo dục Chủ nghĩa xã hội cho học  
sinh, đào tạo và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho giáo viên và cả việc kế hoạch hóa và quản lí  
ngành giáo dục; việc trao đổi các giảng viên và cán bộ khoa học để nâng cao trình độ chuyên  
162  
Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975  
môn, truyền đạt kinh nghiệm, trình bày bài giảng, tiến hành phụ đạo, các công trình nghiên cứu  
chung, trao đổi sinh viên các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp để học tập,  
để thực tập sản xuất, để tham gia các buổi thảo luận, các buổi giảng …[10]. Văn kiện này có ý  
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền văn hóa, giáo dục của Việt Nam không chỉ trong giai  
đoạn kháng chiến chống Mỹ mà cả nhiều năm sau chiến tranh. Đối với một nền giáo dục đại học  
có xuất phát điểm thấp, đi sau tiến lên xây dựng theo mô hình hiện đại, thì những thỏa thuận này  
sẽ giúp cho nền giáo dục đại học Việt Nam có bước phát triển đột phá, nhanh chóng tiếp cận với  
nền giáo dục tiên tiến của thế giới.  
Để triển khai có hiệu quả các hiệp định song phương này, trong thời gian từ năm 1954 đến  
năm 1975, hai nước đã kí kết nhiều kế hoạch hợp tác văn hóa, khoa học cụ thể hàng năm (Bảng  
1). Nội dung các cam kết và biện pháp cụ thể về hợp tác đào tạo được thống nhất trong mỗi bản  
kế hoạch hợp tác tựu chung lại là: chính phủ hai nước thống nhất trao đổi học sinh, sinh viên,  
nghiên cứu sinh và thực tập sinh để học tập và bổ túc nghiệp vụ; số lượng người cử đi, ngành  
chuyên môn và thời gian học của lưu học sinh được quy định cụ thể chiếu theo sự thỏa thuận  
của hai bên và cụ thể hóa mối quan hệ hợp tác giữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học,  
cao đẳng của hai Nhà nước. Về số lượng đào tạo, phía Liên Xô đồng ý tiếp nhận mỗi năm hàng  
trăm sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh của Việt Nam sang học tập và nghiên cứu, số  
lượng năm sau thường cao hơn năm trước để phù hợp với nhu cầu cán bộ đáp ứng tình hình mới  
của đất nước.  
Bảng 1. Các văn kiện hợp tác trong lĩnh vực đào tạo LHS giữa Việt Nam và Liên Xô,  
giai đoạn 1954 - 1975  
STT  
Nội dung  
Thời gian  
1
Hiệp nghị giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính kí tại Moskva  
phủ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết về vấn đề học ngày 27/8/1955  
tập của những người công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  
tại các trường trung và cao cấp ở Liên Xô  
2
Hiệp định hợp tác khoa học giữa Ủy ban Khoa học Nhà nước Việt kí tại Moskva  
Nam Dân chủ Cộng hòa và Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang ngày 26/5/1961  
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết  
3
4
Hiệp định hợp tác văn hóa giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng Kí tại Hà Nội  
hòa và Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa  
ngày 15/2/1957  
Nghị định thư khóa họp thứ 5 của Ủy ban hợp tác khoa học kĩ kí tại Hà Nội  
thuật Việt – Xô giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên ngày 03/4/1963  
bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết  
5
6
Hiệp định hợp tác về khoa học kĩ thuật giữa nước Việt Nam Dân kí tại Hà Nội  
chủ Cộng hòa và Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết  
ngày 07/3/1959  
Hiệp định giữa nước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và kí tại Moskva  
Chính phủ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết về việc ngày 25/7/1973  
giúp đỡ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc đào tạo  
công nhân lành nghề  
7
8
Hiệp định hợp tác văn hóa và khoa học giữa Chính phủ Việt Nam kí tại Moskva  
Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ ngày 11/11/1974  
nghĩa Xô viết  
Kế hoạch về việc hợp tác văn hóa, khoa học kĩ thuật năm 1971  
với Liên Xô  
163  
Nguyễn Duy Phương  
9
Kế hoạch hợp tác văn hóa và khoa học kĩ thuật giữa Chính phủ  
Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Liên bang Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Xô-viết năm 1976  
10  
Kế hoạch đào tạo cán bộ và công nhân kĩ thuật ở nước ngoài và  
báo cáo tình hình thực tập sinh, lưu học sinh và nghiên cứu sinh  
gửi đi các nước Xã hội chủ nghĩa trong các năm 1966-1969 của  
Ủy ban Kế hoạch nhà nước  
11  
12  
Kế hoạch hợp tác văn hóa và tình hình thực hiện kế hoạch hợp tác  
giữa Việt Nam và Liên Xô trong năm 1958  
Kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch hợp tác văn hóa và  
khoa học với Liên Xô trong năm 1959  
2.2. Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo LHS Việt Nam giai đoạn 1954-1975  
Trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác đó, hàng năm, Việt Nam đã cử hàng trăm lưu học sinh,  
bao gồm thực tập sinh, nghiên cứu sinh sang học tập tại Liên Xô. Căn cứ các số liệu cụ thể của  
từng năm trong Báo cáo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp về tình hình công tác đào  
tạo ở nước ngoài (phần đại học và dưới đại học), từ năm 1955 đến năm 1964 đã có 1988 lưu học  
sinh Việt Nam đi học tại Liên Xô [11].  
Bảng 2. Số lượng lưu học sinh Việt Nam học tập ở Liên Xô  
trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1964  
Nước Tổng số 1955 1956 1957 1958 1959 1960 1961 1962 1963 1964  
Liên Xô 1988  
209  
114  
14  
56  
84  
11  
01  
13  
244  
1134 805 244  
67  
18  
09  
26  
Trung  
Quốc  
271  
165  
37  
11  
104  
02  
61  
03  
10  
45  
28  
24  
04  
CHDC  
Đức  
Tiệp  
Khắc  
03  
Nguồn: [11, tr 21]  
Các số liệu trên cho thấy, tổng số lưu học sinh Việt Nam cũng như số lượng được cử đi học  
ở Liên Xô hàng năm trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1964 lớn gấp nhiều lần so với số lưu  
học sinh Việt Nam đi học ở các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Từ các nguồn tài liệu khác cũng  
cho thấy, số lượng lưu học sinh Việt Nam được cử đi Liên Xô học tập luôn chiếm tỉ lệ nhiều  
nhất trên tổng số lưu học sinh gửi đi đào tạo nước ngoài. Chẳng hạn, năm học 1957-1958, Thủ  
tướng Chính phủ đồng ý cho các ngành giáo dục, tư pháp, ngân hàng, ngoại giao gửi lưu học  
sinh sang các nước bạn là 81 người, trong đó 42 người đi Liên Xô và 39 người đi Trung Quốc  
[12]. Chỉ tính riêng trong năm 1963, Nhà nước đã gửi đi học ở nước ngoài 507 lưu học sinh,  
trong đó, 311 người đi Liên Xô gồm 250 sinh viên và 37 nghiên cứu sinh và 18 thực tập sinh.  
Cũng trong năm này, số lưu học sinh Việt Nam tốt nghiệp ở Liên Xô về nước là 167 người  
trong tổng số 375 lưu học sinh của ta tốt nghiệp ở các nước [13].  
Sang những năm 1965, tình hình cách mạng Việt Nam có nhiều biến chuyển. Trước sự phá  
sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ leo lên một nấc thang chiến tranh mới,  
chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ, mở rộng chiến tranh ra cả nước, đánh phá miền Bắc  
với các thủ đoạn tàn bạo và ác liệt. Việc đưa hoạt động của miền Bắc đang trong hoàn cảnh hòa  
164  
Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975  
bình sang chiến tranh, mà vẫn kiên định thực hiện mục tiêu “trong bất kì tình thế nào, miền Bắc  
Việt Nam cũng phải tiến lên Chủ nghĩa xã hội làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh  
thống nhất nước nhà” [14] là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, đòi hỏi không chỉ có quyết tâm  
cao mà phải có sự sáng tạo trong chiến đấu, lao động sản xuất và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ  
chuyên môn. Trước yêu cầu mới đó, Đảng ta chủ trương: “công tác đào tạo cán bộ không giảm,  
trái lại cần được đẩy mạnh hơn nhiều để chuẩn bị thêm cán bộ cho nhu cầu lâu dài và phục vụ  
được những nhu cầu cấp thiết trước mắt” [15]; Nghị quyết số 142 – NQ/TW ngày 26-6-1966  
của Bộ Chính trị BCH TW Đảng tiếp tục khẳng định: “phải tranh thủ trong một thời gian tương  
đối ngắn, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật và cán bộ quản lí kinh tế  
đông đảo, vững mạnh ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành, nghề” [16]. Về phương  
hướng gửi lưu học sinh, tháng 6-1965, tờ trình của Ủy ban kế hoạch nhà nước trình Chính phủ  
(6-1965) đã nêu rõ: “phải tập trung số lớn cho các ngành khoa học cơ bản, điều tra cơ bản, các  
ngành kĩ thuật công nghiệp, xây dựng, thông tin liên lạc, kĩ sư kinh tế. Tiêu chuẩn tuyển sinh  
phải thật chặt chẽ về các mặt chính trị, tư tưởng, văn hóa, sức khỏe, ưu tiên lựa chọn những  
người đã kinh qua sản xuất, công tác và chiến đấu” [17] Chính chủ trương này của Đảng ta đã là  
động lực thúc đẩy sự tăng vọt số lượng lưu học sinh học tập ở nước ngoài từ sau năm 1965, mà  
nhiều nhất vẫn là Liên Xô. Điều này đã được khẳng định trong một báo cáo của Bộ Đại học và  
Trung học chuyên nghiệp: “trong 8 năm vừa qua (1965-1973), kế hoạch đào tạo cán bộ ở trong  
nước và ngoài nước đã có sự chuyển biến mạnh mẽ. Riêng về đào tạo nước ngoài, trong 8 năm  
ta đã cử đi 19.092 đại học... Lưu học sinh được cử đi nhiều nhất ở Liên Xô” [18]. Từ số liệu  
thống kê của bảng 3 cũng cho biết đã có 7.525 lưu học sinh đi học tập, nghiên cứu tại Liên Xô  
trong giai đoạn 1965 – 1973 (tăng gấp 7 lần so với giai đoạn 1955 – 1964).  
Bảng 3. Số lượng lưu học sinh Việt Nam học tập ở Liên Xô  
trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1973  
Nguồn: [18, tr.20]  
Năm  
1965 1966 1967  
104 851 1305  
1968  
1969  
1970  
1971  
1972  
1973  
Số lượng  
1468  
914  
655  
831  
785  
612  
Học tập ở Liên Xô, lưu học sinh Việt Nam có rất nhiều thuận lợi. Một trong những thuận  
lợi lớn đó là nước này có ngành nghề đào tạo phong phú và đa dạng, hầu như có đầy đủ các  
ngành nghề mà Việt Nam đang cần được đào tạo nên lưu học sinh rất dễ lựa chọn ngành nghề  
phù hợp với mình. Ngay từ năm 1965, Liên Xô đã gửi Danh mục ngành nghề đại học của Liên  
Xô năm 1965 (loại đào tạo 5 năm) cho phía Việt Nam, trong đó, chúng tôi thống kê được 335  
mã ngành chuyên môn thuộc 24 ngành học chính trong hệ đào tạo đại học của Liên Xô. Đó là  
các ngành địa chất, khoáng sản, năng lượng, luyện kim, chế tạo máy và dụng cụ, kĩ thuật điện tử  
và tự động hóa, xây dựng, đo đạc, khí tượng thủy văn, kinh tế, nông nghiệp... và các chuyên  
ngành nhỏ trong Trường Đại học Tổng hợp của Liên Xô gồm tiếng Nga, chính trị kinh tế học,  
triết học, tâm lí học, toán học, cơ học, thiên văn học, vật lí, hóa học, sinh vật học, động vật học  
và thực vật học, nhân chủng học và địa lí [19]. Nước sở tại cũng có nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ cho  
lưu học sinh Việt Nam. Theo nhiều tài liệu ghi chép: Lưu học sinh của ta đã được phân phối vào  
những trường đại học, viện nghiên cứu có truyền thống của bạn và phù hợp với đề nghị của ta  
[20]. Liên Xô nhận LHS của ta một cách dễ dàng, gửi bao nhiêu cũng nhận, học ngành nào cũng  
bố trí (trừ những ngành thuộc bí mật quốc gia). Học bổng của sinh viên Việt Nam có nhiều loại,  
một loại thì do quỹ viện trợ tức là ta đài thọ và một loại thì Liên Xô cấp học bổng và đài thọ.  
Đối với học sinh đuối, nơi nào bạn cũng tổ chức phụ đạo, đặc biệt giúp đỡ anh em kém về ngoại  
ngữ. Lưu học sinh nào khá, Liên Xô tìm cách giúp đỡ để trở thành nghiên cứu sinh hoặc để thi  
165  
Nguyễn Duy Phương  
phó tiến sĩ. Trong thời gian thực tập, bạn tổ chức lựa chọn, cho một số học sinh giỏi đi vào học  
những ngành rất hiện đại. Bạn giúp đỡ nhiệt tình sinh viên ta làm luận án tốt nghiệp. Về vật  
chất, bạn tiếp rất chu đáo, đặc biệt chú ý đến vấn đề bồi dưỡng sức khỏe cho anh em lưu học  
sinh” [21] .Về các điều kiện ăn ở, học tập, gần như không có sự phân biệt giữa lưu học sinh Việt  
Nam với lưu học sinh Liên Xô.  
Với sự giúp đỡ nhiệt tình của Liên Xô, từ năm 1955 đến năm 1975, có 18516 lưu học sinh  
tốt nghiệp trở về phục vụ đất nước [22]. Trong đó, riêng giai đoạn 1965 – 1973 đã có 3111 lưu  
học sinh học tập tại Liên Xô tốt nghiệp về nước, chủ yếu là đào tạo bậc đại học [23]. So sánh  
giữa các nước, Bộ Giáo dục nhận định, Liên Xô là nước đào tạo trình độ lí luận tốt hơn các  
nước khác: “lưu học sinh đại học tốt nghiệp ở Liên Xô về nước, anh em có trình độ lí luận vững  
hơn, đem theo kiến thức khoa học tiên tiến của nước bạn, một số vẫn tiếp tục tự học, tự nghiên  
cứu đã đi lên... Trong số đã tốt nghiệp về nước từ năm 1955-1964, nhìn chung phẩm chất đạo  
đức tốt” [24]. Các lưu học sinh sau khi tốt nghiệp trở về nước đã phát huy vai trò tích cực trong  
chiến đấu, sản xuất, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, bổ sung về ngành nghề và nâng cao  
trình độ cho đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật. Nhiều người trong số đó sau này đã trở thành  
những nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, những nhà khoa học đầu ngành, những  
chuyên gia, nhà quản lí trên rất nhiều lĩnh vực ở Việt Nam. Tiêu biểu như Tổng Bí thư, Chủ tịch  
Quốc hội Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An, Nguyễn Phú Trọng đều đã có thời gian học tập,  
nghiên cứu tại Liên Xô.  
3. Kết luận  
Có thể khẳng định, việc giúp đỡ đào tạo các LHS Việt Nam của Liên Xô giai đoạn 1954 -  
1975 đã góp phần quyết định hình thành đội ngũ trí thức cách mạng – nhân tố quan trọng giúp  
nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ ách nô dịch  
của chủ nghĩa thực dân, xây dựng và bảo vệ nền độc lập, thống nhất đất nước. Tổng Bí thư Lê  
Duẩn trong bài diễn văn đọc tại cuộc chiêu đãi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đoàn  
Chủ tịch Xô viết tối cao và Chính phủ Liên Xô ngày 10/7/1973, đã nhấn mạnh: “Sự ủng hộ  
mạnh mẽ, sự giúp đỡ to lớn về nhiều mặt của Liên Xô cùng với muôn vàn việc làm đẹp đẽ và  
cảm động của anh em Xô-viết đã tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam, động viên mạnh  
mẽ tinh thần đồng bào và chiến sĩ cả nước chúng tôi tiến lên giành những thắng lợi ngày càng to  
lớn cho đến thắng lợi huy hoàng ngày nay. Sự ủng hộ và giúp đỡ đó là biểu hiện rực rỡ của tình  
đoàn kết chiến đấu giữa những đồng chí, những người anh em cùng chung lí tưởng” [25].  
Cùng với sự giúp đỡ đó, các tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hoá; về khoa học và nghệ  
thuật quân sự Xô viết cũng được truyền vào Việt Nam, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ mới  
trên tất cả các lĩnh vực và gia tăng thêm sức hấp dẫn của “mô hình Xô viết” ở Việt Nam. Hàng  
chục ngàn sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh đã được tiếp nhận nền học vấn bài bản từ  
mái trường Xô viết, đã trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất  
nước của Việt Nam. Lực lượng trí thức đó đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển  
của nền khoa học kĩ thuật Việt Nam và là cầu nối vững chắc cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc.  
Tuy nhiên, cùng với việc gia tăng ảnh hưởng của “mô hình Xô viết” ở Việt Nam thì những  
hạn chế của mô hình này cũng đã tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội của Việt  
Nam với những biểu hiện phổ biến như: trong hệ thống chính trị, hành chính – một nền hành  
chính nặng nề, kém năng động; trong quản lí kinh tế, xã hội – một cơ chế quản lí tập trung, quan  
liêu bao cấp và kém hiệu quả; trong nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học xã hội, không phải là  
sự phản biện, xây dựng và cung cấp luận cứ khoa học cho đường lối chính trị, mà có khuynh  
hướng minh họa cho đường lối chính trị… [26]. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước,  
những hạn chế trên đã từng bước được Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận diện và khắc phục  
thông qua chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, phát triển kinh tế thị trường hội nhập thế giới  
166  
Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975  
vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, nhằm tiếp tục khẳng định  
những giá trị nhân văn của Cách mạng tháng Mười Nga và làm cho “con đường Xô viết” ở Việt  
Nam có tính hiện thực hơn.  
Ghi chú: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Đại học  
Đà Nẵng trong đề tài có mã số B2019-DN03-38.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lê Văn Thịnh, 2009. Sự chi viện, giúp đỡ của Liên Xô với Việt Nam trong cuộc kháng  
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 149–157.  
[2] Nguyễn Thị Mai Hoa, 2013. Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến  
chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb Chính trị Quốc gia.  
[3] Phạm Thị Thu Hương, 2011. “Tác động của chiến tranh Việt Nam đối với việc Mĩ triển  
khai hoạt động “ngoại giao tam giác” với Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn 1969-1972”.  
Tạp chí Khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2, tr 18 – 26.  
[4] Ngô Văn Hà, 2010. Giáo dục đại học ở miền Bắc thời kì 1954 – 1975. Nxb Chính trị Quốc gia.  
[5] Trần Thị Thu Hương, Phạm Đức Kiên, 2016. “Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ của miền  
Bắc Việt Nam ở nước ngoài thời kì 1954 – 1975”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 11.  
[6] Nguyễn Thị Hoài, 2013. Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo  
(1950-1991) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III,  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội, Hà Nội.  
[7] Bùi Công Trừng, 1959. Hợp tác tương trợ giữa các nước Xã hội chủ nghĩa. Nxb Sự thật, tr.4.  
[8] Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, 1983. Việt Nam - Liên Xô, 30  
năm quan hệ (1950 - 1980). Nxb Ngoại giao, tr.20-23.  
[9] Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, 1983. Việt Nam - Liên Xô, 30  
năm quan hệ (1950 - 1980). Nxb Ngoại giao, tr.20-23.  
[10] Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, 1983. Việt Nam - Liên Xô, 30  
năm quan hệ (1950 - 1980). Nxb Ngoại giao, tr. 398 – 399.  
[11] Hồ sơ 21341: Công văn, báo cáo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp về tình hình  
công tác NCS, TTS về nước năm 1972, tr.21, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[12] Hồ sơ 20777: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch LHS trong 2 năm 1957-1958 của Đảng  
bộ Bộ Giáo dục, tr.4, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[13] Hồ sơ 4334: Đề cương Báo cáo công tác trao đổi văn hóa với nước ngoài trong năm 1963  
của Bộ Giáo dục và các đơn vị trực thuộc, tr.49, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002. Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 26,  
tr.110.  
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002. Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, tập 26, tr.95.  
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002. Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, tập 26,  
tr 228.  
[17] Hồ sơ 18059, Kế hoạch lưu HS và NCS năm 1966 – 1967 của ngành GĐĐT, tr 1, lưu tại  
Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[18] Hồ sơ 2963, Biên bản, hiệp định, nghị định thư về hợp tác KHKT giữa Việt Nam với Liên  
Xô năm 1961, tr.20-21, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[19] Hồ sơ 2141, Kế hoạch gửi NCS và học sinh đi nước ngoài của UBKhHNN và các đơn vị  
thuộc Ủy ban năm 1961, tr.78-84, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
167  
Nguyễn Duy Phương  
[20] Hồ sơ 4334: Đề cương Báo cáo công tác trao đổi văn hóa với nước ngoài trong năm 1963  
của Bộ Giáo dục và các đơn vị trực thuộc, tr.136-138, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[21] Hồ sơ 20782: Báo cáo của Đoàn cán bộ nghiên cứu Ban Tổ chức Trung ương về tình hình  
LHS ở các nước Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đức năm 1958, tr 12, lưu tại  
Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[22] Bộ Giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp, 1976. Niêm giám thống kê 20 năm phát  
triển giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp (1955 – 1975), Hà Nội, tr 47.  
[23] Hồ sơ 2963, Biên bản, hiệp định, nghị định thư về hợp tác KHKT giữa Việt Nam với Liên  
Xô năm 1961, tr.20-21, lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[24] Hồ sơ 20782, Báo cáo của Đoàn cán bộ nghiên cứu Ban Tổ chức Trung ương về tình hình  
LHS ở các nước Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đức năm 1958, tr 12, lưu tại  
Trung tâm lưu trữ quốc gia III.  
[25] Lê Duẩn, 1982. Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc là chiến lược và  
tình cảm của chúng ta, Nhà máy In Tiến Bộ, Hà Nội, tr.37-38  
18/11/2017.  
ABSTRACT  
The support of the Soviet Union in training Vietnamese students,  
in the period of 1954 - 1975  
Nguyen Duy Phuong  
Department of History, University of Education, The University of Danang  
The support of the Soviet Union for Vietnam in the field of education and training,  
especially in training Vietnamese students (Vietnamese students hereinafter are those who came  
to study in the Soviet Union at all education levels in the period of 1954 - 1975), has not been  
analyzed and researched deeply by the scientists yet. Based on the original diplomatic  
documents, plans, reports, etc., this article clarifies the legal basis for the Soviet Union’s helping  
the Vietnamese students in the period of 1954 - 1975; analyzes the quantity and quality of the  
Vietnamese students trained in the Soviet Union in the period 1954 - 1975, evaluates the  
effectiveness, as well as the influence of this help on Vietnam not only in the resistance war  
against the US imperialists but also in the process of national construction and renewal.  
Keywords: Soviet Union, Vietnam, students, education, Vietnam war.  
168  
pdf 8 trang Thùy Anh 19800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự giúp đỡ của Liên Xô trong đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_giup_do_cua_lien_xo_trong_dao_tao_luu_hoc_sinh_viet_nam_g.pdf