Quan niệm của Phật giáo nguyên thủy về bản chất con người

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
10  
QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY  
VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI  
CHÂU VĂN NINH*  
Xuất phát từ phong trào chống lại Bà-la-môn giáo, cùng với Lokayata và Jaina,  
Phật giáo có cách tiếp cận và lý giải về vấn đề con người và nhân sinh khác với  
tư tưởng truyền thống bắt nguồn từ kinh Veda của Ấn Độ. Phật giáo quan niệm  
thế giới vô thường, vô ngã; con người được cấu tạo từ ngũ uẩn nên xuất hiện  
hay biến mất là do nhân duyên. Bài viết sử dụng cách tiếp cận biện chứng duy  
vật, kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ quan điểm này.  
Từ khóa: Phật giáo, bát chánh đạo, con người, giải thoát, khổ  
Nhận bài ngày: 29/4/2021; đưa vào biên tập: 10/5/2021; phản biện: 30/5/2021;  
duyệt đăng: 09/8/2021  
1. DẪN NHẬP  
việc tập trung tranh luận về các vấn  
đề siêu hình có thể đẩy chúng ta rời  
xa vấn đề về bản chất con người. Tư  
tưởng Áo nghĩa thư chỉ dành cho một  
số ít người, còn lời dạy của đức Phật  
thì dành cho rất nhiều người. Khác  
biệt thứ hai đó là, trong khi Bà-la-môn  
giáo dựa vào sự truyền dạy từ những  
người khác, thì Phật giáo đặc biệt  
nhấn mạnh vào sự tự-nương tựa và  
tự-nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm nhận  
biết chân lý tối hậu. Đệ tử của Phật  
suy tư về chính mình và chỉ chấp  
nhận quan điểm của những người  
khác sau khi đã hoàn toàn được  
thuyết phục. Vì thế, Phật giáo không  
mang tính giáo điều.  
Phật giáo là một trong những tôn giáo  
lâu đời, xuất hiện vào khoảng thế kỷ  
VI trước Công nguyên ở miền Bắc Ấn  
Độ - phía nam dãy Himalaya. Bắt  
nguồn từ phong trào tự do tư tưởng ở  
đông bắc Ấn Độ, kết hợp với một số  
tư tưởng của Áo nghĩa thư (Upanisad),  
Phật giáo đã tạo ra một khuynh  
hướng mới về nhận thức luận, khuynh  
hướng này không lấy vấn đề siêu hình  
làm cốt lõi, mà lấy chính cuộc sống  
của con người làm vấn đề trung tâm.  
Đạo Phật lấy việc tìm hiểu bản chất  
con người là điểm khởi đầu, từ đó chỉ  
ra cách thức để con người thoát khỏi  
nỗi khổ, tìm thấy hạnh phúc vĩnh hằng,  
đó cũng là vấn đề cấp bách của xã hội  
Ấn Độ lúc bấy giờ. Đức Phật cho rằng  
Theo quan niệm của Phật giáo, cuộc  
đời của mỗi con người là một dòng  
chảy vô tận, không có gì là vĩnh hằng,  
cả vũ trụ này là một dòng biến ảo vô  
thường, tự sinh tự diệt, không do một  
vị thần tối cao nào sáng tạo ra. Có  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
CHÂU VĂN NINH – QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY…  
11  
những đoạn kinh kể lại đức Phật luôn (vật chất) bao gồm tứ đại (địa, thủy,  
đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về bản hỏa, phong); thụ, những cái chỉ tình  
chất hiện hữu của con người: tại sao  
con người lại hiện hữu như thế? Tại  
sao con người mang những đặc điểm  
sinh, lão, bệnh, tử? Điều đó là không  
thể tránh khỏi? Có ai làm được điều gì  
khác ngoài điều đó? Có ai thật sự  
thoát khỏi tình trạng đó? Vì thế trong  
nhân sinh quan Phật giáo, vấn đề giải  
thoát cho con người là vấn đề tối cao,  
trung tâm của triết lý Phật giáo vừa  
mang ý nghĩa đạo đức, vừa mang ý  
nghĩa tôn giáo.  
cảm, cảm giác do cảm mà biết, hơi  
nghiêng về tình; tưởng đó là biểu  
tượng, tưởng tượng trí giác, ký ức.  
Theo thuyết danh sắc, cấu tạo con  
người nhìn chung cân bằng giữa vật  
chất và tinh thần; thuyết lục đại, cấu  
tạo con người thiên về phần vật chất;  
thuyết ngũ uẩn thì cấu tạo con người  
thiên về tinh thần. Trong ba thuyết  
trên thì thuyết ngũ uẩn phổ biến hơn  
cả (Nguyễn Hùng Hậu, 2004: 49-50).  
Các tư tưởng truyền thống từ Veda tới  
Upanishad thừa nhận sự tồn tại của  
một thực thể tối cao, sáng tạo ra mọi  
thứ và chi phối cả vũ trụ. Phật giáo  
cho rằng về bản chất thế giới là biến  
ảo vô thường không do ai sáng tạo ra  
từ quá khứ, hiện tại, cho đến tương lai.  
Con người xuất hiện cũng là do quy  
luật nhân quả, đây là quy luật chi phối  
cả vũ trụ, quy luật này có ba giai đoạn  
cơ bản, gồm nhân (hetu), duyên  
(pratitya) và quả (phala). “... cái gì  
phát động ra ở vật, làm cho nó biến  
đổi, gây ra một hay nhiều kết quả nào  
đó gọi là nhân. Cái gì được kết hợp lại  
do một hay nhiều nhân gọi là quả.  
Duyên là điều kiện, là mối liên hệ trợ  
giúp cho nhân (ở trạng thái khả năng),  
biến thành quả (ở trạng thái hiện thực).  
Như thế duyên không chỉ là một cái gì  
đó cụ thể, xác định mà còn là điều  
kiện, sự tương hợp tương sinh nói  
chung giúp cho vạn pháp sinh thành  
và biến đổi” (Doãn Chính, 1998: 239).  
Vì vậy, theo Phật giáo, con người xét  
cho cùng cũng là sự hợp tan của các  
2. CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN  
CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY  
2.1. Bản chất về sự sinh tạo con  
người  
Quan niệm Phật giáo về cấu tạo và  
nguồn gốc xuất hiện của con người  
trên cơ sở các thuyết như: thuyết  
danh sắc, thuyết lục đại, thuyết ngũ  
uẩn. Thuyết danh sắc: các từ “danh”,  
“sắc” có từ thời Upanishad, nhưng  
đến thời đức Phật thì “danh” chỉ yếu tố  
tinh thần, còn “sắc” chỉ yếu tố vật chất,  
theo thuyết danh sắc, con người được  
cấu tạo bởi hai yếu tố, vật chất và tinh  
thần. Thuyết lục đại, cho rằng con  
người được cấu tạo bởi 6 yếu tố: địa  
(đất, xương, thịt); thủy (nước, máu,  
chất lỏng ); hỏa (lửa, nhiệt, khí);  
phong (gió, hô hấp); không (các lỗ  
trong cơ thể); thức (ý thức, tinh thần).  
Trong đó 5 yếu tố thuộc về vật chất,  
chỉ có yếu tố “thức” là thuộc về tinh  
thần. Thuyết ngũ uẩn cho rằng con  
người được cấu tạo bởi 5 yếu tố (ngũ  
uẩn): sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Sắc,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
12  
yếu tố như ngũ uẩn, cho nên về bản là chơn thật, phi chơn nghĩ là phi  
chất chúng ta không phải là một cái gì  
đó bất biến, mà là vô ngã, trong một  
thế giới không có thực tướng. Nhưng  
trong cuộc sống rất nhiều người  
không nghĩ như vậy, họ cho rằng con  
người có ngã cá nhân riêng biệt, cho  
nên để thỏa mãn cái tôi cá nhân đó,  
họ tranh giành nhau, chấp chước hơn  
thua. Phật cho rằng, vì vậy mà họ cứ  
phải mắc vào sự luân hồi mà không  
thể giải thoát được - ““Nó lăng mạ tôi,  
đánh đập tôi, phá hoại tôi, cướp đoạt  
tôi”, ai còn ôm ấp tâm niệm ấy thì sự  
oán hận không thể nào dứt hết” (Viện  
Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1992:  
15).  
chơn. Cứ tư duy một cách đúng đắn,  
người như thế mau đạt tới chơn thật.”  
(Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam,  
1992: 16).  
Phật giáo cho rằng, lý do con người  
tiếp tục ham muốn những gì ngoài khả  
năng của họ là vì họ vô minh với bản  
chất của thực tại. Trong thực tế, mọi  
thứ trong cuộc đời đều duyên sinh với  
nhau, một giáo huấn quan trọng của  
đức Phật trong Kinh Pháp cú là tất cả  
được tạo ra bởi duyên sinh nhân quả  
với nhau. Các pháp đều vô thường,  
duyên sinh trong vòng sinh diệt: không  
có bản tánh, cả tự nhiên, vật chất, tinh  
thần, giác quan hay khái niệm, cụ thể  
hay trừu tượng, hữu cơ hay vô cơ đều  
trong vòng sinh diệt với nhau. Do đó,  
vạn pháp giai không. Áo nghĩa thư cho  
rằng con người mang bản chất thần  
linh thần bí, đức Phật tin rằng với bản  
chất của con người theo lý thuyết trên,  
chắc chắn sẽ vẫn tồn tại ở đời này  
cũng như đời sau. Do đó, theo Phật,  
nhiệm vụ trước hết của con người  
trong cuộc sống là không làm điều sai  
trái, cứ tưởng là cái ngã cố định, và  
Khác với tư tưởng truyền thống của  
Upanishad, cho rằng cái ngã cá nhân  
(Atman) của con người là một bộ  
phận của cái ngã vũ trụ (Brahman) vì  
vậy cái ngã cá nhân cũng sẽ bất biến  
và tồn tại vĩnh hằng cùng với cái ngã  
vũ trụ, cho nên trong cuộc sống trên  
thế gian này con người cần tu luyện  
để cho Atman trở về với Brahman,  
nghĩa là con người đã giải thoát;  
ngược lại, Phật giáo lại cho rằng con  
người sống chết là do duyên tan hay kết quả của việc tưởng tượng sai lầm  
này là bộc lộ bản năng thấp kém của  
mình, cái sân và cái si trong chính  
mình, việc chấp trước vào tự ngã mà  
người ta thường mắc phải.  
hợp của ngũ uẩn, cho nên con người  
không hề có cái ngã bất biến, cuộc  
sống là luôn luôn biến đổi; vô ngã mà  
cứ tưởng là ngã, vô thường lại tưởng  
là thường – đây chính là sai lầm mà  
con người cần phải loại trừ. “11. Phi  
nhơn mà tưởng là chân thật, chân thật  
lại thấy là phi chơn, cứ tư duy một  
cách tà vạy, người như vậy không thể  
đạt tới chân thật. 12. Chơn thật nghĩ  
Phật giáo cho rằng, nhân sinh khổ là  
do ái dục, như trong kinh Chuyển  
pháp luân, đức Phật nói: “Bây giờ hỡi  
này các Tỷ kheo, đây là chân lý cao  
thượng về nguồn gốc của sự khổ.  
Chính ái dục là nguyên nhân của sự  
CHÂU VĂN NINH – QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY…  
13  
tái sinh. Ái hợp với tâm thiết tha, khao 2.2. Nhận diện về sự khổ trong đời  
sống con người  
khát, bám víu cái này, cái kia...” (Giáo  
hội Phật giáo Việt Nam, 2015: 613),  
nghĩa là sự ưa muốn ngũ trần lục dục,  
sự ưa muốn sanh lại có sắc thân.  
Muốn giải thoát khỏi nỗi khổ thì con  
người cần phải: tận diệt phiền não là  
ái dục thì sẽ không còn khổ. Kinh  
Chuyển pháp luân viết: “Bây giờ, hỡi  
các Tỷ kheo, đây là chân lý cao  
thượng về sự diệt khổ. Đó là sự xa  
lánh trọn vẹn và sự tận diệt chính cái  
tâm khát ái ấy. Đó là sự từ bỏ, sự  
thoát ly và sự tách rời khỏi tâm ái dục”  
(Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2015:  
613). Khi từ bỏ ái dục, tức là đã từ bỏ  
được những hành động gây hậu quả  
nghiêm trọng, mà nếu không sẽ người  
đó chìm trong biển luân hồi, tái sinh,  
không thể giải thoát. Với sự tái sinh  
này thì người đó buộc phải rơi vào  
khổ ải và ham muốn trong một kiếp  
khác cũng giống như kiếp này, đó  
chính là sự tiếp diễn không hồi kết, từ  
ham muốn dẫn đến đau khổ, rồi đau  
khổ này lại dẫn đến ham muốn khác,  
cứ như vậy mãi mãi không dứt. Quan  
niệm Phật giáo chỉ cần buông bỏ, từ  
bỏ mọi hành động không tốt, nhất là  
từ bỏ tham ái, dục vọng là con người  
có thể được giải thoát và khi ấy chúng  
sinh sẽ đạt đến trạng thái “chân như”,  
với 5 trạng thái cụ thể: 1. Không có sự  
ưa thích gì trong tâm dầu rất tế vi; 2.  
Dứt bỏ các sự cố chấp; 3. Không  
luyến ái trong các cảnh giới; 4. Thoát  
khỏi sự vui của tam giới; 5. Tự mình  
giải thoát cho mình là quan trọng nhất  
(Maha Thongkham Medhivongs, 1999:  
44-45).  
Phật giáo quan niệm trong cuộc sống,  
vạn vật đều tuân theo quy luật nhân  
quả, theo quá trình sinh (sinh ra), trụ  
(lớn lên, trưởng thành), dị (bệnh tật),  
diệt (chết). Theo thuyết sát na, quá  
trình này có thể diễn ra trong một  
nháy mắt (1 sát na hay 1 niệm) hay  
phải trải qua những quá trình biến đổi  
lâu dài. Thuyết sát na diệt khẳng định  
không có gì tồn tại lâu hơn một sát na.  
Theo Phật giáo truyền thống, vạn vật  
vô thường. Quan niệm này sau đó  
được phát triển xa hơn với quan điểm  
của Long Thọ bồ tát về thập nhị nhân  
duyên, và cho rằng sự khác biệt duy  
nhất trong quá trình tồn tại của một  
sự vật là thời khắc giữa sinh và diệt,  
sự vật không tiếp tục tồn tại như cũ,  
thậm chí chỉ một thời khắc sau khi  
sinh. Nếu một sự vật xuất hiện ra ở  
thời khắc này thì nó sẽ khác đi ở thời  
khắc tiếp theo. Ở đây, chúng tôi chỉ  
đề cập thực tại theo thuyết sát na  
sinh diệt(1) dù là vật chất hay tâm linh,  
đều là một sự lưu chảy, bởi vì không  
có gì trong trạng thái tiếp theo cấu  
tạo nên nó là bất động cả. Do đó mọi  
quan niệm về sự vững chắc đều là ảo  
tưởng.  
Mặc dù Phật giáo xem thực tại là một  
sự tập hợp, nhưng cũng không phủ  
nhận sự vật bên ngoài, không phủ  
nhận tự ngã, cho rằng thực tại thay  
đổi một cách tự nhiên theo thuyết sát  
na diệt. Không có thực tại bên ngoài,  
cũng không có tự ngã tồn tại lâu hơn  
một sát na, nhưng Phật giáo tin rằng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
14  
mọi vật vẫn tiếp tục như là một chuỗi nhân duyên được bắt đầu từ vô minh,  
kéo dài trong thời gian, sự tương đây là điểm đầu tiên dẫn con người  
đồng của một số phần trong sự vật, tới đau khổ. Có vô minh là có “hành”,  
tạo ra trong suy nghĩ sự ảo tưởng về hai cái này không tách rời nhau, như  
sự giống hệt nhau hay sự đồng nhất. vậy có thể hiểu hành là kết quả của vô  
Khi Phật giáo bác bỏ ý niệm về một minh. Hành tạo ra “thức”, ở góc độ  
bản thể thường tồn, thì tự ngã (không nào đó hành về sau cũng là “nghiệp”.  
quan tâm đến yếu tố vật lý) phải được Thức là cái phân biệt. Ngũ uẩn như  
quan niệm là một dòng chảy liên tục một gia đình, trong đó thức là chủ, mà  
của những ý niệm. Bởi vì tự ngã của sắc, thụ, tưởng, hành phải dựa vào.  
một cá nhân ở bất kỳ thời khắc nào, Thức không thể đứng độc lập, phải  
mặc dù không giống như chính nó ở dựa vào “danh sắc”. Con người định  
thời khắc trước, nhưng cũng không hình, tức có danh sắc thì tất phải có  
hoàn toàn khác biệt. Từ thuyết sát na lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, thức),  
diệt, Phật giáo giải thích về nguồn gốc từ đó diễn ra quá trình tiếp xúc với thế  
của sự đau khổ của chúng sinh và các giới xung quanh, cái đó được gọi là  
vấn đề như: tại sao chúng ta lại bị mê xúc. Khi tiếp xúc với thế giới xung  
lầm, tại sao chúng ta phải chịu sự luân quanh tạo cho con người cảm giác,  
hồi sinh tử… Thuyết thập nhị nhân tình cảm đó là “thụ”. Từ tình cảm dẫn  
duyên chỉ ra nguồn gốc nỗi khổ của đến đam mê tức “ái”, ái cũng chính là  
con người và từ đó chỉ ra cách thức tham; tham muốn chiếm lấy, nắm giữ,  
để cho con người thoát khỏi nỗi khổ đó là “thủ”; chiếm giữ được rồi thì  
đó. Thập nhị nhân duyên gồm: vô muốn có lâu dài, đó là “hữu”; khi chết  
minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, lại tìm mọi cách để tái sinh. Mặt khác,  
xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. trong quá trình tồn tại con người lại  
Trong đó, “vô minh” được hiểu như gây nghiệp nên buộc họ phải tái sinh  
một cái gì đó không sáng tỏ, mờ tối, để trả quả. Đã có sinh thì tất phải có  
che khuất bản tính tự nhiên trong lão và tử đi theo, như là hai mặt của  
sáng của con người. Theo Kimura một vấn đề (Nguyễn Hùng Hậu, 2004:  
Taiken trong Nguyên thủy Phật giáo 69-70). Như vậy, theo Phật giáo,  
tư tưởng luận, “vô minh” được hiểu nguyên nhân của mọi đau khổ đều bắt  
theo nghĩa bao hàm cả tham, sân, si. nguồn từ vô minh, cũng vì vô minh mà  
Kinh Pháp cú viết: “Không lửa nào con người luôn phải đấu tranh, tranh  
bằng lửa tham dục, không cố chấp giành để thỏa mãn các ham muốn của  
nào bền bằng tâm sân giận, không cái ngã cá nhân, khiến con người  
lưới nào trói buộc bằng lưới ngu si, vướng vào bể khổ triền miên, gây ra  
không dòng sông nào chìm đắm bằng những hậu quả, nghiệp báo ở kiếp  
sông ái dục” (Viện Nghiên cứu Phật sau, mà không hề biết rằng cả thế  
học Việt Nam, 1992: 57). Thập nhị gian này là giả tướng, Kinh Pháp cú  
CHÂU VĂN NINH – QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY…  
15  
viết: ““Đây là con ta, đây là tài sản của hình” (Viện Nghiên cứu Phật học Việt  
Nam, 1992: 15).  
ta”, kẻ phàm phu thường lo nghĩ như  
thế, nhưng chẳng biết chính ta còn  
không có, huống là con ta hay tài sản  
ta” (Viện Nghiên cứu Phật học Việt  
Nam, 1992: 25).  
Sau khi chứng ngộ, từ chứng nghiệm,  
đức Phật cho rằng: 1). Sự hiện hữu  
của con người có đặc điểm từ bản  
chất sâu bên trong, thông qua một  
cách thức nhất định; 2). Có những  
nhân tố cụ thể làm thành những vòng  
lẩn quẩn liên tục; 3). Có thể dừng lại  
được tình trạng luân hồi ấy; 4). Có  
một con đường để giải thoát. Từ quan  
niệm về con người như thế, Phật giáo  
vạch ra nguồn gốc của nỗi khổ và con  
đường dẫn đến sự diệt khổ nhằm giải  
thoát chúng sinh khỏi bể khổ cuộc  
đời bằng “Tứ diệu đế” và “Bát chánh  
đạo”.  
2.3. Con đường giải thoát khỏi nỗi  
khổ  
Trong quan niệm về con người, Phật  
giáo chia ra làm hai phần cơ bản là  
phần “danh” và phần “sắc”. Phần sắc  
hay còn gọi là hình chất gồm 4 yếu tố  
(đất, nước, lửa và không khí), và phần  
danh hay tâm gồm 4 nguyên tố thụ  
(Vedana), tưởng (Samjna), hành  
(Samskara) và thức (Vijnăna). Trong  
đó danh (tâm) là quan trọng nhất, bởi  
vì từ tâm mà con người suy nghĩ, từ  
suy nghĩ dẫn dắt con người hành  
động, nếu suy nghĩ sai thì hành động  
sai, và ngược lại. Cho nên trong bất  
cứ trường hợp nào thì 4 yếu tố cấu  
tạo nên tâm cũng phải được nhận  
thức với tri kiến chân chính theo đúng  
tự tướng của nó. Khi ấy tâm sẽ thanh  
tịnh, con người sẽ kìm chế và loại bỏ  
những ham muốn do vô minh gây ra.  
Vì vậy tâm luôn là yếu tố trọng tâm, là  
yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề  
nghiệp báo. Kinh Pháp cú viết: “1.  
Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là  
chủ, tâm tạo tác. Nếu nói năng hoặc  
hành động với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ  
theo nghiệp báo kéo đến như bánh xe  
lăn theo chân con thú kéo xe. 2. Trong  
các pháp tâm dẫn đầu, tâm làm chủ,  
tâm tạo tác. Nếu nói năng hoặc hành  
động theo tâm thanh tịnh, sự vui vẻ sẽ  
Chân lý lớn thứ nhất trong Tứ diệu đế  
là Khổ đế (Dukkha), Phật cho rằng  
con người sinh ra là khổ, nước mắt  
chúng sinh nhiều hơn nước biển, bởi  
vì chúng ta phải chịu nghiệp báo từ  
nhiều kiếp trước theo quy luật nhân  
quả mà chúng ta không được biết  
trước, chung quy lại chúng ta có 8  
điều khổ: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly,  
oán tăng hội, cầu bất đắc và ngũ ấm  
thịnh khổ(2). Tất cả nỗi khổ này đều có  
nguyên nhân của nó (Tập đế -  
Samudaya) - đây là chân lý lớn thứ  
hai. Bất kỳ dục vọng nào gây ra sự tái  
sinh và ràng buộc chặt chẽ với các thú  
đam mê và những thỏa mãn khi này  
khi khác, đều do vô minh gây ra, làm  
cho chúng ta mắc vào tham, sân, si.  
Kinh Pháp cú viết: “Không lửa nào  
bằng lửa tham dục, không ác nào  
bằng ác sân si, không khổ nào bằng  
theo nghiệp kéo đến như bóng theo khổ ngũ uẩn, và không vui nào bằng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
16  
vui Niết bàn” (Viện Nghiên cứu Phật con đường đã chọn để tới giác ngộ và  
học Việt Nam, 1992: 49). Tiếp đến là tránh không để bất cứ điều gì làm xa  
chân lý về Diệt đế (Nirodha), đây là sự rời con đường đã chọn. Ngoài Bát  
diệt trừ tuyệt đối và điềm tĩnh lòng dục chánh đạo, Phật giáo còn đưa ra các  
- xóa bỏ vô minh, giải thoát khỏi dục pháp tu khác cho hàng Phật tử nhằm  
vọng. Cuối cùng là chân lý về Đạo đế ngăn ngừa điều ác, làm việc thiện như  
(Marga) đó là con đường để chúng ta Lục độ và Ngũ giới. Ngũ giới (năm  
đạt tới Niết bàn. Để thực hiện được điều răn) gồm: không sát sinh, không  
con đường này chúng ta phải thực đạo tặc, không dâm dục, không vọng  
hành theo Bát chánh đạo và tu theo ngữ, không ẩm tửu, và Lục độ (sáu  
lục giới, “Bát chánh đạo là đạo thù phép tu) gồm: bố thí, trì giới, nhẫn  
thắng hơn các đạo. Tứ đế là lý thù nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ.  
thắng hơn các lý, lý dục là pháp thù  
Trong quan điểm truyền thống của Ấn  
thắng hơn các pháp, cụ nhãn là bậc  
Độ, nội dung của các Áo nghĩa thư  
thù thắng hơn các bậc thánh hiền. Chỉ  
có con đường này, chẳng còn con  
luật để cho tự ngã trở thành Brahman  
đường nào khác có thể làm cho tri  
cũng có những điều chú trọng vào giới  
gần tương tự. Theo Áo nghĩa thư,  
kiến các ngươi thanh tịnh. Các ngươi  
cách trực tiếp để đạt đến mục đích tối  
thuận làm theo thì bọn ma bị rối loạn”  
hậu, thậm chí khi mục đích ấy được  
(Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam,  
quan niệm là việc nhập vào tự tánh  
1992: 61). Bát chánh đạo gồm: Chính  
kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính  
nhấn mạnh vào dharma (pháp) theo ý  
nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến,  
chính niệm và chính định. Chính kiến  
“ngọn đèn của cuộc sống”, và chỉ cho  
là nhận thức đúng, nhìn nhận rõ điều  
của Brahman, là yoga, thì đức Phật  
nghĩa đạo đức, được mô tả như là  
đức hạnh viên mãn hay đời sống  
gì nên làm điều gì không nên làm,  
thánh nhân, không đơn thuần là  
không nên để những điều sai trái che  
những giáo điều.  
đi sự sáng suốt, Chính tư duy là suy  
3. KẾT LUẬN  
nghĩ đúng đắn, Chính nghiệp hành  
Kimura Taiken (1969: 19) từng nhận  
xét về Phật giáo: “Đối với nhân sinh,  
Phật giáo cho là khổ, bởi vậy mới lấy  
tự do, giải thoát làm tiêu chuẩn lý  
tưởng. Song sự khổ não và trói buộc  
ấy không phải thực sự tồn tại khách  
quan, mà là căn cứ vào thái độ của  
tâm ta cả, nghĩa là cứ khư khư chấp  
lấy cái ‘ngã’ giả dối là cái ‘ta’ chân  
thực, rồi trù mưu, tính kế để làm cho  
nó thỏa mãn mọi ham muốn của cái ta  
động và làm việc theo lẽ phải, không  
làm những gì gian trá, Chính ngữ nói  
những điều đúng, không nói những  
điều sai lầm giả dối, Chính mệnh sống  
trung thực, nhân nghĩa, không tham  
lam, Chính tinh tiến nỗ lực vươn lên  
một cách đúng đắn, Chính niệm luôn  
suy nghĩ, luôn tâm niệm đến điều tốt,  
không được tâm niệm, suy nghĩ  
những điều xấu xa, Chính định kiên  
định tập trung tư tưởng tâm trí vào  
CHÂU VĂN NINH – QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY…  
17  
ấy, nên mới có khổ não, trói buộc. nghiệm đời sống của con người của  
Nếu ta có thể vượt hẳn ra ngoài vòng Phật giáo. Đồng thời, dựa trên sự  
tham dục của cái ‘ngã’ nhỏ nhoi ấy, ta nhận thức về bản chất đó của con  
sẽ thấy một cảnh giới tự do và yên vui người, đạo Phật cũng đã đưa ra nhiều  
vô hạn”. Đây có thể xem là những lời phương pháp tu tập khác nhau nhằm  
nhận xét sâu sắc và xác đáng đối với giúp con người thoát khỏi vô minh, đạt  
quan niệm về con người và trải đến cảnh giới an lạc, hạnh phúc.  
CHÚ THÍCH  
1. Sát na sinh diệt: trong khoảng khắc 1 sát na có cả sinh và diệt, chỉ muôn pháp sinh ra  
trong từng sát na, và mất đi cũng trong từng sát na, chuyển động liên tục không ngừng.  
(Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2004: 1062).  
2. Nỗi khổ vì năm ấm hưng thịnh. Là 1 trong 8 nỗi khổ của chúng sinh. Thịnh ở đây có 2  
nghĩa: một là nói về khổ thì mỗi người đều có đủ năm ấm mà bao nỗi khổ đều rất thịnh, nên  
gọi là thịnh. Hai là năm ấm ví như những thứ đồ chín, chứa đựng mọi nỗi khổ, nên gọi là  
thịnh (vì chữ thịnh có nghĩa là thịnh vượng và chứa đựng) (Giáo hội Phật giáo Việt Nam,  
2004: 773)  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Doãn Chính. 1998. Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại. Hà Nội: Nxb. Chính trị  
Quốc gia.  
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 2004. Từ điển Phật học Hán Việt. Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 2015. Tương ưng bộ kinh (Thích Minh Châu dịch). Hà  
Nội: Nxb. Tôn giáo.  
4. Kimura Taiken. 1969. Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (Thích Quảng Độ dịch). Sài  
Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh.  
5. Maha Thongkham Medhivongs. 1999. Lịch sử đức Phật Cồ Đàm. TPHCM: Nxb.  
TPHCM.  
6. Nguyễn Hùng Hậu. 2004. Triết lý trong văn hóa phương Đông. TPHCM: Nxb. Đại học  
Sư phạm.  
7. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. 1992. Kinh Pháp cú (Thích Thiện Siêu dịch).  
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.  
pdf 8 trang Thùy Anh 10200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan niệm của Phật giáo nguyên thủy về bản chất con người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_niem_cua_phat_giao_nguyen_thuy_ve_ban_chat_con_nguo.pdf