Hoạt động khai mỏ của người Hoa ở Đàng Ngoài: Một số tác động tới xã hội Đại Việt và Trung Hoa thế kỷ XVII-XIX

Hoạt động khai mỏ của người Hoa ở Đàng Ngoài:  
Một số tác động tới xã hội Đại Việt và Trung Hoa  
thế kỷ XVII-XIX  
Trần Xuân Thanh(*)  
Tóm tắt: Bài viết đưa ra một số nguyên nhân nhằm lý giải sự xuất hiện các hoạt động  
khai mỏ của thương nhân và lao động người Hoa trong các mỏ khoáng sản ở vùng thượng  
du Đàng Ngoài từ cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX; phân tích và đánh giá một số  
tác động từ các hoạt động khai mỏ của người Hoa đối với Đại Việt và Trung Hoa trong  
giai đoạn này.  
Từ khóa: Người Hoa, Hoạt động khai mỏ, Đại Việt, Thế kỷ XVII-XIX  
Abstract: The paper explains the occurrence of mineral mining activities of Chinese  
traders and laborers in the upland of Dang Ngoai from the end of the seventeenth century  
to the first half of the nineteenth century; analyzes and evaluates some impacts of Chinese  
mining activities on Dai Viet and China during this period.  
Keywords: Overseas Chinese, Mining, Dai Viet, XVII-XIX Centuries  
1
Lời mở  
1. Về sự xuất hiện các hoạt động khai mỏ  
của người Hoa ở Đàng Ngoài  
Những yếu tố về vị trí địa lý, không  
gian giao lưu kinh tế thuận lợi, nguồn tài  
nguyên thổ sản dồi dào cũng như sự cởi mở  
về môi trường chính trị và kinh tế của chính  
quyền Đại Việt trong các thế kỷ XVII-XIX  
là những động lực mạnh mẽ cuốn hút các  
cộng đồng người Hoa ở khu vực Nam  
Trung Hoa vượt qua biên giới, tràn vào các  
mỏ khoáng sản ở khu vực thượng du Đàng  
Ngoài của Đại Việt. Hoạt động khai mỏ ở  
đây của người Hoa diễn ra một cách mạnh  
mẽ trong một thời gian dài đã tác động  
nhiều mặt tới xã hội Đại Việt.  
Thế kỷ XVII-XVIII, dưới thời kỳ của  
các vua Lê chúa Trịnh, các trấn Tuyên  
Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thái  
Nguyên, Cao Bằng thuộc Đàng Ngoài được  
xem là khu vực có vị trí quan trọng của Đại  
Việt, đây cũng là vùng biên giới tiếp giao  
giữa Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa. Sự  
phong phú và đa dạng về vị trí địa lý, địa  
chất thổ nhưỡng đã khiến khu vực này trở  
thành một nguồn cung cấp tài nguyên đầy  
tiềm năng, duy trì sự sinh tồn và phát triển  
của các cộng đồng cư dân ở đây qua nhiều  
biến động của lịch sử.  
(*) ThS., NCS., Trường Đại học Khoa học xã hội và  
nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;  
Từ đầu thế kỷ XV, ngay sau khi đánh  
bại nhà Hồ, triều Minh đã cho thiết lập các  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
38  
hoạt động khai khoáng ở Đại Việt. Theo trong các thế kỷ XVII-XIX1 dẫn đến sự gia  
nghiên cứu của Cao Hùng Trưng (2017: tăng nhu cầu đối với một số kim loại như  
170), xét theo giấy tờ khai báo của các phủ vàng, bạc, đồng...  
huyện, ở Đại Việt giai đoạn này có tới 98  
Các nhóm phu mỏ người Hoa ở thượng  
nơi có mỏ vàng: phủ Thái Nguyên có 17 du Đàng Ngoài chủ yếu có nguồn gốc từ  
nơi, phủ Lạng Sơn có 4, châu Quảng Oai có Khai Hóa (thuộc Vân Nam), Quảng Tây  
59, châu Gia Hủy có 5, châu Ninh Hóa có và Hồ Nam (Lê Quý Đôn, 2007: 389-390),  
3, châu Qùy có 1, châu Ngọc Ma có 6, châu trong đó có người Hóa Thường, người  
Trà Lung có 3.  
Nùng, người Răng vàng, người Tạo, người  
Sau khi Đại Việt đánh bại nhà Minh, Ngô Ngàn… Những người Hóa Thường  
hoạt động khai mỏ ở khu vực chủ yếu do và người Tạo trực tiếp tham gia khai mỏ  
triều đình nhà Lê quản lý. Mô hình quản ở Đàng Ngoài. Những người Hóa Thường  
lý hoạt động kinh tế đặc thù này sau đó này “đều là người Hồ Nam, có tài biết được  
tiếp tục được duy trì trong thời kỳ Lê - khí sắc vàng, bạc, sắt, đồng, đi đến đâu họp  
Trịnh. Chính quyền cho phép các quan lại bè bạn, mở phố xá, đào lò nấu quặng, siêng  
triều đình, thổ tù địa phương và đặc biệt là năng và làm việc quanh năm, ăn mặc và cắt  
các thương nhân người Hoa tham gia vào tóc như người phương Bắc, không đem vợ  
các hoạt động khai mỏ. Chính sách này con đi theo” (Lê Quý Đôn, 2007: 389). Họ  
tạo điều kiện cho hàng vạn phu mỏ người “thỉnh thoảng trở về quê, đem theo số vàng  
Hoa hoạt động trên khắp phạm vi Đàng bạc đã khai lấy được. Họ ở xưởng đồng  
Ngoài. Theo Ngô Thì Sĩ, Đàng Ngoài thời Tụ Long ước ba, bốn ngàn người, cũng  
kỳ này có đến 5, 6 vạn Hoa kiều, trong số ở cả Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hóa  
này “phần lớn làm nghề khai mỏ”, đa số là nữa” (Lê Quý Đôn, 2007: 389-390). Ngoài  
thương nhân và phu mỏ ở miền Vân Nam, những phu mỏ có nguồn gốc từ Hồ Nam,  
Quảng Tây, Triều Châu, Thiều Châu qua “lại có một hạng phu mỏ người Triều Châu,  
biên giới đến ngụ ở 6 trấn Lạng Sơn, Thái cũng hay làm việc khai khẩn, nhưng tính  
Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao tình tham lam hung hãn, hay tranh cướp  
Bằng, An Quảng (Dẫn theo: Phan Huy Lê, giết người. Hạng người này ở Thái Nguyên  
1963: 56).  
rất nhiều, Tuyên Quang, Hưng Hóa không  
Lý giải về việc các thương nhân và có” (Lê Quý Đôn, 2007: 390).  
phu mỏ người Hoa di dân xuống phía Nam,  
Sang thế kỷ XIX, trong các lĩnh vực  
chúng tôi cho rằng các yếu tố chính trị và như đồn điền hay khai thác mỏ, người Hoa  
kinh tế đóng vai trò là lực hút và lực đẩy nhận được sự ủng hộ của triều Nguyễn.  
trong các quá trình di dân này. Trong đó, Trong hoạt động khai mỏ, người Hoa được  
những biến động và phức tạp về chính trị, phép tuyển chọn và thuê nhân công. Nhà  
xã hội trong lòng xã hội Trung Hoa đóng Nguyễn cũng tích cực sử dụng người Hoa  
vai trò là lực đẩy. Ngược lại, nguồn tài  
nguyên dồi dào của miền thượng du Đàng  
Ngoài hay những cởi mở trong chính sách  
quản lý của chính quyền Đại Việt là sức  
hút mạnh mẽ. Bên cạnh đó, áp lực từ việc  
gia tăng dân số nhanh chóng tại Trung Hoa  
1 Theo David S. Landes (2001), dân số Trung Hoa  
từ khoảng 65-80 triệu dân vào khoảng năm 1400 đã  
tăng dần lên 100-150 triệu năm 1650, lên 200-250  
triệu năm 1750, lên trên 300 triệu vào cuối thế kỷ  
XVIII, và lên 400 triệu năm 1850.  
Hoạt động khai mỏ…  
39  
để phát triển các nghề đúc đồng, luyện thép,  
Với các chính sách kể trên của chính  
lọc đãi vàng, làm gốm sứ (Châu Hải, 1994: quyền Đại Việt, không khó để lý giải tại sao  
32-37), đúc tiền (Nguyễn Văn Đăng, 2001: thương nhân người Hoa lại có vai trò lớn  
36-38),… Nhờ vậy, các nghề thủ công dưới trong nền kinh tế công thương nghiệp của  
triều Nguyễn như đúc tiền, luyện gang, Đàng Ngoài thế kỷ XVII. Sau một chuyến  
làm gốm và đúc đồng rất phát triển. Đây du hành đến Đàng Ngoài vào năm 1688,  
được xem là sự thành công của việc vận William Dampier đã nhận định rằng, trong  
dụng chính sách “Lai bách công” (thu hút khi ở vùng châu thổ người Hoa nắm giữ  
trăm nghề đến với mình) của triều Nguyễn thương mại, thì ở vùng thượng du họ cũng  
(Châu Thị Hải, 1998: 170-177; 1999: 68), nắm quyền khai thác lâm thổ sản (Dampier,  
nhất là trong hoạt động khai mỏ.  
2. Những tác động tới xã hội Đại Việt  
2011: 85).  
Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn  
Những ưu thế về kinh nghiệm, kỹ thuật cho biết, ở “châu Sơn La, có mỏ Yết Ong  
khai mỏ và nguồn vốn của người Hoa đã ở động Hiếu Tề, sản xuất vàng tốt, người  
giúp họ trở thành một lực lượng chi phối Trung Quốc mở xưởng khai lấy và lọc vàng,  
nhiều công trường khai mỏ ở thượng du mỗi năm nộp thuế 1 dật 2 lạng” (Lê Quý  
Đàng Ngoài trong suốt một thời gian dài, Đôn, 2007: 360). Trong suốt một thời gian  
đặc biệt là từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế dài, chính quyền nhiều khi xem khai mỏ  
kỷ XIX. Những phu mỏ vốn có nguồn gốc “chỉ cốt thu thuế cho đủ, nhưng nhiều khi  
xuất thân từ khu vực Hoa Nam (Phúc Kiến, thuế nộp cho nhà nước mười phần không  
Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây...), có được một” (Viện Nghiên cứu Hán Nôm,  
kinh nghiệm và tay nghề cao nên có cách 1991: 72). Sau khi chính quyền Lê - Trịnh  
quản lý và tổ chức làm việc hợp lý. Với lần đầu tiên thực hiện chế độ quản giám,  
“sự phân công, hợp tác giản đơn trong từng thể hiện sự độc quyền quản lý việc khai mỏ  
khâu của quá trình khai thác” cũng như các từ năm 1760, hoạt động khai mỏ của người  
phương thức quản lý tốt của thương nhân Hoa mới đi vào quy củ và góp phần đem  
và các phương thức khai thác hiệu quả của lại một nguồn thuế mỏ nhất định cho chính  
thợ mỏ, năng suất lao động trong các mỏ quyền Đại Việt (Trần Thị Vinh, 2017: 205),  
do người Hoa lĩnh trưng cao hơn hẳn so với như Phan Huy Chú (1992: 263) từng khẳng  
các mỏ do người Việt quản lý và khai thác định: “Mối lợi về hầm mỏ phần nhiều ở các  
(Trần Thị Vinh, 2007: 221). Hơn nữa, dưới xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên,  
chính quyền Lê - Trịnh, triều đình không Lạng Sơn... Việc chi dụng của nhà nước sở  
trực tiếp quản lý các trường mỏ mà giao dĩ được dồi dào là do ở thuế các mỏ nộp  
cho các quan lại và thổ tù ở địa phương đầy đủ”.  
quản lý. Sự quản lý có phần lỏng lẻo của  
Bên cạnh những thất thoát về thuế, tình  
chính quyền Lê - Trịnh cộng với chính sách trạng thất thoát tài nguyên do hoạt động  
miễn thuế 5 năm đầu cho người Hoa đã tạo khai mỏ của người Hoa gây ra cũng hết  
điều kiện thuận lợi cho họ trong các hầm sức nghiêm trọng: “Từ xưa các đế vương  
mỏ. Đến nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn trị thiên hạ, không ai là không quản lý của  
quy định người Hoa đến Đại Việt định cư cải để tụ họp dân? Nhưng cái nguồn sinh  
được miễn nhiều loại thuế trong 3 năm đầu ra của cải là ở trời đất, mà cách quản lý  
(Châu Hải, 1994: 32-37).  
của cải là ở người trên, nếu không xếp đặt  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
40  
có phương pháp thì sao của cải lưu thông năm 1885 là một trong những tổn thất lớn  
mà đủ dùng được” (Phan Huy Chú, 1992: nhất của Việt Nam trong bối cảnh quốc gia  
85). Thực chất, “những mỏ do Hoa thương bị mất chủ quyền.  
lĩnh trưng không góp ích gì cho việc tích  
Sự bùng nổ các hoạt động khai mỏ của  
lũy của cải cũng như việc kích thích đẩy người Hoa tại vùng thượng du miền Bắc  
mạnh trao đổi hàng hóa ở nước ta. Sau một Đại Việt cũng kéo theo những làn sóng di  
thời gian khai thác bọn chủ mỏ chỉ nạp lại dân người Hoa tại các khu vực vùng biên  
một phần nhỏ thuế cho nhà Nguyễn, phần viễn, tiềm ẩn và bùng phát nhiều yếu tố gây  
còn lại chúng mang hết về nước” (Trương mất ổn định xã hội như tệ nạn xã hội, cướp  
Thị Yến, 1981: 60). Trước thực trạng này, bóc, thổ phỉ… Tại Trung Hoa, việc nhà  
chính quyền đã tìm cách kiểm soát chặt Thanh xóa bỏ chính sách hải cấm mà nhà  
chẽ việc thu thuế và phạt nghiêm các vị Minh ban bố trước đây khiến “các sự mậu  
quan phụ trách khai mỏ không hoàn thành dịch của người Hoa với Đông Nam Á và sự  
nhiệm vụ. Chẳng hạn năm 1761, Chúa di dân của họ đến đây đã tăng lên gấp bội”  
Trịnh đã bãi chức Lưu thủ Bùi Thế Khanh (Nguyễn Thế Anh, 2017: 282). Bên cạnh  
vì vị quan này đã gian lận, khai thác không đó, sau khi nhà Minh sụp đổ, tình trạng  
phép hai mỏ vàng và một mỏ kẽm (Phan “người khách [người Hoa] đến ngụ ở nước  
Huy Chú, 1992: 78).  
ta, có hạng khai mỏ lấy của, có hạng thuê  
Dưới triều Nguyễn, Vua Minh Mạng ruộng cày cấy, có hạng ngồi một nơi mà  
lệnh cho chính quyền các tỉnh ở Bắc Thành buôn, có hạng đi lại mà buôn, có hạng ở lẫn  
chỉ được phép cho Hoa kiều sang làm thuê lộn với dân ta, có hạng thành lập xóm riêng,  
và buôn bán cũng như chỉ được lưu thông đâu đâu cũng có mà ở 6 trấn Lạng, Thái,  
các kim loại quý như vàng, bạc ở phạm vi Tuyên, Hưng, Cao, Quảng càng nhiều, ước  
trong nước chứ không được đưa qua biên chừng số người hiện có cũng gần xấp xỉ dân  
giới. Những ai vi phạm sẽ bị phạt 100 ta” (Phan Huy Lê, 1963: 56). Theo Ngô Thì  
trượng, tịch thu vàng, bạc và tùy theo số Sĩ, ngoài 5, 6 vạn Hoa Kiều ở Đàng Ngoài,  
lượng ít hay nhiều mà quy định mức phạt: còn có 6 ngàn ở Hội An, ở các thành thị  
từ 50 đến 120 lạng thì cứ 10 lạng gia tăng khác thì không kể hết (Dẫn theo: Vũ Duy  
thêm một bậc, từ 120 lạng trở lên thì bị xử Mền, 2002: 60-68).  
giảo giam hậu (Phan Huy Lê, 1963: 59).  
Năm 1767, Chúa Trịnh sai Nguyễn  
Ngô Thì Sĩ từng ghi lại, ở vùng Cao Bằng Đình Huấn, Ngô Thì Sĩ đến mỏ Tống Tinh  
và Tuyên Quang, người Hoa “thường từng điều tra đã phát hiện thực trạng nhiều quan  
đoàn năm, mười người đi ra khỏi cửa ải, giám đương đã thuê “khách ngoại quốc đến  
có khi giả chở sa nhân đi theo đường cái lấy để thu được nhiều thuế. Bấy giờ mỗi  
nhưng lén lút nhờ người địa phương chở mỏ có phu làm thuê đến hàng vạn” (Phan  
bạc đi theo đường tắt trong rừng núi; có khi Huy Chú, 1992: 263). Phu mỏ và tào hộ,  
bọn đồn tuần ăn hối lộ cố tình thả cho đi” phần nhiều là người ở Triều Châu và Thiều  
(Dẫn theo: Phan Huy Lê, 1963: 59). Cùng Châu, tụ tập nhau thành từng đoàn, hay  
với những hạn chế, sai lầm trong việc thực đánh giết nhau, khiến cho xã hội khu vực  
thi chính sách khai mỏ của vương triều này rối loạn.  
Nguyễn, việc chính quyền đô hộ Pháp để  
Theo tính toán, dân số miền Bắc Việt  
mất mỏ đồng Tụ Long về tay nhà Thanh Nam từ thế kỷ XVI-XVIII ước lượng vào  
Hoạt động khai mỏ…  
41  
khoảng 5 đến 6 triệu người (Li Tana, 1997: cuối cùng triều đại nhà Minh không chỉ liên  
26). Dân số Trung Quốc năm 1600 thời quan đến cuộc tranh chấp giữa các đảng  
Minh đã vào khoảng 200 triệu người, và phái chính trị, mà còn bắt nguồn từ sự thiếu  
đến năm 1800 tăng lên 350 triệu (Martier, hụt các nguồn kim loại làm nguyên liệu cho  
2006: 40-41). Trong khi đó, ước lượng số việc đúc tiền.  
người Hoa ở Đại Việt lúc đó lên đến hàng  
Trong khoảng những năm từ 1570  
chục vạn người. Mặc dù các chúa Trịnh đến 1630, các hoạt động thương mại giữa  
đã chủ trương “Việt hóa” người Hoa bằng Trung Quốc - Tây Ban Nha ở Manila và  
cách quy định “dân ở ven biên giới không Trung Quốc - Bồ Đào Nha ở Macao đã  
được bắt chước tiếng nói và đồ mặc của giúp vận chuyển đến Trung Quốc hàng  
phương Bắc (Viện Sử học, 1998: 373), triệu kilogram bạc từ châu Mỹ, châu Âu,  
nhưng trên thực tế, triều đình khó có thể Trung Đông, Ấn Độ và Nhật Bản. Hoạt  
sâu sát tới các khu vực thượng du hiểm trở, động này đóng vai trò là một xung lực thúc  
xa xôi, không đủ lực lượng để giám sát đến đẩy toàn bộ nền kinh tế nhà Minh lúc này  
tận các mỏ, lại coi nhẹ sự hỗn loạn vô tổ (Goldstone, 1988: 116). Trong 72 năm cuối  
chức của đám người sẵn sàng chém giết của nhà Minh (1572-1644), đã có hơn 100  
lẫn nhau để tranh nhau từng hầm mỏ. Thực triệu đồng bạc nước ngoài được nhập vào  
trạng này còn diễn biến phức tạp hơn trong Trung Hoa (Ray Huang, 1969: 124-125).  
những thập niên 60-70 của thế kỷ XVIII, Bên cạnh việc khai thác các mỏ bạc trong  
thời điểm nhà Tây Sơn gặp nhiều khó khăn nước, việc lưu thông rộng rãi bạc đã làm  
khi phải đối mặt với hàng vạn phu mỏ (còn thay đổi đáng kể nền kinh tế của quốc gia  
gọi là lực lượng xưởng dân) người Hoa này. Các cuộc chiến tranh và việc mở rộng  
bị nhà Thanh chiêu dụ trở thành nội ứng bộ máy hành chính vào thời nhà Thanh  
chống lại Đại Việt.  
3. Một số ảnh hưởng đối với Trung Hoa  
cũng đòi hỏi một lượng lớn bạc và tiền  
đồng phục vụ cho nhu cầu của nhà nước  
Trong nhiều giai đoạn lịch sử, khu (Atwell, 2005: 467-489). Nếu các kim  
vực miền Nam Trung Hoa đóng vai trò loại này không được cung cấp đầy đủ thì  
thiết yếu trong việc thiết lập một trật tự hệ thống chính trị Trung Hoa lúc bấy giờ  
xã hội ổn định cho cả khu vực biên giới trở nên rất dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó,  
phía Nam của Trung Hoa. Trong các thế kỷ các hầm mỏ ở miền Bắc Việt Nam là nơi  
XVI-XVII, Trung Hoa mặc dù được xem cung cấp việc làm dồi dào cho các di dân  
là một trong các quốc gia có nền kinh tế và nông dân ở phía Nam Trung Hoa bị bần  
thủ công nghiệp và thương mại phát triền cùng hóa sau cuộc chính biến lật đổ nhà  
cường thịnh, nhưng lại thường xuyên ở vào Minh và thiết lập triều đại Mãn Thanh vào  
tình trạng “đói” bạc và đồng. Điều này lý những năm 1640 của thế kỷ XVII. Theo  
giải cho việc chính quyền Trung Hoa buộc phản ứng dây chuyền, sự ổn định về chính  
phải tăng cường tìm kiếm các nguồn cung trị ở khu vực phía Nam Trung Hoa cũng sẽ  
đáp ứng nhu cầu trao đổi tài chính cho thị góp phần ổn định hệ thống chính trị Trung  
trường rộng lớn và khổng lồ này. Vào cuối Hoa trong một chừng mực nhất định.  
thời kỳ nhà Minh, quy mô của nền kinh tế  
Hơn nữa, mặc dù chỉ chiếm khoảng  
ngày càng lớn khiến nhu cầu sử dụng bạc ở 7% diện tích đất đai trên Trái đất, nhưng  
quốc gia này lên cao. Cái chết của hoàng đế Trung Hoa luôn ở trong tình trạng phải đáp  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
42  
ứng nguồn lương thực để nuôi sống 15% trị và kinh tế thời kỳ Lê - Trịnh là những  
đến 20% dân số thế giới. Một trong những động lực lớn khiến các cộng đồng người  
nguyên nhân dẫn đến tình trạng “đất hiếm Hoa đến khai mỏ ở Đàng Ngoài của Đại  
người đông” này là do chiến lược tái sinh Việt trong các thế kỷ XVII-XVIII. Sự nhập  
sản lâu dài của các triều đình Trung Hoa cư ồ ạt của người Hoa từ sau phong trào  
trong một thời gian dài, theo đó hầu hết phản Thanh phục Minh và sự hình thành  
nam nữ sinh ra đều lập gia đình sớm và có đông đảo các cộng đồng người Hoa ở Đàng  
nhiều con bất chấp điều kiện vật chất. Sự Trong như một thực thể dân cư tương đối  
đông dân cũng khiến nhu cầu bành trướng ổn định trong xã hội Việt Nam từ thế kỷ  
lãnh thổ và tìm kiếm các nguồn tài nguyên XVIII-XIX kết hợp với những yếu tố thuận  
ngoài lãnh thổ của Trung Hoa trở nên cấp lợi về chính sách của các chúa Nguyễn,  
bách hơn. Sự gia tăng dân số ở Trung Hoa và sau đó là của các vua đầu triều Nguyễn  
thực tế là kiểu tái sản xuất tối đa nhằm tăng cũng được xem là cơ sở xuất hiện và hình  
cường quyền lực chính trị cả về lực lượng thành các hoạt động khai mỏ với quy mô  
con người để chiến đấu và lực lượng vật lớn của người Hoa ở miền Bắc Việt Nam  
chất (lương thực, thực phẩm nuôi quân đội trong nửa đầu thế kỷ XIX.  
để bành trướng lãnh thổ) (Landes, 2001).  
Hoạt động khai mỏ của người Hoa ở  
Do đó, lợi ích từ các nguồn mỏ ở miền Bắc miền thượng du Đàng Ngoài không chỉ tác  
Việt Nam trong các thế kỷ XVII-XVIII động nhiều mặt đối với xã hội Đại Việt mà  
được xem là động lực thúc đẩy sự bành còn tạo ra một số ảnh hưởng vừa trực tiếp,  
trướng và gia tăng sức mạnh của nhà Thanh vừa gián tiếp đối với khu vực Nam Trung  
tại các vùng ngoại vi.  
Hoa. Ở khía cạnh kinh tế, khai mỏ ở miền  
Trong nửa sau của thế kỷ XVIII, khu Bắc Đại Việt là một trong những nguồn cung  
vực biên giới Trung Hoa - Đại Việt đã cung quan trọng bù đắp sự thiếu hụt đồng và bạc ở  
cấp trung bình 500 tấn đồng mỗi năm, biến Trung Hoa thế kỷ XVII-XVIII. Ở khía cạnh  
nơi đây trở thành một trong những địa điểm chính trị, hoạt động này còn là một mắt xích  
khai thác đồng lớn nhất châu Á. Thực tế là, quan trọng góp phần vào sự ổn định kinh tế,  
nhu cầu về bạc ở Trung Hoa trong những xã hội ở miền Nam Trung Hoa  
thế kỷ XVI-XVIII trở nên rất cấp thiết,  
trong khi đó các mỏ bạc, đồng ở miền Bắc Tài liệu tham khảo  
Việt Nam có thể đáp ứng và bù đắp một 1. Nguyễn Thế Anh (2017), Theo dòng  
phần cho sự khan hiếm và nhu cầu gần như  
vô tận này của Trung Hoa (Li Tana, 2003).  
lịch sử, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ  
Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.  
Đây có thể được xem là yếu tố mấu chốt tác 2. Atwell, William S. (2005), “Another  
động tới tình hình chính trị, xã hội khu vực  
phía Nam Trung Hoa nói riêng, ảnh hưởng  
phần nào tới tình hình chính trị các triều đại  
Look at Silver Imports into China, ca.  
1635-1644”, Journal of World History,  
Volume 16 (4), pp. 467-489.  
nhà Minh và nhà Thanh trong các thế kỷ 3. Cao Hùng Trưng (2017), An Nam chí  
XVII-XVIII.  
Lời kết  
Như vậy có thể thấy nguồn tài nguyên  
dồi dào và sự cởi mở của môi trường chính  
nguyên, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
4. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến  
chương loại chí, tập 2, Nxb. Khoa học  
xã hội, Hà Nội.  
Hoạt động khai mỏ…  
43  
5. Dampier, William (2011), Một chuyến  
du hành đến Đàng Ngoài năm 1688,  
Hoàng Anh Tuấn dịch, Nxb. Thế giới,  
Hà Nội.  
6. Nguyễn Văn Đăng (2001), “Đúc tiền  
đầu thời Nguyễn”, Xưa và Nay, số 94,  
tr. 36-38.  
Paper to the International conference of  
The International Convention of Asian  
Studies, Singapore, 23-24th August.  
16. Phan Huy Lê (1963), “Tình hình khai  
mỏ dưới triều Nguyễn”, Nghiên cứu  
Lịch sử, số 52, tr. 47-59.  
17. Martier, Michel (2006), “Trung Quốc  
đông dân từ bao giờ?”, Xưa và Nay, số  
255, tr. 40-41.  
7. Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục,  
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
8. Giersch, C. Patterson (2006), Asian 18. Vũ Duy Mền (2002), “Ngoại thương  
Borderlands: The Transformation of  
Qing China’s Yunnan Frontier, Harvard  
University Press, Cambridge.  
Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII”, Nghiên  
cứu kinh tế, số 292, tr. 60-68.  
19. Ray Huang (1969), “Fiscal administration  
during the Ming Dynasty” in Chinese  
Government in Ming Times: Seven  
Studies, ed. C. O. Hucker, Columbia  
University Press, New York, pp. 124-125.  
9. Goldstone, Jack A. (1988), “East and  
Westintheseventeenthcentury:Political  
crises in Stuart England, Ottoman  
Turkey, and Ming China, Comparative  
Studies”, Society and History, 30 (1), 20. Reid, Anthony (2011), “Chinese on the  
pp. 103-142.  
Mining Frontier in Southeast Asia” in  
Eric Tagliacozzo and Wen-Chin Chang  
(eds), Chinese Circulations:Capital,  
Commodities, and Networks in  
Southeast Asia, Duke University Press,  
pp. 21-36.  
10. Châu Hải (1994), “Triều Nguyễn với  
các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt  
Nam thế kỷ XIX”, Nghiên cứu lịch sử,  
số 4 (275), tr. 32-37.  
11. Châu Thị Hải (1998), “Bước đầu tìm  
hiểu quá trình tiếp xúc và giao lưu văn 21. Trần Thị Vinh (chủ biên), Đỗ Đức  
hóa Việt - Hoa trong lịch sử”, trong: Kỷ  
yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần  
thứ nhất, tập I, Nxb. Thế giới, Hà Nội,  
tr. 170-177.  
Hùng, Trương Thị Yến, Nguyễn Thị  
Phương Chi (2007), Lịch sử Việt Nam  
thế kỷ XVII-XVIII, Nxb. Khoa học xã  
hội, Hà Nội.  
12. Châu Thị Hải (1999), “Chính sách của 22. Trần Thị Vinh (2017), Lịch sử Việt  
các triều đại phong kiến Việt Nam đối  
với người Trung Hoa di cư”, Nghiên  
cứu Đông Nam Á, số 5, tr. 64-69.  
Nam: Tập 4 từ thế kỷ XVII đến thế kỷ  
XVIII, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
23. Viện Sử học (1998), Khâm định Việt  
sử thông giám cương mục, tập 2, Nxb.  
Giáo dục, Hà Nội.  
13. Landes, David S. (2001), Sự giàu và  
nghèo của các dân tộc, Viện Nghiên  
cứu quản lý kinh tế Trung ương - Nxb. 24. Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1991), Đại  
Thống kê, Hà Nội.  
14. Li Tana (1997), “Dân số miền Bắc Việt  
Việt sử ký tục biên, Nxb. Khoa học xã  
hội, Hà Nội.  
Nam từ thế kỷ 16 đến 18”, Xưa và Nay, 25. Trương Thị Yến (1981), “Nhà Nguyễn  
số 42.  
với các thương nhân người Hoa thế kỷ  
XIX”, Nghiên cứu lịch sử, số 3 (198),  
tr. 59-65.  
15. Li Tana (2003), “Vietnamese mint and  
Chinese miners in the 18th century”,  
pdf 7 trang Thùy Anh 15260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động khai mỏ của người Hoa ở Đàng Ngoài: Một số tác động tới xã hội Đại Việt và Trung Hoa thế kỷ XVII-XIX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_dong_khai_mo_cua_nguoi_hoa_o_dang_ngoai_mot_so_tac_dong.pdf