Vận dụng các học thuyết tạo động lực vào các hình thức đãi ngộ nhân lực trong doanh nghiệp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
VẬN DỤNG CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC VÀO CÁC HÌNH THỨC  
ĐÃI NGỘ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP  
APPLY THE THEORIES OF MOTIVATION IN THE FORM OF REMUNERATION IN  
THE ENTERPRISE HUMAN RESOURCES  
Trần Văn Tuệ  
Trường Đại học Thương mại  
TÓM TẮT  
Tạo động lực làm việc là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân lực bởi nó ảnh  
hưởng đến năng suất làm việc của người lao động. Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hay  
nhà lãnh đạo tạo động lực làm việc cho nhân viên bằng cách thực hiện các hành vi hoặc sử dụng một công  
cụ nào đó (bằng tài chính hoặc phi tài chính) nhằm thúc đẩy cấp dưới đem hết khả năng làm việc với nỗ lực  
cao nhất nhằm thực hiện mục đích của công ty. Điều này không đơn giản, đặc biệt đối với các doanh nghiệp  
quy mô lớn, với nguồn nhân lực đồ sộ, bởi con người là một thực thể vô cùng phức tạp và khó nắm bắt. Việc  
tiếp cận các thuyết tạo động là một cơ sở giúp lãnh đạo doanh nghiệp có cơ sở để lựa chọn và vận dụng vào  
các hình thức đãi ngộ khích lệ nhân viên một cách hợp lý nhất. Bài viết tác giả hệ thống các học thuyết tạo  
động lực làm việc và ứng dụng vào các hình thức tạo động lực làm việc người lao động trong doanh nghiệp  
Từ khóa: Vận dụng các học thuyết; tạo động lực làm việc; nhân viên; hình thức đãi ngộ; doanh nghiệp.  
ABSTRACT  
Creating motivation to work is one of the important content of human resources because it affects the  
productivity of workers. In the course of business executives, managers, or leaders motivate work for staff by  
performing the acts or use of a financial or non-financial tool in order to promote lower levels give the ability to  
work with the highest effort in order to make the purpose of the company. This is not simple, especially for  
large businesses with huge human resources, so humanity is an infinitely complex and elusive. Reaching the  
dynamically generated theory is a facility that helps business leaders with the basis for selection and use in  
the form of employee incentive compensation in a reasonable manner. In the article, the author synthesizes  
the theory of motivation to work and apply in the form of motivation to work for workers in the enterprise.  
Keywords: manipulate the doctrine; motivate; staff; forms of compensation; business.  
trong một khung khổ cụ thể, đó là mục tiêu của  
doanh nghiệp.  
1. Một số lý luận về tạo động lực và các hình  
thức đãi ngộ nhân lực  
Đãi ngộ nhân lực là quá trình, mà trong đó  
thể hiện những quan hệ nhân lực cơ bản nhất  
của doanh nghiệp: quan hệ giữa người sử dụng  
lao động và người lao động, quan hệ giữa nhà  
quản trị và nhân viên dưới quyền.  
Từ góc độ quản trị nhân lực trong doanh  
nghiệp thương mại, đãi ngộ nhân lực có thể  
được hiểu như sau:  
1.1. Đãi ngộ nhân lực là quá trình chăm lo  
đời sống vật chất và tinh thần của người lao  
động để người lao động có thể hoàn thành tốt  
nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn  
thành mục tiêu của doanh nghiệp.  
Mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm về đãi  
ngộ nhân lực trong phạm vi chức trách được  
giao. Trước hết, các nhà quản trị phải là những  
người hoạch định chính sách đãi ngộ, sau đó là  
tổ chức thực hiện và quan trọng hơn, gương  
mẫu trong hành động chấp hành chính sách đãi  
ngộ đã hoạch định.  
Từ khái niệm chúng ta có thể thấy:  
Đãi ngộ nhân lực là một quá trình gồm hai  
hoạt động có liên quan chặt chẽ đến thoả mãn  
hai nhóm nhu cầu cơ bản của người lao động:  
chăm lo đời sống vật chất và chăm lo đời sống  
tinh thần. Hai hoạt động này được giới hạn  
Đãi ngộ nhân lực liên quan chặt chẽ với  
các nội dung khác của quản trị nhân lực như:  
268  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tuyển dụng, bố trí và sử dụng, đào tạo và phát  
Maslow  
Nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham  
triển. Đãi ngộ tốt là cơ sở quan trọng để thúc  
đẩy các khâu còn lại của quản trị nhân lực  
trong doanh nghiệp.  
Maslow cho rằng: người lao động có năm nhu  
cầu theo bậc thang từ thấp đến cao là: nhu cầu  
sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu  
cầu được ghi nhận và nhu cầu tự hoàn thiện.  
Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải  
được thỏa mãn trước khi xuất hiện các nhu cầu  
ở mức độ cao hơn. Những nhu cầu này thúc  
đẩy con người thực hiện những công việc nhất  
định để được đáp ứng. Như vậy, nhu cầu trở  
thành động lực quan trọng và việc tác động vào  
nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của  
con người. Dưới đây là các biểu hiện tương  
ứng với các cấp độ nhu cầu của người lao  
động:  
1.2. Đãi ngộ tài chính  
Đãi ngộ tài chính trong doanh nghiệp là  
hình thức đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ  
tài chính, bao gồm nhiều loại khác nhau: tiền  
lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi, trợ cấp,  
cổ phần…  
1.3. Đãi ngộ phi tài chính  
Đãi ngộ phi tài chính trong doanh nghiệp là  
hình thức đãi ngộ được thực hiện thông qua các  
công cụ không phải là tiền bạc, bao gồm hai  
công cụ : đãi ngộ thông qua môi trường làm  
việc và thông qua công việc  
2. Hệ thống các học thuyết tạo động lực  
2.1. Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của  
Nhu cầu  
Tồn tại  
Sự thể hiện  
Thức ăn, nhà ở, nghỉ ngơi  
An toàn  
Xã hội  
Nơi làm việc an toàn, việc làm được đảm bảo, an toàn về thân thể  
Là thành viên của tổ chức, được giao lưu, chia sẻ, hợp tác  
Được ghi nhận thành tích bằng các phần thưởng, địa vị, cơ hội thăng  
Phát triển tài năng, những triển vọng nghề nghiệp  
Được công nhận  
Tự hoàn thiện  
Người lãnh đạo hoặc quản lý có thể sử  
dụng các công cụ hoặc biện pháp để tác động  
vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của nhân viên làm  
cho họ hăng hái và tận tụy hơn với nhiệm vụ  
mình đảm nhận.  
Mặt khác, thuyết nhu cầu của Maslow giúp  
nhà quản trị đánh giá được cấp độ nhu cầu của  
mỗi nhân viên, trong mỗi hoàn cảnh cụ thể để  
lựa chọn một giải pháp tạo động lực phù hợp.  
Với một nhân viên vừa mới được tuyển dụng  
đang cần việc làm và có thu nhập cơ bản, mức  
lương hợp lý là vấn đề cần được quan tâm hàng  
đầu. Còn một nhân viên đã có “thâm niên”  
công tác trong công ty, công việc đã thuần thục  
và tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm công  
tác tiền lương đã được trả cao thì nhu cầu của  
nhân viên đó phải là đạt được vị trí, chức vụ  
mong doanh nghiệp hoặc tổ chức. Cũng có  
không ít nhân viên tuy còn trẻ song đã có triển  
vọng nghề nghiệp với mức lương cao và đảm  
nhiệm vị trí công tác quan trọng công ty. Họ lại  
cần được thể hiện mình trong những nhiệm vụ  
mang tính thách thức hơn, qua đó họ không chỉ  
chứng tỏ được năng lực mà còn có cơ hội nâng  
cao trình độ.  
Nhu cầu cơ bản về sinh lý có thể được đáp  
ứng thông qua mức lương tốt, đài thọ bữa trưa  
hoặc ăn giữa ca miễn phí, hoặc bảo đảm các  
khoản phúc lợi khác. Đáp ứng nhu cầu về quan  
hệ xã hội thể hiện qua các hoạt động giao lưu,  
sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa các  
bộ phận trong công ty. Đồng thời, những hoạt  
động này còn giúp phát triển ý thức cộng đồng  
hay tinh thần đồng đội. Đối với nhu cầu tự  
hoàn thiện, nhà quản lý có thể tạo cơ hội phát  
triển những thế mạnh cá nhân. Đồng thời,  
người lao động cần được đào tạo và và có cơ  
hội tự nâng cấp bản thân, cần được khuyến  
khích tham gia vào sự phát triển chung của  
doanh nghiệp hoặc tổ chức.  
269  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
2.2. Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg  
Lý thuyết gia quản trị người Hoa Kỳ, ông  
Frederick Herzberg chia các yếu tố tạo động  
lực người lao động thành hai loại: yếu tố duy  
trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố  
thúc đẩy - thỏa mãn bản chất bên trong.  
Lý thuyết hai yếu tố  
Các yếu tố duy trì  
Lương và các khoản phúc lợi phụ  
Sự giám sát  
Các yếu tố thúc đẩy  
Công việc có ý nghĩa  
Cảm nhận về sự hoàn thành  
Có cơ hội thăng tiến  
Điều kiện làm việc  
Các chính sách quản trị  
Sự công nhận khi hoàn thành công việc  
Sử dụng hình phạt (tăng cường âm tính):  
Nhà quản trị quở trách nhân viên về lỗi lầm  
anh ta mắc phải. Nhân viên sẽ biết những gì  
không được làm nhưng anh ta không thể biết  
đâu là công việc nên làm.  
Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì  
trạng thái làm việc bình thường. Mọi nhân viên  
đều mong muốn nhận được tiền lương tương  
xứng với sức lực của họ, công ty được quản trị  
một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ  
được thoải mái. Khi các yếu tố này được thỏa  
mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhưng  
nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và  
hiệu suất làm việc giảm sút. Tập hợp các yếu tố  
thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy  
thật sự, liên quan đến bản chất công việc. Khi  
thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người công  
nhân sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng  
và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này  
gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.  
Làm ngơ: Nhà quản trị coi như không biết  
sai sót của nhân viên. Sự lựa chọn này chỉ thích  
hợp khi nhà quản trị nghĩ rằng hành vi sai lầm  
đó chỉ là nhất thời hoặc không nghiêm trọng  
đến mức phải áp dụng hình phạt.  
2.4. Thuyết cân bằng của Adams  
Lý thuyết của Adams cho rằng mọi người  
thường có mong muốn nhận được những phần  
thưởng tương xứng với những đóng góp hay  
công sức mà họ đã bỏ ra. Nếu một cá nhân  
nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức  
đáng được hưởng, anh ta sẽ giảm nỗ lực của  
bản thân xuống để duy trì sự "sự cân bằng".  
Nếu anh ta nghĩ rằng đang được trả lương cao,  
anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn.  
2.3. Thuyết thúc đẩy bằng sự tăng cường của  
Skinner  
Lý thuyết của B.F.Skinner cho rằng hành  
vi người lao động sẽ lặp lại các hoạt động đóng  
góp trong tổ chức doanh nghiệp nếu họ nhận  
được những đánh giá tích cực và ngược lại các  
hành vi đó sẽ không lặp lại nếu họ không nhận  
được những đánh giá tích cực. Bằng các hành  
vi tăng cường, nhà quản trị sẽ lưu ý đánh giá trị  
tích cực những hoạt động đóng góp của nhân  
viên cũng như tránh đánh giá không đủ/ không  
tích cực để hạn chế những đóng góp tiêu cực.  
Tính công bằng trong công việc còn được  
xem xét qua tương quan giữa tỷ lệ đóng góp và  
những kết quả nhận được của một nhân viên  
với những nhân viên khác có hợp lý hay  
không. Trong trường hợp không cảm nhận  
được tính hợp lý, họ có thể tự đặt ra yêu cầu  
tăng hay giảm nỗ lực của bản thân để duy trì  
"sự cân bằng".  
Có ba loại hành vi tăng cường mà nhà quản  
trị có thể thực hiện:  
Vì vậy, sự ghi nhận công việc kịp thời từ  
phía nhà quản lý hoặc giám sát là nhân tố động  
viên hàng đầu đối với nhân viên. Có thể sử  
dụng các công cụ quản lý hiệu quả công việc  
được thiết kế nhằm thu thập phản hồi để đánh  
giá và so sánh hiệu quả công việc của nhân  
Khen thưởng nhân viên (tăng cường dương  
tính hay tăng cường tích cực): Nhà quản trị  
khuyến khích người nhân viên đó lặp lại những  
gì anh ta đã làm trước đây. Phần thưởng có thể  
được dùng bằng tiền, quyết định đề bạt hay lời  
khen ngợi.  
270  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
viên, giúp nhận biết những hành vi nào góp  
3. Ứng dụng các học thuyết tạo động lực vào  
các hình thức đãi ngộ nhân lực trong doanh  
nghiệp  
phần tăng hiệu quả công việc và giúp tổ chức  
xây dựng được tiêu chuẩn cho những người  
giỏi nhất.  
Động cơ thúc đẩy là thuật ngữ chung dùng  
để chỉ các xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện  
vọng của con người. Mối quan hệ giữa động cơ  
thúc đẩy và hành động của mỗi cá nhân được  
thể hiện qua sơ đồ sau:  
Việc giám sát và đánh giá các nhân viên  
một cách hiệu quả cũng cần phù hợp với từng  
trường hợp cụ thể nhân viên. Khám phá của  
các chuyên gia cho thấy: "Không cần thiết phải  
quản lý chặt chẽ đối với những cá nhân xuất  
sắc. Họ sẽ tự tạo động lực và đạt được kết quả  
tốt nhất."  
Hình 1: Chuỗi mắt xích nhu cầu, mong muốn - thoả mãn  
Nguồn: “Quản trị doanh nghiệp thương mại”, Phạm Vũ Luận, NXB Thống kê (2004)  
Qua sơ đồ có thể thấy, động cơ thúc đẩy  
được xem xét như một phản ứng nối tiếp. Bắt  
đầu là sự cảm thấy có nhu cầu, những nhu cầu  
đó là cơ sở hình thành các mong muốn, tạo ra  
một trạng thái căng thẳng cần hành động và  
hành động để có sự thoả mãn.. Sơ đồ là một  
chuỗi khép kín không có điểm đầu và điểm  
cuối, nếu không thoả mãn hoặc thoả mãn một  
phần thì nhu cầu đó vẫn còn tồn tại, còn việc  
thoả mãn hoàn toàn lại là khởi đầu cho một  
nhu cầu khác, từ đó lại thôi thúc con người  
hành động để thoả mãn những nhu cầu khác.  
Do vậy, nhà quản trị phải biết được người  
lao động có nhu cầu gì, giúp họ thoả mãn từ đó  
tạo động lực thúc đẩy họ làm việc.  
Hình 2: Các cấp độ nhu cầu của con người  
(Nguồn: Sách“Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền”, NXB Trẻ, 2003)  
271  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Theo quan điểm của Maslow thì nhu cầu  
Tiền lương giúp người lao động có phương  
tiện để thoả mãn tất cả các nhu cầu sinh hoạt  
của bản thân cũng như gia đình của họ, và do  
vậy tiền lương trở thành một động lực rất lớn  
trong việc thúc đẩy người lao động hoàn thành  
các chức trách được giao. Con người khi làm  
việc luôn muốn nhận được một mức lương nào  
đó tương xứng với năng lực của bản thân. Khi  
mới được tuyển dụng, họ có thể chấp nhận  
mức lương thấp mà không có ý kiến gì vì để có  
thể được tuyển dụng và có việc làm. Tuy vậy  
các nhà quản trị cần biết rằng, nếu người lao  
động chưa đạt được mức lương mong muốn thì  
khó có thể phát huy tối đa năng lực của mình.  
Chính vì vậy, cần trả lương đầy đủ cho người  
lao động bằng cách tăng lương khi thấy xứng  
đáng chứ không cần phải đợi người lao động  
có những dấu hiệu đòi hỏi. Nếu mong muốn  
được trả lương cao hơn của người công nhân  
không được thoả mãn, thì họ có thể có những  
phản ứng tiêu cực gây bất lợi cho doanh  
nghiệp.  
của con người được chia ra thành nhiều cấp độ,  
từ nhu cầu sinh học, an toàn đến những cấp bậc  
nhu cầu cao hơn như nhu cầu xã hội, được tôn  
trọng và tự khẳng định.  
Trong đó, nhu cầu vật chất như ăn,  
mặc, ở, đi lại,… được thoả mãn bằng các sản  
phẩm vật chất thông qua các công cụ đãi ngộ  
tài chính trên cơ sở của sự trao đổi Tiền-Hàng.  
Hay nói cách khác, người lao động trong doanh  
nghiệp sử dụng các khoản tiền mà doanh  
nghiệp trả cho họ để có được những sản phẩm  
vật chất.  
Song các nhu cầu về tinh thần của con  
người nói chung và người lao động nói riêng  
không thể hoàn toàn được thoả mãn bằng các  
sản phẩm vật chất mà còn phải được thoả mãn  
bằng các sản phẩm phi vật chất. Và như người  
ta nói, người lao động trong doanh nghiệp  
không phải làm việc chỉ vì tiền bạc mà họ còn  
có những giá trị khác để theo đuổi như niềm  
vui trong công việc, sự hứng thú say mê làm  
việc, được đối xử công bằng. Các doanh  
nghiệp phải có trách nhiệm cùng với người lao  
động chăm lo và thoả mãn đời sống tinh thần  
của họ, phải có những đãi ngộ phi tài chính kết  
hợp với những đãi ngộ tài chính để tạo ra sự  
đồng bộ trong công tác đãi ngộ nhân lựctại  
doanh nghiệp.  
Trong thực tiễn hiện nay, các doanh nghiệp  
thường áp dụng một hoặc hai hình thức trả  
lương: theo thời gian và theo sản phẩm.  
Hình thức trả lương theo thời gian  
Tiền lương theo thời gian là tiền lương  
thanh toán cho người lao động căn cứ vào thời  
gian làm việc và trình độ chuyên môn của họ.  
Nhược điểm chính của hình thức trả lương này  
là không gắn giữa chất lượng và số lượng lao  
động mà người lao động đã tiêu hao trong quá  
trình thực hiện công việc. Điều này thể hiện  
khi trả lương người sử dụng lao động không  
quan tâm nhiều lắm đến kết quả của người lao  
động tạo ra. Chính vì thế hình thức trả lương  
này không kích thích người lao động thi đua  
sáng tạo để có thể đạt được một kết quả cao  
hơn, tốt hơn.  
3.1. 3.1. Đãi ngộ tài chính  
Đãi ngộ tài chính trong doanh nghiệp là  
hình thức đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ  
tài chính, bao gồm nhiều loại khác nhau: tiền  
lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi, trợ cấp,  
cổ phần….  
Tiền lương là một công cụ đãi ngộ tài  
chính quan trọng nhất. Lương là số tiền mà  
doanh nghiệp trả cho người lao động tương  
ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ  
đã hao phí trong quá trình thực hiện những  
công việc được giao. Tiền lương cơ bản được  
xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu cơ bản  
về độ phức tạp và mức tiêu hao sức lao động  
trong những điều kiện lao động trung bình của  
từng ngành nghề, công việc.  
Hiện nay trong các doanh nghiệp, người ta  
sử dụng hình thức trả lương theo thời gian cho  
những công việc chưa hoặc không thể xây  
dựng được định mức lao động, những công  
việc mà khối lượng hoàn thành không xác định  
được, những công việc cần thiết phải trả lương  
272  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
theo thời gian để nhằm đảm bảo chất lượng sản  
phẩm...  
Hình thức trả lương theo sản phẩm  
tiềm ẩn nhiều năng lực làm việc. Tiền thưởng  
có nhiều loại, bao gồm:  
Thưởng năng suất, chất lượng tốt;Thưởng  
do tiết kiệm vật tư, nguyên liệu;  
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả  
lương căn cứ vào số lượng và chất lượng sản  
phẩm mà người lao động tạo ra và đơn giá tiền  
lương theo sản phẩm để trả lương cho người  
lao động.  
Thưởng do sáng kiến, cải tiến kỹ thuật;  
Thưởng theo kết quả hoạt động kinh  
doanh;  
Thưởng do hoàn thành tiến độ sớm so với  
quy địn  
Trả lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm  
sau:  
Cổ phần  
Làm cho người lao động vì lợi ích vật chất  
mà quan tâm đến số lượng và chất lượng sản  
phẩm, tiết kiệm thời gian cho từng công việc.  
Cổ phần là công cụ đãi ngộ nhằm làm cho  
người lao động gắn bó lâu dài với doanh  
nghiệp cũng như nâng cao tinh thần trách  
nhiệm của họ đối với doanh nghiệp. Các doanh  
nghiệp thường sử dụng công cụ này dưới dạng  
quyền ưu tiên mua cổ phần và chia cổ phần cho  
người lao động.  
Khuyến kích mọi người học tập bồi dưỡng  
nâng cao trình độ chuyên môn,hợp lý hoá quy  
trình làm việc, tích cực sáng tạo để có thể tạo  
ra nhiều sản phẩm hơn với mong muốn nhận  
được nhiều tiền lương hơn.  
Phụ cấp  
Tạo ra một sự công bằng trong việc đánh  
giá thành tích và đãi ngộ người lao động.  
Phụ cấp là một khoản tiền được trả thêm  
cho người lao động do họ đảm nhận thêm trách  
nhiệm hoặc làm việc trong các điều kiện không  
bình thường. Phụ cấp có tác dụng tạo ra sự  
công bằng về đãi ngộ thực tế. Doanh nghiệp có  
thể có các loại phụ cấp như:  
Trong các doanh nghiệp hiện nay, hình  
thức trả lương theo sản phẩm đã được đa dạng  
hoá thành nhiều hình thức cụ thể khác nhau  
như: trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn  
chế, trả lương sản phẩm gián tiếp, trả lương  
khoán sản phẩm, trả lương sản phẩm có thưởng  
và khoán có thưởng.Trong các doanh nghiệp  
thương mại thực hiện việc trả lương theo doanh  
thu, khoán doanh thu, khoán thu nhập....  
Phụ cấp trách nhiệm công việc;  
Phụ cấp độc hại, nguy hiểm;  
Phụ cấp khu vực;  
Phụ cấp thu hút;  
Tiền thưởng  
Trợ cấp  
Đây là những khoản tiền mà doanh nghiệp  
trả cho người lao động do họ có những thành  
tích và đóng góp vượt trên mức độ mà chức  
trách quy định. Tiền thưởng cùng với tiền  
lương tạo nên khoản thu nhập bằng tiền chủ  
yếu của người lao động. Vì vậy, tiền thưởng  
cũng góp phần giúp người lao động có thể thoả  
mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của bản  
thân và gia đình ở mức độ cao hơn.  
Trợ cấp được thực hiện nhằm giúp nhân  
lựckhắc phục được các khó khăn phát sinh do  
hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, nếu có nhu cầu trợ  
cấp thì doanh nghiệp mới chi trả. Trợ cấp có  
nhiều loại khác nhau như: bảo hiểm, trợ cấp y  
tế, trợ cấp giáo dục, trợ cấp đi lại, trợ cấp nhà  
ở, trợ cấp đắt đỏ, trợ cấp xa nhà...  
Phúc lợi  
Phúc lợi được cung cấp cho người lao động  
để họ có thêm điều kiện nâng cao chất lượng  
cuộc sống và sinh hoạt của gia đình. Phúc lợi  
có hai phần chính: phúc lợi theo quy định của  
Từ đó có thể thấy, tiền thưởng là một công  
cụ khuyến khích vật chất có hiệu quả nhất đối  
với người lao động, nhất là những người còn  
273  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
pháp luật và phúc lợi do các doanh nghiệp tự  
nguyện áp dụng.  
khai thác đầy đủ động cơ thúc đẩy cá nhân làm  
việc thì cần phải có những đãi ngộ phi tài chính  
kết hợp với đãi ngộ tài chính để tạo ra sự đồng  
bộ trong công tác đãi ngộ của doanh nghiệp.  
Trong đó:  
- Phúc lợi theo quy định của Pháp luật do  
Nhà nước quy định nhằm đảm bảo quyền lợi  
cho người lao động ở mức độ tối thiểu do họ ở  
vào thế yếu hơn so với người sử dụng lao  
động. Tuỳ theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà  
những phúc lợi này được quy định trong luật  
hay các văn bản dưới luật. Ở Việt Nam những  
quy định này được thể hiện thông qua các điều  
khoản (điều 68-81; 140-152) trong Bộ luật Lao  
động (có hiệu lực từ ngày 01-01- 1995).  
Đãi ngộ phi tài chính thực chất là quá trình  
chăm lo cuộc sống tinh thần của người lao  
động thông qua các công cụ không phải tiền  
bạc. Những nhu cầu đời sống tinh thần của  
người lao động rất đa dạng và ngày càng đòi  
hỏi được nâng cao, như: Niềm vui trong công  
việc, sự hứng thú, say mê làm việc, được đối  
xử công bằng, được kính trọng, được giao tiếp  
với mọi người, với đồng nghiệp...  
3.3. Trong doanh nghiệp thương mại, đãi ngộ  
phi tài chính được thực hiện thông qua hai  
hình thức: Đãi ngộ thông qua công việc và  
đãi ngộ thông qua môi trường làm việc.  
- Phúc lợi tự nguyện được các doanh  
nghiệp áp dụng nhằm kích thích nhân viên gắn  
bó với doanh nghiệp cũng như thu hút những  
người có tài năng về làm việc. Phúc lợi tự  
nguyện phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính  
của doanh nghiệp, nó bao gồm:  
a) Đãi ngộ thông qua công việc  
Theo quan điểm của người lao động, một  
công việc có tác dụng đãi ngộ đối với họ phải  
đảm bảo các yêu cầu sau:  
Bảo hiểm y tế.  
Chương trình bảo vệ sức khoẻ  
Bảo hiểm nhân thọ theo nhóm.  
Mang lại thu nhập (lương, thưởng, trợ  
cấp…) xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra để  
thực hiện.  
Các loại dịch vụ như: xe đưa đón đi làm,  
phòng tập thể dục, thể thao, bãi đỗ xe, đảm  
bảo chăm sóc trẻ em., …  
Có một vị trí và vai trò nhất định trong hệ  
thống công việc của doanh nghiệp.  
Trong thực tế ở các doanh nghiệp hiện nay  
những khoản đãi ngộ tài chính do luật pháp  
quy định như nghỉ phép, nghỉ lễ hay nghỉ ốm  
mà vẫn được trả lương. Các khoản đãi ngộ  
khác như ăn trưa, trợ cấp khó khăn, quà tết,  
nhà ở...thì tuỳ thuộc chính sách và khả năng tài  
chính của từng doanh nghiệp. Đãi ngộ tài chính  
có vai trò rất quan trọng đối với việc động viên  
khuyến khích người lao động làm việc nhiệt  
tình, say mê, sáng tạo và quan trọng hơn, gắn  
bó lâu dài với doanh nghiệp.  
Phù hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề  
và kinh nghiệm của người lao động.  
Có cơ hội để họ thăng tiến.  
Không nhàm chán, trùng lặp gây ức chế về  
mặt tâm lý, kích thích lòng say mê sáng tạo…  
Không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, đảm  
bảo sự an toàn tính mạng trong khi thực hiện  
công việc.  
Kết quả công việc phải được xem xét đánh  
giá theo các tiêu chuẩn rõ ràng, mang tính thực  
tiễn.  
3.2. Đãi ngộ phi tài chính  
Người lao động trong doanh nghiệp không  
phải chỉ có động lực duy nhất làm việc là để  
kiếm tiền mà còn có những nhu cầu không thể  
thoả mãn bằng vật chất nói chung và tiền bạc  
nói riêng, nói cách khác là họ còn có những giá  
trị khác để theo đuổi. Chính vì vậy để tạo ra và  
Công việc mang lại thu nhập xứng đáng  
với công sức:  
Thu nhập của người lao động bao gồm:  
Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, cổ  
phần,…Thu nhập tương xứng với công sức bỏ  
ra nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo trả  
274  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
đúng, trả đủ, thu nhập phải đảm bảo cuộc sống  
Tác động tới người lao động: Thu nhập là  
một trong những động lực kích thích con người  
làm việc hăng hái, nhưng cũng đồng thời là  
nguyên nhân gây ra sự trì trệ, bất mãn hoặc từ  
bỏ công việc ra đi.  
cho người lao động, ngoài ra còn phải đảm bảo  
công bằng giữa những người lao động trong  
doanh nghiệp.  
Hình 3:Những kết cục của sự không hài lòng với tiền lương  
(Nguồn: “Giáo trình quản trị nhân lực”, Trường ĐH Thương Mại,2005 )  
tầm quan trọng của công việc mà người lao  
Cơ hội thăng tiến  
động đang đảm nhiệm.  
Một nhân viên giỏi thường có tinh thần cầu  
tiến, họ luôn khát khao tìm kiếm cơ hội thăng  
tiến, phát triển sự nghiệp của mình. Nắm bắt  
được nhu cầu này, doanh nghiệp nên vạch ra  
những nấc thang, vị trí thăng tiến kế tiếp cho  
họ, kích thích họ làm việc với hiệu quả cao  
hơn.  
Tác động tới người lao động: Kích thích  
được tinh thần làm việc, khơi dậy được ý thức  
trách nhiệm của người lao động với công việc  
được giao.  
Phù hợp với trình độ chuyên môn, tay  
nghề và kinh nghiệm của người lao động:  
Tác động tới người lao động: Vị trí cao  
hơn luôn gắn liền với một loạt các lợi ích kèm  
theo, không chỉ giúp người lao động thoả mãn  
tốt nhu cầu cơ bản mà các nhu cầu bậc cao  
(nhu cầu xã hội, được tôn trọng, tự thể hiện bản  
thân - Maslow) cũng được thoả mãn đầy đủ.  
Khi đó người lao động sẽ gắn bó hơn và có  
trách nhiệm hơn với công việc, với doanh  
nghiệp, họ làm việc một cách tự giác, nhiệt  
tình, năng suất và hiệu quả công việc sẽ cao  
hơn.  
Bố trí công việc phù hợp với chuyên môn,  
tay nghề và kinh nghiệm của người lao động  
nhằm thực hiện nguyên tắc: “Làm đúng việc  
trước khi làm việc đúng.”  
Tác động tới người lao động: Như các cụ  
xưa thường nói: “Dụng nhân như dụng mộc”,  
dùng người đúng thì bản thân người đó sẽ phát  
huy tài năng, có niềm vui, sự tự tin vào bản  
thân và từ đó càng nỗ lực để nâng cao thành  
quả lao động.  
Không nhàm chán, trùng lặp gây ức chế  
về mặt tâm lý:  
Có vị trí và vai trò nhất định trong hệ  
thống công việc của doanh nghiệp.  
Tác động tới người lao động: Tạo động  
lực làm việc kích thích lòng say mê sáng tạo  
của người lao động.  
Nghĩa là khi bố trí và sử dụng nhân lựccần  
phải gắn với chức vụ, phải xác định rõ “danh”  
và “phận”, từ đó khẳng định được ý nghĩa và  
275  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, đảm  
bảo sự an toàn tính mạng trong khi thực hiện  
công việc:  
Tác động tới người lao động: Với một bầu  
không khí làm việc tốt người lao động cảm  
thấy thoải mái khi làm việc, gắn bó với doanh  
nghiệp, từ đó năng suất lao động sẽ cao hơn..  
Tác động tới người lao động: Thoả mãn  
nhu cầu an toàn của người lao động, giúp họ  
(2).Quy định và tạo dựng các quan hệ ứng  
xử giữa các thành viên, thái độ ứng xử của nhà  
quản trị:  
yên tâm làm việc  
.
Kết quả công việc được xem xét đánh giá  
theo tiêu chuẩn rõ ràng, mang tính thực tiễn:  
Tác động tới người lao động:  
Giúp người lao động có những mối quan  
hệ đồng nghiệp tốt, họ sẽ không chỉ tìm thấy sự  
chia sẻ trong công việc mà còn cả trong cuộc  
sống hằng ngày.  
Tác động tới người lao động: Tạo được  
động lực thúc đẩy người lao động làm việc đạt  
kết quả cao hơn. Ngược lại, đánh giá không  
đúng gây nên sự bất bình, mất lòng tin với lãnh  
đạo trong đội ngũ người lao động.  
Thái độ ứng xử của nhà quản trị đối với  
người lao động cũng có tác động mạnh đến  
tinh thần làm việc của họ bởi đó cũng là nội  
dung quan trọng của đãi ngộ phi tài chính, đôi  
khi chỉ là một lời khen đúng lúc, một món quà  
nhỏ hay đơn thuần chỉ là một lời chúc mừng  
sinh nhật, lễ tết, một sự chia buồn, thông cảm  
khi nhân viên gặp khó khăn,…  
b) Đãi ngộ thông qua môi trường  
làm việc:  
Môi trường làm việc gồm hai phần: “Phần  
cứng” và “phần mềm”.  
Môi trường “mềm” là khái niệm chỉ mối  
quan hệ giữa người với người trong doanh  
nghiệp, nó bao gồm tinh thần tôn trọng, tin  
tưởng hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết nhiều vấn  
đề và để gắn bó với nhau.  
(3). Đảm bảo điều kiện làm việc và vệ  
sinh an toàn lao động:  
Một nhà kinh doanh đã từng nói: “Tôi  
không cho rằng có thể làm ra những sản phẩm  
có chất lượng tốt mà không cần có điều kiện  
làm việc tốt.” Do vậy doanh nghiệp cần trang  
bị đầy đủ các phương tiện cần thiết để người  
lao động làm việc, đảm bảo nơi làm việc đạt  
yêu cầu về ánh sáng,….  
Môi trường “cứng” bao gồm cơ sở vật  
chất, văn phòng, phương tiện vận chuyển, bàn  
ghế, thiết bị máy móc…Nói tóm lại là tất cả cơ  
sở hạ tầng phục vụ cho công việc, môi trường  
này phụ thuộc rất nhiều vào tình hình tài chính  
của doanh nghiệp.  
Một số biểu hiện của đãi ngộ thông qua  
môi trường làm việc:  
Tác động tới người lao động: Giúp bảo vệ  
sức khoẻ cho người lao động, góp phần nâng  
cao năng suất của người lao động.  
(1)Tạo dựng bầu không khí làm việc:  
Bầu không khí trong tập thể lao động là hệ  
thống các trạng thái tâm lý cố định đặc trưng  
cho một tập thể nào đó, thể hiện sự phối hợp,  
dung hợp tâm lí của các thành viên.  
(4).Tổ chức các phong trào văn hoá, văn  
nghệ thể dục, thể thao:  
Tác động tới người lao động: Là những  
hoạt động bề nổi thể hiện rõ nét tinh thần, văn  
hoá doanh nghiệp. Tổ chức những hoạt động  
này một mặt tạo ra những giờ phút thư giãn  
cho người lao động sau những ngày làm việc  
căng thẳng, giúp họ tái tạo sức lao động. Mặt  
khác còn giúp cho mối quan hệ giữa các đồng  
nghiệp không chỉ bó hẹp trong công ty thông  
qua công việc mà nó còn được phát triển mở  
Một tập thể có bầu không khí tốt là nơi mà  
ở đó mọi người tôn trọng và giúp đỡ nhau  
trong công việc, có nhiều cuộc tranh luận, trao  
đổi ý kiến, nhưng tất cả đều nhằm mục đích  
xây dựng tập thể,…  
Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới bầu  
không khí tập thể: Phong cách làm việc của  
nhà quản trị, điều kiện lao động, lợi ích…  
276  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
rộng thành các mối quan hệ xã hội khác, tăng  
thêm tinh thần tập thể.  
thực hiện một công việc quan trọng, phù hợp  
với trình độ chuyên môn, tay nghề, phẩm chất  
cá nhân và sở thích của họ sẽ làm cho họ có  
được những hứng thú trong công việc, có trách  
nhiệm đối với kết quả công việc. Mặt khác, nếu  
họ được giao cho những công việc quan trọng  
hơn, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, đòi  
hỏi nhiều kinh nghiệm hơn, lương thưởng cao  
hơn…so với công việc họ đang làm, hay một  
công việc mà hàm chứa nhiều cơ hội thăng tiến  
sẽ làm cho người lao động cảm thấy hài lòng  
và thoả mãn, các nhu cầu cơ bản không những  
được đáp ứng tốt hơn mà các nhu cầu cấp cao  
(nhu cầu được thể hiện, được kính trọng…)  
cũng được thoả mãn đầy đủ. Khi đó, người lao  
động sẽ cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm  
hơn trong thực hiện công việc./.  
(5).Quy định thời gian và giờ giấc làm việc  
linh hoạt:  
Tác động tới người lao động: Đảm bảo sức  
khoẻ cho người lao động và tạo cho họ tinh  
thần thoải mái nhất khi làm việc.  
Tóm lại, đối với người lao động trong  
doanh nghiệp, công việc được hiểu là những  
hoạt động cần thiết mà họ được tổ chức giao  
cho và họ có nghĩa vụ phải hoàn thành (nhiệm  
vụ và trách nhiệm của người lao động). Công  
việc mà người lao động phải thực hiện có ý  
nghĩa rất quan trọng vì nó gắn liền với mục  
đích và động cơ làm việc của họ. Tính chất,  
đặc điểm, nội dung và tiêu chuẩn của công  
việc…là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến  
kết quả thực hiện công việc của người lao  
động. Nếu người lao động được phân công  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Vũ Thuỳ Dương, Hoàng Văn Hải (đồng chủ biên), Quản trị nhân lực, NXB Thống kê, Hà  
Nội, 2008.  
[2] Bộ Lao động – thương binh và xã hội, Hệ thống văn bản pháp luật về chế độ tiền lương – bảo  
hiểm xã hội, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 2005  
[3] Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, Giáo trình quản trị nhân lực, NXB Kinh tế Quốc  
dân, Hà Nội, 2007.  
[4] Wendell L. French, Human ressources management, NXB Houghton Mifflin, 2003.  
[5] Luis R.Gómez – Mejía – David. Balkin – Robert L.Cardy, Managing human ressource, NXB  
Vangonotes, 2007.  
[6] Lê Quân, Kỹ thuật xây dựng hệ thống tiền lương và đánh giá thành tích của doanh nghiệp,  
NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2008.  
[7] Ken Blanchard, Alan Randolph, Peter Grazier, Ê kíp tiến lên nào, NXB Trẻ, năm 2006  
[8] Mai Thanh Lan, Nghiên cứu tư tưởng quản trị phương Đông và sự ảnh hưởng đến công tác  
quản trị ở các DNTM hiện nay, đề tài NCKH cấp Trường, 2006.  
[9] Lê Thị Mỹ Linh, Các phương pháp phổ biến đánh giá nhu cầu đào tạo trong doanh nghiệp,  
Tạp chí kinh tế phát triển, số 116, tháng 02/2007  
[10] Phạm Vũ Luận, Quản trị doanh nghiệp thương mại, NXB Thống kê, Hà Nội 2004  
[11] Nguyễn Tiệp, Lê Thanh Hà, Tiền lương – tiền công, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 2006  
[12] Bussiness Edge, Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền?, NXB Trẻ, năm 2004  
277  
pdf 10 trang Thùy Anh 13000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng các học thuyết tạo động lực vào các hình thức đãi ngộ nhân lực trong doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_dung_cac_hoc_thuyet_tao_dong_luc_vao_cac_hinh_thuc_dai_n.pdf