Vấn đề cải cách, xây dựng quân đội trong các phong trào Duy Tân ở châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) thời cận đại

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
VẤN ĐỀ CẢI CÁCH, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI  
TRONG CÁC PHONG TRÀO DUY TÂN Ở CHÂU Á  
(NHẬT BẢN, TRUNG QUỐC, THÁI LAN) THỜI CẬN ĐẠI  
y Lê Thị Anh Đào(*)  
Tóm tắt  
Ba công cuộc duy tân, cải cách ở châu Á (Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc) vào nửa sau thế  
kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi căn bản sức mạnh, vị trí của các nước đó. Đặc biệt, một trong  
những nội dung cải cách quan trọng của Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc, đó là cải cách quân đội  
đã góp phần tạo nên sức mạnh quốc gia, làm tăng khả năng phòng thủ cũng như đối mặt với các nước  
phương Tây. Tuy các biện pháp cải cách, xây dựng quân đội của mỗi nước có những điểm khác nhau  
và kết quả khác nhau, nhưng nhìn chung đây là một sự thay đổi lớn về tầm nhìn cũng như xác định rõ  
vai trò quan trọng của quân đội trong việc duy trì và bảo vệ an ninh, chủ quyền của dân tộc. Cải cách  
và xây dựng quân đội ở ba nước được xem là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh nội lực, góp  
phần đưa đến việc gìn giữ nền độc lập của Nhật Bản, Thái Lan lúc bấy giờ.  
Từ khóa: Cải cách quân đội, duy tân, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc.  
1. Đặt vấn đề  
nước giàu, binh mạnh là mục đích cuối cùng của  
hàng loạt sự cải cách, duy tân. Muốn nước giàu,  
binh mạnh thì phải cải cách, xây dựng, tăng cường  
sức mạnh quân đội một cách toàn diện, để “đối nội  
có thể trấn áp bọn giặc cỏ, đối ngoại có đủ thế lực  
đương đầu với các nước”.  
Lịch sử châu Á thời cận đại nổi lên ba cuộc  
cải cách, duy tân ở Nhật Bản, Thái Lan và Trung  
Quốc với những mức độ, kết quả khác nhau đã làm  
thay đổi nội lực, sức mạnh và vị trí của ba nước  
này. Trước sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân  
phương Tây, bên cạnh con đường đấu tranh vũ trang  
thì bằng chính sách ngoại giao hay cải cách, duy  
tân các nước Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc  
đã tạo ra được sức mạnh nội lực, sức đề kháng có  
thể để chống lại các thế lực bên ngoài. Trong số  
hàng loạt biện pháp cải cách như cải cách kinh tế,  
chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục…thì cải cách,  
xây dựng quân đội đã được chính quyền các nước  
rất coi trọng. Bởi lẽ để “phú quốc cường binh”,  
thoát khỏi ảnh hưởng, xâm nhập của phương Tây,  
sức mạnh nội lực của một quốc gia phải được tạo  
dựng qua việc xây dựng và phát triển quân đội.  
2. Cải cách, xây dựng quân đội qua ba  
phong trào duy tân ở Nhật Bản, Thái Lan và  
Trung Quốc thời cận đại  
Với tinh thần đó, sau khi giải tán quân đội  
của Samurai và đi khảo sát một loạt nước ở châu  
Âu, chính phủ Minh Trị đã quyết định tiến hành  
cải cách, xây dựng lại quân đội, thành lập quân đội  
thường trực, thi hành nghĩa vụ quân sự toàn dân.  
Tháng 2/1871, chính phủ cho thành lập quân đội  
cận vệ hay còn gọi là “thân binh” khoảng 10.000  
người có nhiệm vụ bảo vệ Thiên Hoàng. Lực lượng  
quân đội của các Phiên Tây Nam trước đây cũng đã  
được thay đổi để trở thành lực lượng quân đội của  
chính phủ mới. Năm 1873, chính phủ chính thức  
ra lệnh trưng binh bắt tay vào xây dựng quân đội  
thường trực theo kiểu mới, xóa bỏ hoàn toàn lực  
lượng quân đội võ sĩ theo kiểu phong kiến cũ. Theo  
sắc lệnh nghĩa vụ quân sự của lực lượng quân đội  
mới, mọi thanh niên đến tuổi 20 không phân biệt  
qúy tộc hay bình dân đều phải ở trong quân ngũ 3  
năm và sau đó là 4 năm dự bị [2, tr. 90].Cải cách  
này đã xóa bỏ dần đặc quyền lũng đoạn quân sự  
của tầng lớp võ sĩ, xóa bỏ tập tục không cho phép  
thường dân mang kiếm.  
Trước hết, phải nói đến trường hợp Nhật Bản.  
Công cuộc duy tân của Nhật Bản mà lịch sử gọi  
là Minh Trị Duy Tân được tiến hành sau khi chính  
quyền Minh Trị được thiết lập sau cuộc cách mạng  
1868. Một sự thay đổi khá toàn diện về mọi mặt  
thông qua hàng loạt biện pháp cải cách, đổi mới đất  
nước. Trong đó, chính phủ Minh Trị đã thấy rằng,  
Với phương châm “học tập phương Tây, bắt  
kịp phương Tây và vượt phương Tây”, sau khi khảo  
sát, quân đội của Nhật Bản đã được chính phủ mới  
(*) Trường Đại học Khoa học Huế.  
117  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
tổ chức theo mô hình của các nước châu Âu. Lực sức mạnh nội lực cho dân tộc. Đặc biệt, đối với Thái  
lượng hải quân được tổ chức theo mô hình củaAnh, Lan lúc bấy giờ, không chỉ cạnh tranh và đương đầu  
lục quân tổ chức theo mô hình của của Đức. Bởi với các nước phương Tây mà còn tạo ra một sự ảnh  
vì, từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi, Anh, Đức được hưởng lớn đến bên ngoài khu vực Đông Nam Á.  
xem là những nước ở châu Âu có thế mạnh về hai Ngay từ thời vua Rama III (1824 - 1851), để học  
lĩnh vực này. Đến khoảng năm 1890, riêng về lục tập quân đội của người châu Âu, Rama III đã mời  
quân đã có 7 sư đoàn hiện dịch là 53.000 người, chuyên gia đóng tàu đến hướng dẫn kỹ thuật đóng  
quân trù bị gồm 256.000 người; hải quân có 25 tàu theo kiểu phương Tây. Ngoài ra, Rama III còn  
chiến hạm và 10 ngư lôi đỉnh [5, tr. 92]. Mặc dù mời chuyên gia quân sự người châu Âu đến huấn  
tổ chức quân đội theo mô hình các nước phương luyện quân đội và mua vũ khí trang bị. Nhờ đó, lực  
Tây, song, chính phủ Nhật Bản vẫn chủ trương xây lượng quân đội ngày càng tinh nhuệ, bao gồm 10  
dựng trên tinh thần, đạo đức của võ sĩ đạo, xem ngàn người gồm bộ binh và pháo binh được huấn  
tinh thần võ sĩ đạo là chuẩn mực trong hành động luyện theo kiểu phương Tây [4, tr. 71]. Lực lượng  
của tất cả quân nhân. Năm 1878, chính phủ công hải quân cũng được xây dựng thành một lực lượng  
bố điều lệnh quân nhân, theo đó, mỗi quân nhân mạnh với bốn chiến hạm và 16 tàu tuần tiễu. Nhờ  
phải sùng bái Thiên Hoàng và tuyệt đối trung thành đó mà các tuyến phòng thủ dọc ven biển và cửa  
với Thiên Hoàng. Người đứng đầu quân đội là các sông Chaophraya đã được củng cố.  
sĩ quan xuất thân từ các lãnh chúa phía Nam trước  
Dưới thời vua Rama IV (Mongkut: 1851 -  
đây. Đây là một sự khôn khéo của chính phủ Minh 1868), là anh em cùng cha khác mẹ với Rama III.  
Trị nhằm hạn chế sự phản kháng từ phía các tầng Mongkut là một vị vua có kiến thức uyên bác và  
lớp võ sĩ khi họ bị mất các đặc quyền quân sự trong là một trong nhũng người Thái am hiểu nền văn  
bộ máy quân sự mới.  
minh phương Tây. Ông cho rằng, muốn nước Xiêm  
Đi cùng cải cách, xây dựng chế độ quân sự, tránh khỏi tai họa thực dân xâm lược như Miến  
chính phủ Minh Trị còn chủ trương cải cách chế độ Điện, Trung Quốc và nhiều nước phương Tây khác,  
cảnh sát. Năm 1874, chính phủ cho xây dựng chế không phải kỳ thị, đối đầu mà là sự tiếp nhận và  
độ cảnh sát quốc sự. Người đứng đầu cảnh sát xuất học tập phương Tây để canh tân đất nước. Một  
thân từ võ sĩ phong kiến. Chế độ cảnh sát quốc sự loạt các chính sách, biện pháp đã được ban hành  
do trung ương thống nhất lãnh đạo.  
nhằm nhanh chóng Âu hóa đất nước trong đó có  
Như vậy, bước đầu có thể nhận định rằng, cải cách quân đội. Được sự giúp đỡ của các chuyên  
cùng với những cải cách về kinh tế, văn hóa, xã gia người Anh, lực lượng quốc phòng được chia  
hội…thì cải cách về quân đội trong Minh Trị Duy thành bộ binh, pháo binh và thủy binh. Bộ binh do  
Tân đã góp phần làm thay đổi căn bản nước Nhật. sỹ quan Anh huấn luyện, pháo binh do phó vương  
Nhật Bản dần dần hiện đại hóa trên tinh thần “khoa Chụtthamani, em của vua Mongkut chịu trách  
học phương Tây, tinh thần Nhật Bản”; sức mạnh nhiệm dưới sự cố vấn của người Anh [3, tr. 285].  
nội lực dần dần được khẳng định. Với chế độ quân  
Sang thời kỳ Chulalongkorn (Rama V: 1868  
sự mới, Nhật Bản hoàn toàn vững mạnh để có thể - 1910), trên tinh thần và cơ sở của những thay  
đương đầu với các thế lực bên ngoài cũng như tạo đổi mà Rama III, Rama IV đã định hình, Rama  
ra được ảnh hưởng và thế lực của mình tại khu vực V đã tiến hành cải cách, xây dựng quân đội một  
châu Á vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.  
cách chính quy hơn. Năm 1885, Bộ Chiến tranh  
Bên cạnh Nhật Bản, công cuộc duy tân của đã ra đời cùng nhiều trường quân đội. Năm 1887,  
Chulalongkorn ở Thái Lan cũng diễn ra cùng thời. Bộ Quốc phòng ra đời thay cho Bộ Chiến tranh.  
Người Thái cũng đã nhanh chóng nắm bắt tình hình, Luật Nghĩa vụ quân sự cũng ra đời nhằm huy động  
đổi mới, duy tân đất nước để chống lại sự nô dịch, một lực lượng cần thiết nhất. Năm 1897, quân đội  
thâm nhập của phương Tây. Cùng với những cải Xiêm có khoảng 15.000 người và nam giới trong  
cách về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục… độ tuổi quân dịch vẫn tham gia lao động sản xuất  
các vị vua của Thái Lan cũng đã quan tâm, chú ý bình thường [1, tr. 388]. Việc mời các chuyên gia,  
đến cải cách, xây dựng quân đội nhằm tạo ra một cố vấn quân sự của nước ngoài về huấn luyện kỹ  
118  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
thuật quân sự, kỹ thuật vẽ bản đồ, kỹ thuật hàng ra rất khó thực hiện. Những cải cách về quân đội  
hải… cũng được Chulalongkorn chú trọng. Đặc cũng khó thành công khi phong trào duy tân chỉ  
biệt, Rama V còn cử người đi ra nước ngoài tham tồn tại 103 ngày và cuối cùng thất bại.  
khảo, học hỏi những thành tựu tiên tiến về quân  
sự nhằm tăng cường khả năng, sức mạnh tổng hợp  
của quân đội đất nước mình.  
3. Một vài nhận xét  
Các cuộc cải cách, duy tân ở châu Á (Nhật  
Bản, Thái Lan và Trung Quốc) diễn ra vào nửa sau  
Có thể thấy rằng, những cải cách về quân đội thế kỷ XIX với kết quả và tác động ở mức độ khác  
của Thái Lan đã cho phép nước này tăng cường hơn nhau. Cải cách và xây dựng quân đội là một trong  
nữa sức mạnh nội lực. Là một nước nằm trong khu những lĩnh vực quan trọng đối với các nước. Bởi  
vực Đông Nam Á, Thái Lan cũng chịu sự xâm nhập, xét trong điều kiện châu Á lúc bấy giờ, mọi quốc  
can thiệp của thực dân phương Tây. Tuy nhiên, có gia, dân tộc đang bị phương Tây xâm nhập và thống  
thể thấy rằng, Thái Lan là nước duy nhất, tiêu biểu trị. Do đó, quân đội mạnh sẽ dẹp được thù trong  
thời kỳ này ở Đông Nam Á đã có những đổi thay, giặc ngoài và đó là cơ sở cho việc thực hiện nhiều  
chuyển biến về mọi mặt, hội đủ sức mạnh để có thể biện pháp cải cách khác ở trong nước.  
phòng thủ cũng như đương đầu với quân đội thực  
Cả ba cuộc cải cách ở Nhật Bản, Thái Lan,  
dân. Những cải cách về quân đội của Thái Lan đã Trung Quốc đều tập trung chú ý đến cải cách quân  
góp phần tạo nên một sức mạnh phòng thủ, khả đội một cách chính quy với đầy đủ các lực lượng.  
năng tự vệ trước các nước phương Tây cũng như Điểm giống nhau ở ba nước là đều chủ trương học  
một sự bành trướng, ảnh hưởng ra bên ngoài khu tập mô hình quân đội của phương Tây. Riêng ở  
vực của nước này.  
Nhật Bản và Thái Lan còn mời chuyên gia quân sự  
Đối với Trung Quốc, Biến pháp Mậu Tuất của nước ngoài về cố vấn cho những cải cách, xây  
1898 chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Song, dựng quân đội trong nước. Đây là một sự tiến bộ  
các nhà duy tân Trung Quốc cũng đã bước đầu vạch trong tư duy, tầm nhìn của chính quyền đương thời  
ra những nội dung cải cách trên các lĩnh vực kinh ở các nước. Bởi, họ đã nhận thức được rằng, muốn  
tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và quân đội. Với phú quốc cường binh để đánh đuổi phương Tây thì  
tinh thần tự cường dân tộc, muốn phát triển và “cởi trước hết phải học phương Tây, bắt kịp phương Tây.  
trói” Trung Quốc thoát khỏi tư tưởng “Thiên bất  
Ba cuộc cải cách đã để lại ba hệ quả khác  
biến, đạo diệc bất biến” đã kìm hãm Trung Quốc nhau. Cải cách Minh Trị rất thành công. Quân đội  
trong sự trì trệ, bảo thủ; phái duy tân đã tích cực Nhật Bản ngày càng hùng mạnh, nước Nhật không  
vận động một phong trào cải cách trong điều kiện chỉ không bị phương Tây thống trị mà còn có thể  
xã hội Trung Quốc đang bị xâu xé bởi các thế lực thực hiện các cuộc chiến tranh thắng lợi với một số  
phương Tây. Về quân đội, phái duy tân cũng chủ nước trong khu vực (chiến tranh với Trung Quốc  
trương học tập mô hình quân đội của phương Tây, 1894 - 1895; chiến tranh với Nga 1904 - 1905…).  
huấn luyện lực lượng hải quân, lục quân làm cho Nhờ có quân đội mạnh, Nhật Bản cũng nhanh chóng  
quân đội mạnh lên. Ngoài ra, phái duy tân còn chủ sánh vai, đứng vào hàng ngũ các nước tư bản chủ  
trương kiểm soát chặt chẽ các lực lượng vũ trang nghĩa vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ  
ở địa phương và cho xây dựng đoàn luyện. Trên XX. Cải cách ở Thái Lan cũng khá thành công về  
thực tế, có thể thấy rằng, phái duy tân không có mọi mặt. Quân đội Thái Lan tuy không hùng hậu  
một ai giữ một chức vụ nào trong lực lượng quân và chính quy như Nhật Bản nhưng cũng đã góp  
sự, cũng ít am hiểu về binh cơ. Do đó, bước đầu một phần nhỏ để tạo nên sức mạnh cho Thái Lan  
chỉ đề ra một số biện pháp có tính chất tổng thể, trước sức ép của các nước phương Tây, dặc biệt là  
chưa đi vào chi tiết để có những cải cách sâu rộng. Anh, Pháp nửa sau thế kỷ XIX. Cùng với nhiều cải  
Trong khi đó, tương quan lực lượng giữa phái cách khác như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,  
duy tân, đi đầu là Khang Hữu Vi và Lương Khải cải cách quân đội đã đưa đến những thành công  
Siêu với phải “thủ cựu” trong triều đình Mãn Thanh nhất định cho Thái Lan trong giai đoạn này. Đó là  
quá lớn. Do đó, nhiều biện pháp cải cách, đổi mới nền tảng căn bản cho phép Thái Lan giữ được độc  
đất nước trên mọi lĩnh vực được phái duy tân đề lập về chính trị duy nhất ở Đông Nam Á. Đối với  
119  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
Trung Quốc, phong trào duy tân thất bại. Những thức. Nhận thức đúng đắn và sự cần thiết của vấn  
cải cách về quân đội mới manh nha chưa thể thực đề đó, các nước Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc đã  
hiện được. Khả năng phòng thủ của Trung Quốc đưa ra mục tiêu “phú quốc, cường binh”, xây dựng  
rất yếu ớt trước sự xâu xé của các nước phương đất nước và phát triển quân đội hùng mạnh. Tuy  
Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Mặc dù nhiên, do những điều kiện lịch sử nội tại của mỗi  
không thành công, nhưng các nho sĩ đương thời ở nước chi phối cũng như sự xâm nhập mạnh mẽ của  
Trung Quốc đã hé mở tầm nhìn, nhận thức sâu sắc chủ nghĩa thực dân phương Tây mà mục tiêu “phú  
hơn sự cần thiết phải đổi mới về mọi mặt, trong đó, quốc, cường binh” đạt được ở những mức độ nhất  
cải cách quân đội là một trong những yếu tố để đất định. Nhật Bản và Thái Lan đã khá thành công trong  
nước Trung Hoa “tự cường”.  
việc cải cách và xây dựng quân đội chính quy, vững  
Tóm lại, có thể nhận thấy rằng, bất cứ thời mạnh, đảm bảo được lợi ích về an ninh, chủ quyền  
đại nào trong lịch sử, sức mạnh tổng hợp của một dân tộc. Trung Quốc tuy chưa có những thành công  
quốc gia, dân tộc được xác định bởi nhiều yếu tố, nhất định, nhưng những manh nha cho sự cải cách,  
trong đó sức mạnh quân sự được xem là một trong xây dựng quân đội thời kỳ thực dân cũng cho thấy  
những nhân tố quan trọng hàng đầu. Thời kỳ thực một thay đổi lớn về tư tưởng thời bấy giờ.  
dân cũng như thời đại ngày nay, một nước có nền  
Có thể thấy, ba công cuộc duy tân ở châu Á  
quân sự mạnh là một nước mạnh. Bởi vậy, những thời cận đại (Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc)  
cải cách, xây dựng quân đội ở Nhật Bản, Thái Lan, được xem là một sự đột phá mới về tư tưởng, đường  
Trung Quốc trong thời kỳ thực dân là bài học vẫn lối trong việc đưa đất nước thoát khỏi sự áp bức,  
còn nguyên giá trị cho đến ngày nay…  
4. Kết luận  
thống trị của phương Tây. Một sự “cởi trói” thực  
sự để các quốc gia, dân tộc ở phương Đông thoát  
Cải cách, xây dựng và phát triển quân đội là một khỏi bốn bức tường cung cấm Á Đông, thoát khỏi  
trong những vấn đề quan trọng của mọi quốc gia, dân xiềng xích nô lệ. Từ bài học lịch sử cho thấy, sự lớn  
tộc trong lịch sử cũng như hiện tại. Trong thời kỳ mạnh của lực lượng quân đội, sự phát triển của một  
thực dân, để phòng thủ và đương đầu với sức mạnh nền quân sự tiên tiến sẽ góp phần tạo nên những  
của phương Tây, rất nhiều nước ở phương Đông đã thành công và vị thế quốc tế của các quốc gia, dân  
chú trọng đến phát triển quân đội dưới nhiều hình tộc trong giai đoạn hiện nay./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Trần Khánh (cb), Lịch sử Đông Nam Á, Tập IV, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[2]. Phan Ngọc Liên (cb) (1997), Lịch sử Nhật Bản, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.  
[3]. Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai (1998), Lịch sử Thái Lan, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[4]. Vũ Dương Ninh (1990), Vương quốc Thái Lan - lịch sử và hiện tại, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội,  
Hà Nội.  
[5]. Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn, Ngãi Châu Xương (2002), Lịch sử Thế giới thời cận  
đại, Tập 4, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.  
REFORMING AND MILITARY BUILDING DURING INNOVATION MOVEMENTS  
IN ASIA (JAPAN, CHINA, THAILAND), EARLY MODERN TIMES  
Summary  
Three reforms in Asia (Japan, Thailand and China) in the second half of the nineteenth and early twentieth  
centuries fundamentally changed the strength and position of these countries. One of their major reforms was  
in particular that of the military helping increase their national strength, defense and ability to confront Western  
countries. Although the reforms, the military development in each of the three countries were different in formats  
and results, they shared a significant change in vision as well as a clear definition of the military’s important role  
in maintaining and protecting the security and sovereignty of the nation. The reform and building of the military  
in the three countries is considered to be one of the factors contributing to the internal strength, leading to having  
preserved Japan’s and Thailand’s independence at that time.  
Keywords: Military reform, revolution, Japan, Thailand, China.  
Ngày nhận bài: 16/10/2018; Ngày nhận lại: 24/12/2018; Ngày duyệt đăng: 28/12/2018.  
120  
pdf 4 trang Thùy Anh 16120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề cải cách, xây dựng quân đội trong các phong trào Duy Tân ở châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) thời cận đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_cai_cach_xay_dung_quan_doi_trong_cac_phong_trao_duy_t.pdf