Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh của người Khmer ở An Giang

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
LỄ TỤC TRUYỀN THỐNG TỪ THAI KỲ ĐẾN SƠ SINH  
CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG  
Nguyễn Thị Hoàng Phượng  
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày: 14/6/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 23/7/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021  
Tóm tắt  
Lễ tục từ thai kỳ đến sơ sinh là những nghi lễ, trong chuỗi nghi lễ vòng đời của con người, của nhiều  
dân tộc trên thế giới. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh  
của người Khmer An Giang. Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến một số biến đổi trong lễ tục mang thai và sinh  
nở của người Khmer An Giang hiện nay.  
Từ khóa: Khmer An Giang, lễ tục, sơ sinh, thai kỳ, truyền thống.  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KHMER TRADITIONAL RITUALS FROM PREGNANCY TO BIRTH  
IN AN GIANG  
Nguyen Thi Hoang Phuong  
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City  
Article history  
Received: 14/6/2021; Received in revised form: 23/7/2021; Accepted: 28/8/2021  
Abstract  
The rituals from pregnancy to birth are those in the series of human life cycle ceremonies practiced  
by a great number of nations around the world. This article discusses The Khmers traditional rituals from  
pregnancy to birth in An Giang. Besides, the article also presents the current changes in these rituals of  
Khmer people in the province.  
Keywords: Birth, Khmer in An Giang, pregnancy, rituals, traditional.  
Trích dẫn: Nguyễn Thị Hoàng Phượng. (2022). Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh của người Khmer ở An Giang. Tạp  
chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(1), 54-63.  
54  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 54-63  
1. Đặt vấn đề  
đoạn thai kỳ đến sơ sinh của người Khmer An Giang  
xưa và nay”, một mặt giúp ta hiểu được văn hóa và  
phong tục tập quán truyền thống của người Khmer An  
Giang, mặt khác nó là cơ sở khoa học cho việc bảo  
tồn và phát huy văn hóa truyền thống, phù hợp với xu  
thế phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.  
Qua đó, vận động, giáo dục, thuyết phục nhằm chấn  
chỉnh các nghi lễ, tập tục không còn phù hợp với sự  
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, dần dần tiến  
tới loại bỏ những tập tục lạc hậu. Từ đó, làm cơ sở  
để định hướng trong việc xây dựng và phát triển văn  
hóa dân tộc Khmer An Giang trên cơ sở bảo tồn, phát  
huy bản sắc văn hóa tộc người.  
An Giang là một tỉnh phía Tây Nam của tổ  
quốc. Theo Ban Dân tộc tỉnh An Giang (2019) cho  
rằng: An Giang có diện tích tự nhiên: 3.424 km, với  
29 dân tộc anh em sinh sống, trong đó, phần nhiều  
là dân tộc: Kinh, Khmer, Chăm, Hoa. Trong 29 dân  
tộc anh em ở An Giang, dân tộc Khmer là cư dân có  
số dân đông đứng hàng thứ 2 (sau người Kinh) và  
cũng là cư dân có một nền văn hóa truyền thống với  
nhiều phong tục, tập quán, tín ngưỡng lâu đời nhất ở  
An Giang (Ban Dân tộc tỉnh An Giang, 2019, tr. 1).  
Văn hóa người Khmer An Giang trong quá khứ  
và hiện tại có vai trò rất quan trọng, là một trong  
những nguồn lực cho sự phát triển bản thân của tộc  
người cũng như con người ở tỉnh An Giang. Do vậy,  
việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc  
Khmer là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan  
trọng trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên  
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống  
nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt  
Nam. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa  
truyền thống của các dân tộc là vấn đề chiến lược, luôn  
được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện qua các  
nghị quyết, chỉ thị, quyết định như: Nghị quyết Hội  
nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VII (khóa  
IX) đã chỉ rõ: “Giữ vững và phát huy những giá trị,  
bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu  
số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng  
dân tộc Việt Nam thống nhất”; Quyết định số: 1270/  
2. Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh  
của người Khmer ở An Giang  
2.1. Những kiêng kỵ trong thai kỳ của người  
Khmer An Giang  
Bất cứ một dân tộc, quốc gia nào trên thế giới  
và bất cứ ở thời điểm nào của lịch sử, tuổi trẻ bao giờ  
cũng có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng. Họ là sức  
sống, là điểm tựa vững chắc cho dân tộc, là chủ nhân  
tương lai của đất nước. Chính vì thế, mỗi gia đình,  
dân tộc, quốc gia muốn tồn tại và phát triển, điều cơ  
bản đầu tiên là đòi hỏi phải có nguồn nhân lực (tuổi  
trẻ). Nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở số lượng,  
thể lực mà cả trí tuệ. Vì vậy, khi đứa bé còn là bào  
thai trong bụng mẹ, đã được cha mẹ, gia đình, cộng  
đồng rất quan tâm chăm sóc và nuôi dưỡng. Điều này  
thể hiện qua hàng loạt các việc nên và không nên làm  
QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27 tháng 7 đối với người phụ nữ trong giai đoạn thai kỳ được  
năm 2011 về việc: Phê duyệt Đề án: “Bảo tồn, phát dân gian lưu truyền từ xưa đến nay như: “Phải năng  
triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm cất nhắc, vận động, đừng ăn không ngồi rồi, kiêng ăn  
nhiều chất bổ, sợ thai lớn khó sinh. Kiêng ăn trái cây  
sinh đôi, kiêng ăn cua để tránh sinh ngang, kiêng ăn  
sò, óc, trai, hến để con khỏi có nhiều dớt, dãi. Không  
nên nóng giận, không có hành động gian ác, không  
nên xem nhìn những cảnh khiếp sợ, thương tâm” (Vũ  
Hồng Luật, 2003, tr. 16)  
2020”; Chỉ thị số: 194/CT-BVHTTDL của Bộ Văn  
hóa, Thể thao - Du lịch ra ngày 20 tháng 10 năm 2011  
về việc: Triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn phát  
huy văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm  
2020” (Nguyễn Thị Hoàng Phượng, 2019, tr. 48).  
Như chúng ta đã biết, dân tộc Khmer nói chung  
và Khmer An Giang nói riêng là một trong những  
dân tộc có nền văn hóa lâu đời, với nhiều lễ tục, tín  
ngưỡng trong đời sống của người Khmer. Khi nói đến  
lễ tục, tín ngưỡng của người Khmer An Giang, chúng  
ta không thể không nhắc đến “lễ tục từ giai đoạn thai  
kỳ đến sơ sinh” của họ. Lễ tục này được xem là một  
mảng khá quan trọng trong lễ tục vòng đời của người  
Khmer An Giang, nó thể hiện rõ về sắc thái văn hóa  
của tộc người. Nghiên cứu “Lễ tục vòng đời từ giai  
Xưa kia, tuổi lập gia đình đối với thiếu nữ Khmer  
An Giang từ 14 tuổi trở lên. Sau khi có gia đình, việc  
con cái đối với họ rất là quan trọng và cũng xem đó  
là chuyện “tùy duyên”. Vì vậy, sau khi lập gia đình  
người Khmer không bao giờ sử dụng phương pháp  
ngừa thai hay chọn ngày, tháng, năm cho con chào  
đời mà để việc ấy “thuận theo tự nhiên”. Do đó, có  
nhiều cặp vợ chồng đầu năm đám cưới, cuối năm lại  
có con ẩm bồng.  
55  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Khi người phụ nữ có thai sẽ có một số tín hiệu trâu (sợ em bé sau này khó dạy); không ngồi trên cụt  
như: tắt kinh, bùa nôn hay dị ứng một số mùi như: cá, đá (sợ mong em bé sinh ra có đốm xanh, đốm đen);  
thuốc hút, xăng (xăng dầu), nhang (nhang thờ cúng), không được chạy nhảy qua mương (sẽ làm sảy thai);  
mùi dầu thơm... Có người lại thích ăn những món ăn  
trước đây mà họ chưa từng ăn hay không thích. Có  
người trước đây thích ăn mặn nhưng khi mang thai lại  
thích ăn lạc... Bên cạnh đó, kèm theo hàng loạt những  
kiêng kỵ trong ăn uống hay sinh hoạt hàng ngày mà  
trước đây chưa từng đề cập đến.  
không được leo trèo hay ngồi ghế cao (sợ té rồi sảy  
thay); không được đi hay ngồi nơi có đông người  
(sợ người ta nói chuyện lớn tiếng làm người mang  
thai giựt mình, hay tức giận sẽ ảnh hưởng đến thai  
nhi).Trong động tác đi đứng, người mang thai phải  
đi khoan thai nhẹ nhàng; không đi guốc, giầy cao gót  
(sợ vấp té rồi sảy thai); tránh đi xe chạy lên dốc hay  
xuống dốc nhất là đoạn đường gồ ghề (sợ sảy thai hay  
đến ngày sinh em bé cứ thò ra, thụt vào); không bước  
qua võng (sợ nhau thai quấn cổ); không nằm võng  
(sợ võng đứt thai nhi khó giữ và ảnh hưởng sức khỏe  
của mẹ). Hạn chế tối đa việc ngủ trưa (sẽ làm em bé  
sinh ra lừng khừng không được tỉnh táo, ngoài ra thai  
nhi mau lớn); không được tắm từ 17 giờ chiều trở về  
tối (vì thai nhi mau lớn sẽ khó sinh). Trong thời gian  
mang thai người mẹ phải luôn tỏa ra vui vẻ, tránh  
buồn phiền, cáu gắt, tức giận (vì ảnh hưởng đến sự  
phát triển trí tuệ của đứa trẻ). Ngoài ra, khi gia đình  
có người mang thai, người Khmer kiêng kỵ không  
trồng cây chuối hột gần nhà (vì ma quỷ thường theo  
cây chuối và sẽ vào nhà để quậy phá người mang thai  
và thai nhi sau khi chào đời).  
Do ở mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng, vì vậy  
trong thời gian mang thai đối với phụ nữ Khmer cũng  
có nhiều điểm khác so với phụ nữ của các dân tộc  
khác trong và ngoài tỉnh An Giang. Tục ngữ Khmer  
có câu: “Một lần sảy bằng bảy lần sinh (Mui đon  
roluk smo pram by kok)” (Võ Thành Hùng, 2010, tr.  
86). Vì vậy, khi mang thai, phụ nữ Khmer An Giang  
tuân thủ rất nghiêm khắc, xem đây như một quy tắc  
buộc mọi người đều phải thực hiện và được truyền  
trong dân gian từ đời này sang đời khác.  
Theo bà Chau Sóc My, năm nay 70 tuổi, ngụ tại  
xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang  
cho biết: Khi mang thai, người Khmer An Giang  
kiêng cử những món ăn như: không ăn các chất quá  
cay, quá nóng hay quá đắng. Họ quan niệm, nếu ăn  
những chất này làm ảnh hưởng đến sức khỏe người  
mẹ, đặc biệt không tốt cho thai nhi hay các thức ăn  
có vị chát như: chuối chát, quả sộp, quả bần… vì họ  
cho rằng, sinh con ra không được sạch sẽ; hoặc không  
ăn mít chín, vì sợ trúng thực. Đối với thức uống, họ  
Ngoài những kiêng kỵ trong thời gian mang  
thai đã nói trên, người Khmer còn đến nhờ sư (sư  
ở chùa) hoặc thầy (thầy bùa) làm bùa để đeo ở thắt  
lưng, còn gọi là “dây Kàtha”. Dây Kàtha thường làm  
cử những nước uống có chất kích thích như: rượu, bằng chỉ trắng hoặc chỉ màu (đỏ, vàng) và có bấm  
cà phê (làm thai nhi đen). Trong thời gian thai kỳ ở thỏi chì, trong thỏi chì có khắc bùa. Theo tác giả Lê  
giai đoạn đầu (từ khi mới có thai cho đến tháng thứ Hương (1969, tr. 132) cho rằng: Bùa khắc trên chì là  
3) và giai đoạn cuối (tháng 7 đến khi sinh) người mẹ  
không được uống nước dừa tươi (vì giai đoạn đầu dễ  
bị sảy thai, giai đoạn cuối thai nhi mau lớn dẫn đến  
khó sinh). Khi ăn uống người mang thai phải ngồi,  
chứ không được đứng hay vừa đi vừa ăn; không được  
ăn chén, tô, dĩa, ly, ca mẻ hay đũa cao đũa thấp. Tư  
thế ngồi ăn là ngồi xếp “chè he”, đặc biệt trong bữa  
ăn chung với nhiều người, cho dù đã no hay chưa no,  
thì buộc người mang thai phải buông đũa trước so với  
những người còn lại (người ta quan niệm làm như thế,  
đến khi sinh, sẽ sinh mau mắn). Ngoài ra trong khi  
ngồi, người mang thai cần tránh: không được ngồi ở  
hàng ba nhà (vì nơi đây là nơi nước mưa trút xuống,  
mọi thứ dơ bẩn từ nóc nhà rơi xuống từ đây; trong  
đó có ma quỷ); không ngồi ở bậc cửa cái vào nhà (sợ  
khi sinh, đứa bé cứ thò ra thụt vào); không ngồi cộ  
loại bùa thường được nhà sư của người Khmer làm.  
Một lối giữ bùa thông dụng trong giới người Khmer  
là nhà sư khắc bùa trên miếng chì, cuốn lại cột vào  
sợi dây se bằng chỉ ngũ sắc gọi là Kàtha, người ta gọi  
là dây niệt. Chính người đi xin bùa đem một cục chì  
đến nhờ sư định ngày làm lễ “Bonn Prasethi Katha”  
và sửa soạn trước. Sư hơ chì trên lửa cho mềm, dùng  
búa đập dẹp và cắt từng miếng dài 5 phân, ngang 3  
phân. Sư dùng viết đầu bằng sắt nhọn (gọi là dekchak)  
vẽ bùa trên một mặt, đoạn cuốn tròn trên một sợi dây  
se bằng chỉ ngũ sắc gọi là Kse Katha. Số chì nhiều ít  
tùy theo loại dây Kàtha và tùy người xin. Một tác giả  
khác lại cho rằng: Người đeo Kàtha khi đi tắm phải  
cởi ra để trên bàn thờ (không nên để tứ tung), không  
được đi dưới sào phơi đồ hay quét dọn dưới gầm  
giường và không được ăn thịt: chó, ếch, trái khế, trái  
56  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 54-63  
bầu..., nếu ăn thì dây bùa mất tác dụng (Nguyễn Văn Tôn, tỉnh An Giang cho rằng: Để sinh cho mau mắn  
dễ dàng, khi còn khoảng 2 tháng đến ngày sinh, người  
Lữ, 2007, tr. 33). Ngoài ra, người Khmer An Giang  
còn quan niệm, khi đeo Kàtha vào người để ngừa sự Khmer thường đi lụm hoa Đomrek (hoa vô ưu) để  
không hay xảy đến. Đối với người đi xa, đeo Kàtha  
đi đường để thượng lộ bình an; đối với người mang  
thai, đeo Kàtha để đem lại bình an cho thai nhi và  
người mẹ; đối với thiếu nữ, đeo Kàtha phòng tránh  
bùa nghe của người khác giới. Dây bùa có hiệu lực  
tùy vào sự ấn định của sư, có thể 3 tháng, 6 tháng. Hết  
thời gian ấn định phải đem dây Kàtha đến sư “tom”  
bùa thêm, để giữ đủ quyền lực.  
nấu nước uống. Cây vô ưu còn được xem là loại cây  
linh thiêng đối với người theo Phật giáo Nam tông  
(Phật giáo Nguyên thủy), vì cây có liên quan đến  
cuộc đời của Phật Thích ca, cụ thể qua câu chuyện  
như sau: Ngày xưa, theo tục lệ khi chuẩn bị đến kỳ  
mãn nguyệt khai hoa, người vợ phải trở về quê cha  
mẹ đẻ để sinh nở. Hoàng hậu Maya (mẹ của Đức Phật  
Thích ca) cũng không ngoại lệ. Gần tới ngày sinh, bà  
cùng đoàn tùy tùng trở về nhà cha mẹ đẻ để sinh. Dọc  
dường, Hoàng hậu dừng chân nghỉ tại góc cây vô ưu  
thì cơn đau sinh lại đến. Trong lúc Hoàng hậu tìm  
vật gì để “bấu víu” trong cơn đau, bỗng nhiên cây vô  
ưu liền nghiêng nhánh xuống cho bà nắm lấy. Hoàng  
Tục ngữ Khmer có câu “Chửa là cửa mồ (Chưa  
la dieu tri mô la quek)” (Võ Thành Hùng, 2010, tr.  
88). Vì vậy trong thời kỳ mang thai, ngoài kiêng cử  
trong ăn uống, sinh hoạt và đeo Kàtha hàng ngày thì  
người mang thai còn đi chùa. Mục đích của người  
đàn bà Khmer có thai đến chùa là để cầu xin Đức hậu vừa vịn cây thì đứa bé chào đời. “Đứa bé đó, sau  
Phật cho việc sinh nở sắp tới được mau mắn và “mẹ này chính là Phật Thích Ca”. Vì vậy, mỗi khi mang  
tròn con vuông”.  
thai gần đến ngày sinh, người Khmer đi lượm hoa vô  
ưu về nấu nước uống bắt nguồn từ câu chuyện trên.  
Ông Chau Kuôn, năm nay 72 tuổi, cư ngụ ấp Sà  
Lôn, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang  
cho rằng: Khi mang thai, phần nhiều người Khmer  
An Giang mong muốn được sinh con gái. Vì con gái  
sau khi lấy chồng vẫn còn ở bên nhà mẹ đẻ, còn con  
trai phần nhiều sang nhà vợ sống. Ngoại trừ một số  
trường hợp cô dâu sang sống bên nhà chồng là do  
sự thỏa thuận của cha mẹ hai bên. Xưa kia khi y học  
chưa phát triển, nhưng trong thời gian mang thai  
người Khmer vẫn khám thai theo định kỳ là 3 tháng,  
6 tháng (khám tại nhà mụ vườn) hay chuẩn đoán thai  
nhi là trai hay gái qua sự bắt mạch của bà mụ hoặc  
kinh nghiệm dân gian của những người lớn tuổi như  
thấy phụ nữ mang thai vui vẻ, khỏe mạnh họ cho thai  
nhi là con gái; còn con trai sẽ làm cho mẹ mệt mỏi  
và tâm trạng không được vui; hoặc ăn chua là trai,  
ăn ngọt là gái; bụng gọn và nhọn là trai, bụng to và  
bè là gái. Tuy nhiên, với cách chuẩn đoán trên chưa  
được chính xác.  
Gần đến ngày sinh, người chồng hay người thân  
trong gia đình chuẩn bị những vật dụng cần thiết sử  
dụng trong lúc sinh và sau khi sinh như: chỗ nằm,  
củi, than (nằm lửa), thuốc ngâm rượu, tiêu hột, dầu  
nóng… giấy, báo, quần áo, tả lót (đồ cũ của cha mẹ  
rồi cắt ra), gạo, tiền,… Có trường hợp đến ngày sinh  
mà thai nhi không chịu chào đời, ngoài việc nhờ bà  
mụ thăm khám, chỉnh sửa bào thai, người ta còn dùng  
phương ngoại như: hái đọt điên điển rửa sạch, sau đó  
giã nhuyễn rồi dùng nước sôi để nguội chế vào rồi  
khuấy lên ít vòng, sau đó để khoảng 10 phút, rồi lấy  
nước trong uống, còn cặn bỏ đi (ở cách này, người ta  
chuẩn đoán sinh con trai thì dùng 7 đọt, con gái thì  
dùng 9 đọt). Ngoài ra, người ta còn sử dụng cách xin  
gạo nấu cơm ăn để cho mau sinh (Ở cách này, người  
mang thai trực tiếp đến nhà hàng xóm xin gạo về nấu  
riêng ăn. Khi đến nhà hàng xóm xin gạo, người mang  
thai nói: cho tôi xin gạo; người chủ nhà mang gạo  
ra nói: gạo của tôi cho là nấu ăn phải đẻ liền nghen.  
Ở cách này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần (đi xin gạo  
nhiều lần để nấu cơm) cho đến khi sinh (Lưu ý: mỗi  
lần đi xin, chỉ xin nấu vừa đủ trong một bữa ăn, không  
được để thừa dư gạo qua bữa khác nấu, hoặc không  
nấu cơm dư để ăn bữa sau). Trường hợp xin gạo lặp  
đi/ lặp lại nhiều lần mà không sinh, người ta tiến hành  
phương pháp bỏ thai cứu mẹ (gia đình mời bà mụ đến  
nhà, bà mụ cho người mang thai uống thuốc, sau đó  
thai nhi sẽ sổ ra).  
Trong thời gian mang thai, nếu người mẹ và  
thai nhi không được khỏe, gia đình mời bà mụ đến  
nhà xem mạch và hốt thốt nam, hoặc mời sư đến nhà  
làm lễ hay mời thầy đến nhà làm phép nhằm cầu an  
cho mẹ và con. Trường hợp xấu hơn, khi thai nhi  
chưa chào đời mà mất trong bụng mẹ, người ta mời  
sư đến nhà làm lễ cầu siêu cho thai nhi và làm lễ cầu  
an cho người mẹ.  
Theo Hòa thượng Chau Sơn Hy - Trụ trì chùa  
Sà Lôn thuộc ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, huyện Tri  
57  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
2.2. Lễ tục sau khi sinh  
và dễ dạy. Sau khi rụng rốn, người ta đem bỏ hoặc  
chôn bất cứ nơi đâu trong đất quanh nhà” (Nguyễn  
Văn Lữ, 2007, tr. 36-37).  
Sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, chính  
vì thế, không riêng đối với người Khmer mà cả người  
Kinh, Hoa, Chăm ở An Giang khi đến ngày, giờ đau  
Trong thời gian vừa mới sinh, người nhà thay  
bụng sinh, người chồng hoặc người thân trong gia phiên túc trực bên sản phụ và trẻ sơ sinh, đặc biệt là  
đình đi mời bà mụ vườn (thường ở mỗi phum người về đêm. Người Khmer cho rằng, trong thời gian này  
ta có mụ vườn) phụ giúp sinh. Cách sinh này làm theo cơ thể của sản phụ còn ra huyết; vì vậy ma quỷ lợi  
kinh nghiệm, nên việc sinh đẻ trước đây gặp không ít dụng lúc vắng người để đến hút máu huyết và dẫn đến  
nhiều rủi ro, hậu quả của nó dẫn đến nghiêm trọng, tính mạng sản phụ rất nguy hiểm, không khéo có thể  
có thể đánh mất mạng sống của con người.  
bỏ mạng. Sau khi sinh, sản phụ và bé sơ sinh thường  
nằm lửa từ 7 đến 15 ngày. Trong thời gian nằm lửa,  
đầu sản phụ không được kê gối (vì lúc nằm lửa cơ  
thể nóng nhưng phần đầu do kê gối không nóng dẫn  
đến máu huyết không lưu thông; vì vậy thường đưa  
đến nhức đầu).  
Nhà của người Khmer An Giang trước đây, phần  
nhiều là nhà đất lợp lá; vì vậy gần đến ngày sinh, gia  
đình chuẩn bị một cái giường bằng vạt tre để ở gần  
góc bếp. Giường không quá cao mà cũng không quá  
thấp, độ sao thuận tiện cho việc nằm lửa không bị quá  
nóng. Khi nằm sinh, người Khmer không nằm quay  
Để tránh tà ma đến quậy phá đứa bé và sản phụ,  
đầu về hướng Tây (là hướng người chết nằm và em sau khi sinh, người ta mời thầy cúng (kru) đến đọc  
bé thường giật mình). Sau khi sinh người ta tắm cho thần chú (manh - akôm), làm bùa rồi lấy chỉ trắng cột  
sản phụ và trẻ em bằng nước nấu từ các loại lá cây quanh bốn chân giường hay treo cây plaket (loại cây  
như: lá bưởi (Slok kroch) lá sả (Slok kray), lá bài có gai mọc hoang trong núi) xung quanh nhà, nơi ở  
man, lá Tapuôl, lá tre (loại tre gai), lá chúc, lá bạch của sản phụ và bé hoặc lấy vôi trắng đánh dấu thập  
đằng. Việc tắm nước lá cây là để có mùi thơm cho vào ở 2 cột nhà. Ngoài ra, phía trước nhà người ta  
mẹ lẫn con và còn tránh kiến, ruồi bu cắn đứa trẻ. còn treo 04 lá dừa, nhằm thông báo gia đình có người  
Có nơi chỉ tắm mẹ, còn trẻ sau khi sinh 3 ngày mới mới sinh, để người lạ không vào nhà (khi cần thiết  
được tắm (người Khmer Châu Thành). Trong thời người lạ đứng ngoài sân gọi người nhà đi ra) hay  
gian trẻ chưa được tắm, người ta dùng nước sôi để khách đến chơi giữ gìn lời ăn tiếng nói có ý tứ, nhỏ  
ấm lau mình cho trẻ. Sau khi tắm, người ta dùng lá nhẹ hay không chê nhà có khói. Ở một số nơi như  
cây Slơkthom hoặc giấy, báo để lót cho sản phụ nằm, huyện Châu Thành (An Giang) khi trong nhà có người  
vì lúc này băng huyết của sản phụ còn ra khá nhiều. sinh, trước cửa nhà người ta không treo hay làm dấu  
hiệu gì. Tuy nhiên, để phòng trừ tà ma quấy rối sản  
phụ và trẻ, người ta thường lấy cây dâu tằm ăn treo  
trước cửa phòng, trên nóc mùng hoặc lấy lưới bao  
xung quanh mùng của trẻ và sản phụ. Từ ngày sinh  
cho đến ngày thứ 3, ngoài những người thân trong  
gia đình thì không ai được bước vào phòng của bé  
và sản phụ. Vì quan niệm, nếu người đến thăm, lỡ  
lời nói không khéo, sẽ ảnh hưởng không tốt đến mẹ  
con sản phụ. Do đó, thường đến ngày thứ 4 người ta  
mới cho thân nhân, họ hàng và chòm xóm đến thăm  
và người đến thăm hạn chế nói chuyện nhiều hay nói  
lớn tiếng và không được chê khen em bé, hoặc chỗ ở  
của hai mẹ con sản phụ…  
Khi sinh xong, người ta cắt “nhau thai” để vào  
miếng vải lụa và ướp chừng một chén muối, sau đó  
gói lại và cho vô bao mang để tại chân giường đúng 3  
ngày. Sau đó, đem đi chôn ở khu vực đất nhà. Con trai  
chôn ở hướng Đông Bắc (vì người Khmer quan niệm  
hướng Đông Bắc là hướng Mặt trời mọc, thể hiện uy  
quyền người thanh niên khi lớn lên trách nhiệm trong  
gia đình trọn vẹn, dù không làm gì cũng có thể tu báo  
hiếu trả ơn cho cha mẹ. Đối với con gái chôn nhau  
theo hướng Tây, vì con gái chỉ có trách nhiệm trong  
gia đình nhỏ, không trọn vẹn bằng con trai, không  
được đi tu trả ơn cho cha mẹ. Đối với cuống rốn đứa  
trẻ, người ta dùng vải trắng (mới, sạch) chiều ngang  
khoảng 20 cm, quấn quanh bụng che cuống rốn, để  
Theo bà Chau Sóc My cho rằng: Trước đây có  
giữ vệ sinh, phòng ngừa khi tắm tránh nước vào hay chị Nguyễn Thị A sinh, chị Lê Thị C là người hàng  
bị ruồi, kiến bám dễ bị nhiễm trùng. Thời gian rụng xóm đến thăm. Vô tình chị C nói chỗ ở của hai mẹ  
rốn sau khi sinh từ 3 ngày đến 7 ngày. Nếu 3 ngày con chị A hơi nóng. Qua một hay hai ngày sau là  
rụng rốn mà là con trai, người ta đoán đứa bé này lớn  
lên “quậy phá khó dạy”; còn 7 ngày rụng là ngoan  
chiếc chiếu nằm của hai mẹ con chị A cháy và em  
bé thì bị bỏng. Vì vậy, sau này khi ai đến thăm sinh,  
58  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 54-63  
lỡ lời không khéo hay chê khen mẹ con sản phụ, sau  
Để bồi bổ nuôi dưỡng cơ thể sau khi sinh hay cho  
khi người đi thăm về, gia đình sản phụ phải hoán giải máu huyết lưu thông, theo Hòa Thượng Danh Thiệp  
cho mẹ con sản phụ (Ví dụ: Người đi thăm nói chỗ ở - Trụ trì chùa Séry Meang Kolsakor thuộc xã Vĩnh  
của hai mẹ con sản phụ hơi nóng, người nhà của sản Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cho rằng,  
phụ rút bớt củi lửa ra…).Trong thời gian mẹ con sản người ta thường uống thuốc ngâm rượu như: một số  
phụ nằm lửa, em bé thường được đặt nằm gần đầu loại cây thuốc ở núi ngâm rượu, rượu thuốc sầu đâu,  
giường - nằm ngang đầu với sản phụ. Vì nằm trên rượu cây cốc leo hay rượu ngâm tiêu (1 lít rượu thì  
đầu giường hạn chế nóng và dưới lưng của trẻ, người 1 khía tiêu. Tiêu được cà nhuyễn ra, ngâm vào rượu  
ta lấy báo hay vải lót cho đỡ nóng. Người ta cho bé khoảng 2 ngày là uống được) hay uống nước muối  
nằm với tư thế thả lỏng thoải mái (họ lấy vải, khăn (uống nước muối sau này đi mưa không bị cảm lạnh).  
đắp ngang bụng mà không cần quấn chặt người của  
bé). Trường hợp trời mưa, người mẹ phải ngồi mà  
ôm bé, để tránh sấm, sét, trời gầm làm bé giựt mình.  
Để miệng em bé tránh có mùi tanh sau khi bú  
sữa mẹ, người Khmer cải tạo sữa mẹ bằng biện pháp  
như: Người ta dùng dừa khô đã được nạo và đựng  
Để giữ tốt cho cơ thể mẹ và bé sau khi sinh, thì vào cái đĩa, rồi dùng cái nồi đất (nồi nhỏ) chứa than,  
vấn đề ăn uống là một trong những điều rất cực kỳ than đang cháy đỏ, sản phụ dùng bàn tay hơ trên nồi  
quan trọng. Theo bà Nèang Thơm năm nay 69 tuổi, chứa than, đợi khi bàn tay nóng lên thì bóp vào dừa  
cư ngụ ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh nạo, rồi sau đó dùng bàn tay ấy úp vào bầu sữa. Đối  
An Giang cho rằng: Tuần đầu sau khi sinh, sản phụ với trường hợp sau khi sinh sữa mẹ ít hoặc không  
chỉ ăn cơm với muối tiêu. Tuần tiếp theo là được ăn có, người Khmer tiến hành thực hiện một số cách  
cá lóc, cá trèn, cá bóng, thịt heo nhưng phải kho tiêu như: lấy đọt khoai lang còn tươi đem luộc rồi chấm  
cho thật mặn. Tuyệt đối khi mới sinh không được ăn với nước mắn hay nước cá kho để ăn; dùng cây cỏ  
canh; Đối với thịt gà, thịt vịt sau khi sinh được 5 hay ngà voi đã được phơi khô hay lá dừa chế nước vào,  
6 tháng mới được ăn. Tuy nhiên, sau khi ăn, người ta đem nấu để thay nước uống. Đặc biệt đối với người  
lấy xương của thịt gà, vịt vừa mới ăn đem đi nướng rồi Khmer ở vùng Tri Tôn, Tịnh Biên người ta thường  
tán ra thành bột. Nếu trường hợp người mẹ ăn không sử dụng cây gai bướm nấu nước cho sản phụ uống  
tiêu người ta lấy nước sôi chế vào bột của xương vừa (vì cây này ngoài việc nấu nước uống có sữa, nó còn  
nướng, để khoảng 10 phút, rồi lấy nước trong uống có tác dụng trừ tà ma). Nếu dùng mọi cách không có  
còn lớp cặn thì bỏ. Tuyệt đối không được ăn những sữa thì người ta đi xin sữa người trong xóm có con  
đồ khó tiêu, đặc biệt là mít chín, củ sắn... Trước đây, nhỏ hoặc lấy nước cơm, nước cháo để vào chút đường  
bà có cô em họ, sinh được 3 tháng do ăn mít bị trúng, cho trẻ uống hay lấy gạo lức đem đi xay thành bột,  
lúc gia đình đi vắng nhà nên người này mất mạng. sau đó pha nước cùng thêm chút muối, chút đường  
Không được ăn chua sớm, từ tháng thứ 7 sau khi sinh đem để lên bếp khuấy cho đến khi bột chín rồi đem  
mới được ăn (ăn đồ chua sớm sẽ bị bệnh âm đạo). cho trẻ uống. Lưu ý, bột khuấy chín còn lỏng, không  
Đối với thịt trâu, bò phải kiêng ăn đến khi em bé tới để đặc (nếu không có đường người ta dùng mật ong).  
ngày thôi nôi. Trong thời gian ở cử (sau sinh 1 tháng)  
sản phụ không được bóc muối, không cầm dao bằng  
sắt (sẽ đau ngực và không có sữa), không chải tóc  
sớm (rụng tóc), không nói chuyện nhiều, không uống  
nước đá (rụng răng sớm), không được đi lẹ, không  
được làm nặng (từ 5 - 6 ký), không giặt đồ. Đặc biệt  
sản phụ và trẻ mới sinh không được đi xa nhà (thứ  
nhất sợ gió, thứ 2 là ma quỷ dễ nhập vào làm hại hai  
mẹ con). Đồng thời, sản phụ còn phải xông hơ vùng  
kín, âm đạo để mau trở lại bình thường (người ta lấy  
trái dừa tươi hơ lửa cho nóng, rồi lấy vải quấn quanh  
trái dừa và sản phụ ngồi lên cho đến khi trái dừa hết  
nóng) và chỉ được sinh hoạt vợ chồng khi con được  
3 tháng tuổi.  
2.3. Lễ tục trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng  
trẻ sơ sinh  
Không riêng vì người Kinh, Chăm, Hoa, mà  
ngay chính người Khmer luôn xem con cái là tài sản  
vô cùng quý giá và cũng là nơi gửi gắm nhiều hy  
vọng niềm tự hào của cha mẹ và gia đình. Vì vậy,  
khi đứa bé vừa cất tiếng khóc chào đời là bao nhiêu  
vui sướng, lo toan của cha mẹ và gia đình thể hiện  
rõ trên khuôn mặt. Do đó, trong việc chăm sóc, nuôi  
dạy con cái khi còn thơ cha mẹ rất quan tâm và được  
thể hiện cụ thể qua các lễ tục như sau:  
2.3.1. Lễ trả ơn mụ (Pithi boncok chhmop)  
Sau khi sinh được 7 ngày, gia đình tiến hành  
59  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
làm lễ trả ơn mụ. Tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi tiên; Cách 2: gia đình nhờ nhà sư đặt tên cho đứa bé.  
gia đình mà lễ tiến hành giản đơn hay long trọng. Thường người ta sắp xếp, bố trí để bé nằm ở ngã ba  
đường, hay nằm bên hiên nhà và tình cờ nhà sư đi  
ngang qua nhặt được và đặt tên cho bé. Sau đó nhà  
sư thông báo cùng mọi người trong phum, ai cần thì  
sư cho. Thế là cha mẹ của bé đến xin để nuôi. Sau  
khi đứa bé được mang về nhà, gia chủ nấu cơm, canh  
cúng trình tổ tiên, ông bà.  
Phần nhiều lễ trả ơn mụ của người Khmer An Giang  
tổ chức đơn giản hơn người Khmer Sóc Trăng, Trà  
Vinh. Thông thường khi đến ngày, gia đình nấu 2  
mâm cơm, canh rồi mời bà mụ cùng họ hàng đến chia  
vui. Sau khi cúng tổ tiên xong, bà mụ cùng hàng xóm  
dùng cơm và nói lời chúc phúc cho đứa bé và lời chúc  
mừng gia đình. Sau khi họ hàng và bà mụ ra về, lúc  
này gia đình cử một người mang lễ vật sang nhà bà  
mụ biếu, cảm ơn bà có công hộ giúp khi sinh. Lễ vật  
thường gồm: một thúng lúa, chuối, dừa khô, vải (2  
mét), trái cây, đồ ăn… một ít tiền.  
2.4. Lễ tục trong việc nuôi dưỡng, ốm đau ở  
trẻ sơ sinh  
Trong thời gian từ khi sinh cho đến khi bé được  
12 tháng tuổi, khi giặt quần áo, đồ dùng cho bé không  
được giặt ban đêm (sợ ma quỷ theo phá). Khi giặt  
quần áo của bé, tránh không được vắt (sợ bé bị vặn  
mình). Trong thời gian này, để đứa bé tránh khóc về  
đêm hay giựt mình khi ngủ, người ta thường lấy dâu  
tằm ăn làm vòng cho bé đeo tay.  
2.3.2. Lễ cắt tóc (Bon pha noh)  
Lễ cắt tóc cũng là lễ đặt tên cho đứa trẻ. Sau  
khi sinh được 3 tháng gia đình tổ chức làm lễ cắt tóc  
và đặt tên cho trẻ. Mục đích của lễ này là cầu an cho  
trẻ và cái tên để bé nhận biết cha, mẹ, dòng họ. Việc  
cắt tóc tùy nơi mà cắt giống và khác nhau. Đối với  
người Khmer huyện Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang)  
người ta thường cạo trọc cho trẻ (cả trai và gái); đối  
với Khmer Châu Thành bé trai cạo trọc, bé gái cắt  
tượng trưng. Một đặc điểm riêng của người Khmer  
Tri Tôn và Tịnh Biên thông thường đặt tên cho con  
đối với con gái phần tên thì đặt sao cho vần với tên  
của người mẹ, còn phần họ đều mang họ Néang (Thí  
dụ: Néang Sóc Thia); đối với con trai, phần tên cũng  
đặt sao cho vần với tên của người cha, còn phần họ  
đều mang họ Chau (Thí dụ: Chau Lốt). Đối với người  
Khmer ở một số nơi như: Châu Thành, Thoại Sơn,  
Chợ Mới (An Giang) cả gái hoặc trai đều mang họ  
của cha giống người Kinh.  
Người Khmer cho trẻ ăn dặm ở khoảng bốn  
tháng tuổi. Có nhiều cách cho bé ăn, đối với người  
Khmer Tri Tôn, Tịnh Biên người ta thường lấy cơm  
được nấu vừa chín rồi đem nghiền nát ra, cho một ít  
đường hay mật ong vào rồi trộn cho đều, sau đó đem  
cho bé ăn; đối với người Khmer Châu Thành ngoài  
cách cho trẻ ăn dặm như người Khmer ở huyện: Tri  
Tôn và Tịnh Biên, người ta còn lấy cơm vừa nấu chín,  
rồi đem nghiền nát và cho vào chút muối, sau đó trộn  
lên, để vào lá chuối (lá chuối hột) rồi đem nướng bếp  
than. Sau khi lá chuối chuyển màu cũng là lúc cơm  
đã quá mềm, có mùi thơm, người ta mang cho trẻ ăn.  
Khi trẻ đến 3 tuổi lúc này người ta mới cho trẻ ăn  
cơm với cá, thịt (người Khmer An Giang quan niệm  
cho trẻ ăn cơm với cá, thịt sớm dẫn đến bụng to hay  
còn gọi là bệnh mắc cơm tích).  
Nghi thức đặt tên hay cắt tóc thường do Achar  
Plia chủ trì (Achar Plia là người hiểu biết về các phong  
tục, lễ nghi trong tôn giáo của người Khmer). Thường  
người Khmer chỉ làm lễ cắt tóc và đặt tên cho đứa con  
đầu lòng (ít tiến hành nghi thức này cho các đứa con  
tiếp theo, vì sợ gây chú ý cho ma quỷ, đứa trẻ sẽ khó  
nuôi (Địa chí An Giang, 2013, tr. 851). Lễ cắt tóc và  
đặt tên cho trẻ thường được gia đình mời Acha đến  
thực hiện. Đối với trường hợp bé khó nuôi người ta  
tổ chức đặt tên cho con dưới một số hình thức như:  
Cách 1: gia đình nhờ một người trong phum có tuổi  
thọ cao và tuổi của người này phải hợp với tuổi của  
đứa bé, rồi nhờ người này đặt tên cho bé (tên được  
Trước kia, người Khmer không tổ chức ăn đầy  
tháng hay đầy tuổi (thôi nôi). Do xã hội trước đây còn  
thấp; vì vậy, người Khmer chưa được tiếp cận y tế  
nhiều. Trong suốt thời gian nuôi con, chẳng may trẻ  
bệnh, họ thường cúng vái, phun bùa hay uống thuốc  
nam chứ ít đi bác sĩ hay dùng thuốc tây. Khi đứa trẻ  
bị viêm họng, người ta lấy củ sả đập dập để vào chút  
muối, sau đó đem đút vào miệng cho trẻ nút. Ngoài  
ra, hái khoảng 5 đến 6 lá cỏ ngà voi, rửa sạch để vào  
ly, chế nước đang sôi vào, để khoảng 10 phút, lấy  
nước cho bé uống. Trường hợp trẻ bệnh nặng hơn, họ  
mời thầy về phun bùa (phun nước). Nước phun được  
đặt thường người ta đặt tên xấu). Trong buổi đặt làm bằng nước ướp hương. Nước ướp hương xưa kia  
tên, người ta cũng tổ chức nấu cơm cúng ông bà, tổ người ta làm bằng nhiều cách: làm bằng sáp ong, hoa  
60  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 54-63  
đồ mặn…). Để hậu tạ công lao của người lên đồng,  
lài, nhang. Nếu làm bằng hoa lài, người ta lấy hoa lài  
bóp dập dập rồi thả vào nước bùa (nước bùa là loại gia đình đền ơn bằng cách biếu một số vật như: một  
nước sạch, được thầy bùa làm phép); nếu làm bằng nải chuối, vải 2 mét, trái cây… Hằng năm, trong phum  
nhang, người ta đốt nhang khi khói bay lên, lấy ly úp những gia đình có con nhỏ người ta chung hùn tiền  
xuống để chặn khói vào ly. Sau đó lật ngược ly lên  
rồi nhanh tay đổ nước bùa vào ly; nếu làm bằng sáp  
ong thì cho sáp ong vào ô đậy nắp lại và xông lửa  
lên, sau đó cho nước vào để lấy mùi thơm. Nếu phun  
bùa chưa hết bệnh, người ta tổ chức cúng Arăk. Arăk  
là vị thần không rõ về hình dáng, cũng không phân  
biệt tính thiện, ác nhưng chỉ xác định trong phạm vi  
hiển linh, đó là Arăk bảo vệ nhà (Arăk phtek), Arăk  
bảo vệ gia đình (Arăk phtan), Arăk của dòng họ tộc  
(Arăk xâm), Arăk của nhiều dòng họ (Arăk chua  
chăm bua), Arăk phum. Trường hợp trong gia đình  
có người bệnh nặng, không những trẻ em mà người  
lớn, người ta thường cúng Arăk của dòng họ. Hình  
thức cúng Arăk của dòng họ phải có người lên đồng  
(rub Arăk) để cầu xin ban bình an cho gia đình, chữa  
khỏi bệnh hiểm nghèo cho người bệnh. Tại Tịnh Biên,  
lễ cúng Arăk của người Khmer mở đầu chỉ diễn ra  
trong gia đình, nhưng giữa buổi cúng trở đi, hầu như  
có sự tham gia của cả cộng đồng. Phụ nữ các gia  
đình trong xóm, mỗi người mang một xị rượu trắng  
đến đưa cho người lên đồng để qua cốt đồng và ma  
thuật của người này họ được giải tỏa những điều họ  
muốn hỏi loặc cầu xin (Địa chí An Giang, 2013, tr.  
847- 848). Ở tại phum có người lên đồng, mỗi khi  
trong phum có ai bệnh, gia chủ đến nhờ người lên  
đồng xem để hóa giải và không quên mang theo trầu  
cau. Sau khi được người lên đồng nhận lời, hai bên  
hẹn ngày giờ tiến hành cúng Arăk. Việc cúng Arăk  
thường được dân làng trong phum chọn địa điểm cúng  
ở miếu ông Tà hay cây cổ thụ (cây được xem linh  
thiêng trong phum) để thực hiện nghi lễ. Lễ vật cúng  
ngoài rượu, đầu heo... lúc bấy giờ còn có âm nhạc  
(trống) và múa (người lên đồng). Tiếp theo là cuộc  
đàm đạo, hỏi đáp qua lại giữa người lên đồng và gia  
chủ về việc giải đáp, cầu xin, đòi hỏi, chỉ bảo để trị  
bệnh. Sau khi được người lên đồng hướng dẫn, gia  
chủ về nhà thực hiện như lời chỉ dẫn. Có trường hợp  
gia chủ cúng ở dọc đường đi (nơi đứa bé thường lui  
tới như từ nhà ngoại sang nhà nội…). Lễ vật cúng ở  
đây thường là: trứng gà hoặc con gà, hay cơm trắng,  
nảy chuối..., tùy thuộc vào sự chỉ dẫn của người lên  
đồng. Đối với trường hợp cúng ở nhà nội (do sống  
bên nhà ngoại) hay cúng bên nhà ngoại (do sống bên  
nội), lễ vật cúng thường là một mâm cơm (cơm, canh,  
mua lễ vậy để tổ chức cúng Arăk, với mục đích cầu  
an cho tụi nhỏ trong phum.  
3. Biến đổi trong lễ tục mang thai và sinh nở  
của người Khmer An Giang hiện nay  
Ngày nay, do xã hội ngày càng tiến bộ, y tế lại  
phát triển; vì vậy nhận thức của người Khmer An  
Giang cũng có sự thay đổi so với trước đây. Hiện  
nay việc kết hôn của người Khmer An Giang đối với  
nữ từ 18 tuổi, nam từ 20 tuổi trở lên. Sau khi kết hôn  
phần nhiều vợ chồng chưa muốn có con sớm, vì vậy  
họ thực hiện kế hoạch ngừa thai, tuy nhiên cũng có  
nhiều cặp vợ chồng vẫn để thuận theo tự nhiên. Khi  
mang thai người Khmer vẫn còn kiêng cử trong việc  
ăn uống hay sinh hoạt hàng ngày, nhưng nhìn chung  
đã được hạn chế khá nhiều so với trước đây: không ăn  
các chất quá cay, quá nóng hay quá đắng; không làm  
nặng; không leo trèo; không nằm võng; không uống  
nước dừa tươi hay rượu và cà phê; không được ngủ  
trưa nhiều; không được tắm tối...Việc đeo dây Kàtha  
hay không được ăn chén, dĩa, tô mẻ hay đũa cao đũa  
thấp; không được vừa đi, vừa ăn; ăn phải thôi trước  
mọi người... Hiện nay, vẫn còn một số người vẫn còn  
giữ. Đối với trường hợp để biết thai nhi là gái hay  
trai khi còn trong bụng mẹ, phần nhiều người ta nhờ  
sự can thiệp vào của tiến bộ y khoa qua việc siêu âm.  
Trong việc sinh nở, người Khmer An Giang vẫn  
còn sinh ở mụ vườn nhưng rất ít (người sinh ở trường  
hợp này thường là người có hoàn cảnh kinh tế nghèo,  
rất khó khăn và việc chôn nhau cũng tùy theo giới  
tính mà coi phương hướng để chôn), phần nhiều họ  
sinh ở trạm y tế hoặc bệnh viện.Tuy nhiên một điều  
lưu ý ở đây, người Khmer vẫn còn kiêng kỵ sinh nở  
nơi gần chùa chiền, vì vậy, có một số trạm y tế được  
xây cất nằm gần chùa, ít được người dân đến sinh nở.  
Sở dĩ có sự kiêng kỵ trong sinh nở ở gần chùa, là do  
tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer An Giang cho  
rằng: “Chùa chiền là chốn rất linh thiêng, việc sinh  
nở ở gần chùa sẽ làm ô uế chốn tu hành”.  
Sau khi sinh, đối với trường hợp sinh ở mụ vườn  
hay sinh thường ở trạm y tế, bệnh viện, phần nhiều  
người Khmer vẫn còn nằm than (lửa) và xông hơ,  
uống thuốc rượu để máu huyết lưu thông hay nằm kín  
gió, lấy bông gòn bịt tay, không đi xa nhà và trước  
61  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
cửa nhà vẫn còn một số ít người treo lá dừa báo tin và đặc sắc, đặc biệt qua những nghi lễ vòng đời có vị  
nhà có người sinh hay quét vôi trắng và mời thầy cúng trí hết sức quan trọng. Nó chẳng những chi phối đến  
đời sống cá nhân, cộng đồng mà còn có tính độc lập  
tương đối đến sắc thái văn hóa tiêu biểu của dân tộc  
mình. Chính những nghi lễ vòng đời đã góp phần quan  
trọng trong việc lưu giữ, trao truyền cho thế hệ sau  
những di sản văn hóa của dân tộc đã được hình thành  
qua bao đời. Nó là nguồn tư liệu gốc hiện hữu sống  
động trong đời sống của cộng đồng người Khmer An  
Giang và “Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ kỳ  
của người Khmer An Giang” nằm một trong những  
khâu mắc xích đầu tiên quan trọng trong nghi lễ  
vòng đời của dân tộc Khmer. Qua nghiên cứu, chúng  
ta nhận thấy, trong mỗi nghi lễ, phản ánh rõ nét đặc  
trưng của một nền văn hóa dân tộc truyền thống lâu  
đời của người Khmer ở An Giang. Hiện nay, do nền  
kinh tế - xã hội phát triển và sự giao thoa văn hóa của  
các dân tộc ngày càng tiến lại gần hơn, vì vậy, đã có  
ít nhiều thay đổi trong phong tục, tập quán, truyền  
thống của người Khmer, điển hình qua phần biến đổi  
trong lễ tục mang thai và sinh nở của người Khmer  
An Giang hiện nay.  
về làm bùa để phòng trừ ma quỷ quấy phá. Đối với  
trường hợp sinh mổ, 100% sản phụ không nằm than,  
một số ít người vẫn còn xông hơ, uống thuốc rượu  
(phần nhiều người ta uống thuốc tây), nhiều người  
vẫn thực hiện những kiêng kỵ như: nằm kín gió, lấy  
bông gòn bịt tay, không đi xa nhà. Trong ăn uống,  
sản phụ thường ăn cá lóc, cá trèn, thịt heo kho mặn và  
canh đu đủ xanh hầm giò heo hay canh rau bồ ngót,  
canh bông hẹ…, nấu với cá lóc hoặc thịt heo. Nước  
uống là: nước đun sôi, sữa, trà bông cúc, những loại  
lá nấu uống cho có sữa…  
Các lễ tục trước đây đối với trẻ không còn thực  
hiện nữa như: lễ trả ơn mụ, lễ đặt tên, cắt tóc... Đối  
với trường hợp sinh ở mụ vườn, để đền ơn bà mụ hộ  
giúp khi sinh, gia đình gửi cho bà một ít tiền. Khi trẻ  
được 01 tuần tuổi hoặc lâu hơn thì cha mẹ hoặc người  
lớn tuổi trong gia đình sẽ đặt tên cho bé. Đối với  
trường hợp sinh ở trạm y tế, bệnh viện (vào khoảng  
năm 2003 trở về trước) sau khi nhận giấy chứng sinh  
của cơ sở y tế, nơi để tên bé người ta để trống và đến  
hàng tháng sau họ mới đi làm giấy khai sinh cho trẻ,  
còn hiện nay thì họ đặt tên liền cho trẻ ngay khi còn  
ở bệnh viện.  
Trên cơ sở kế thừa từ nền văn hóa truyền thống  
cùng những tác động của nền kinh tế thị trường và  
sự tiếp thu, giao lưu giữa các nền văn hóa của 03 anh  
em dân tộc khác (Kinh, Hoa và Chăm) thì nền văn  
hóa của người Khmer An Giang ngày càng phong  
phú và tiến bộ hơn mà chúng ta thấy qua nghiên  
cứu Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh của  
người Khmer An Giang hay nói cách khác hơn đó  
là sự chuyển biến tích cực trong lễ tục mang thai và  
sinh nở của người Khmer An Giang hiện nay. Có  
thể nói, nghi lễ vòng đời từ giai đoạn thai kỳ đến  
sơ sinh của người Khmer An Giang nói riêng đã tạo  
ra một bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo, góp  
phần làm phong phú thêm cho văn hóa truyền thống  
chung của tỉnh An Giang, Việt Nam, đó là một nền  
văn hóa thống nhất trong đa dạng, nền văn hóa tiên  
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.  
Riêng đối với những gia đình có điều kiện kinh  
tế, họ tổ chức ăn lễ đầy tháng, thôi nôi giống như  
người Việt, người Hoa, chỉ khác là có mời sư sãi đến  
đọc kinh chúc phúc cho trẻ. Trong việc chăm sóc,  
nuôi dưỡng trẻ hiện nay cũng thay đổi hơn xưa. Khi  
mẹ không có sữa cho trẻ bú, người Khmer thay sữa  
mẹ bằng sữa hộp; khi trẻ bị bệnh người ta thường đưa  
trẻ đi bác sĩ, bệnh viện và uống thuốc tây nhiều hơn  
thuốc nam hay mời thầy phun bùa hoặc nhờ người lên  
đồng cúng Arăk. Khi trẻ đến tuổi ăn dặm thì người ta  
cho trẻ ăn bột, hay cháo hoặc cơm nghiền có cá, thịt.  
4. Kết luận  
Nhìn lại tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam,  
dân tộc Khmer sinh sống trên địa bàn An Giang cũng  
như Khmer sinh sống ở Đồng bằng Sông Cửu Long  
đã hội nhập một cách nhanh chóng vào cộng đồng  
các dân tộc Việt Nam. Nghĩa là, đồng bào Khmer đã  
từng đồng cam cộng khổ với người Việt Nam và các  
dân tộc anh em khác trong sự nghiệp xây dựng, phát  
triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.  
Lời cảm ơn: Để hoàn thành bài viết, chúng tôi  
được sự hỗ trợ của Thư viện Tỉnh An Giang, Thư viện  
Trường Đại học An Giang, đặc biệt Hòa thượng Chau  
Sơn Hy - Trụ trì Chùa Sà Lôn, ông: Chau Kuôn, bà:  
Nèang Thơm ở ấp Sà Lôn, xã Châu Lăng, huyện Tri  
Tôn, tỉnh An Giang cùng Hòa thượng Danh Thiệp -  
Trụ trì Chùa Séry Meang Kolsakor, bà: Chau Sóc My  
ở xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.  
Xin nhận nơi tôi lòng chân thành biết ơn!  
Đồng bào người Khmer An Giang là một trong  
những dân tộc có nền văn hóa truyền thống lâu đời  
62  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 54-63  
Tài liệu tham khảo  
tỉnh An Giang; Hòa thượng Danh Thiệp - Trụ  
trì Chùa Séry Meang Kolsakor, bà: Chau Sóc  
My ở xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh  
An Giang.  
Ban Dân tộc tỉnh An Giang. (2019). Báo cáo Tổng  
kết công tác tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ  
điều tra dân số 2019 tỉnh An Giang. Ban Dân  
tộc tỉnh An Giang.  
Trần Văn Bổn. (1999). Một số lễ tục dân gian người  
Khmer Đồng bằng sông Cửu Long. Hà Nội:  
NXB: Văn hóa Dân tộc.  
Lê Hương. (1969). Người Việt gốc Miên. Sài Gòn.  
Nguyễn Văn Lữ. (2007). Những nghi lễ vòng đời chủ  
yếu của người Khmer xã Châu Lăng, huyện Tri  
Tôn, tỉnh An Giang. Trường Đại học Văn hóa  
Hà Nội, Việt Nam.  
Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang. (2013). Địa chí  
An Giang. An Giang. Công ty Cổ phần tỉnh An  
Giang.  
Vũ Hồng Luật. (2003). Nghi lễ vòng đời của người  
Chăm Islam tại ấp Phum Soài, xã Châu Phong,  
huyện Tân, tỉnh An Giang. Trường Đại học Văn  
hóa Hà Nội, Việt Nam.  
Nguyễn Thị Hoàng Phượng. (2019). Tang lễ người  
Khmer An Giang theo Phật giáo Nam Tông ở  
tỉnh An Giang hiện nay. Tạp chí Khoa học Đại  
học Đồng Tháp, Số 36, 02-2019, 48-56.  
Võ Thành Hùng. (2010). Nghi lễ vòng đời người  
Khmer tỉnh Sóc Trăng. Hà Nội. NXB: Văn hóa  
Dân tộc.  
Phỏng vấn sâu: Hòa thượng Chau Sơn Hy - Trụ trì  
Chùa Sà Lôn, ông: Chau Kuôn, bà: Nèang Thơm  
ở ấp Sà Lôn, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn,  
63  
pdf 10 trang Thùy Anh 16420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lễ tục truyền thống từ thai kỳ đến sơ sinh của người Khmer ở An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfle_tuc_truyen_thong_tu_thai_ky_den_so_sinh_cua_nguoi_khmer_o.pdf