Một số giá trị văn hóa truyền thống cần được giáo dục cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Nguyễn Thị Thu Huyền  
Một số giá trị văn hóa truyền thống cần được giáo dục  
cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Email: ntthuyen@isvnu.vn  
TÓM TẮT: Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị có ý nghĩa tốt đẹp, tích  
cực là nguồn nội lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Những giá  
trị này đã được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và  
đã được bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Bài viết tóm tắt các quan niệm  
về giá trị văn hóa truyền thống và những công trình nghiên cứu của các tác  
giả trong nước về giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và giá trị văn hóa  
dân tộc trong bối cảnh hội nhập. Ngoài ra, bài viết đề xuất và phân tích bốn  
giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi cần giáo dục cho sinh viên trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế bao gồm: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái và  
đức tính cần cù sáng tạo trong lao động. Bài viết khẳng định việc giáo dục bốn  
giá trị văn hóa truyền thống trên cho sinh viên trong bối cảnh hiện tại có vai trò  
quan trọng đặc biệt với sự phát triển bền vững của đất nước.  
TỪ KHÓA: Truyền thống; giá trị văn hóa; giá trị văn hóa truyền thống; hội nhập quốc tế.  
Nhận bài 10/11/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 12/12/2019 Duyệt đăng 25/12/2019.  
1. Đặt vấn đề  
“Truyền thống là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, những  
Đất nước đang chuyển mình trong bối cảnh công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là hội nhập quốc tế (HNQT).  
HNQT là một xu thế tất yếu của thời đại, nó trở thành môi  
trường, động lực cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn.  
HNQT đã và đang đang mang đến những cơ hội, thuận lợi  
không nhỏ cho mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam, bên  
cạnh đó cũng đặt ra những thách thức lớn và tiềm ẩn ở đó  
những nguy cơ. Một trong số những thách thức và nguy  
cơ tiềm ẩn đó chính là sự xao lãng, thờ ơ hoặc thậm chí là  
những biểu hiện, hành vi đi ngược lại với giá trị văn hóa  
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đó là chưa kể đến xu  
thế hướng ngoại, tư tưởng sùng bái nước ngoài của một bộ  
phận không nhỏ những người dân Việt Nam hiện nay, trong  
đó có tầng lớp thanh niên mà đặc biệt là sinh viên (SV). SV  
vốn là những người trẻ tuổi, với đặc điểm dễ thích nghi, dễ  
làm quen với cái mới. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ nên  
lập trường, tư tưởng còn chưa vững chắc nên khi lớn lên  
trong bối cảnh HNQT và toàn cầu hóa rất dễ bị ảnh hưởng  
bởi những phi giá trị và dễ xa rời các giá trị văn hóa truyền  
thống (GTVHTT).  
thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng  
đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở  
nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”  
[1]. Với định nghĩa này, truyền thống có cả vai trò tích cực  
và tiêu cực đối với sự vận động và phát triển của xã hội.  
Truyền thống ở mặt tích cực sẽ là điểm tựa, là nội lực cho  
sự tiến bộ và phát triển của xã hội, và ở mặt tiêu cực nó có  
thể gây ra sự trì trệ cho sự phát triển xã hội.  
Theo tác giả Trần Văn Giàu (1987), giá trị truyền thống  
hay giá trị văn hóa truyền thống là: “Những nguyên lí đạo  
đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các  
giai đoạn lịch sử dựa vào để phân biệt phải trái, nhận định  
nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân  
tộc đó.” [2, tr.142]. Theo cách hiểu này, GTVHTT là các  
giá trị tốt đẹp, phân biệt với các phong tục, tập quán xấu.  
Đây cũng là cách hiểu về GTVHTT sẽ được sử dụng trong  
bài viết này.  
2.1.2. Một số công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền  
thống của dân tộc Việt Nam  
Trong bối cảnh hội nhập này, SV cần được giáo dục các  
GTVHTT để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân  
tộc khi tiếp xúc với các nền văn hóa nước, để hòa nhập mà  
không bị hòa tan. Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài báo  
này, tác giả bài viết đề xuất một số GTVHTT cần được giáo  
dục cho SV trong bối cảnh HNQT.  
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến giá trị văn hóa  
Việt Nam truyền thống. Một trong những công trình công  
phu đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả  
Trần Văn Giàu từ những năm 1980. Trong nghiên cứu về  
GTVHTT của dân tộc Việt Nam, tác giả đã chỉ ra 7 giá trị:  
Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương  
người, vì nghĩa. Trong đó, tác giả khẳng định yêu nước là  
giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc ta, là “sợi chỉ đỏ”  
xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam  
2.1.1. Quan niệm về giá trị văn hóa truyền thống  
Tác giả Nguyễn Quang Ngọc (2007) đúc kết những giá trị  
Để hiểu được khái niệm GTVHTT, trước hết cần hiểu rõ sau đây: Tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, truyền  
khái niệm truyền thống. Theo tác giả Phan Huy Lê (1994), thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc, lao động cần cù, sáng  
Số 24 tháng 12/2019  
33  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
tạo, tính thích nghi và hội nhập, lối ứng xử mềm mỏng, hướng gia tăng. Một bộ phận giáo viên suy giảm nhân cách,  
truyền thống hiếu học, trọng học vấn, trọng nghĩa khí, tính đạo đức làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh người giáo viên  
cộng đồng và tinh thần nhân ái, khoan dung “thương người nói riêng và nghề giáo nói chung. Gần đây, liên tiếp các  
như thể thương thân” [3].  
vụ bạo lực học đường xảy ra. Những thực trạng đáng buồn  
Lòng yêu nước cũng là giá trị được đề cao trong nghiên ấy là hệ quả của lối sống vô cảm, ích kỉ, là hệ lụy của việc  
cứu của tác giả Nguyễn Hồng Phong (1999). Bên cạnh đó, suy giảm nghiêm trọng các giá trị văn hóa truyền thống,  
các giá trị: Gắn bó cộng đồng, lòng nhân ái, trọng đạo đức, mà trong các trường hợp nêu trên là “lòng nhân ái”ở nữ  
trọng học thức và yêu cái đẹp là những GTVHTT của dân sinh nói riêng và học sinh, SV nói chung trong bối cảnh hội  
tộc mà giáo sư đã tổng kết [4, tr.184-189].  
nhập. Cũng chính thực trạng ấy đã cho thấy vai trò đặc biệt  
Những GTVHTT cũng được đề cập đến trong nhiều nghị quan trọng của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống  
quyết của Đảng. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khóa VII cho thế hệ trẻ ngày nay.  
về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay  
b. Các nghiên cứu về GTVHTT của Việt Nam trong bối  
khẳng định: “Những GTVHTT vững bền của dân tộc Việt cảnh HNQT  
Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc,  
Trong một vài thập kỉ qua, có không ít các công trình  
đạo lí “Thương người như thể thương thân”, đức tính cần nghiên cứu về GTVHTT Việt Nam trong thời kì hội nhập.  
cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động…Đó là nền tảng và Trong Tạp chí Triết học số 8 năm 2004, Nguyễn Trọng  
sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã Chuẩn có bài viết “HNQT: Cơ hội và thách thức đối với  
hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái.”  
giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay”  
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu những đức tính [5]. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến những cơ hội, đến  
nổi bật của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá một số cái được và chủ yếu là những thách thức đối với các  
trị của con người Việt Nam: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý giá trị, nhất là các giá trị truyền thống, khi thực hiện hợp tác  
chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và HNQT trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Tác giả kết  
gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng khoan luận bài viết của mình bằng cách khẳng định “chủ động hội  
dung, trọng nghĩa tình đạo lí, tính cần cù sáng tạo trong lao nhập kinh tế quốc tế và khu vực” theo tinh thần phát huy  
động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”.  
tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm  
độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi  
ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân  
tộc” có thể coi là một giải pháp hữu hiệu để phát huy vai trò  
động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và  
2.1.3. Một số nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống của Việt  
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế  
a. Bối cảnh HNQT ở Việt Nam  
HNQT đã mang lại những thành quả to lớn về kinh tế, văn tiến bộ xã hội trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay.  
hóa, xã hội cho Việt Nam. Xét riêng về văn hóa, HNQT ở  
Cũng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Hoàng Chí Bảo  
Việt Nam đã thúc đẩy và tạo ra những tiền đề vô cùng mạnh (2009) trong nghiên cứu: “Hệ GTVHTT Việt Nam trong đổi  
và rộng để văn hóa Việt Nam hội nhập với khu vực và thế mới và hội nhập” [6] cho rằng: “Yêu nước và tình cảm yêu  
giới. Theo Nguyễn Trọng Chuẩn, HNQT đã tạo ra “Những nước, thương người phát triển thành chủ nghĩa yêu nước,  
thay đổi mạnh mẽ về tư duy”, “Những đổi mới trên phương chủ nghĩa nhân đạo, đó không chỉ là một nét đẹp đạo đức,  
diện quản lí văn hóa”, “Những động lực mới để văn hóa một nét văn hóa mà còn kết tinh thành giá trị bền vững của  
phát triển đa dạng” [5]. Bên cạnh đó, HNQT cũng dẫn đến văn hóa truyền thống Việt Nam.” Tác giả khẳng định rằng,  
nhiều hệ lụy không chỉ cho kinh tế, môi trường mà còn đặc chính giá trị này làm nên sức sống của con người và dân tộc  
biệt còn cho văn hóa, xã hội và con người ở Việt Nam. Trên Việt Nam. Đây cũng là cội nguồn sức mạnh của bản lĩnh  
hết, đó là sự khủng hoảng về đạo đức và lối sống. Nhiều giá văn hóa Việt Nam cần phải phát huy trong HNQT ngày nay.  
trị truyền thống dần trở nên mai một dưới tác động của lối  
Các tác giả Phạm Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm (2003)  
sống gấp, thiên về hưởng thụ của không ít người và cũng trong công trình “Về phát triển văn hóa và xây dựng con  
chính lối sống này đang dần hủy hoại nhân cách của họ. Xu người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cho rằng: “Đặc  
thế “Choáng ngợp bởi vật chất” cũng khiến không ít người, điểm bền vững của nếp sống, đạo đức và giá trị truyền thống  
nhất là giới trẻ hiện nay thiên lệch về nhu cầu vật chất, bỏ thể hiện ở các đức tính của con người Việt Nam như: Yêu  
qua nhiều giá trị tinh thần. Ngoài ra, lối sống “Tiền trao, nước nồng nàn, ý thức tự cường dân tộc, tinh thần cộng đồng,  
cháo múc” lạnh lùng của xã hội tư sản cũng không phải lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lí, tính thực  
ít thấy ở xã hội Việt Nam hiện nay. Đó là chưa kể đến lối tiễn, cần cù và sáng tạo trong lao động …” [7, tr. 262].  
sống ích kỉ, vụ lợi cá nhân cũng bắt đầu hình thành và ngày  
Đề cập đến tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền  
càng xâm nhập vào nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có thống dân tộc, có thể kể đến công trình “Tìm hiểu GTVHTT  
cả học sinh, SV. Những lối sống ấy đã và đang làm sai lệch trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [8] (Nguyễn  
các GTVHTT tốt đẹp mà ông cha ta đã hàng nghìn năm vun Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (2002) đồng chủ  
đắp. Dễ dàng nhận thấy rằng, bạo lực học đường đang trở biên). Trong công trình này, bên cạnh việc đề cập tới các  
nên phổ biến trong giới học sinh, SV, thậm chí ở cả nữ sinh; khái niệm giá trị, giá trị truyền thống, các giá trị truyền  
Hành vi lệch chuẩn của học sinh, SV cũng ngày càng có xu thống Việt Nam, các tác giả cũng cho thấy vai trò động  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
34  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
lực, tầm quan trọng của văn hóa truyền thống trong quá truyền thống Việt Nam là cơ sở của chủ nghĩa anh hùng,  
trình phát triển đất nước. Theo đó, các tác giả cho rằng, khi  
tăng trưởng kinh tế nhanh với cơ chế thị trường mà tách rời  
cội nguồn văn hóa dân tộc, không dựa trên cơ sở kế thừa  
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thì chúng ta sẽ không  
tránh khỏi “lâm vào nguy cơ tha hóa”.  
Như vậy, qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên  
quan đến GTVHTT, đến GTVHTT trong thời kì hội nhập,  
có thể nhận xét như sau về đặc điểm các GTVHTT của dân  
tộc Việt Nam: Thứ nhất, giá trị đạo đức chiếm vị trí nổi bật.  
Thứ hai, chủ nghĩa yêu nước được khẳng định là giá trị cốt  
lõi, giá trị định hướng các giá trị khác. Thứ ba, những giá trị  
phổ biến của con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh  
thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung;  
trọng nghĩa tình đạo lí, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao  
động, ... cũng được đề cập và coi đó là những giá trị văn hoá  
truyền thống quý báu của dân tộc ta.  
tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù, chịu khó, lối sống lành  
mạnh, lạc quan, yêu đời của nhân dân Việt Nam, làm nên  
cốt cách Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không  
chỉ là một giá trị, mà điều quan trọng hơn nữa nó còn là cội  
nguồn, cơ sở của hàng loạt các giá trị khác nhất là các giá  
trị văn hóa.  
Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước là nguồn sức mạnh vô  
địch giúp cho nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, chiến  
thắng mọi thiên tai, địch hoạ, vững vàng tiến lên phía trước.  
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành từ rất sớm,  
được thử thách và khẳng định qua bao thăng trầm của lịch  
sử, được bổ sung, phát triển qua từng thời kì theo yêu cầu  
phát triển của dân tộc và thời đại, đã trở thành một trong  
những giá trị văn hóa truyền thống cao quý và bền vững  
nhất cần được giáo dục cho thế hệ trẻ của dân tộc ta.  
Ngoài ra, có thể thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội  
nhập, mặc dù một số giá trị cơ bản được lưu giữ, nhưng  
nhìn chung các tác giả đều khẳng định rằng, những chuyển  
biến trong giá trị từ truyền thống đến hiện đại càng bộc lộ  
rõ và việc biết phát huy kế thừa các GTVHTT sẽ là điều  
kiện cần để đất nước phát triển bền vững trong thời kì công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa và HNQT.  
2.2.2. Tinh thần đoàn kết  
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc sâu sắc là  
một GTVHTT của dân tộc ta mà ngày nay vẫn cần được giữ  
gìn và phát huy. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn  
kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại  
thành công”. Trước lúc đi xa, Người còn nhắn nhủ: “Đoàn  
kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và của  
dân ta”.  
2.2. Một số giá trị văn hóa truyền thống cần được giáo dục cho  
sinh viên trong giai đoạn hiện nay  
2.2.1. Lòng yêu nước  
Tinh thần đoàn kết là nhân tố tinh thần được bắt nguồn  
từ chủ nghĩa yêu nước và trở thành động lực thúc đẩy quá  
trình phát triển của lịch sử dân tộc. Trong hoàn cảnh luôn  
luôn phải chống lại giặc ngoại xâm, truyền thống này được  
hình thành và củng cố. Trong thử thách đầy khắc nghiệt ấy,  
nhờ đoàn kết một lòng, nhân dân ta mới có sức mạnh để  
bảo tồn dân tộc, phát triển sản xuất. Trong chiến đấu chống  
kẻ thù xâm lược, nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng “Đoàn  
kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “Một cây làm chẳng nên non.  
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nhờ đoàn kết, cha ông  
ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc  
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh to lớn ấy đã  
giúp dân ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Lịch sử dân  
tộc đã chỉ ra rằng, nếu chúng ta không thực hiện được đoàn  
kết toàn dân, chia rẽ nội bộ thì sẽ đặt đất nước trước sự tồn  
vong. Chiến thắng của nhà Trần trước quân Nguyên Mông,  
của dân tộc ta trước thực dân Pháp, đế quốc Mĩ là những  
trang sử hào hùng minh chứng cho vai trò của tinh thần  
đoàn kết - một giá trị cốt lõi của dân tộc ta cần được truyền  
lại cho thế hệ sau.  
Yêu nước không phải là giá trị văn hóa chỉ riêng dân tộc  
Việt Nam mới có. Tuy nhiên, với dân tộc Việt Nam, yêu  
nước luôn là giá trị đứng đầu trong bảng giá trị văn hóa  
truyền thống. Đúng như tác giả Trần Văn Giàu (1987) đã  
từng nhận định, yêu nước là “Tiêu điểm của các tiêu điểm,  
giá trị của các giá trị”, là “Động lực tình cảm lớn nhất của  
đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ  
thống các giá trị đạo đức của dân tộc ta” [2].  
Suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, yêu nước  
đã trở thành một trong những tài sản quý, một giá trị văn  
hóa thiêng liêng góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc  
Việt Nam. Lịch sử Việt Nam suốt mấy nghìn ấy rất đáng  
tự hào với nhiều chiến công hiển hách, những mốc son,  
dấu ấn đáng nhớ ấy là kết tinh của lòng yêu nước, ý thức  
tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần chiến đấu, sự hi sinh anh  
dũng của biết bao thế hệ đi trước, đặc biệt là tấm gương đã  
ngã xuống vì quê hương, đất nước của những anh hùng dân  
tộc trong lịch sử Việt Nam. Không chỉ trong những lúc đất  
nước có chiến tranh, lòng yêu nước đã trở thành triết lí sống  
và thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động của con  
người Việt Nam.  
Có thể thấy, tinh thần đoàn kết cộng đồng hình thành  
một cách tất yếu và đáp ứng đòi hỏi khách quan của lịch  
sử. Đoàn kết sẽ là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta  
đánh thắng mọi kẻ thù xâm lăng. Ngoài ra, có thể khẳng  
định, tinh thần ấy của nhân dân ta chính là một trong những  
nguồn nội lực to lớn trong sự nghiệp phát triển bền vững  
của đất nước trong bối cảnh HNQT, trong đó thanh niên,  
SV đóng một vai trò quan trọng.  
Lòng yêu nước ở Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu đã  
được nâng lên thành “chủ nghĩa yêu nước”. Với hoàn cảnh  
rất đặc thù của dân tộc Việt Nam là luôn phải chống thiên  
tai và chống ngoại xâm, chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam  
được hình thành và nuôi dưỡng. Việt Nam là một trong số  
ít các dân tộc mà thời gian chống giặc ngoại xâm lại chiếm  
đến gần nửa chiều dài lịch sử dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước  
Số 24 tháng 12/2019  
35  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
2.2.3. Lòng nhân ái  
2.2.4. Tính cần cù, sáng tạo trong lao động  
Bên cạnh lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết thì lòng  
nhân ái là một giá trị văn hóa tinh thần truyền thống rất nổi  
bật của dân tộc ta. Nhân ái được hiểu là yêu thương con  
người. Giá trị này được nảy sinh và nuôi dưỡng bắt nguồn  
từ hoàn cảnh chống giặc ngoại xâm liên tục và từ cuộc sống  
vất vả, khó khăn hàng ngày của nhân dân ta. Dưới ách áp  
bức, bóc lột và đô hộ của kẻ thù, cộng với thiên tai, dịch  
bệnh thường xuyên đã khiến dân ta trải qua trăm ngàn cực  
khổ. Trong hoàn cảnh ấy, họ cảm thấy thương mình và  
thương những người cùng cảnh ngộ. Tình yêu thương giữa  
người và người của dân ta được thể hiện qua những câu  
tục ngữ từ ngàn xưa của ông cha “Thương người như thể  
thương thân”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Nhường  
cơm sẻ áo”, “Lá lành đùm lá rách”, “Lá rách ít đùm lá rách  
nhiều” ... đã trở thành nguồn sức mạnh để dân ta vượt qua  
khó khăn, gian khổ. Giá trị văn hóa này đã trở thành nếp  
nghĩ, cách ứng xử, triết lí sống giữa người dân Việt Nam  
Tính cần cù trong lao động sáng tạo của cải vật chất  
và tinh thần cũng là một GTVHTT rất đáng chú ý trong  
GTVHTT của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà  
ngày nay người dân Việt Nam nói chung và SV nước ta nói  
riêng cần phải bảo tồn và phát huy. Giá trị này xuất phát từ  
thực tế nước ta là một nước nông nghiệp, người dân chủ  
yếu làm nghề nông trong trong điều kiện thiên nhiên khắc  
nghiệt. Ngoài ra, hoàn cảnh chống quân xâm lược triền  
miên cũng đã khiến nền kinh tế nước ta thời điểm đó trì  
trệ, đức tính cần cù vừa là điều kiện để đảm bảo sự tồn tại  
của con người và sự phát triển của nền kinh tế. Điều kiện,  
hoàn cảnh đó đòi hỏi con người phải không quản ngại “Một  
nắng hai sương”, “Đổ mồ hôi, sôi nước mắt, có sự nỗ lực  
khắc phục để tiến lên, đối mặt với thử thách, tìm cách chinh  
phục, cải tạo tự nhiên, từng bước tự khẳng định mình trên  
con đường tiến hóa của dân tộc. Nhân dân ta luôn ý thức  
với nhau. Khi nho giáo và phật giáo du nhập vào đất nước được rằng lao động cần cù là nguồn gốc của mọi của cải và  
ta thì quan niệm “nhân” của Nho giáo và “từ bi” của Phật  
giáo đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến lòng nhân ái của  
người Việt. Tuy nhiên, theo Võ Văn Thắng (2006): “Ảnh  
hưởng đó bị khúc xạ bởi sự chắt lọc những nhân tố thích  
hợp cùng với sự Việt hoá “từ bi” của Phật giáo, “nhân” của  
Nho giáo, tạo nên một nét riêng cho lòng nhân ái của người  
Việt Nam” [9].  
Lòng nhân ái giữa người và người trong xã hội Việt Nam  
được thể hiện trong các mối quan hệ từ gia đình, làng xóm  
đến cộng đồng xã hội. Ở gia đình, trách nhiệm của bố mẹ là  
chăm lo cho con cái từ khi còn nhỏ, trách nhiệm của con cái  
là vâng lời, chăm sóc bố mẹ. Trách nhiệm của anh chị em  
với nhau là phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau  
“Chị ngã, em nâng”, “Anh em như thể chân tay/Rách lành  
đùm bọc dở hay đỡ đần”, … Mối quan hệ với hàng xóm  
cũng được người Việt Nam cũng đặc biệt coi trọng thông  
qua các câu tục ngữ như “Bán anh em xa, mua láng giềng  
gần”, “Chín bỏ làm mười” “Tối lửa tắt đèn có nhau”, …  
hạnh phúc. Họ luôn nhắc nhở nhau rằng “Kiến tha lâu đầy  
tổ”, “Năng nhặt chặt bị”, hay động viên nhau “Bây giờ khó  
nhọc có ngày phong lưu”. Ngoài ra, các hình ảnh như “Cày  
đồng đang buổi ban trưa”, “Ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng  
trăng” hay “Tát nước đêm trăng” cũng thể hiện khá rõ đức  
tính này.  
Qua bao thăng trầm trong lịch sử đấu tranh và sản xuất  
của nhân dân ta luôn ý thức đề cao lao động, chống thói lười  
biếng. Điều này được thể hiện qua thái độ phê phán thói  
lười biếng “Ăn không ngồi rồi” hay “Ăn no lại nằm”, và coi  
đây là nguồn gốc dẫn đến “Nhàn cư vi bất thiện”. Chính vì  
lẽ đó, nhân dân ta luôn đề cao phẩm chất bên trong - trước  
hết là sự cần cù, siêng năng hơn dáng vẻ bề ngoài “Cái nết  
đánh chết cái đẹp”.  
Tóm lại, cần cù, sáng tạo là một GTVHTT đã có từ bao  
đời của dân tộc ta, là nguồn gốc để người Việt Nam có được  
thành công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì lẽ  
Đối với những người trong cùng một nước thì nhân dân ta đó, cần cù, sáng tạo trong lao động nói chung và học tập nói  
luôn tâm niệm: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong  
một nước phải thương nhau cùng”, hay “Bầu ơi thương lấy  
bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.  
Lòng nhân ái của dân tộc ta còn bao hàm cả lòng vị tha  
“Mở đường hiếu sinh” với kẻ thù một khi chúng đã bị thất  
bại, hay khoan dung với những kẻ lầm đường lạc lối, khi họ  
biết trở về với chính nghĩa “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh  
người chạy lại”. Giá trị văn hóa này cũng chính là cơ sở cho  
lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân, đất nước và con  
người Việt Nam hiện nay.  
Như vậy, nhân ái là một GTVHTT cực kì quý báu của dân  
tộc Việt Nam, là nguồn gốc, là cơ sở sâu xa và bền vững của  
chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủ nghĩa nhân đạo hiện thực.  
Người dân Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng, đặc  
biệt là SV phải có trách nhiệm kế thừa và phát huy nó lên  
một tầm cao mới.  
riêng là một GTVHTT của dân tộc cần được các thế hệ nối  
tiếp nhau giữ gìn, bồi đắp và phát triển.  
3. Kết luận  
SV là thế hệ làm chủ tương lai, là nguồn nhân lực chất  
lượng cao tiềm năng của mỗi quốc gia. Trong quá trình toàn  
cầu hóa và HNQT - quá trình mà việc tiếp xúc, giao thoa  
và chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau trên  
thế giới là không thể tránh khỏi thì giáo dục GTVHTT là  
một nội dung quan trọng. Nó có tác dụng rất lớn trong việc  
định hướng nhân cách, lối sống cho SV. Những GTVHTT  
cốt lõi của dân tộc bao gồm lòng yêu nước, tinh thần đoàn  
kết, lòng nhân ái, tính cần cù, sáng tạo trong lao động chính  
là hành trang để SV trở thành chủ nhân tương lai trong quá  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và HNQT.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
36  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
Tài liệu tham khảo  
[1] Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (Chủ biên), (1994), Các  
giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay,  
Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.07,  
đề tài KX07-02, tập I, Hà Nội.  
[2] Trần Văn Giàu, (1987), Giá trị tinh thần truyền thống của  
dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[3] Nguyễn Quang Ngọc, (2007), Tiến trình lịch sử Việt Nam,  
tái bản lần thứ 7, tr.398, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
7 (175).  
[7] Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm, (2003), Về phát  
triển văn hóa và xây dựng con người thời kì công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[8] Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sĩ Quý,  
(2002), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc  
gia, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Hồng Phong, (1999), Văn hóa phát triển, in trong  
Lê Quang Trang - Nguyễn Trong Hoàng (tuyển chọn và  
giới thiệu), Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại,  
tr.184-189, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[9] Võ Văn Thắng, (2006), Nhân ái - “Một giá trị văn hóa  
truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây dựng  
lối sống ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 7,  
tr.182.  
[5] Nguyễn Trọng Chuẩn, (2004), Hội nhập quốc tế: Cơ hội  
và thách thức đối với gí trị truyền thống trong điều kiện  
toàn cầu hóa hiện nay, Tạp chí Triết học, số 8.  
[6] Hoàng Chí Bảo, (2009), Hệ giá trị văn hóa truyền thống  
Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, Tạp chí Cộng sản, số  
[10] Hà Thị Thùy Dương, (2015), Bàn thêm về các giá trị văn  
hóa tinh thần truyền thống của Việt Nam, Kỉ yếu hội thảo  
Hệ giá trị Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa và hội nhập quốc tế.  
EDUCATING STUDENTS ABOUT VIETNAM’S TRADITIONAL CULTURAL  
VALUES IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION  
Nguyen Thi Thu Huyen  
Vietnam National University, Hanoi  
ABSTRACT: Traditional cultural values are considered to be the meaningful  
144 Xuân Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
and positive values as well as the potential motivation for the development  
Email: ntthuyen@isvnu.vn  
of any nation. These values have been shaped, conserved and passed to a  
lot of generations. This article summarizes the different viewpoints of many  
researchers about Vietnam’s traditional cultural values and these values in  
the context of international integration. In addition, this article proposes four  
core traditional cultural values which students should be educated about,  
including: patriotism, solidarity, kindness along with diligence and creation at  
work. The article confirms that educating students about traditional cultural  
values is significant for the stable development of our country.  
KEYWORDS: Traditions; cultural values; traditional cultural values; international integration.  
Số 24 tháng 12/2019  
37  
pdf 5 trang Thùy Anh 14600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số giá trị văn hóa truyền thống cần được giáo dục cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_gia_tri_van_hoa_truyen_thong_can_duoc_giao_duc_cho_si.pdf