Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH BẮC NINH  
THE ROLE OF DIRECT FOREIGN INVESTMENT  
IN THE SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT  
OF BACNINH PROVINCE  
Đặng Minh Khoa  
Nghiên cứu sinh Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng  
Tóm tắt:  
Được tái lập ngày 01 tháng 01 năm 1997, trải qua 23 năm xây dựng và phát triển, tỉnh  
Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng  
trưởng ở mức cao, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh bình quân hàng năm đạt trên  
14%. Những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước  
ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Tỉnh liên tục tăng cả về số lượng dự án, quy mô vốn và  
đối tác đầu tư, được phân bổ ở tất cả các ngành kinh tế của Tỉnh, góp phần to lớn thúc đẩy tăng  
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường  
kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt góp phần nâng cao năng  
lực sản xuất công nghiệp, đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất công nghiệp.  
Từ khóa: Công nghiệp; đầu tư trực tiếp nước ngoài; người lao động.  
Abstract:  
Re-established on January 1, 1997, Bac Ninh province has achieved significant achieve-  
ments in socio-economic development over 23 years of construction and development. Economic  
growth is at a high rate, the growth rate of total products in the province on average is over 14%  
annually. Over the past years, Bac Ninh province has become an attractive destination for a  
plethola of foreign investors. Direct foreign investment in the province has been continuously in-  
creasing in terms of the number of projects, capital scale and investment partners, and has been  
distributed into all economic sectors of the province, greatly contributing to promoting economic  
growth, shifting the economic structure towards industrialization, modernization, increasing ex-  
port turnover, creating jobs for workers, especially improving industrial production capacity and  
making Bac Ninh become the country’s leading province in industrial production.  
Keywords: Iindustry; direct foreign invest; labours.  
1. Giới thiệu  
Tỉnh Bắc Ninh được tái lập ngày 01 tháng 01 năm 1997. Với xuất phát điểm là một tỉnh  
thuần nông, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, trải qua 23 năm xây dựng và phát triển, tỉnh Bắc Ninh  
đã đạt được những thành tựu to lớn và vượt bậc. Kinh tế tăng trưởng ở mức cao, với tốc độ tăng  
320  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân hàng năm đạt trên 14%. Nằm trong Vùng  
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã trở thành điểm đến của nhiều nhà  
đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Tỉnh liên tục tăng qua các năm,  
đặc biệt là kể từ khi thống nhất Luật Đầu tư năm 2005, tăng vọt vào năm 2008 với tổng vốn đầu  
tư đăng ký là 1,3 tỷ đô la Mỹ (USD), đạt đỉnh điểm vào năm 2015 và 2017 với tổng vốn đầu tư  
mỗi năm đạt 3,5 tỷ USD. Năm 2019, toàn Tỉnh đã cấp 254 dự án mới, tổng vốn đầu tư sau điều  
chỉnh đạt 1,5 tỷ USD (đứng thứ 5 toàn quốc về thu hút FDI). Nếu như tại thời điểm tái lập tỉnh  
năm 1997, Tỉnh chỉ có 04 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 177,6 triệu USD thì lũy  
kế đến nay (hết tháng 7 năm 2020), tỉnh Bắc Ninh đã cấp đăng ký đầu tư cho 1.598 dự án FDI  
còn hiệu lực vơi tông vôn đâu tư đăng ký sau điều chỉnh đạt 19.564,158 triệu USD, các đối tác  
́
̉
́
̀
đến từ 37 quốc gia, vùng lãnh thổ, đưa Bắc Ninh trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước  
về mức độ hấp dẫn các dự án FDI.  
Kinh tế có vốn FDI có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của  
Tỉnh. Vốn FDI đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của Tỉnh, chuyển dịch cơ  
cấu kinh tế; góp phần tăng thu ngân sách; tăng cường kim ngạch xuất khẩu và ổn định cán cân  
thương mại của Tỉnh; góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở địa phương và các tính  
lân cận, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc tiếp cận với công nghệ hiện đại và  
phương thức quản lý tiên tiến. Sự liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn FDI với khu vực kinh tế  
trong nước cũng đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến,  
thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực dịch vụ cũng như sản phẩm mới.  
Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng FDI ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn tồn tại một số hạn chế, ảnh  
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Vì vậy tác giả chọn nghiên cứu “Vai trò của FDI trong phát triển  
kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bài viết sẽ đi sâu phân  
tích thực trạng thu hút FDI tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến tháng 6 năm 2020, vai trò của FDI  
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh, đồng thời nêu ra những mặt còn hạn chế,  
đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI ở tỉnh Bắc  
Ninh thời gian tới. Nghiên cứu về vốn FDI thu hút ở tỉnh Bắc Ninh trên các phương diện: Số  
lượng vốn FDI, quy mô các dự án FDI, cơ cấu đầu tư, nguồn đầu tư theo đối tác, vai trò của FDI  
đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh.  
2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
FDI là một trong những chủ đề được quan tâm nghiên cứu rất nhiều bởi các chuyên gia và  
các nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, những nghiên cứu có liên  
quan đến FDI luôn chiếm một số lượng lớn. Những nghiên cứu về FDI có nhiều công trình khác  
nhau, trong phạm vi bài viết có thể kể đến một số công trình như sau:  
ODI (2002), nghiên cứu tình hình của các doanh nghiệp FDI tại 5 quốc gia Đông Á và 5  
quốc gia Châu Phi, qua đó cho thấy: Về cơ bản các doanh nghiệp FDI đã trả công cho người lao  
động cao hơn các doanh nghiệp trong nước, tuy nhiên chỉ nhóm công nhân có trình độ chuyên  
môn, tay nghề cao, tạo ra khoảng cách chênh lệch về thu nhập ngày càng rõ rệt giữa lao động  
trong các doanh nghiệp FDI với lao động ở doanh nghiệp trong nước. Nghiên cứu cũng đưa ra 4  
giải pháp về chính sách cho các quốc gia tiếp nhận vốn FDI, nhằm hạn chế mặt trái của nó mang  
321  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
lại [17]. Khondoker Abdul Mottaleb và Kaliappa Kalirajan (2010), chỉ ra FDI có thể đóng một  
vai trò quan trọng trong việc đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát  
triển. Các quốc gia đang phát triển không được coi là địa điểm thuận lợi cho FDI như các nước  
phát triển, chẳng hạn như Trung Quốc, Ân Độ, Nigeria và Sudan đang tiếp nhận phần lớn nguồn  
vốn FDI. Mặt khác, các tác giả sử dụng dữ liệu từ 68 nước đang phát triển có thu nhập thấp và  
trung bình thấp, xác định các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển [13].  
Behzad Azarhoushang (2013), đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình đầu tư FDI ở Trung  
Quốc, nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của FDI đến mọi mặt của kinh tế Trung Quốc như:  
Sản lượng, nguồn lao động, tiền lương, tình hình xuất khẩu, nguồn nhân lực chất lượng cao, sự  
cạnh tranh của doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước về việc thu hút nhân lực, cũng  
như sự mất cân đối về tiền lương trả cho công nhân giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp  
trong nước [3].  
Mai Đức Lộc (1994), phân tích một cách toàn diện vấn đề FDI trong việc phát triển kinh  
tế, tìm ra mối liên hệ khách quan giữa việc phát triển kinh tế và thu hút vốn FDI. Tác động của  
FDI trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, thành tựu cũng như tồn tại của hoạt động triển khai  
Luật Đầu tư nước ngoài; xu hướng vận động chủ yếu của các dòng đầu tư nước ngoài vào Việt  
Nam. Tác giả cũng đề ra phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm thu hút và phát huy  
có hiệu quả nguồn vốn FDI tại Việt Nam [15]. Trần Quang Lâm và An Như Hải (2006), đã nêu  
rõ: Quốc gia nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng có hiệu quả, thì có nhiều cơ  
hội tăng trưởng kinh tế hơn, qua đó rút ngắn nhanh hơn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát  
triển. Chính vì vậy, các nước đang phát triển phải cạnh tranh trong việc thu hút các nguồn vốn  
đầu tư nước ngoài, nhờ đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên và có tác động tích cực vào  
sự tăng trưởng của nền kinh tế. Các tác giả khẳng định: Để phát triển và sử dụng có hiệu quả  
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt nguồn vốn FDI, thì các nước phải nỗ lực nhiều phương  
diện [14]. Nguyễn Duy Quang (2007), trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thu  
hút FDI từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam; đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp của Liên minh  
châu Âu vào Việt Nam; những yếu tố tác động, nguyên nhân thành công và hạn chế; khả năng  
phát triển quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu; tác giả đưa ra phương hướng và  
một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư  
trực tiếp từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam [19]. Vũ Hoàng Dương (2011), đi sâu nghiên cứu  
về thực trạng FDI của Việt Nam, xu hướng vận động của dòng vốn vào Việt Nam tính đến cuối  
năm 2010 với số lượng vốn và số lượng dự án ngày càng tăng. Tác giả khẳng định điểm khác  
biệt giữa hai cuộc khủng hoảng: Cuộc khủng hoảng năm 1997 không làm thay đổi bản chất của  
FDI, luồng vốn từ nơi dư tới nơi thiếu trên tất cả các lĩnh vực, từ đó nhà đầu tư thu được lợi  
nhuận cũng như tăng thêm nguồn vốn; nhưng cuộc khủng hoảng 2008 nguồn vốn FDI có xu  
hướng tập trung vào công nghệ xanh, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tác giả đã phân chia  
được cơ cấu FDI tính đến năm 2010 và được phân chia: FDI theo ngành; FDI theo hình thức đầu  
tư; FDI theo đối tác đầu tư. Tác giả cũng rút ra sự tác động của FDI đến phát triển kinh tế Việt  
Nam, những tác động tích cực: FDI và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; FDI với tăng trưởng xuất  
khẩu và mở rộng thị trường quốc tế; tác động của FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng  
cao năng lực sản xuất trong khu vực công nghiệp và dịch vụ; khả năng tạo việc làm của doanh  
nghiệp FDI; đóng góp tương đối tốt vào ngân sách nhà nước [11]. Văn Hữu Chiến (2013), FDI  
322  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng như: Tạo ra nguồn đầu tư trực tiếp,  
góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư trong nước, mở rộng sản xuất, chuyển dịch cơ  
cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tạo việc làm cho người lao động [5]. Phùng  
Quang Hùng (2013), thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã đóng góp quan trọng cho sự  
tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc như: FDI là nguồn vốn bổ sung  
quan trọng cho đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ  
cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà  
nước và các cân đối vĩ mô; thúc đẩy chuyển giao công nghệ; hình thành và phát triển các KCN;  
chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh  
tế với khu vực và thế giới [12]. Nguyễn Văn Dần (2014), khẳng định mặc dù khủng hoảng kinh  
tế toàn cầu nhưng kết quả thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm qua vẫn rất khả quan.  
Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt Hà Nội là một địa  
phương có nhiều lợi thế về thu hút nguồn vốn FDI trên các phương diện về số lượng, quy mô  
vốn dự án. Để nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào các khu công nghiệp Hà  
Nội thời gian tới cần đảm bảo phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô đến năm 2020, tầm  
nhìn đến năm 2050 [10].  
2.2. Cơ sở lý thuyết  
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế, FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư, theo đó một tổ chức  
trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại  
một nền kinh tế khác. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế đưa ra khái niệm rằng một doanh  
nghiệp FDI là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong  
đó nhà đầu tư sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Một trong những  
yếu tố có vai trò quan trọng đến quyết định FDI của doanh nghiệp là môi trường. Xét trên quan  
điểm của các nhà đầu tư nước ngoài, họ không quan tâm đến vấn đề môi trường, nhất là không  
phải ở nước họ. Vấn đề họ quan tâm hàng đầu và quyết tâm theo đuổi của họ là lợi nhuận. Điều  
này thường dẫn đến các tác động xấu đến môi trường và xa hơn nữa là phát triển nền kinh tế  
nước sở tại. Tuy nhiên, FDI có tác động lan tỏa đến phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc tạo  
công ăn việc làm, đầu tư công nghệ mới thân thiện môi trường, từ đó nâng cao đời sống, nhận  
thức người dân. Như vậy, FDI thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững dựa trên nền tảng là môi  
trường (Anderson và cộng sự, 1986) [1]. Theo quan điểm học thuyết chi phí giao dịch, tác động  
của FDI có thể là tích cực hoặc tiêu cực, tức là ngoài lợi ích, FDI cũng có thể mang lại chi phí  
cho phát triển bền vững của một quốc gia (Mencinger, 2003) [16]. FDI tác động đến một địa  
phương theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực (Bokpin, 2017) [4]. Về tác động tích cực, các  
doanh nghiệp FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng bền vững và  
điều tiết các nguồn lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo điều tiết của thị trường.  
Bên cạnh đó, FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội - môi trường cho địa phương,  
trong khi nguồn lực trong nước bị hạn chế ((Pazienza, 2015) [18]. Với quy mô hoạt động lớn và  
tầm nhìn xuyên quốc gia, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp FDI gắn liền với quá trình  
chuyển giao công nghệ, nhờ vậy, FDI tạo cơ hội cho địa phương tiếp nhận vốn, tiếp thu kỹ thuật  
và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh doanh tiên tiến của đối tác nước ngoài (Ridzuan  
và cộng sự, 2017) [20]. Về tác động tiêu cực, nếu các địa phương tiếp nhận vốn FDI không có  
quy hoạch chiến lược sẽ dẫn đến FDI không theo ý muốn của bên tiếp nhận về địa bàn đầu tư,  
323  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
lĩnh vực, ngành nghề và quy mô đầu tư. Ngoài ra, FDI thường kéo theo các vấn đề liên quan đến  
văn hóa, phong tục tập quán làm cho các địa phương tiếp nhận FDI có thể bị ảnh hưởng đến  
truyền thống phong tục tập quán và văn hóa dân tộc (Sbia và cộng sự, 2014) [21]. Bên cạnh đó,  
nếu không có một quy hoạch đầu tư cụ thể, có thể xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả,  
tài nguyên bị khai thác bừa bãi và sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hơn nữa, FDI nếu  
không gắn với việc kiểm soát công nghệ của đối tác nước ngoài có thể dẫn đến tình trạng đưa  
vào thị trường nội địa những công nghệ lạc hậu, công nghệ cũ,… làm cho địa phương tiếp nhận  
FDI dễ trở thành bãi thải công nghiệp (Bokpin, 2017) [4].  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu về FDI được sử dụng trong bài viết này là số lượng  
và quy mô vốn FDI đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh, cơ cấu vốn FDI theo ngành kinh tế và theo đối tác  
đầu tư tính theo năm được nhập từ niên giám thống kê của tỉnh Bắc Ninh, báo cáo tình hình kinh  
tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh của Cục Thống kê Bắc Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh và  
Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2020.  
Đồng thời nguồn dữ liệu được thu thập bao gồm luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo, các bài báo  
khoa học có liên quan đến kiến thức về FDI.  
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Số liệu trong bài viết được xử lý, tính toán bằng  
phần mềm Microsoft Word, Microsoft Excel để làm rõ thực trạng và vai trò của FDI trong phát  
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh. Đánh giá tác động tổng thể của FDI đến phát triển kinh tế  
- xã hội của Bắc Ninh trên các khía cạnh: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, chuyển  
dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp vào sự phát triển công nghiệp, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu,  
giải quyết việc làm cho người lao động.  
Về thời gian: Nghiên cứu FDI ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2020.  
Về không gian: Tất cả các số liệu về FDI đã được các cơ quan chức năng có thẩm quyền  
thống kê trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Thực trạng thu hút FDI ở tỉnh Bắc Ninh  
Một là, số lượng và quy mô vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh  
Từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến nay, số lượng vốn FDI thu hút vào tỉnh Bắc Ninh liên  
tục tăng, nhất là trong những năm gần đây, điều đó được thể hiện ở bảng 1 sau:  
Bảng 1: Số lượng và quy mô vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2018  
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2018)  
Số dự án  
được cấp phép  
Tổng vốn đăng ký  
(Triệu USD)  
Vốn thực hiện  
(Triệu USD)  
TỔNG SỐ  
1.633  
19.121,94  
126,0  
1,2  
17.308,788  
1997  
2000  
2001  
1
1
1
0
1,3  
0,3  
3,0  
324  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
2002  
2003  
2
1
9,1  
4,3  
1,5  
13,6  
2004  
3
3,2  
1,9  
2005  
7
124,4  
28,0  
2006  
19  
156,7  
42,5  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
32  
66  
29  
57  
62  
76  
132  
122  
136  
172  
181  
175  
246  
111  
330,3  
1.260,9  
136,8  
423,1  
729,2  
1.352,7  
1.519,4  
1.675,9  
3.574,0  
911,9  
3.490,8  
1.442,9  
1.502,8  
327,94  
142,3  
241,1  
226,9  
315,9  
392,8  
857,7  
1.232,9  
1.118,0  
1.576,5  
1.976,9  
4.101,0  
2.345,2  
1.836,6  
714,588  
Hết tháng 7 năm 2020  
Nguồn: [6], [7], [8].  
Nếu như giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005, mỗi năm tỉnh Bắc Ninh thu hút được từ 1  
đến một vài dự án FDI với số vốn vài triệu USD (trừ năm 1997 và năm 2005). Vốn thực hiện các  
dự án FDI từ năm 1997 đến năm 2006 chỉ từ vài triệu USD đến vài chục triệu USD, thậm chí  
năm 1997 không thực hiện được vốn FDI, mặc dù vốn FDI đã đăng ký năm 1997 là 126,0 triệu  
USD. Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012, mỗi năm tỉnh Bắc Ninh thu hút được vài chục dự  
án FDI, với số vốn đăng ký từ hàng trăm triệu USD đến hơn tỷ USD (năm 2008 là 1.260,9 triệu  
USD; năm 2012 là 1.352,7 triệu USD). Vốn thực hiện dự án FDI giai đoạn này vẫn còn thấp,  
trung bình hàng năm khoảng 30% (trừ năm 2009 là 165,8%). Từ năm 2013 đến năm 2016, số dự  
án FDI tỉnh Bắc Ninh thu hút được dao động từ 122 dự án đến 172 dự án, với số vốn đăng ký  
hàng tỷ USD, đặc biệt năm 2015 vốn đăng ký các dự án FDI vào tỉnh Bắc Ninh là 3.574,0 triệu  
USD (cao nhất từ năm 1997 đến nay). Năm 2017 tỉnh Bắc Ninh thu hút được 181 dự án mới với  
tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh đạt 3.490,8 triệu USD (chiếm 77,4% tổng vốn đầu tư trên địa  
bàn Tỉnh). Lũy kế đến hết năm 2017, đã có 33 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh  
với tổng số 1.144 dự án và 15.733 triệu USD vốn đăng ký, xếp thứ 5/63 tỉnh/thành phố về dự án  
và xếp thứ 6/63 tỉnh/thành phố về vốn đăng ký. Trong năm 2018 thu hút 175 dự án cấp phép mới  
với số vốn đăng ký đạt 586,6 triệu USD. Bên cạnh đó, có 121 dự án đã cấp phép các năm trước  
với tổng số vốn điều chỉnh tăng là 856,3 triệu USD. Tổng vốn đăng ký năm 2018 là 1.442.9 triệu  
USD (chiếm 64,3% tổng vốn đầu tư trên địa bàn Tỉnh), vốn thực hiện năm 2018 đạt 2.345,2 triệu  
USD. Năm 2019, đã cấp mới đăng ký đầu tư cho 246 dự án FDI, điều chỉnh tăng vốn cho 163 dự  
325  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
án với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh là 1.502,8 triệu USD; lũy kế đến hết năm 2019 tỉnh Bắc  
Ninh có 1.507 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh là 1.836,6 triệu USD  
(chiếm 85,29% tổng vốn đầu tư trên địa bàn Tỉnh), xếp thứ 6/63 tỉnh/ thành phố về vốn đăng ký.  
Trong 7 tháng đầu năm 2020 tổng vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh là 714,588 triệu USD  
(chiếm 58,62% tổng vốn đầu tư trên địa bàn Tỉnh). Lũy kê  
tinh Băc Ninh đã câp đăng ký đâu tư cho 1.598 dư n FDI còn hiệu lực vơ  
ký sau điều chỉnh và góp vốn mua, mua cổ phần, phần vốn góp đạt 19.121,94 triê  
́
đến hết ngày 20 tháng 7 năm 2020,  
i tông vôn đâu tư đăng  
u USD, đưa  
̉
́
́
̀
̣
á  
́
̉
́
̀
̣
Bắc Ninh trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI.  
Hai là, vốn FDI phân theo ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh  
Vốn FDI thu hút vào tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2018 được phân bổ ở 15 lĩnh  
vực kinh tế, nhưng tập trung chủ yếu ở lĩnh vực chế biến, chế tạo (công nghiệp).  
Bảng 2: Vốn FDI phân theo ngành kinh tế  
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31 tháng 12)  
TT  
Số dự án được cấp phép  
Vốn đăng ký (Triệu USD)  
1997  
2016  
935  
0
2018  
1.276  
4
1997  
141  
0
2016  
2018  
TỔNG SỐ  
2
12.300,8 17.291,2  
Nông, lâm nghiệp và thủy sản  
0
0
0
18,9  
7,9  
Phân phối điện, điều hòa không khí  
Chế biến, chế tạo  
0
2
0
0
788  
2
2
1000  
0
0
141  
0
11.485,4 16.069,6  
Cung cấp nước; Xử lý rác, nước  
thải  
3,7  
0
Xây dựng  
0
0
41  
40  
48  
72  
0
0
160,7  
53,0  
149,7  
67,4  
Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ôtô,  
môtô, xe máy và xe có động cơ  
Vận tải, kho bãi  
0
0
0
0
0
11  
13  
4
22  
27  
9
0
0
0
0
0
115,5  
35,6  
1,1  
227,1  
78,5  
6,2  
Dịch vụ lưu trú và ăn uống  
Thông tin và truyền thông  
Hoạt động kinh doanh bất động sản  
13  
4
8
429,5  
0,7  
601,1  
4,6  
Hoạt động chuyên môn, khoa học  
công nghệ  
15  
Hoạt động hành chính và dịch vụ  
hỗ trợ  
0
13  
61  
0
14,0  
57,3  
Giáo dục và đào tạo  
0
0
2
1
3
0
0
0
0,2  
0,5  
0,6  
0
Hoạt động nghệ thuật, vui chơi giải  
trí  
Hoạt động dịch vụ khác  
0
3
5
0
0,9  
2,2  
Nguồn: [6], [8].  
326  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Năm 1997 chỉ có lĩnh vực công nghiệp thu hút được 2 dự án FDI với số vốn đăng ký là  
141 triệu USD, trong khi các lĩnh vực khác không thu hút được dự án FDI nào. Đến năm 2016  
đã có 13 lĩnh vực kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh thu hút được 935 dự án FDI với số vốn đăng ký là  
12.300,8 triệu USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp thu hút được 788 dự án FDI với số vốn đăng  
ký 11.485,4 triệu USD, chiếm 84,28% số dự án và 93,37% số vốn FDI đăng ký trong toàn Tỉnh.  
Lĩnh vực xây dựng thu hút được 41 dự án FDI với số vốn đăng ký là 160,7 triệu USD. Hoạt động  
kinh doanh bất động sản thu hút được 13 dự án, nhưng số vốn FDI thu hút được lớn hơn lĩnh vực  
xây dựng, với số vốn đăng ký là 429,5 triệu USD. Hoạt động nghệ thuật, vui chơi giải trí thu hút  
được duy nhất 1 dự án với số vốn đăng ký là 0,5 triệu USD. Năm 2018, số lượng dự án và số vốn  
FDI đăng ký ở tỉnh Bắc Ninh tăng vọt so với năm 2016, với 1276 dự án và 17.291,2 triệu USD  
vốn đăng ký. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp thu hút được 1000 dự án FDI với vốn đăng ký là  
16.069,6 triệu USD, chiếm 78,37% số dự án và 92,94% số vốn đăng ký. Lĩnh vực nông, lâm  
nghiệp và thủy sản thu hút được 4 dự án FDI với vốn đăng ký là 18,9 triệu USD. Lĩnh vực dịch  
vụ thu hút được 5 dự án FDI với vốn đăng ký là 2,2 triệu USD. Các lĩnh vực khác (12 lĩnh vực  
còn lại) thu hút được 267 dự án FDI với số vốn đăng ký là 1.200,5 triệu USD. Qua số liệu các  
năm cho thấy lĩnh vực công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh luôn có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư  
nước ngoài, góp phần quan trọng đưa sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh vươn lên đứng  
đầu cả nước vào năm 2018.  
Ba là, vốn FDI phân theo đối tác đầu tư ở tỉnh Bắc Ninh  
Đến hết năm 2018 nguồn vốn FDI thu hút vào tỉnh Bắc Ninh đến từ tất cả các châu lục  
trên thế giới (Châu Á có 12 đối tác; Châu Âu có 11 đối tác; Châu Mỹ có 7 đối tác; Châu Phi và  
Châu Đại Dương mỗi châu lục có 2 đối tác). Các đối tác có số vốn FDI đầu tư lớn vào tỉnh Bắc  
Ninh chủ yếu đến từ Châu Á, đứng đầu là Hàn Quốc với số vốn đầu tư là 9.799,8 triệu USD,  
thứ hai là Singapore với số vốn đầu tư là 3.281,2 triệu USD, thứ ba là Nhật Bản với số vốn đầu  
tư là 1.118,4 triệu USD (đây là 3 quốc gia có vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh trên một tỷ USD).  
Châu Âu có số lượng đối tác đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh đứng thứ hai trong số các châu lục trên  
thế giới đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh với 11 đối tác, nhưng số lượng vốn FDI không nhiều, Vương  
quốc Anh và Cộng hòa Pháp là đối tác có số vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh lớn nhất trong số các  
đối tác đến từ Châu Âu với số vốn là 155,2 triệu USD. Ở Châu Đại Dương, có 2 đối tác đầu tư  
vào tỉnh Bắc Ninh, Samoa là một quốc gia nhỏ nhưng có số vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh 300,1  
triệu USD, trong khi đó Nước Úc là một quốc gia lớn cùng châu lục, nhưng chỉ có số vốn FDI  
vào Bắc Ninh là 11,0 triệu USD. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia có số vốn FDI đầu tư vào  
tỉnh Bắc Ninh lớn nhất trong số các đối tác đến từ Châu Mỹ với số vốn đăng ký là 227,9 triệu  
USD. Châu Phi có 2 quốc gia đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh là Cộng hòa Mauritius và Cộng hòa  
Xây sen, với số vốn đăng ký là 29,5 triệu USD và 39,9 triệu USD. Điểm sáng trong huy động  
vốn cho đầu tư phát triển là công tác xúc tiến đầu tư được quan tâm chỉ đạo và khuyến khích  
phát triển, tỉnh Bắc Ninh đã trở thành “điểm đến” của nhiều tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới,  
như: SAMSUNG, CANON, ABB, NOKIA-MICROSOFT… Đến nay hết tháng 6 năm 2020, đã  
có 37 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh, trong đó Hàn Quốc vẫn là quốc gia  
có số dự án và vốn đầu tư lớn nhất.  
327  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 3: Vốn FDI phân theo đối tác đầu tư  
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31 tháng 12)  
TT  
Số dự án được cấp phép  
Vốn đăng ký (Triệu USD)  
1997  
TỔNG SỐ  
CHND Trung Hoa  
Nhật Bản  
Đài Loan  
Hàn Quốc  
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ  
Singapore  
Thái Lan  
Hồng Kông  
Ma-lai-xi-a  
2016  
2
0
1
0
0
0
0
0
2018  
935  
85  
71  
35  
620  
4
22  
4
29  
8
1997  
1.276  
152  
90  
47  
803  
13  
33  
4
2016  
141  
0
80,0  
0
0
0
0
0
0
2018  
12.300,8 17.291,2  
127,2  
1.121,1  
471,8  
8.829,0  
115,8  
388,9  
131,2  
286,8  
46,8  
388,2  
1.118,4  
427,9  
9.799,8  
227,9  
3.281,2  
239,6  
229,0  
81,0  
0
0
39  
9
0
In-do-ne-si-a  
Brunei Darussalam  
Vương quốc Anh và Cộng  
hòa Pháp  
0
0
0
1
4
7
1
3
15  
0
0
0
2,4  
99,7  
15,3  
8,0  
9,8  
155,2  
I-ta-li-a  
Samoa  
Bê-li-xê  
Cộng hòa Mauritius  
Quần đảo Virgin  
Quần đảo Cayman  
Ấn Độ  
Hà Lan  
Phần Lan  
Thụy Sĩ  
Ca-na-da  
Đức  
Cộng hòa Síp  
I-xra-en  
Cộng hòa Xây –sen  
Vương quốc Đan Mạch  
Vương quốc Thụy Điển  
Nước Úc  
Vương quốc Bỉ  
Cộng hòa Panama  
Liên bang Nga  
Island of Nevis  
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
3
6
2
1
2
7
3
2
2
1
2
3
1
1
3
1
2
1
1
1
0
0
3
14  
2
2
9
9
4
2
0
2
3
4
1
1
5
0
1
1
2
1
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
47,7  
17,5  
25,5  
22,0  
101,6  
89,0  
309,0  
1,9  
6,0  
0,7  
1,7  
5,5  
0,1  
2,0  
13,0  
1,0  
0,1  
11,0  
0,6  
9,0  
0
0
21,4  
300,1  
22,0  
29,5  
462,1  
189,1  
47,9  
77,4  
0
56,1  
2,6  
3,2  
3,1  
11,0  
39,9  
0
0,7  
0
0
0
61,0  
0
11,0  
42,6  
3,0  
0
2,9  
Nguồn: [6], [8].  
328  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
3.2. Đóng góp của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh  
Thứ nhất, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào ngân sách của Tỉnh.  
Với việc thu hút được một số lượng lớn nguồn vốn FDI, đã đưa kinh tế tỉnh Bắc Ninh  
những năm qua luôn duy trì tăng trưởng ở mức hai con số, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước,  
đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước. GRDP năm 2016 (theo giá so sánh năm  
1994) ước đạt 25.996 tỷ đồng Việt Nam (VND), gấp 15,2 lần năm 1997; bình quân 20 năm (từ  
năm 1997 đến năm 2016) tăng 15,1%/năm. Trong đó, giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2000 tăng  
12,6%/năm; giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 tăng 14,5%/năm; giai đoạn từ năm 2006 đến  
năm 2010 tăng 15,5% và giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 tăng 15,5%/năm. Năm 2019, quy  
mô kinh tế của tỉnh Bắc Ninh vẫn tiếp tục được mở rộng. Theo giá hiện hành, GRDP năm 2019  
đạt 197,9 nghìn tỷ VND, tương đương 8,5 tỷ USD, chiếm 3,3% GDP cả nước; GRDP bình quân  
đầu người đạt 143,5 triệu VND (tương đương 6.163 USD), gấp 2,3 lần bình quân chung cả nước  
(2.687 USD) và xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố (sau tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu).  
FDI góp phần rất lớn vào thu ngân sách của tỉnh Bắc Ninh, cụ thể thu ngân sách nhà nước  
không ngừng tăng lên qua các năm, nhất là giai đoạn sau năm 2011. Nếu như năm 1997 tỉnh Bắc  
Ninh thu ngân sách chỉ đạt 164,0 tỷ đồng, nhưng đến năm 2011 thu ngân sách đạt 6.800 tỷ, đưa  
Bắc Ninh lần đầu tiên có khả năng tự cân đối ngân sách và điều tiết một phần về Trung ương.  
Năm 2012 Bắc Ninh đạt 9.068,5 tỷ đồng; năm 2013 đạt 11.530 tỷ đồng; năm 2014 đạt 12.440 tỷ  
đồng; năm 2015 đạt 15.050 tỷ đồng; năm 2016 đạt 16.835 tỷ đồng, đưa Bắc Ninh tiếp tục là 1  
trong 13 tỉnh, thành phố cả nước tự cân đối ngân sách và có điều tiết một phần về Trung ương;  
năm 2017 đạt 21.597,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so với năm 2016; năm 2018 đạt 27.591,0 tỷ đồng,  
tăng 65,73% so với năm 2017 và năm 2019 đạt 29.910,0 tỷ đồng, tăng 8,40% so với năm 2018.  
Thứ hai, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa.  
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa. Từ năm 1997 đến năm 2016 cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh đã chuyển dịch theo  
hướng tích cực và đúng định hướng, không chỉ đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp mà còn  
là trung tâm công nghiệp điện tử của cả nước. Các khu vực đều có bước phát triển, trong đó khu  
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh, tỷ trọng từ 45,1% năm 1997 xuống còn 5,8% năm  
2016; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, từ 23,8% năm 1997 tăng lên 73,7% năm  
2016. Từ năm 2001, khu vực công nghiệp và xây dựng đã vượt qua khu vực nông, lâm nghiệp  
và thủy sản để chiếm vị trí đầu và trở thành “đầu tầu” trong tăng trưởng và phát triển kinh tế của  
Tỉnh. Trong khi đó, khu vực dịch vụ tuy cũng biến động theo xu hướng giảm, nhưng ở mức thấp  
hơn, từ 31,2% năm 1997 còn 20,6% năm 2016.  
329  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Đơn vị tính: %  
Nguồn: [7], [8], [9].  
Hình 1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh từ năm 2017 đến năm 2019  
Năm 2017 cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, khu vực công nghiệp - xây  
dựng chiếm 75,2%; dịch vụ chiếm 21,8%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3,0%. Năm 2018,  
khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 76,55%; dịch vụ chiếm 16,59%; nông, lâm nghiệp và  
thủy sản chiếm 6,86%. Năm 2019, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 73,5%; dịch vụ chiếm  
23,8%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 2,7%. Năm 2019, khu vực kinh tế có vốn đầu tư  
nước ngoài tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của Tỉnh, tiếp tục đưa tỉnh Bắc Ninh trở  
thành tỉnh có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh nhất cả nước.  
Thứ ba, FDI đóng góp vào sự phát triển công nghiệp, đưa Bắc Ninh trở thành một trong  
những trung tâm công nghiệp điện tử của cả nước.  
FDI đóng góp rất lớn vào sự phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 2000, Bắc  
Ninh đã lựa chọn việc quy hoạch các khu công nghiệp (KCN) tập trung làm mục tiêu chiến lược  
cho các giai đoạn sau này. Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đã điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN  
trên địa bàn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2035. Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 16 KCN,  
trong đó 10 KCN đã đi vào hoạt động, 2 KCN đã được thành lập, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất  
quy hoạch đạt 78,64%. Nếu như năm 1997, GTSX (giá hiện hành) công nghiệp mới đạt 646 tỷ  
VND, xếp thứ 10/11 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Sông Hồng, năm 2000 tăng lên 2.747 tỷ  
VND, gấp 4,3 lần năm 1997, đến năm 2010 GTSX đã đạt 110.576 tỷ VND, gấp 40 lần năm 2000  
và gấp 171 lần năm 1997. Giai đoạn 2011-2016, SEV tiếp tục điều chỉnh tăng vốn lên 2,5 tỷ USD  
và tính đến tháng 6 năm 2016 có 567 dự án FDI đã đăng ký đầu tư vào Bắc Ninh với tổng vốn  
đầu tư sau điều chỉnh đạt 8,83 tỷ USD; nâng tổng dự án FDI (còn hiệu lực) được cấp phép đầu  
tư lên 864 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 11,9 tỷ USD. Nếu như tổng GTSX năm 2013 đạt  
693,3 nghìn tỷ VND, tương đương 32,8 tỷ USD thì năm 2019 quy mô công nghiệp của Bắc Ninh  
đạt 1,24 triệu tỷ VND (theo giá hiện hành), giữ vững vị trí thứ nhất trong cả nước. Lũy kê  
ngày 20 tháng 7 năm 2020, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã câp đăng ký đâ  
u tư đăng ký sau điều chỉnh là 17.779,119  
́ đến  
́
̀u  
tư cho 1039 dư  
̣
án FDI còn hiệu lực với tô  
̉
́
̀
triệu USD.  
330  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Thứ tư, FDI góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh.  
Với việc nguồn vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh ngày càng tăng cao, nhất là đầu tư ngày càng  
nhiều vào các khu công nghiệp tập trung, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh  
không ngừng tăng trong những năm gần đây. Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 liên tiếp kim  
ngạch xuất, nhập khẩu của tỉnh Bắc Ninh đều tăng cao. Năm 2017 kim ngạch xuất khẩu cán mốc  
30 tỷ USD (29,6 tỷ USD), chiếm 14,9% kim ngạch xuất khẩu cả nước, xếp thứ 2/63 tỉnh/thành  
phố (sau thành phố Hồ Chí Minh); kim ngạch nhập khẩu đạt 29,5 tỷ USD. Năm 2018 ghi nhận  
kỷ lục mới về xuất, nhập khẩu của tỉnh Bắc Ninh khi tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất, nhập  
khẩu đạt 62.168 triệu USD. Xuất khẩu hàng hóa năm 2018 đạt 35.347 triệu USD tăng 12,2% so  
với năm 2017. Với 2 mặt hàng xuất khẩu chủ đạo (điện thoại và linh kiện đạt 30.868 triệu USD,  
máy tính và linh kiện đạt 2.887 triệu USD); 2 mặt hàng xuất khẩu trên chiếm đến 95,5% giá trị  
của tất cả các mặt hàng xuất khẩu. Nhập khẩu hàng hóa năm 2018 đạt 26.821 triệu USD giảm  
12,1% so với năm 2017. Trong đó, có 3 mặt hàng nhập khẩu chủ đạo (hàng điện tử và linh kiện,  
máy tính và linh kiện, máy móc và phương tiện khác), 3 mặt hàng nhập khẩu trên chiếm đến 93%  
giá trị của tất cả các mặt hàng nhập khẩu. Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện cả năm 2018  
xuất siêu 8.526 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 268 triệu USD; khu  
vực có vốn FDI xuất siêu 8.794 triệu USD, Hàn Quốc trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất.  
Năm 2018 nhập khẩu giảm do Tập đoàn SamSung năm 2017 mở rộng sản xuất nên nhu cầu nhập  
khẩu máy móc thiết bị và linh kiện phục vụ gia công lắp ráp tăng cao. Năm 2019 kim ngạch xuất  
khẩu của tỉnh Bắc Ninh đạt 35 tỷ USD, chiếm 13,3% kim ngạch xuất khẩu cả nước, xếp thứ 2/63  
tỉnh/thành phố (sau thành phố Hồ Chí Minh là 39,7 tỷ USD). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu  
điện thoại và linh kiện đạt 28,4 tỷ USD, chiếm 81% kim ngạch xuất khẩu toàn Tỉnh và chiếm  
54,7% kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này cả nước.  
Thứ năm, FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.  
Với việc thu hút được một lượng lớn số vốn và số dự án FDI, cơ cấu lao động của tỉnh Bắc  
Ninh chuyển dịch tích cực theo cơ cấu kinh tế. Năm 1997, tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp  
chiếm 85,6%; trong khi lao động khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 7,9% và khu vực dịch  
vụ là 6,5%. Đến năm 2016, tỷ trọng tương ứng của 3 khu vực là 21,6%; 47,8% và 30,5%.  
Bảng 4: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp  
tại thời điểm 31 tháng 12 phân theo loại hình doanh nghiệp.  
Đơn vị tính: Người (tỷ lệ %)  
TT  
Năm 2010  
Năm 2015  
Năm 2016  
Năm 2017  
Năm 2018  
113.529  
(100%)  
282.148  
(100%)  
331.650  
(100%)  
400.852  
(100%)  
411.826  
(100%)  
Tổng số  
Doanh nghiệp nhà nước  
7.813  
(6,9%)  
8.550  
(3,0%)  
8.575  
(2,6%)  
5.618  
(1,4%)  
5.850  
(1,4%)  
Doanh nghiệp ngoài nhà  
nước  
64.042  
(56,4%)  
95.606  
(33,9%)  
110.200  
(33,2%)  
118.516  
(29,6%)  
124.442  
(30,2%)  
Doanh nghiệp có vốn đầu  
tư nước ngoài  
41.674  
(36,7%)  
177.992  
(63,1%)  
212.875  
(64,2%)  
276.718  
(69,0%)  
281.534  
(68,4%)  
Nguồn: [6], [7], [8].  
331  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Qua số liệu ở bảng 4 và bảng 5 cho thấy, số lượng người lao động làm việc trong các doanh  
nghiệp FDI chiếm số lượng lớn nhất (trừ năm 2010) và tăng rất nhanh chóng theo các năm. Người  
lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2010 là 41.674 người (chiếm  
36,7%), đến năm 2015 là 177.992 người (chiếm 63,1%), năm 2018 tăng lên 281.534 người (chiếm  
68,4%, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp FDI trong các KCN tập trung) giải quyết được một  
số lượng lớn việc làm cho người lao động, chiếm khoảng 20% dân số toàn Tỉnh. Từ năm 2015  
đến năm 2018, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp FDI có mức thu nhập cao  
hơn so với thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư  
nhân. Cụ thể năm 2015 thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp FDI là 9.019 nghìn  
VND/tháng, năm 2016 là 9.545 nghìn VND/tháng, năm 2017 là 9.898 nghìn VND/tháng và năm  
2018 là 10.264 nghìn VND/tháng. Trong 6 tháng đầu năm 2020, toàn Tỉnh có 763.809 người lao  
động đang làm việc trong các ngành kinh tế. Trong đó, khu vực nhà nước có 54.890 người lao  
động, giảm 0,9%; khu vực ngoài nhà nước có 416.791 người lao động, tăng 0,4% và khu vực  
FDI có 292.128 người lao động.  
Bảng 5: Thu nhập bình quân một tháng của người lao động  
trong doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp  
Đơn vị tính: Nghìn VND  
TT  
Năm 2010 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017  
Năm 2018  
9.676  
Tổng số  
3.010  
3.540  
7.613  
7.629  
8.190  
8.249  
8.902  
8.272  
Doanh nghiệp nhà  
nước  
8.295  
Doanh nghiệp ngoài  
nhà nước  
Doanh nghiệp có vốn  
đầu tư nước ngoài  
2.735  
3.380  
5.180  
9.019  
5.964  
9.545  
6.888  
9.898  
7.955  
10.264  
Nguồn: [6], [7], [8].  
4. Kết luận và khuyến nghị  
Những năm qua, nguồn vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh tăng rất mạnh, đưa Bắc Ninh trở thành  
một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Vốn FDI đóng vai trò rất quan  
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh. Việc đánh giá đúng thực trạng và  
đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm thu hút và sử dụng vốn FDI có chất lượng trong bối cảnh  
mới (chiến tranh thương mại, cách mạng công nghiệp 4.0, dịch bệnh Covid19) là rất cần thiết.  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả khuyến nghị một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả thu  
hút và sử dụng vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới như sau:  
Thứ nhất, Bắc Ninh cần lựa chọn các dòng vốn đầu tư, lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI theo  
định hướng “sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh  
phát triển công nghiệp phụ trợ dần thay thế nhập khẩu linh phụ kiện, thiết bị từ nước ngoài để lắp  
ráp nhằm tạo giá trị gia tăng cao trong sản phẩm, nâng cao giá trị đóng góp cho ngân sách.  
332  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Thứ hai, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép,  
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp  
luật chuyên ngành như thuế, bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp có vốn FDI, tránh trốn  
thuế, chuyển giá và nợ đọng bảo hiểm xã hội, trốn đóng bảo hiểm xã hội gây thiệt thòi cho người  
lao động; tiến hành rà soát, phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các dự án  
chậm triển khai hoặc không triển khai thực hiện.  
Thứ ba, tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, xây  
dựng, thúc đẩy nhanh việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh  
tranh cấp tỉnh. Coi trọng và thường xuyên chỉ đạo làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình  
độ chuyên môn, năng lực thực thi công vụ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, bố  
trí, sắp xếp bộ máy tổ chức khoa học nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước và tạo  
thuận lợi nhất cho nhà đầu tư.  
Thứ tư, cần nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định cấp, điều chỉnh giấy chứng  
nhận đầu tư. Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư phải đảm bảo các yêu cầu như: Sự phù hợp của  
lĩnh vực đầu tư đối với hệ thống quy hoạch của tỉnh Bắc Ninh, quy hoạch vùng, quy hoạch phát  
triển ngành..; hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án phải bằng hoặc cao hơn hệ thống tiêu  
chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, công nghệ sử dụng trong dự án phải là công nghệ tiên tiến và thân  
thiện với môi trường...  
Thứ năm, cần thường xuyên gặp mặt đối thoại với các nhà đầu tư và đại diện các tổ chức  
quốc tế đang hoạt động trên địa bàn, có danh mục các dự án cần thu hút, các chính sách ưu đãi  
của tỉnh; công bố về quy hoạch thu hút đầu tư vào lĩnh vực mà Bắc Ninh có thế mạnh tiềm năng  
về tài nguyên và lao động để các nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Anderson, E and Gatignon, H (1986), Modes of Foreign Entry: A Transaction Cost  
Analysis and Propositions, J. Int. Bus. Stud. 1986, 17, 1-26.  
2. Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh (2019), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ  
năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ năm 2020, Bắc Ninh.  
3. Behzad Azarhoushang (2013), He effects of FDI on China’s economic development,  
Master’s thesis. Institute of Management Berlin, Berlin.  
4. Bokpin, G.A (2017), Foreign direct investment and environmental sustainability in  
Africa: The role of institutions and governance, Res.Int. Bus.Financ, 39, 239-247.  
5. Văn Hữu Chiến (2013), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế xã hội tại Đà  
Nẵng”, Kỷ yếu Hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu  
tư, Hà Nội.  
6. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2017), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 1997-2016, Nhà  
xuất bản Thống kê, Hà Nội.  
7. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2018), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 2017, Nhà xuất  
bản Thống kê, Hà Nội.  
333  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
8. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2019), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 2018, Nhà xuất  
bản Thống kê, Hà Nội.  
9. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2020), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 2019, Nhà xuất  
bản Thống kê, Hà Nội.  
10. Nguyễn Văn Dần (2014), “Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị nhằm  
thu hút FDI của Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, 127, 63-69.  
11. Vũ Hoàng Dương (2011), “Một số vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt  
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 7, 57-65.  
12. Phùng Quang Hùng (2013), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã  
hội và công tác quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc độ địa phương”, Kỷ  
yếu Hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội.  
13. Khondoker Abdul Mottaleb and Kaliappa Kalirajan (2010), Determinants of Foreign  
Direct Investment in Developing Countries: A Comparative Analysis. ASARC Working Paper  
2010/13.  
14. Trần Quang Lâm và An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam  
hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
15. Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế ở Việt  
Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.  
16. Mencinger, J (2003), Does Foreign Direct Investment Always Enhance Economic  
Growth? Kyklos, 56, 491-508.  
17. ODI (2002), “Foreign Direct Investment: Who gains”. ODI (Overseas Development  
Institute) Briefing Paper.  
18. Pazienza, P (2015), The relationship between CO2 and FDI in the agriculture and fish-  
ing sector of OECD countries: Evidence and policy considerations, Intellect. Econ. 2015, 9.  
19. Nguyễn Duy Quang (2007), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu Âu vào  
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.  
20. Ridzuan, A.R.; Ismail, N.A.; Hamat, A.C (2017), Does FDI Successfully Lead to  
Sustainable Development in Singapore? Econ. 2017, 5, 29.  
21. Sbia, R.; Shahbaz, M.; Hamdi, H (2014), A contribution of foreign direct investment,  
clean energy, trade openness, carbon emissions and economic growth to energy demand in UAE,  
Econ. Model. 2014, 36, 191-197.  
334  
pdf 15 trang Thùy Anh 16780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_trong_phat_trien_kin.pdf