Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của viên chức trường Đại học Quốc tế

Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 19  
Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất  
(UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của  
viên chức trường Đại học Quốc tế  
An application of Unified Technology Acceptance Use of Technology  
(UTAUT): The case of Portal Office system by officials of the  
International University  
Nguyễn Ngọc Duy Phương1*, Huỳnh Vĩnh Trường1  
1Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: nn[email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi…..1966.2021  
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà  
nước là một trong những chủ trương mang tính cấp thiết, đáp ứng  
nhu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là trong tình hình đại dịch  
Covid-19 diễn biến phức tạp. Cán bộ - viên chức cần được liên  
tục trang bị kiến thức, kỹ năng và các trang thiết bị để nâng cao  
hiệu quả công việc. Nghiên cứu này xác định khả năng ứng dụng  
của mô hình UTAUT (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003)  
với sự hỗ trợ của mô hình TAM nhằm mục đích tìm hiểu những  
yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi của viên chức đối với việc  
sử dụng phần mềm Portal Office nhằm phục vụ công việc trong  
bối cảnh giáo dục khu vực công. Phương pháp nghiên cứu định  
lượng được sử dụng qua khảo sát 100 viên chức. Kết quả chỉ ra  
rằng Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng, Thói quen và  
Các điều kiện thuận lợi đều có ảnh hưởng đến ý định và hành vi  
sử dụng hệ thống Portal Office. Về hàm ý quản trị, kết quả cho  
thấy rằng Ban lãnh đạo cần phải xây dựng thói quen sử dụng,  
tuyên truyền về lợi ích, tính thân thiện của phần mềm và đáp ứng  
các điều kiện thuận tiện hỗ trợ cho việc sử dụng phần mềm, từ đó  
thúc đẩy năng suất làm việc hiệu quả của viên chức.  
Ngày nhận: 26/06/2021  
Ngày nhận lại: 09/07/2021  
Duyệt đăng: 10/07/2021  
Từ khóa:  
chính phủ điện tử; hành vi sử  
dụng, utaut; ý định hành vi  
ABSTRACT  
Applying information technology in state administrative  
management is one of the urgent policies to meet social  
development needs, especially in the turbulent situation of the  
Covid-19 pandemic. Cadres - public employees need to be  
continuously equipped with knowledge, skills, and equipment to  
improve work efficiency. This study determines the applicability  
of the UTAUT (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003) with  
the support of TAM model to examine what factors affect the  
behavioral intentions of employees towards using Portal Office  
software for work in the context of public higher education. The  
study employs a quantitative method by a self-administered  
20 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
survey of 100 officials. The results show that perceived  
usefulness, ease of use, habits, and facilitation conditions affect  
behavioral intention and actual use of the Portal Office system. In  
Keywords:  
behavioral intention; use  
behavior; UTAUT; E-  
terms of governance implications, the findings suggest that the  
Board of Directors may need to build usage habits, propagate the  
goverment  
benefits and friendliness of the software, and meet convenient  
conditions that support the use of the software, thereby promoting  
effective work productivity of employees.  
1. Giới thiệu  
Trong những năm qua, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0  
(Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, Dữ liệu lớn), ứng dụng công nghệ thông tin được xác định  
là công cụ hữu hiệu trong việc cải cách hành chính. Theo báo cáo số 6466/BC-BNV ngày  
24/12/2019 (Bộ Nội Vụ, 2019) về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2019  
về đầu tư, nâng cấp và sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành: 63/95 cơ quan Trung  
ương và địa phương đã nâng cấp các tính năng mới và chính chức chạy phần mềm quản lý văn  
bản và điều hành, 28 cơ quan đang triển khai nâng cấp. Tỷ lệ thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc  
bộ, cơ quan ngang bộ thường xuyên xử lý, điều hành công việc qua phần mềm quản lý văn bản  
và điều hành đạt gần 100% (Bộ Nội vụ, 2019). Việc ứng dụng giải quyết hồ sơ trên nền điện tử  
đã được Văn phòng chính phủ triển khai từ nhiều năm nay với mục tiêu: ứng dụng công nghệ  
thông tin, hướng đến “Văn phòng chính phủ phi giấy tờ”. Tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia  
về Chính phủ điện tử ngày 10/03/2021, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh  
Hùng cho biết dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành Chính phủ điện tử vào năm 2021 với chỉ tiêu  
100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 04, bên cạnh đó, năm 2025 sẽ hình thành Chính phủ số  
(Gia Huy, 2021). Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước là chủ  
trương lớn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với quy luật phát triển xã hội, đã được triển khai,  
giúp cán bộ công chức có bước nhận thức cơ bản về sự cần thiết của việc đẩy mạnh ứng dụng  
công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, trong bối cảnh  
dịch bệnh Covid-19 (một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus Corona gây hội  
chứng hô hấp cấp tính nặng) đang gây ra những ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội trên phạm  
vi toàn cầu từ đầu năm 2020, người dân, doanh nghiệp, các bộ công chức, viên chức, … được  
khuyến khích tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến (Bộ Y tế, 2020), việc đẩy mạnh và  
phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động hành chính công được  
khuyến nghị và đang ngày càng trở nên cấp thiết. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin  
trong quản lý đào tạo tại các trường đại học là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu  
quả của công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng các cơ sở đại học. Có nhiều  
nghiên cứu trong khu vực công và các sơ sở giáo dục đại học trên thế giới về sự chấp nhận và  
sử dụng công nghệ áp dụng mô hình UTAUT với các tác giả Raman và Don (2013), Teo  
(2011), Wong, Teo, và Russo (2013). Mặc dù vậy, các bài nghiên cứu về ứng dụng cho mô  
hình chấp nhận công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam được công bố trên các  
tạp chí uy tín vẫn chưa nhiều (Nguyen, Nguyen, & Cao, 2014; Pham, Dang, & Le, 2020).  
Nghiên cứu này tập trung vào sự ảnh hưởng giữa niềm tin cải thiện năng suất, nhận thức về sự  
dễ dàng sử dụng công nghệ mới, thói quen và các điều kiện thuận tiện hỗ trợ sử dụng hệ thống  
đến dự định và từ đó tác động đến hành vi sử dụng của viên chức trường Đại học Quốc tế  
(ĐHQG-HCM). Portal Office hay Văn phòng điện tử là một phần mềm quản lý dựa trên nền  
tảng Web được phát triển bởi Công ty TNHH Giải pháp Phần mềm Việt (Vietnam Software  
Solutions Co., ltd). Chức năng chính của phần mềm bao gồm: quản lý, phân loại các hình thức  
văn bản đến, đi, nội bộ trên hệ thống; xây dựng các tập tài liệu lưu trữ online; cấp quyền kiểm  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 21  
soát quá trình xử lý văn bản từ giai đoạn tiếp nhận cho đến khi hoàn thành. Bên cạnh đó, phần  
mềm được tích hợp thêm tính năng chữ ký số, xử lý các loại văn bản định dạng của Microsoft  
Office và liên thông văn bản quốc gia.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Khái niệm Hành vi người tiêu dùng, ý định hành vi, và chấp nhận sự dụng công nghệ  
thông tin  
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, Hành vi cụ thể là “Hành vi người tiêu dùng” được  
xem như những phản ứng cảm xúc, nhận thức hoặc các phản ứng có thể quan sát được trước  
những tác động xuyên suốt liên quan đến việc mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ của người tiêu  
dùng (Kardes & Cronley, 2015). Hành vi người tiêu dùng có thể được định nghĩa là quá trình ra  
quyết định và hoạt động thể chất liên quan đến việc mua, đánh giá, sử dụng và thải bỏ hàng hóa  
và dịch vụ. Ở cấp độ vi mô, nó liên quan đến việc hiểu người tiêu dùng nhằm mục đích giúp một  
công ty hoặc tổ chức đạt được các mục tiêu của mình (Khan, 2007).  
Warshaw và Davis (1985) xác định rằng Ý định hành vi giống như mức độ mà một người  
lập ra các kế hoạch một cách sáng suốt để thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi được  
chỉ định trong tương lai. Davis, Bagozzi, và Warshaw (1989) nhận thấy rằng Ý định hành vi sử  
dụng hệ thống có tương quan đáng kể với việc sử dụng. Bên cạnh đó, Ý định hành vi là yếu tố  
chính quyết định hành vi người dùng trong khi các yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi  
người dùng thông qua Ý định hành vi. Hill, Smith, và Mann (1987) cũng chỉ ra rằng thông qua Ý  
định hành vi có thể dự đoán được hành động một cách đáng kể. Tóm lại, Ý định hành vi có thể  
xem như mức độ mà một người có ý thức sẵn lòng đưa ra quyết định lập kế hoạch dẫn đến thực  
hiện hành vi.  
Nghiên cứu của Kim và Kankanhalli (2009), Lippert và Davis (2006), và Sharma (2013)  
cho rằng khi giới thiệu các công nghệ mới, việc chấp nhận thay đổi bắt đầu từ trong chính mỗi cá  
nhân và điều này có thể bị ảnh hưởng bởi cách họ cảm nhận các ứng dụng mới sẽ ảnh hưởng đến  
hiệu suất công việc của họ như thế nào. Hidayanto và Ekawati (2010) đã kết luận rằng việc chấp  
nhận thay đổi có thành công hay không sẽ phụ thuộc vào sự chấp nhận của người dùng và sử  
dụng công nghệ mới của tổ chức. Mức độ chấp nhận của người dùng là một yếu tố quan trọng  
cần xem xét vì nó quyết định việc áp dụng, triển khai và sử dụng công nghệ thông tin trong tổ  
chức (Agarwal & Karahanna, 2000; Lippert & Davis, 2006).  
2.2. Các lý thuyết liên quan  
2.2.1. Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM)  
Trong mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM), yếu tố Nhận thức dễ sử dụng có ảnh  
hưởng trực tiếp đến yếu tố Nhận thức sự hữu ích. Davis (1985) xác định khái niệm Nhận thức sự  
hữu ích là mức độ mà một cá nhân tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất  
công việc của người đó; Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng  
một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực về thể chất và tinh thần. Nhận thức sự hữu ích và Nhận  
thức dễ sử dụng đều được nhận thấy là có trực tiếp ảnh hưởng đến Ý định hành vi.  
2.2.2. Mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT)  
Venkatesh và cộng sự (2003) đã phát triển mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp  
nhất (UTAUT) và đã xác định các yếu tố quyết định như Nỗ lực kỳ vọng, Hiệu suất mong đợi,  
Ảnh hưởng xã hội, Các điều kiện thuận lợi và các nhân tố điều tiết như Giới tính, Tuổi tác, Trải  
nghiệm, Sự tự nguyện sử dụng. Trong đó, Nỗ lực kỳ vọng được định nghĩa là mức độ dễ dàng  
liên quan đến việc sử dụng hệ thống; Hiệu suất mong đợi được định nghĩa là mức độ mà một cá  
nhân tin rằng việc sử dụng các hệ thống mới sẽ giúp cho người đó đạt được năng suất trong công  
22 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
việc; Ảnh hưởng xã hội được đề cập đến như là mức độ một cá nhân nhận thức được tầm quan  
trọng của việc bị tác động bởi niềm tin của những người xung quanh rằng cá nhân đó nên sử  
dụng hệ thống mới; Điều kiện thuận lợi được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân có niềm tin  
rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tổ chức đủ điều kiện để hỗ trợ cho hệ thống (Venkatesh et al.,  
2003). UTAUT được xem là mô hình kết hợp của nhiều mô hình nghiên cứu sự chấp nhận sử  
dụng hệ thống thông tin mới của người dùng trước đó bao gồm cả mô hình TAM. Từ góc độ lý  
thuyết, UTAUT cung cấp một cái nhìn về cách các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Hành vi phát  
triển theo thời gian. UTAUT đã được thử nghiệm, thực nghiệm và được chứng minh là vượt trội  
so với các mô hình cạnh tranh đang thịnh hành khác (Venkatesh et al., 2003; Venkatesh &  
Zhang, 2010).  
2.2.3. Mô hình Mở rộng chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất - UTAUT2  
UTAUT2 được đề xuất như là một mô hình hữu ích để hiểu việc sử dụng công nghệ của  
người tiêu dùng nói chung. Trong mô hình này, cá nhân có đặc điểm là để Thói quen tác động  
đến Ý định hành vi. Venkatesh, Thong, và Xu (2012) xem Thói quen là một cấu trúc tri giác  
phản ánh kết quả của những trải nghiệm trước đó. UTAUT2 mô hình hóa cách Thói quen ảnh  
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến Hành vi sử thông qua Ý định hành vi. Venkatesh và cộng sự  
(2012) khẳng định rằng các bổ sung được đề xuất trong UTAUT2 thể hiện những thay đổi đáng  
kể các biến được giải thích trong ý định hành vi và sử dụng công nghệ.  
2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.3.1. Mối quan hệ giữa Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng và Ý định hành vi  
Davis và cộng sự (1989) cũng báo cáo rằng Nhận thức dễ sử dụng đã được phát hiện là  
có tác động đáng kể liên quan đến Ý định và hành vi sử dụng. Các báo cáo trong các nghiên cứu  
của Adams, Nelson, và Todd (1992); Agarwal và Karahanna (2000); Davis và cộng sự (1989);  
Doll, Hendrickson, và Deng (1998); Segars và Grover (1993) đã xác minh rằng Nhận thức sự  
hữu ích và tính Nhận thức dễ sử dụng là yếu tố then chốt trong cấu trúc sự chấp nhận của cá  
nhân. Tuy nhiên, hai yếu tố này có thể không phản ánh chính xác sự chấp nhận của người dùng  
Internet Banking (Hsu & Lu, 2004). Để kiểm chứng các lập luận trên, tác giả đề xuất giả thuyết:  
H1: Nhận thức sự hữu ích sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định sử dụng phần mềm  
Portal Office của viên chức  
H2: Nhận thức dễ sử dụng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định hành vi sử dụng phần  
mềm Portal Office của viên chức  
2.3.2. Mối quan hệ giữa Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích  
Nhận thức dễ sử dụng không ngừng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến Ý định hành  
vi thông qua Nhận thức sự hữu ích (Agarwal & Karahanna, 2000; Hsu & Lu, 2004). Một số lập  
luận trong những nghiên cứu trước đây khẳng định rằng có một mối quan hệ tích cực giữa Nhận  
thức sự hữu ích và Nhận thức dễ sử dụng khi chấp nhận công nghệ thông tin (Gefen & Straub,  
2000; Venkatesh & Davis, 2000) và phát hiện này cũng đã được xác nhận trong sử dụng công  
nghệ Internet (Lederer, Maupin, Sena, & Zhuang, 2000; Moon & Kim, 2001). Theo đó, tác giả  
đề xuất giả thuyết:  
H3: Nhận thức dễ sử dụng có mối quan hệ tích cực với Nhận thức sự hữu ích phần mềm  
Portal Office  
2.3.3. Mối quan hệ giữa Thói quen đến Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng  
Thói quen đã được chứng minh là một yếu tố quan trọng dự đoán việc sử dụng công nghệ  
(Kim & Malhotra, 2005; Kim, Malhotra, & Narasimhan, 2005; Limayem, Hirt, & Cheung,  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 23  
2007). Nghiên cứu của Pham và cộng sự (2020) cho thấy Thói quen của giáo viên có tác động  
đến hành vi sử dụng công nghệ thông tin trong bài giảng của giáo viên. Theo Arenas, Peral, và  
Ramón (2015), Thói quen là một trong những yếu tố chính tạo nên và giải thích Hành vi sử dụng  
trực tiếp và gián tiếp thông qua Ý định hành vi. Tuy nhiên, theo Nguyen và cộng sự (2014), Thói  
quen có tác động không đáng kể đến Ý định hành vi sử dụng công nghệ. Raman và Don (2013)  
chỉ ra rằng Thói quen không có tác động tích cực đến Ý định hành vi hoặc Hành vi sử dụng. Để  
kiểm chứng mối quan hệ này, tác giả đưa ra giải thuyết:  
H4: Thói quen sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định sử dụng phần mềm Portal Office  
của viên chức  
H5: Thói quen sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office  
của viên chức  
2.3.4. Mối quan hệ giữa Các điều kiện thuận lợi đến Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng  
hệ thống  
Kết quả nghiên cứu của Alalwan, Dwivedi, Rana, Lal, và Williams (2015) cho thấy Các  
điều kiện thuận lợi có thể tác động trực tiếp đến việc sử dụng thực tế của máy tính và hệ thống.  
Teo (2011) chỉ ra rằng Điều kiện thuận lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi. Các điều kiện  
thuận lợi cho một công nghệ có mối tương quan tích cực với việc sử dụng công nghệ. Theo Im,  
Hong, và Kang (2011), nếu có nhiều điều kiện thuận lợi hỗ trợ thì mọi người sẽ có nhiều khả  
năng hơn để áp dụng công nghệ đó. Nguyen và cộng sự (2014) kết luận rằng Điều kiện thuận lợi  
có tác động không đáng kể đến Hành vi sử dụng E-learning dựa trên điện toán đám mây. Do đó,  
tác giả đưa ra giả thuyết:  
H6: Điều kiện thuận lợi sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng phần mềm Portal  
Office của viên chức  
2.3.5. Mối quan hệ giữa Ý định hành vi đến Hành vi sử dụng hệ thống  
Venkatesh và cộng sự (2003) công nhận rằng Ý định hành vi là một yếu tố dự báo quan  
trọng của Hành vi sử dụng công nghệ. Wang (2016) kết luận rằng Ý định hành vi có ảnh hưởng  
trực tiếp đến Hành vi sử dụng hệ thống e-learning của nhân viên. Tương tự, nghiên cứu của  
Nguyen và cộng sự (2014) minh họa rằng Ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực đến Hành vi sử  
dụng hệ thống e-learning dựa trên điện toán đám mây. Pham và cộng sự (2020) chỉ ra rằng Ý  
định hành vi có ảnh hưởng mạnh đến Hành vi sử dụng của giáo viên. Dựa vào các báo cáo trên,  
tác giả đưa ra giải thuyết:  
H7: Ý định hành vi (Behavioral intention) sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng  
(Use behavior) phần mềm Portal Office của viên chức  
2.3.6. Mô hình đề xuất  
Tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố và các mối quan hệ của chúng  
đến Ý định hành vi và Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office của viên chức trường Đại học  
Quốc tế (ĐHQT) từ các mô hình nghiên cứu khác như: UTAUT, UTAUT2, TAM và kết quả các  
nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xây dựng mô hình đề xuất như sau:  
24 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Quy trình thực hiện thông  
qua các bước khảo cứu các khái niệm, các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên  
cứu. Sau đó, tham khảo và kế thừa các bộ công cụ từ những nghiên cứu trước để đề xuất thang  
đo sơ bộ. Tác giả phỏng vấn trực tiếp và thu thập các ý kiến đóng góp, chỉnh sửa từ 20 đáp viên  
để điều chỉnh bảng câu hỏi. Thang đo chi tiết được mô tả ở Bảng 1 bao gồm Nhận thức sự hữu  
ích (06 quan sát), Nhận thức dễ sử dụng (05 quan sát), Các điều kiện thuận lợi (04 quan sát),  
Thói quen (04 quan sát), Ý định hành vi (05 quan sát) và Hành vi sử dụng (05 quan sát). Phương  
pháp lấy mẫu được đề xuất là lấy mẫu thuận tiện để chọn các đối tượng khảo sát. Cỡ mẫu bị ảnh  
hưởng bởi một số yếu tố, bao gồm mục đích của nghiên cứu, nhân khẩu, rủi ro lựa chọn một mẫu  
lỗi và sai số lấy mẫu cho phép (Israel, 1992). Đối với nghiên cứu này, với những giới hạn về chi  
phí, nhân khẩu và thời gian, kích thước mẫu sẽ được lấy ở mức tối ưu cần thiết. Theo Hair,  
Black, Babin, và Anderson (2009), kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA đề xuất kích thước  
mẫu tối thiểu gấp 05 lần tổng số biến quan sát. Kline (2014) khuyến nghị kích thước mẫu ít nhất  
là 100, tuy nhiên, việc xem xét tỷ lệ số lượng người tham gia so với số lượng các biến là một  
cách tốt hơn để xác định cỡ mẫu tối thiểu. Gorsuch (1974) khuyến nghị một tỷ lệ tối thiểu có thể  
chấp nhận được là không ít hơn 100 cá thể cho bất kỳ phân tích nào. Theo đó, nghiên cứu chọn  
kích thước mẫu tối thiểu là N = 100, tác giả đã truy cập cơ sở dữ liệu của phần mềm Portal  
Office, sau đó chọn lọc ra đối tượng khảo sát là các viên chức có lịch sử đã từng đăng nhập vào  
hệ thống, 169 bảng câu hỏi trong đó có 104 bảng theo hình thức in giấy và 65 bảng câu hỏi điện  
tử được gửi đến trực tiếp cho các đối tượng đã được chọn lọc thông qua việc gặp, phân phát trực  
tiếp hoặc gửi email có nội dung bảng câu hỏi từ Tháng 03 đến Tháng 04 năm 2021. Kết quả thu  
về 108 phản hồi. Số phản hồi hợp lệ là 100. Dữ liệu sau khi được thu thập và làm sạch được đưa  
vào phân tích. SEM (Structural Equation Model) là một trong những kỹ thuật phân tích thống kê  
tiên tiến nhất xuất hiện trong những thập kỷ gần đây (Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2016). Đây  
là một loại kỹ thuật đa biến kết hợp các khía cạnh của phân tích nhân tố và hồi quy, cho phép các  
nhà nghiên cứu đồng thời kiểm tra mối quan hệ giữa các cấu trúc tiềm ẩn như Nhận thức, Thái  
độ hoặc Ý định của Người tiêu dùng và ảnh hưởng của chúng đến các thước đo Hiệu suất Tổ  
chức. Phổ biến nhất có hai cách tiếp cận để ước tính các mối quan hệ trong mô hình phương trình  
cấu trúc là CB-SEM sử dụng khi dữ liệu phân phối chuẩn, có cở mẫu lớn và PLS-SEM sử dụng  
với cở mẫu nhỏ và không giả định phân phối chuẩn (Hair et al., 2016; Hair, Risher, Sarstedt, &  
Ringle, 2019). Mỗi kỹ thuật phân tích phù hợp với một mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Trong  
thời gian gần đây, PLS-SEM hiện được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội,  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 25  
bao gồm quản lý tổ chức (Sosik, Kahai, & Piovoso, 2009), quản lý nguồn nhân lực (Ringle,  
Sarstedt, Mitchell, & Gudergan, 2020), hệ thống thông tin quản lý (Hair, Hollingsworth,  
Randolph, & Chong, 2017; Ringle, Sarstedt, & Straub, 2012), quản lý hoạt động (Peng & Lai,  
2012). Trong nghiên cứu này phương pháp PLS-SEM phù hợp xử lý cở mẫu nhỏ. Để đánh giá  
kết quả PLS-SEM bao gồm việc kiểm tra các mô hình đo lường. Nếu các mô hình đo lường đáp  
ứng yêu cầu, các nhà nghiên cứu cần đánh giá mô hình cấu trúc (Hair et al., 2017).  
Bảng 1  
Thang đo đề xuất  
Mã  
hóa  
Nội dung câu hỏi  
Nguồn  
Nhận thức sự hữu ích  
Sử dụng Portal Office trong công việc cho phép tôi  
hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn  
HI1  
HI3  
HI2  
Davis và cộng sự (1989)  
Sử dụng Portal Office làm tăng năng suất làm việc của  
tôi  
Sử dụng Portal Office cải thiện hiệu suất công việc của  
tôi (tránh lãng phí công sức, thời gian)  
Davis và cộng sự (1989);  
Tapanainen, Dao, Nguyen, và  
Nguyen (2019)  
HI6 Tôi thấy Portal Office hữu ích trong công việc của tôi  
Chan (2004); Davis và cộng  
HI4 Sử dụng Portal Office giúp tôi tăng hiệu quả công việc sự (1989); Tapanainen và  
cộng sự (2019)  
Sử dụng Portal Office giúp tôi thực hiện công việc dễ Chan (2004); Davis và cộng  
HI5  
hơn  
sự (1989)  
Nhận thức dễ sử dụng  
Học cách vận hành Portal Office khá dễ dàng đối với  
tôi  
DD1  
DD3  
DD2  
Chan (2004); Davis và cộng  
sự (1989)  
Tôi thấy Portal Office thật rõ ràng và dễ hiểu để tương  
tác  
Tôi thấy thật dễ quản lý, tìm kiếm, nhận thông báo văn  
bản thông qua Portal Office  
Davis và cộng sự (1989)  
DD4 Tôi thấy dễ thành thạo Portal Office  
DD5 Tôi thấy Portal Office dễ sử dụng  
Các điều kiện thuận lợi  
Chan (2004); Davis và cộng  
sự (1989); Tapanainen và  
cộng sự (2019)  
Trường ĐHQT có cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết để Nguyen và cộng sự (2014);  
TL1  
hỗ trợ tôi sử dụng Portal Office  
Pham và cộng sự (2020)  
Venkatesh và cộng sự (2003);  
Venkatesh và cộng sự (2012);  
Wang (2016); Wong và cộng  
sự (2013)  
Tôi có kiến thức công nghệ thông tin cần thiết để sử  
dụng hệ thống Portal Office  
TL2  
26 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Mã  
hóa  
Nội dung câu hỏi  
Nguồn  
Venkatesh và cộng sự (2003);  
Venkatesh và cộng sự (2012);  
Wang (2016)  
Portal Office không tương thích với các hệ thống khác  
mà tôi sử dụng  
TL3  
Thompson,  
Higgins,  
và  
Howell (1991); Venkatesh và  
cộng sự (2003); Venkatesh và  
cộng sự (2012); Wong và  
cộng sự (2013)  
Có người sẵn sàng hỗ trợ khi tôi gặp khó khăn trong  
lúc sử dụng Portal Office  
TL4  
Thói quen  
Việc sử dụng Portal Office đã trở thành một thói quen  
đối với tôi  
TQ1  
Nguyen và cộng sự (2014);  
Pham và cộng sự (2020);  
Venkatesh và cộng sự (2003)  
TQ2 Tôi sử dụng Portal Office thường xuyên  
Nếu không có yếu tố bắt buộc, tôi vẫn thấy nhất thiết  
cần phải sử dụng Portal Office  
TQ3  
Sử dụng Portal Office đã trở thành điều tự nhiên đối Pham và cộng sự (2020);  
TQ4  
với tôi  
Ý định hành vi  
Venkatesh và cộng sự (2012)  
Davis (1993); Venkatesh và  
Davis (2000); Wang (2016);  
Wong và cộng sự (2013)  
Tôi sẽ sử dụng Portal Office bất cứ lúc nào tôi có nhu  
cầu  
YD1  
Tôi nghĩ nên khuyến khích mọi người sử dụng Portal  
Office  
Davis (1993); Tapanainen và  
cộng sự (2019); Venkatesh và  
Davis (2000)  
YD2  
YD5 Tôi sẽ giới thiệu Portal Office cho người khác  
Ajzen (1991); Davis và cộng  
Tôi sẽ thường xuyên sử dụng Portal Office trong tương sự (1989); Moore và Benbasat  
YD3  
YD4  
lai  
(1991); Wang (2016); Wong  
và cộng sự (2013)  
Ajzen (1991); Moore và  
Benbasat (1991); Pham và  
cộng sự (2020)  
Tôi nghĩ hầu hết mọi nhiệm vụ của tôi đều thực hiện  
được thông qua Portal Office  
Hành vi sử dụng  
HV1 Tôi có thể sử dụng Portal Office cho mọi nhiệm vụ  
HV2 Tôi sử dụng Portal Office cho nhiều hơn một nhiệm vụ  
Tôi sẽ tiếp tục sử dụng Portal Office cho công việc Davis (1993); Tapanainen và  
HV3  
trong thời gian tới  
cộng sự (2019); Venkatesh và  
Davis (2000)  
HV4 Nhìn chung Portal Office làm tôi thấy hài lòng  
Tôi thấy thích khi sử dụng Portal Office cho công việc  
của mình  
HV5  
Nguồn: Tác giả tổng hợp (2021)  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 27  
4. Kết quả phân tích và thảo luận  
4.1. Mô tả đặc điểm mẫu  
Nghiên cứu chính thức với số bảng câu hỏi được gửi đi là 169, tổng số lượng đáp viên  
phản hồi là 108 (tỷ lệ phản hồi 64%). Sau khi tác giả tiến hành lọc và xử lý dữ liệu, số mẫu hợp  
lệ cuối cùng chính thức là N = 100. Về đặc điểm giới tính, dựa theo kết quả khảo sát, giới tính  
Nữ chiếm nhiều hơn với tỷ lệ 53%. Có thể thấy sự chênh lệch về giới tính không đáng kể. Về đặc  
điểm độ tuổi, kết quả cho thấy độ tuổi từ 30 - 40 tuổi chiếm đa số với tỷ lệ 67%; từ 23 - 29 tuổi  
chiếm 25%, và trên 40 tuổi chiếm 8%. Ta thấy giữa các độ tuổi có sự chênh lệch tương đối lớn.  
Đối với đặc điểm trình độ học vấn, trình độ cử nhân/kỹ sư chiếm 51%; trình độ thạc sĩ chiếm  
46%; trình độ tiến sĩ chiếm 3%. Xem xét đặc điểm về bằng cấp/chứng chỉ tin học, kết quả cho  
thấy đáp viên có bằng cấp/chứng chỉ về tin học chiếm tỷ lệ 69%; đáp viên chưa có bằng  
cấp/chứng chỉ về tin học chiếm tỷ lệ 31%. Đối với đặc điểm về tham gia lớp tập huấn Portal  
Office, đáp viên đã từng tham gia lớp tập huấn về sử dụng Portal Office chiếm tỷ lệ 74%; đáp  
viên chưa từng tham gia chiếm tỷ lệ 26%.  
4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo  
Các hệ số tải về độ tin cậy phải đáp ứng được giá trị lớn hơn 0.7 (Hair et al., 2016). Kết  
quả phân tích cho thấy nhân tố HI (Nhận thức sự hữu ích) có 05 biến quan sát với hệ số nhân tải  
ngoài trong khoảng 0.904 - 0.928; nhân tố DD (Nhận thức dễ sử dụng) có 05 biến quan sát với  
hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.739 - 0.913; nhân tố TQ (Thói quen) có 04 biến quan sát với  
hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.827 - 0.913; nhân tố TL (Các điều kiện thuận lợi) với 02  
biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.719 - 0.905; nhân tố YD (Ý định hành vi)  
có 05 biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.722 - 0.909; nhân tố HV (Hành vi sử  
dụng) có 04 biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.868 - 0.924. Tiếp theo đó,  
theo Hair và cộng sự (2019) độ tin cậy tổng hợp CR thỏa đáng trong khoảng 0.7 đến 0.9. Phương  
sai trích AVE lớn hơn giá trị ngưỡng 0.5. Độ tin cậy Cronbach’s Alpha >= 0.7. Kết quả phân tích  
cho thấy tất cả các nhân tố thể hiện Độ tin cậy tổng hợp (CR) đều đạt yêu cầu với hệ số lớn hơn  
0.7 và cụ thể là nằm trong khoảng giá trị từ 0.799 - 0.963. Hệ số Phương sai trích AVE của các  
nhân tố đều nằm trong khoảng 0.668 - 0.838 và lớn hơn 0.5 giải thích được tối thiểu > 50% biến  
thiên của dữ liệu quan sát nên thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy Cronbach’s Alpha đều trong  
khoảng từ 0.890 - 0.952. Riêng nhân tố TL (Các điều kiện thuận lợi) có CA = 0.623 (> 0.5) vẫn  
có thể chấp nhận được theo Nunnally và Bernstein (1994). Để đảm bảo không có mối quan hệ  
tương quan nào giữa các yếu tố được sử dụng để đo lường các nhân tố, Độ giá trị phân biệt được  
kiểm định bởi Giá trị phân biệt (Discriminant validity). Theo Hair và cộng sự (2019), Giá trị  
phân biệt được xác định bằng cách bình phương AVE, độ giá trị phân biệt được đảm bảo khi hệ  
số tải của các nhân tố này lớn hơn so với các nhân tố khác.  
Bảng 2  
Kết quả kiểm định Giá trị phân biệt  
Nhân tố  
DD (Nhận thức dễ sử dụng)  
HI (Nhận thức sự hữu ích)  
HV (Hành vi sử dụng)  
DD  
HI  
HV  
TL  
TQ  
YD  
0.854  
0.475  
0.916  
0.600 0.759  
0.901  
TL (Các điều kiện thuận lợi)  
0.473 0.410 0.536  
0.817  
28 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Nhân tố  
DD  
HI  
HV  
TL  
TQ  
YD  
TQ (Thói quen)  
0.647 0.719 0.811 0.483  
0.885  
YD (Ý định hành vi)  
0.636 0.698 0.866 0.496 0.831  
0.835  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
4.3. Kiểm định mô hình cấu trúc  
Không có một tiêu chí nào là duy nhất phù hợp để đánh giá các ước tính trong PLS-SEM.  
Việc đánh giá kết quả đo lường và mô hình cấu trúc trong PLS-SEM được xây dựng dựa trên  
một tập hợp các tiêu chí đánh giá phi tham số và sử dụng các kỹ thuật chẳng hạn như  
bootstrapping (Hair et al., 2019). Trong nghiên cứu này, mẫu ban đầu có 100 quan sát, mỗi mẫu  
bootstrapping cũng sẽ chứa 100 quan sát. Nhằm đảm bảo yêu cầu kiểm định mô hình cấu trúc  
tuyến tính, tác giả triển khai kỹ thuật bootstrapping 1,000 lần (Hair et al., 2016).  
4.4. Kiểm định vi phạm đa cộng tuyến (Collinearity Statistics)  
Kết quả quan trọng duy nhất để đánh giá các vấn đề liên kết trong mô hình cấu trúc là giá  
trị dung sai (VIF). VIF của mỗi chỉ báo phải cao hơn 0.2 và thấp hơn 5. Nếu nằm ngoài giới hạn  
này, cần xem xét loại bỏ các chỉ số, hợp nhất các chỉ số thành một chỉ mục duy nhất hoặc tạo các  
cấu trúc bậc cao hơn để xử lý các vấn đề về đa cộng tuyến (Hair et al., 2019). Bảng 3 cho thấy  
kết quả của VIF chỉ ra rằng sự liên kết giữa các nhân tố dự đoán không vi phạm giả định về đa  
cộng tuyến vì tất cả các hệ số đều nằm trong khoảng chấp nhận (VIF = 1.144 - 4.613 < 5), do đó  
việc phân tích có thể được tiếp tục.  
Bảng 3  
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến  
Hệ số phóng đại  
Nhân tố  
Đánh giá  
phương sai (VIF)  
1.858 - 1.935  
3.662 - 4.613  
2.548 - 3.834  
1.144 - 1.144  
2.011 - 3.942  
1.670 - 4.104  
DD (Nhận thức dễ sử dụng)  
HI (Nhận thức sự hữu ích)  
HV (Hành vi sử dụng)  
TL (Các điều kiện thuận lợi)  
TQ (Thói quen)  
< 5: Không vi phạm  
< 5: Không vi phạm  
< 5: Không vi phạm  
< 5: Không vi phạm  
< 5: Không vi phạm  
< 5: Không vi phạm  
YD (Ý định hành vi)  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
4.5. Kiểm định sự phù hợp mô hình (model fit)  
Các tiêu chí chính để đánh giá mô hình cấu trúc trong PLS-SEM bao gồm: các hệ số  
đường dẫn (path coefficients), giá trị R2, hệ số tác động f2, mức độ phù hợp dự báo Q2 (Hair et  
al., 2019). Thước đo thường được sử dụng nhất để đánh giá mô hình cấu trúc là hệ số xác định  
(giá trị R2). Giá trị R2 càng cao sẽ cho thấy mức độ dự đoán càng chính xác. Kết quả phân tích  
cho thấy, giá trị R2 của mô hình HI là 0.225; giá trị R2 của mô hình HV là 0.787 và YD với R2  
của mô hình là 0.728. Ngoài ra, giá trị Q2 của Stone-Geisser (Geisser, 1974; Stone, 1974) là một  
chỉ báo về mức độ phù hợp dự đoán của mô hình. Trong mô hình cấu trúc, các giá trị Q2 lớn hơn  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 29  
0 cho một biến tiềm ẩn nội sinh phản ánh mức độ liên quan nhất định dự đoán của mô hình  
đường dẫn đối với cấu trúc cụ thể này (Hair et al., 2019). Bảng 4 cho thấy Q2 của nghiên cứu này  
đối với tất cả các cấu trúc có giá trị lớn hơn 0, điều này chỉ ra rằng tất cả các biến phụ thuộc  
trong mô hình đều có mức độ dự đoán phù hợp.  
Bảng 4  
Kết quả của R2 và Q2  
Giá trị R2  
0.225  
Giá trị Q2  
0.187  
HI (Nhận thức sự hữu ích)  
HV (Hành vi sử dụng)  
0.787  
0.628  
YD (Ý định hành vi)  
0.728  
0.489  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
Ngoài việc đánh giá các giá trị R2 trong cấu trúc nội sinh, trong trường hợp một cấu trúc  
ngoại sinh thay đổi làm thay đổi R2, sự thay đổi bị bỏ qua này có thể được sử dụng để đánh giá  
xem cấu trúc bị bỏ qua có tác động đáng kể đến cấu trúc nội sinh hay không. Phép đo lường này  
được gọi là hệ số tác động f2. Các giá trị f2 lần lượt là 0.02; 0.15 và 0.35 phản ánh các tác động  
“nhỏ”, “trung bình” và “lớn” (Cohen, 2013). Kết quả Bảng 5 cho thấy:  
Bảng 5  
Kết quả giá trị f2 và mức độ ảnh hưởng  
Giá trị f2  
Mối quan hệ giữa các biến  
TL → HV  
Mức độ ảnh hưởng  
0.047  
0.059  
0.075  
0.104  
0.291  
0.443  
0.477  
Nhỏ  
Nhỏ  
DD → YD  
Nhỏ  
HI → YD  
Trung bình  
Trung bình  
Lớn  
TQ → HV  
DD → HI  
TQ → YD  
Lớn  
YD → HV  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
4.6. Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính  
Trong nghiên cứu này, tác giả triển khai kỹ thuật bootstrapping phi tham số kiểm định cho  
mẫu với 100 quan sát, thiết lập mức lặp 1,000 lần nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm định mô hình cấu  
trúc tuyến tính. Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các biến được thể hiện ở Bảng 6 dưới đây:  
Bảng 6  
Kết quả tác động trực tiếp của các mối quan hệ  
Mối quan hệ giữa các biến  
TQ → YD  
Hệ số tác động Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa  
0.576  
0.205  
0.095  
0.099  
6.056  
2.071  
0.000  
0.039  
HI → YD  
30 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Mối quan hệ giữa các biến  
DD → YD  
Hệ số tác động Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa  
0.166  
0.270  
0.116  
0.475  
0.584  
0.072  
0.098  
0.054  
0.083  
0.103  
2.302  
2.758  
2.150  
5.684  
5.671  
0.022  
0.006  
0.032  
0.000  
0.000  
TQ → HV  
TL → HV  
DD → HI  
YD → HV  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
Kết quả cho thấy mô hình Ý định hành vi sử dụng Portal Office có 03 mối quan hệ cùng  
chiều và có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95% là: (1) TQ → YD với hệ số tác động (β = 0.576);  
(2) HI → YD với hệ số tác động (β = 0.205); (3) DD → YD với hệ số tác động (β = 0.166). So  
sánh mức độ 03 biến TQ, DD, HI tác động vào biến phụ thuộc Ý định hành vi sử dụng YD theo  
thứ tự giảm dần, ta thấy: biến TQ (Thói quen) có tác động mạnh nhất (β = 0.576), tiếp theo là  
biến HI (Nhận thức sự hữu ích) (β = 0.205) và cuối cùng là biến DD (Nhận thức dễ sử dụng) (β =  
0.166). Như vậy các giả thuyết H1, H2 và H4 đều được chấp nhận ở độ tin cậy 95%. Điều này  
cho thấy Thói quen, Nhận thức dễ sử dụng, Nhận thức sự hữu ích đều tạo nên Ý định hành vi sử  
dụng Portal Office.  
Mô hình Hành vi sử dụng Portal Office có 02 mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa  
thống kê ở độ tin cậy 95% là: (1) TQ → HV với hệ số tác động (β = 0.270); (2) TL → HV với  
hệ số tác động (β = 0.116). So sánh mức độ 02 biến TQ, TL tác động vào biến phụ thuộc Hành vi  
sử dụng HV theo thứ tự giảm dần, ta thấy: biến TQ (Thói quen) có tác động mạnh nhất (β =  
0.270), tiếp đến là biến TL (Các điều kiện thuận lợi) (β = 0.116). Như vậy các giả thuyết H5 và  
H6 đều được chấp nhận ở độ tin cậy 95%. Theo đó, Thói quen và Các điều kiện thuận lợi có sự  
ảnh hưởng đến Hành vi sử dụng Portal Office.  
Xét mô hình mối quan hệ giữa 2 biến DD, HI, ta có 01 mối quan hệ cùng chiều và có ý  
nghĩa thống kê ở độ tin cậy 99% là: DD → HI với hệ số tác động (β = 0.475). Như vậy, giả  
thuyết H3 được chấp nhận ở độ tin cậy 99%. Có nghĩa là Nhận thức dễ sử dụng có tác động đáng  
kể đến Nhận thức sự hữu ích.  
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng nhìn nhận mối quan hệ giữa Ý định hành vi và Hành  
vi sử dụng, kết quả cho thấy đây là 02 mối quan hệ có tương quan lớn và cùng chiều, cụ thể như  
sau: YD → HV với hệ số tác động (β = 0.584) có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 99%. Do đó, H7  
được chấp nhận ở độ tin cậy 99%. Như vậy, Ý định hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi  
sử dụng.  
Tác giả cũng xem xét tác động gián tiếp của các nhân tố đến Hành vi sử dụng (HV) thông  
qua Ý định hành vi (YD). Kết quả từ phân tích SmartPLS cho thấy các mối quan hệ gián tiếp  
như sau:  
Bảng 7  
Kết quả tác động gián tiếp của các nhân tố  
Mối quan hệ giữa các biến  
TQ → YD → HV  
Hệ số Beta Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa  
0.337  
0.097  
0.078  
0.043  
4.337  
2.233  
0.000  
0.026  
DD → YD → HV  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 31  
Mối quan hệ giữa các biến  
DD → HI → YD  
Hệ số Beta Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa  
0.097  
0.057  
0.120  
0.046  
0.030  
0.065  
2.132  
1.871  
1.840  
0.033  
0.062  
0.066  
DD → HI → YD → HV  
HI → YD → HV  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu  
Từ Bảng 7 ta có thể thấy rằng 02 nhân tố TQ (Thói quen) và DD (Nhận thức dễ sử dụng)  
có tác động gián tiếp đến HV (Hành vi sử dụng) thông qua YD (Ý định hành vi), trong đó TQ có  
tác động lớn nhất (β = 0.337) với độ tin cậy 99%, sau đó là DD (β = 0.097) với độ tin cậy là  
95%. Bên cạnh đó, nhân tố DD có tác động gián tiếp đến YD thông qua HI (β = 0.097) với độ tin  
cậy 95%, đồng thời cũng có tác động gián tiếp đến HV thông qua HI và YD (β = 0.057) với độ  
tin cậy 90%. Cuối cùng, HI có tác động gián tiếp đến HV thông qua YD (β = 0.120) với độ tin  
cậy 90%.  
4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu  
Từ kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ tác động trực tiếp của Nhận thức sự  
hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng đến Ý định hành vi (H1 và H2). Đối với tác động gián tiếp lên Ý  
định hành vi, kết quả cho thấy Nhận thức dễ sử dụng có tác động gián tiếp lên Ý định hành vi  
thông qua Nhận thức sự hữu ích. Đối với tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng, ta có thể thấy  
cả 02 nhân tố Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng đều có tác động gián tiếp đến Hành vi  
sử dụng thông qua Ý định hành vi. Điều này bổ sung thêm bằng chứng khẳng định cho kết quả  
nghiên cứu của các tác giả Adams và cộng sự (1992); Agarwal và Karahanna (2000), Davis và  
cộng sự (1989), Doll và cộng sự (1998), Segars và Grover (1993). Nghiên cứu cũng xác định  
được mối quan hệ trực tiếp giữa Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích (H3), đồng thời  
nhận thấy tác động gián tiếp của Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích lên Hành vi sử  
dụng thông qua Ý định hành vi, cũng như tác động gián tiếp của Nhận thức dễ sử dụng lên Hành  
vi thông qua Nhận thức sự hữu ích và Ý định hành vi. Kết quả này tương đồng với Agarwal và  
Karahanna (2000), Gefen và Straub (2000), Hsu và Lu (2004), Lederer và cộng sự (2000), Moon  
và Kim (2001), Venkatesh và Davis (2000). Kết quả kiểm định cho thấy Thói quen có tác động  
trực tiếp đến Ý định hành vi (H4) và Hành vi sử dụng (H5). Bên cạnh đó, Thói quen cũng có tác  
động gián tiếp đáng kể lên Hành vi sử dụng thông qua Ý định hành vi. Điều này thể hiện sự  
tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả Arenas và cộng sự (2015), Kim và Malhotra  
(2005), Kim và cộng sự (2005), Limayem và cộng sự (2007), Pham và cộng sự (2020). Cuối  
cùng, ta nhận thấy 02 nhân tố Các điều kiện thuận lợi và Ý định hành vi đều có tác động trực tiếp  
đến Hành vi sử dụng (H6, H7). Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Alalwan và cộng  
sự (2015), Im và cộng sự (2011), Nguyen và cộng sự (2014), Pham và cộng sự (2020), Teo  
(2011), Venkatesh và cộng sự (2003), và Wang (2016).  
5. Kết luận và khuyến nghị  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình đề xuất  
đến Ý định hành vi và Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office. Trong đó, tác động mạnh mẽ  
nhất là từ biến Thói quen đến Hành vi sử dụng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy mối quan  
hệ chặt chẽ giữa Ý định hành vi và Hành vi sử dụng. Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với  
các nghiên cứu liên quan trước đó trong cùng bối cảnh. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm  
bằng chứng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Hành vi sử dụng phần mềm Portal  
Office của viên chức trường ĐHQT bao gồm: Thói quen, Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử  
dụng và Các điều kiện thuận lợi.  
32 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Yếu tố Thói quen (TQ) có tác động mạnh nhất (β = 0.576) đến Ý định hành vi sử dụng,  
tiếp đó là đến Hành vi sử dụng (β = 0.270), điều này có ý nghĩa là khi viên chức của trường  
ĐHQT có thói quen sử dụng phần mềm Portal Office tăng thêm 01 lần thì Ý định sử dụng phần  
mềm của họ tăng thêm 0.576 lần, Hành vi sử dụng phần mềm của họ tăng thêm 0.270 lần (giả  
định rằng các biến khác không đổi). Cuối cùng, Thói quen có tác động gián tiếp đến Hành vi sử  
dụng thông qua Ý định hành vi sử dụng (β = 0.337). Độ lệch chuẩn của các biến quan sát Thói  
quen dao động ở mức cao từ 0.89 - 1.08, giá trị trung bình không chênh lệch đáng kể từ 2.92 -  
3.04. Do đó, có thể thấy sự chênh lệch lớn ở các biến quan sát, thói quen sử dụng phần mềm  
Portal Office của viên chức tại trường ĐHQT là rất khác nhau. Vì vậy, tác giả có đề xuất với Ban  
lãnh đạo và bộ phận tổ chức hành chính của trường ĐHQT quan tâm đến những vấn đề như cần  
xem xét tạo thói quen cho viên chức xử lý công việc thông qua việc sử dụng phần mềm Portal  
Office, bắt đầu bằng việc thay đổi thói quen trao đổi và xử lý công việc theo lối truyền thống (ví  
dụ: cấp quản lý giao việc cho chuyên viên thông qua khẩu lệnh, văn bản giấy hoặc email). Nhà  
trường cũng cần truyền thông về phần mềm để củng cố thói quen sử dụng Portal Office của viên  
chức bằng cách khuyến khích, xét thi đua, không ngừng phổ biến về những lợi ích mà viên chức  
có được thông qua việc sử dụng phần mềm.  
Kết quả kiểm định cho thấy yếu tố Nhận thức sự hữu ích (β = 0.205) và Nhận thức dễ sử  
dụng (β = 0.166) đều có tác động trực tiếp đến Ý định hành vi sử dụng. Trong đó Nhận thức dễ  
sử dụng có ảnh hưởng đáng kể đến Nhận thức sự hữu ích (β = 0.475). Đối với mối quan hệ gián  
tiếp, ta có thể thấy Nhận thức dễ sử dụng tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng thông qua Ý  
định hành vi (β = 0.097) và thông qua Nhận thức sự hữu ích → Ý định hành vi → Hành vi sử  
dụng (β = 0.057). Nhận thức sự hữu ích cũng tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng thông qua  
Ý định hành vi (β = 0.120). Kết quả này nhất quán với một số nghiên cứu trước đây và phù hợp  
với lý thuyết của mô hình TAM. Tổng trung bình các đánh giá của yếu tố Nhận thức sự hữu ích  
là mean = 3.452 (độ lệch chuẩn từ 0.92 - 1.05); Tổng trung bình các đánh giá của yếu tố Nhận  
thức dễ sử dụng là mean = 3.502 (độ lệch chuẩn từ 0.95 - 1.03). Theo kết quả này, Ban lãnh đạo  
cần cải thiện một số điểm cụ thể như thảo luận với nhà cung cấp, nghiên cứu và tìm hiểu dựa trên  
cảm quan và nhu cầu sử dụng của người dùng, thiết kế Portal Office đảm bảo việc tận dụng khả  
năng nhận thức của nhân viên, nói cách khác là giao diện được đưa lên với các tính năng ở các vị  
trí trực quan, dễ thấy, dễ tương tác. Đối với một hệ thống nhiều tác vụ, điều này không nhất thiết  
phải làm cho nó trở nên dễ hiểu mà có nghĩa là thiết kế nó trở nên dễ dàng nhận biết và khám  
phá một cách nhanh chóng. Cần cố gắng đạt được việc đơn giản hóa và càng giúp người dùng  
tập trung vào các tác vụ chính của hệ thống càng tốt. Nhà trường cũng cần nhận thức sự phù hợp  
của Portal Office với các yêu cầu công việc của nhân viên. Tóm lại, để tăng ý định hành vi sử  
dụng hệ thống Portal Office, cần phải phát triển hệ thống Portal Office trở nên khả dụng (có khả  
năng dễ sử dụng và tính ứng dụng cao). Khi ý định sử dụng hệ thống cao hơn, hành vi sử dụng sẽ  
theo đó tăng lên.  
Có thể thấy yếu tố Các điều kiện thuận lợi (TL) trong nghiên cứu này có mối quan hệ tác  
động trực tiếp đến Hành vi sử dụng là thấp nhất (β = 0.116) với mức ý nghĩa 95%. Tuy nhiên đây  
cũng là một trong những thang đo quan trọng ảnh hưởng đến hành vi. Kết quả cho thấy mức độ  
đánh giá của viên chức về yếu tố Điều kiện thuận lợi tác động đến Hành vi sử dụng đều ở mức  
tương đối cao (mean từ 3.47 đến 3.97 với tổng trung bình là 3.84; độ lệch chuẩn từ 0.82 - 0.88).  
Sự chênh lệch cũng không cao giữa các biến quan sát. Theo đó, tác giả đề xuất với BGH về hàm  
ý quản trị như trường ĐHQT cần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm ứng dụng Portal Office  
vào công việc một cách thuận lợi hơn (ví dụ: phát triển mạng lưới internet tốt hơn, tối ưu hóa tốc  
độ đường truyền, nâng cấp hệ thống máy tính làm việc của nhân viên, tăng cường bảo mật, tăng  
cường các khóa đào tạo sử dụng hệ thống, …).  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 33  
Kết quả kiểm định cho thấy tác động của Ý định hành vi sử dụng phần mềm (YD) có tác  
động đáng kể (β = 0.584) đến Hành vi sử dụng. Ý định hành vi là một biến trung gian và đóng  
vai trò rất quan trọng trong việc dự đoán hành vi của người sử dụng. Theo đó, nghiên cứu này đề  
xuất: Để tăng khả năng ứng dụng Portal Office vào trong công việc của viên chức, nhà trường  
cần tăng Ý định hành vi của người dùng thông qua việc nâng cao nhận thức sự hữu ích, nhận  
thức dễ sử dụng, thói quen và các điều kiện thuận lợi. Quyết định sử dụng phần mềm với thói  
quen lặp lại theo thời gian có thể được thúc đẩy khi các nguồn lực và tài nguyên công nghệ sẵn  
có thúc đẩy việc sử dụng liên tục, chẳng hạn như các công cụ truyền thông, đào tạo, hướng dẫn  
sử dụng và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật.  
Nghiên cứu này bổ sung thêm các bằng chứng cho thấy UTAUT là mô hình phù hợp để  
giải thích ý định của viên chức trường ĐHQT về việc có nên ứng dụng Portal Office vào trong  
công việc hay không. Nghiên cứu cũng xem xét mô hình này trong bối cảnh cơ sở giáo dục và  
khu vực công tại Việt Nam. Kết quả khảo sát này sẽ hỗ trợ cho ban lãnh đạo có cái nhìn tổng  
quan về thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết hồ sơ trên nền điện tử tại đơn  
vị của mình. Bên cạnh đó, thấy được những yếu tố nào đang ảnh hưởng đến ý thức, hành vi sử  
dụng phần mềm Portal Office để tìm ra các giải pháp đúng đắn và kịp thời để cải tiến hệ thống,  
cơ sở vật chất và kỹ thuật, tạo các điều kiện thuận lợi và thói quen nhằm thúc đẩy hành vi ứng  
dụng công nghệ vào nâng cao hiệu quả công việc.  
6. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ giới hạn đối tượng là viên chức trong bối cảnh cơ sở giáo  
dục trường ĐHQT đã từng có lịch sử đăng nhập phần mềm Portal Office, dẫn đến hạn chế lớn  
nhất là kích cỡ mẫu không lớn. Do đó, kết quả có thể không phản ánh nhận thức, hành vi của đại  
bộ phận viên chức ở các đơn vị khu vực công nói chung và các cơ sở giáo dục khác nói riêng.  
Tác giả đề xuất các nghiên cứu về sau sẽ kiểm tra mô hình được sử dụng cho viên chức trong các  
bối cảnh khác (các tỉnh/thành khác, các phần mềm khác) với tập mẫu lớn hơn để xác minh tính  
đúng đắn của nó. Thứ hai, nghiên cứu này không phân tích tác động điều hòa của giới tính và  
tuổi tác, trải nghiệm và sự tự nguyện. Những ảnh hưởng này có thể hạn chế tính tổng quát của  
kết quả. Điều này đặt ra một vấn đề nghiên cứu tiềm năng cho tương lai là các nhà nghiên cứu có  
thể tiến hành các nghiên cứu khám phá và tìm hiểu vai trò điều tiết của chúng đối với ý định của  
viên chức về việc sử dụng phần mềm quản lý văn bản hành chính. Cuối cùng, các nghiên cứu  
trong tương lai có thể tích hợp thêm các yếu tố khác đối với mô hình UTAUT mà chưa đề cập  
đến trong nghiên cứu hoặc các mô hình khác để làm phong phú thêm khung khái niệm được sử  
dụng trong nghiên cứu này.  
LỜI CÁM ƠN  
Nghiên cứu này được trường Đại học Quốc tế, ĐHQG-HCM tài trợ trong đề tài có mã số  
SV2019-CPA-05.  
Tài liệu tham khảo  
Adams, D. A., Nelson, R. R., & Todd, P. A. (1992). Perceived usefulness, ease of use, and usage  
of information technology: A replication. MIS Quarterly, 16(2), 227-247.  
Agarwal, R., & Karahanna, E. (2000). Time flies when you're having fun: Cognitive absorption  
and beliefs about information technology usage. MIS Quarterly, 24(4), 665-694.  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior & Human Decision  
Processes, 50(2), 179-211.  
34 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
Alalwan, A. A., Dwivedi, Y. K., Rana, N. P., Lal, B., & Williams, M. D. (2015). Consumer  
adoption of Internet banking in Jordan: Examining the role of hedonic motivation, habit,  
self-efficacy and trust. Journal of Financial Services Marketing, 20(2), 145-157.  
Arenas, G., Peral, P., & Ramón, J. M. (2015). Elderly and internet banking: An application of  
UTAUT2. Journal of Internet Banking & Commerce, 20(1), 1-23.  
Bộ Nội Vụ (2019). Báo cáo số 6466/BC-BNV ngày 24/12/2019 của Bộ Nội vụ về tình hình thực  
hiện công tác cải cách hành chính năm 2019 [Report No. 6466/BC-BNV dated December  
24, 2019 of the Ministry of Home Affairs of the Socialist Republic of Vietnam on the  
implementation of administrative reform in 2019]. Retrieved December 24, 2019, from  
ve-tinh-hinh-thuc-hien-cong-tac-cai-cach-hanh-chinh-nam-2019-41443.html  
Bộ Y Tế (2020). Ministry of health portal. Retrieved March 11, 2020, from  
thi-ay-manh-phong-chong-dich-covid-19-trong-tinh-hinh-moi  
Chan, S. C. (2004). Understanding internet banking adoption and use behavior: A Hong Kong  
perspective. Journal of Global Information Management, 12(3), 21-43.  
Cohen, J. (2013). Statistical power analysis for the behavioral sciences. New York, NY:  
Academic Press.  
Davis, F. D. (1985). A technology acceptance model for empirically testing new end-user  
information systems: Theory and results. (Doctoral dissertation, Massachusetts Institute of  
Technology,  
Cambridge,  
MA).  
Retrieved  
May  
30,  
2014,  
from  
or_Empirically_Testing_New_End-User_Information_Systems  
Davis, F. D. (1993). User acceptance of information technology: System characteristics, user  
perceptions and behavioral impacts. International Journal of Man-machine Studies, 38(3),  
475-487.  
Davis, F. D., Bagozzi, R. P., & Warshaw, P. R. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of  
use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.  
Doll, W. J., Hendrickson, A., & Deng, X. (1998). Using Davis’s perceived usefulness and ease  
of use instruments for decision making: A confirmatory and multigroup invariance  
analysis. Decision Science, 29(4), 839-870.  
Gefen, D., & Straub, D. (2000). The relative importance of perceived ease of use in IS adoption:  
A study of e-commerce adoption. Journal of The Association for Information Systems,  
1(8), 1-30.  
Geisser, S. (1974). A predictive approach to the random effect model. Biometrika, 61(1), 101-  
107.  
Gia Huy (2021). Chính phủ số tại Việt Nam sẽ được hình thành vào năm 2025 [Digital  
government in Vietnam will be formed by 2025]. Retrieved March 10, 2021, from the Văn  
phu-so-tai-Viet-Nam-se-duoc-hinh-thanh-vao-nam-2025/20213/29655.vgp  
Gorsuch, R. L. (1974). Factor analysis. Philadelphia, Pennsylvania: W.B. Saunders Co.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2009). Multivariate data analysis.  
Hoboken, NJ: Prentice Hall.  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 35  
Hair, J. F., Hollingsworth, C. L., Randolph, A. B., & Chong, A. L. (2017). An updated and  
expanded assessment of PLS-SEM in information systems research. Industrial  
Management & Data Systems, 117(3), 442-458.  
Hair, J. F., Hult, G. M., Ringle, C., & Sarstedt, M. (2016). A primer on partial least squares  
structural equation modeling (PLS-SEM). Thousand Oaks, CA: Sage Publications.  
Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the  
results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.  
Hidayanto, A. N., & Ekawati, R. K. (2010). The influence of antecedent factors of IS/IT  
utilization towards organizational performance: A case study of IAIN Raden Fatah  
Palembang. Proceeding of the 3rd International Conference on Information and  
Communication  
Technology  
for  
the  
Moslem  
World  
(ICT4M),  
40-47.  
doi:10.1109/ICT4M.2010.5971937  
Hill, T., Smith, N. D., & Mann, M. F. (1987). Role of efficacy expectations in predicting the  
decision to use advanced technologies: The case of computers. Journal of Applied  
Psychology, 72(2), 307-313.  
Hsu, C. L., & Lu, H. P. (2004). Why do people play on-line games? An extended TAM with  
social influences and flow experience. Information & Management, 41(7), 853-868.  
Im, I., Hong, S., & Kang, M. S. (2011). An international comparison of technology adoption:  
Testing the UTAUT model. Information & Management, 48(1), 1-8.  
Israel, G. D. (1992). Determining sample size. Retrieved March 11, 2021, from  
ael.pdf  
Kardes, F., & Cronley, M. (2015). Consumer behavior. Stamford, CT: Cengage Learning.  
Khan, M. A. (2007). Consumer behaviour and advertising management. Daryaganj, New Delhi:  
New Age International.  
Kim, H. W., & Kankanhalli, A. (2009). Investigating user resistance to information systems  
implementation: A status quo bias perspective. MIS Quarterly, 33(3), 567-582.  
Kim, S. S., & Malhotra, N. K. (2005). A longitudinal model of continued IS use: An integrative  
view of four mechanisms underlying postadoption phenomena. Management Science,  
51(5), 741-755.  
Kim, S. S., Malhotra, N. K., & Narasimhan, S. (2005). Research note - two competing  
perspectives on automatic use: A theoretical and empirical comparison. Information  
Systems Research, 16(4), 418-432.  
Kline, P. (2014). An easy guide to factor analysis. Abingdon, Oxfordshire: Routledge.  
Lederer, A. L., Maupin, D. J., Sena, M. P., & Zhuang, Y. (2000). The technology acceptance  
model and the World Wide Web. Decision Support Systems, 29(3), 269-282.  
Likert, R. (1932). A technique for the measurement of attitudes. Archives of Psychology,  
22(140), 1-55.  
Limayem, M., Hirt, S. G., & Cheung, C. M. (2007). How habit limits the predictive power of  
intention: The case of information systems continuance. MIS Quarterly, 31(4), 705-737.  
Lippert, S. K., & Davis, M. (2006). A conceptual model integrating trust into planned change  
activities to enhance technology adoption behavior. Journal of Information Science, 32(5),  
36 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37  
434-448.  
Moon, J. W., & Kim, Y. G. (2001). Extending the TAM for a World-Wide-Web context.  
Information and Management, 38(4), 217-230.  
Moore, G. C., & Benbasat, I. (1991). Development of an instrument to measure the perceptions  
of adopting an information technology innovation. Information Systems Research, 2(3),  
192-222.  
Nguyen, T. D., Nguyen, D. T., & Cao, H. T. (2014). Acceptance and use of information system:  
E-learning based on cloud computing in Vietnam. In Information and Communication  
Technology-EurAsia Conference (pp.139-149). Berlin, Heidelberg: Springer.  
Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory. New York, NY: McGraw-Hill.  
Peng, D. X., & Lai, F. (2012). Using partial least squares in operations management research: A  
practical guideline and summary of past research. Journal of Operations Management,  
30(6), 467-480.  
Pham, T., Dang, L., & Le, T. (2020). Factors affecting teachers’ behavioral intention of using  
information technology in lecturing-economic universities. Management Science Letters,  
10(11), 2665-2672.  
Raman, A., & Don, Y. (2013). Preservice teachers' acceptance of learning management software:  
An application of the UTAUT2 model. International Education Studies, 6(7), 157-164.  
Ringle, C. M., Sarstedt, M., & Straub, D. W. (2012). A critical look at the use of PLS-SEM in  
MIS. MIS Quarterly, 36(1), 3-14.  
Ringle, C. M., Sarstedt, M., Mitchell, R., & Gudergan, S. P. (2020). Partial least squares  
structural equation modeling in HRM research. The International Journal of Human  
Resource Management, 31(12), 1617-1643.  
Segars, A. H., & Grover, V. (1993). Re-examining perceived ease of use and usefulness: A  
confirmatory factors analysis. MIS Quarterly, 17(4), 517-526.  
Sharma, D. (2013). Resistance to Human Resource Information Systems (HRIS)-problem  
recognition, diagnosis, and positive intervention: A study on employee behavior and  
change management. Indian Journal of Applied Research, 3(1), 99-104.  
Sosik, J. J., Kahai, S. S., & Piovoso, M. J. (2009). Silver bullet or voodoo statistics? A primer for  
using the partial least squares data analytic technique in group and organization research.  
Group & Organization Management, 34(1), 5-36.  
Stone, M. (1974). Cross validatory choice and assessment of statistical predictions. Journal of  
the Royal Statistical Society: Series B (Methodological), 36(2), 111-133.  
Tapanainen, T., Dao, K. T., Nguyen, H. T., & Nguyen, H. T. T. (2019). 4G adoption: A survey  
of Vietnam market. Journal of Information Technology Applications & Management,  
26(1), 1-19.  
Teo, T. (2011). Factors influencing teachers’ intention to use technology: Model development  
and test. Computers & Education, 57(4), 2432-2440.  
Thompson, R. L., Higgins, C. A., & Howell, J. M. (1991). Personal computing: Toward a  
conceptual model of utilization. MIS Quarterly, 15(1), 125-143.  
Venkatesh, V., & Davis, F. D. (1996). A model of the antecedents of perceived ease of use:  
Development and test. Decision Sciences, 27(3), 451-481.  
Venkatesh, V., & Davis, F. D. (2000). A theoretical extension of the technology acceptance  
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 37  
model: Four longitudinal field studies. Management Science, 46(2), 186-204.  
Venkatesh, V., & Zhang, X. (2010). Unified theory of acceptance and use of technology: US vs.  
China. Journal of Global Information Technology Management, 13(1), 5-27.  
Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of  
information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478.  
Venkatesh, V., Thong, J. Y., & Xu, X. (2012). Consumer acceptance and use of information  
technology: Extending the unified theory of acceptance and use of technology. MIS  
Quarterly, 36(1), 157-178.  
Wang, M. H. (2016). Factors influencing usage of e-learning systems in Taiwan's public sector:  
Applying the utaut model. Advances in Management and Applied Economics, 6(6), 63-82.  
Warshaw, P. R., & Davis, F. D. (1985). Disentangling behavioral intention and behavioral  
expectation. Journal of Experimental Social Psychology, 21(3), 213-228.  
Wong, K. T., Teo, T., & Russo, S. (2013). Interactive whiteboard acceptance: Applicability of  
the UTAUT model to student teachers. The Asia-Pacific Education Researcher, 22(1), 1-  
10.  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 19 trang Thùy Anh 20880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của viên chức trường Đại học Quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mo_hinh_chap_nhan_va_su_dung_cong_nghe_hop_nhat_uta.pdf