Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của viên chức trường Đại học Quốc tế
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 19
Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất
(UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của
viên chức trường Đại học Quốc tế
An application of Unified Technology Acceptance Use of Technology
(UTAUT): The case of Portal Office system by officials of the
International University
Nguyễn Ngọc Duy Phương1*, Huỳnh Vĩnh Trường1
1Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
econ.vi…..1966.2021
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà
nước là một trong những chủ trương mang tính cấp thiết, đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là trong tình hình đại dịch
Covid-19 diễn biến phức tạp. Cán bộ - viên chức cần được liên
tục trang bị kiến thức, kỹ năng và các trang thiết bị để nâng cao
hiệu quả công việc. Nghiên cứu này xác định khả năng ứng dụng
của mô hình UTAUT (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003)
với sự hỗ trợ của mô hình TAM nhằm mục đích tìm hiểu những
yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi của viên chức đối với việc
sử dụng phần mềm Portal Office nhằm phục vụ công việc trong
bối cảnh giáo dục khu vực công. Phương pháp nghiên cứu định
lượng được sử dụng qua khảo sát 100 viên chức. Kết quả chỉ ra
rằng Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng, Thói quen và
Các điều kiện thuận lợi đều có ảnh hưởng đến ý định và hành vi
sử dụng hệ thống Portal Office. Về hàm ý quản trị, kết quả cho
thấy rằng Ban lãnh đạo cần phải xây dựng thói quen sử dụng,
tuyên truyền về lợi ích, tính thân thiện của phần mềm và đáp ứng
các điều kiện thuận tiện hỗ trợ cho việc sử dụng phần mềm, từ đó
thúc đẩy năng suất làm việc hiệu quả của viên chức.
Ngày nhận: 26/06/2021
Ngày nhận lại: 09/07/2021
Duyệt đăng: 10/07/2021
Từ khóa:
chính phủ điện tử; hành vi sử
dụng, utaut; ý định hành vi
ABSTRACT
Applying information technology in state administrative
management is one of the urgent policies to meet social
development needs, especially in the turbulent situation of the
Covid-19 pandemic. Cadres - public employees need to be
continuously equipped with knowledge, skills, and equipment to
improve work efficiency. This study determines the applicability
of the UTAUT (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003) with
the support of TAM model to examine what factors affect the
behavioral intentions of employees towards using Portal Office
software for work in the context of public higher education. The
study employs a quantitative method by a self-administered
20 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
survey of 100 officials. The results show that perceived
usefulness, ease of use, habits, and facilitation conditions affect
behavioral intention and actual use of the Portal Office system. In
Keywords:
behavioral intention; use
behavior; UTAUT; E-
terms of governance implications, the findings suggest that the
Board of Directors may need to build usage habits, propagate the
goverment
benefits and friendliness of the software, and meet convenient
conditions that support the use of the software, thereby promoting
effective work productivity of employees.
1. Giới thiệu
Trong những năm qua, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0
(Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, Dữ liệu lớn), ứng dụng công nghệ thông tin được xác định
là công cụ hữu hiệu trong việc cải cách hành chính. Theo báo cáo số 6466/BC-BNV ngày
24/12/2019 (Bộ Nội Vụ, 2019) về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2019
về đầu tư, nâng cấp và sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành: 63/95 cơ quan Trung
ương và địa phương đã nâng cấp các tính năng mới và chính chức chạy phần mềm quản lý văn
bản và điều hành, 28 cơ quan đang triển khai nâng cấp. Tỷ lệ thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc
bộ, cơ quan ngang bộ thường xuyên xử lý, điều hành công việc qua phần mềm quản lý văn bản
và điều hành đạt gần 100% (Bộ Nội vụ, 2019). Việc ứng dụng giải quyết hồ sơ trên nền điện tử
đã được Văn phòng chính phủ triển khai từ nhiều năm nay với mục tiêu: ứng dụng công nghệ
thông tin, hướng đến “Văn phòng chính phủ phi giấy tờ”. Tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia
về Chính phủ điện tử ngày 10/03/2021, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh
Hùng cho biết dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành Chính phủ điện tử vào năm 2021 với chỉ tiêu
100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 04, bên cạnh đó, năm 2025 sẽ hình thành Chính phủ số
(Gia Huy, 2021). Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước là chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với quy luật phát triển xã hội, đã được triển khai,
giúp cán bộ công chức có bước nhận thức cơ bản về sự cần thiết của việc đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, trong bối cảnh
dịch bệnh Covid-19 (một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus Corona gây hội
chứng hô hấp cấp tính nặng) đang gây ra những ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội trên phạm
vi toàn cầu từ đầu năm 2020, người dân, doanh nghiệp, các bộ công chức, viên chức, … được
khuyến khích tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến (Bộ Y tế, 2020), việc đẩy mạnh và
phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động hành chính công được
khuyến nghị và đang ngày càng trở nên cấp thiết. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý đào tạo tại các trường đại học là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả của công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng các cơ sở đại học. Có nhiều
nghiên cứu trong khu vực công và các sơ sở giáo dục đại học trên thế giới về sự chấp nhận và
sử dụng công nghệ áp dụng mô hình UTAUT với các tác giả Raman và Don (2013), Teo
(2011), Wong, Teo, và Russo (2013). Mặc dù vậy, các bài nghiên cứu về ứng dụng cho mô
hình chấp nhận công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam được công bố trên các
tạp chí uy tín vẫn chưa nhiều (Nguyen, Nguyen, & Cao, 2014; Pham, Dang, & Le, 2020).
Nghiên cứu này tập trung vào sự ảnh hưởng giữa niềm tin cải thiện năng suất, nhận thức về sự
dễ dàng sử dụng công nghệ mới, thói quen và các điều kiện thuận tiện hỗ trợ sử dụng hệ thống
đến dự định và từ đó tác động đến hành vi sử dụng của viên chức trường Đại học Quốc tế
(ĐHQG-HCM). Portal Office hay Văn phòng điện tử là một phần mềm quản lý dựa trên nền
tảng Web được phát triển bởi Công ty TNHH Giải pháp Phần mềm Việt (Vietnam Software
Solutions Co., ltd). Chức năng chính của phần mềm bao gồm: quản lý, phân loại các hình thức
văn bản đến, đi, nội bộ trên hệ thống; xây dựng các tập tài liệu lưu trữ online; cấp quyền kiểm
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 21
soát quá trình xử lý văn bản từ giai đoạn tiếp nhận cho đến khi hoàn thành. Bên cạnh đó, phần
mềm được tích hợp thêm tính năng chữ ký số, xử lý các loại văn bản định dạng của Microsoft
Office và liên thông văn bản quốc gia.
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1. Khái niệm Hành vi người tiêu dùng, ý định hành vi, và chấp nhận sự dụng công nghệ
thông tin
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, Hành vi cụ thể là “Hành vi người tiêu dùng” được
xem như những phản ứng cảm xúc, nhận thức hoặc các phản ứng có thể quan sát được trước
những tác động xuyên suốt liên quan đến việc mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ của người tiêu
dùng (Kardes & Cronley, 2015). Hành vi người tiêu dùng có thể được định nghĩa là quá trình ra
quyết định và hoạt động thể chất liên quan đến việc mua, đánh giá, sử dụng và thải bỏ hàng hóa
và dịch vụ. Ở cấp độ vi mô, nó liên quan đến việc hiểu người tiêu dùng nhằm mục đích giúp một
công ty hoặc tổ chức đạt được các mục tiêu của mình (Khan, 2007).
Warshaw và Davis (1985) xác định rằng Ý định hành vi giống như mức độ mà một người
lập ra các kế hoạch một cách sáng suốt để thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi được
chỉ định trong tương lai. Davis, Bagozzi, và Warshaw (1989) nhận thấy rằng Ý định hành vi sử
dụng hệ thống có tương quan đáng kể với việc sử dụng. Bên cạnh đó, Ý định hành vi là yếu tố
chính quyết định hành vi người dùng trong khi các yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi
người dùng thông qua Ý định hành vi. Hill, Smith, và Mann (1987) cũng chỉ ra rằng thông qua Ý
định hành vi có thể dự đoán được hành động một cách đáng kể. Tóm lại, Ý định hành vi có thể
xem như mức độ mà một người có ý thức sẵn lòng đưa ra quyết định lập kế hoạch dẫn đến thực
hiện hành vi.
Nghiên cứu của Kim và Kankanhalli (2009), Lippert và Davis (2006), và Sharma (2013)
cho rằng khi giới thiệu các công nghệ mới, việc chấp nhận thay đổi bắt đầu từ trong chính mỗi cá
nhân và điều này có thể bị ảnh hưởng bởi cách họ cảm nhận các ứng dụng mới sẽ ảnh hưởng đến
hiệu suất công việc của họ như thế nào. Hidayanto và Ekawati (2010) đã kết luận rằng việc chấp
nhận thay đổi có thành công hay không sẽ phụ thuộc vào sự chấp nhận của người dùng và sử
dụng công nghệ mới của tổ chức. Mức độ chấp nhận của người dùng là một yếu tố quan trọng
cần xem xét vì nó quyết định việc áp dụng, triển khai và sử dụng công nghệ thông tin trong tổ
chức (Agarwal & Karahanna, 2000; Lippert & Davis, 2006).
2.2. Các lý thuyết liên quan
2.2.1. Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM)
Trong mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM), yếu tố Nhận thức dễ sử dụng có ảnh
hưởng trực tiếp đến yếu tố Nhận thức sự hữu ích. Davis (1985) xác định khái niệm Nhận thức sự
hữu ích là mức độ mà một cá nhân tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất
công việc của người đó; Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng
một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực về thể chất và tinh thần. Nhận thức sự hữu ích và Nhận
thức dễ sử dụng đều được nhận thấy là có trực tiếp ảnh hưởng đến Ý định hành vi.
2.2.2. Mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT)
Venkatesh và cộng sự (2003) đã phát triển mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp
nhất (UTAUT) và đã xác định các yếu tố quyết định như Nỗ lực kỳ vọng, Hiệu suất mong đợi,
Ảnh hưởng xã hội, Các điều kiện thuận lợi và các nhân tố điều tiết như Giới tính, Tuổi tác, Trải
nghiệm, Sự tự nguyện sử dụng. Trong đó, Nỗ lực kỳ vọng được định nghĩa là mức độ dễ dàng
liên quan đến việc sử dụng hệ thống; Hiệu suất mong đợi được định nghĩa là mức độ mà một cá
nhân tin rằng việc sử dụng các hệ thống mới sẽ giúp cho người đó đạt được năng suất trong công
22 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
việc; Ảnh hưởng xã hội được đề cập đến như là mức độ một cá nhân nhận thức được tầm quan
trọng của việc bị tác động bởi niềm tin của những người xung quanh rằng cá nhân đó nên sử
dụng hệ thống mới; Điều kiện thuận lợi được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân có niềm tin
rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tổ chức đủ điều kiện để hỗ trợ cho hệ thống (Venkatesh et al.,
2003). UTAUT được xem là mô hình kết hợp của nhiều mô hình nghiên cứu sự chấp nhận sử
dụng hệ thống thông tin mới của người dùng trước đó bao gồm cả mô hình TAM. Từ góc độ lý
thuyết, UTAUT cung cấp một cái nhìn về cách các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Hành vi phát
triển theo thời gian. UTAUT đã được thử nghiệm, thực nghiệm và được chứng minh là vượt trội
so với các mô hình cạnh tranh đang thịnh hành khác (Venkatesh et al., 2003; Venkatesh &
Zhang, 2010).
2.2.3. Mô hình Mở rộng chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất - UTAUT2
UTAUT2 được đề xuất như là một mô hình hữu ích để hiểu việc sử dụng công nghệ của
người tiêu dùng nói chung. Trong mô hình này, cá nhân có đặc điểm là để Thói quen tác động
đến Ý định hành vi. Venkatesh, Thong, và Xu (2012) xem Thói quen là một cấu trúc tri giác
phản ánh kết quả của những trải nghiệm trước đó. UTAUT2 mô hình hóa cách Thói quen ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến Hành vi sử thông qua Ý định hành vi. Venkatesh và cộng sự
(2012) khẳng định rằng các bổ sung được đề xuất trong UTAUT2 thể hiện những thay đổi đáng
kể các biến được giải thích trong ý định hành vi và sử dụng công nghệ.
2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.3.1. Mối quan hệ giữa Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng và Ý định hành vi
Davis và cộng sự (1989) cũng báo cáo rằng Nhận thức dễ sử dụng đã được phát hiện là
có tác động đáng kể liên quan đến Ý định và hành vi sử dụng. Các báo cáo trong các nghiên cứu
của Adams, Nelson, và Todd (1992); Agarwal và Karahanna (2000); Davis và cộng sự (1989);
Doll, Hendrickson, và Deng (1998); Segars và Grover (1993) đã xác minh rằng Nhận thức sự
hữu ích và tính Nhận thức dễ sử dụng là yếu tố then chốt trong cấu trúc sự chấp nhận của cá
nhân. Tuy nhiên, hai yếu tố này có thể không phản ánh chính xác sự chấp nhận của người dùng
Internet Banking (Hsu & Lu, 2004). Để kiểm chứng các lập luận trên, tác giả đề xuất giả thuyết:
H1: Nhận thức sự hữu ích sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định sử dụng phần mềm
Portal Office của viên chức
H2: Nhận thức dễ sử dụng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định hành vi sử dụng phần
mềm Portal Office của viên chức
2.3.2. Mối quan hệ giữa Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích
Nhận thức dễ sử dụng không ngừng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến Ý định hành
vi thông qua Nhận thức sự hữu ích (Agarwal & Karahanna, 2000; Hsu & Lu, 2004). Một số lập
luận trong những nghiên cứu trước đây khẳng định rằng có một mối quan hệ tích cực giữa Nhận
thức sự hữu ích và Nhận thức dễ sử dụng khi chấp nhận công nghệ thông tin (Gefen & Straub,
2000; Venkatesh & Davis, 2000) và phát hiện này cũng đã được xác nhận trong sử dụng công
nghệ Internet (Lederer, Maupin, Sena, & Zhuang, 2000; Moon & Kim, 2001). Theo đó, tác giả
đề xuất giả thuyết:
H3: Nhận thức dễ sử dụng có mối quan hệ tích cực với Nhận thức sự hữu ích phần mềm
Portal Office
2.3.3. Mối quan hệ giữa Thói quen đến Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng
Thói quen đã được chứng minh là một yếu tố quan trọng dự đoán việc sử dụng công nghệ
(Kim & Malhotra, 2005; Kim, Malhotra, & Narasimhan, 2005; Limayem, Hirt, & Cheung,
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 23
2007). Nghiên cứu của Pham và cộng sự (2020) cho thấy Thói quen của giáo viên có tác động
đến hành vi sử dụng công nghệ thông tin trong bài giảng của giáo viên. Theo Arenas, Peral, và
Ramón (2015), Thói quen là một trong những yếu tố chính tạo nên và giải thích Hành vi sử dụng
trực tiếp và gián tiếp thông qua Ý định hành vi. Tuy nhiên, theo Nguyen và cộng sự (2014), Thói
quen có tác động không đáng kể đến Ý định hành vi sử dụng công nghệ. Raman và Don (2013)
chỉ ra rằng Thói quen không có tác động tích cực đến Ý định hành vi hoặc Hành vi sử dụng. Để
kiểm chứng mối quan hệ này, tác giả đưa ra giải thuyết:
H4: Thói quen sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định sử dụng phần mềm Portal Office
của viên chức
H5: Thói quen sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office
của viên chức
2.3.4. Mối quan hệ giữa Các điều kiện thuận lợi đến Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng
hệ thống
Kết quả nghiên cứu của Alalwan, Dwivedi, Rana, Lal, và Williams (2015) cho thấy Các
điều kiện thuận lợi có thể tác động trực tiếp đến việc sử dụng thực tế của máy tính và hệ thống.
Teo (2011) chỉ ra rằng Điều kiện thuận lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi. Các điều kiện
thuận lợi cho một công nghệ có mối tương quan tích cực với việc sử dụng công nghệ. Theo Im,
Hong, và Kang (2011), nếu có nhiều điều kiện thuận lợi hỗ trợ thì mọi người sẽ có nhiều khả
năng hơn để áp dụng công nghệ đó. Nguyen và cộng sự (2014) kết luận rằng Điều kiện thuận lợi
có tác động không đáng kể đến Hành vi sử dụng E-learning dựa trên điện toán đám mây. Do đó,
tác giả đưa ra giả thuyết:
H6: Điều kiện thuận lợi sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng phần mềm Portal
Office của viên chức
2.3.5. Mối quan hệ giữa Ý định hành vi đến Hành vi sử dụng hệ thống
Venkatesh và cộng sự (2003) công nhận rằng Ý định hành vi là một yếu tố dự báo quan
trọng của Hành vi sử dụng công nghệ. Wang (2016) kết luận rằng Ý định hành vi có ảnh hưởng
trực tiếp đến Hành vi sử dụng hệ thống e-learning của nhân viên. Tương tự, nghiên cứu của
Nguyen và cộng sự (2014) minh họa rằng Ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực đến Hành vi sử
dụng hệ thống e-learning dựa trên điện toán đám mây. Pham và cộng sự (2020) chỉ ra rằng Ý
định hành vi có ảnh hưởng mạnh đến Hành vi sử dụng của giáo viên. Dựa vào các báo cáo trên,
tác giả đưa ra giải thuyết:
H7: Ý định hành vi (Behavioral intention) sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi sử dụng
(Use behavior) phần mềm Portal Office của viên chức
2.3.6. Mô hình đề xuất
Tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố và các mối quan hệ của chúng
đến Ý định hành vi và Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office của viên chức trường Đại học
Quốc tế (ĐHQT) từ các mô hình nghiên cứu khác như: UTAUT, UTAUT2, TAM và kết quả các
nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xây dựng mô hình đề xuất như sau:
24 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Quy trình thực hiện thông
qua các bước khảo cứu các khái niệm, các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên
cứu. Sau đó, tham khảo và kế thừa các bộ công cụ từ những nghiên cứu trước để đề xuất thang
đo sơ bộ. Tác giả phỏng vấn trực tiếp và thu thập các ý kiến đóng góp, chỉnh sửa từ 20 đáp viên
để điều chỉnh bảng câu hỏi. Thang đo chi tiết được mô tả ở Bảng 1 bao gồm Nhận thức sự hữu
ích (06 quan sát), Nhận thức dễ sử dụng (05 quan sát), Các điều kiện thuận lợi (04 quan sát),
Thói quen (04 quan sát), Ý định hành vi (05 quan sát) và Hành vi sử dụng (05 quan sát). Phương
pháp lấy mẫu được đề xuất là lấy mẫu thuận tiện để chọn các đối tượng khảo sát. Cỡ mẫu bị ảnh
hưởng bởi một số yếu tố, bao gồm mục đích của nghiên cứu, nhân khẩu, rủi ro lựa chọn một mẫu
lỗi và sai số lấy mẫu cho phép (Israel, 1992). Đối với nghiên cứu này, với những giới hạn về chi
phí, nhân khẩu và thời gian, kích thước mẫu sẽ được lấy ở mức tối ưu cần thiết. Theo Hair,
Black, Babin, và Anderson (2009), kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA đề xuất kích thước
mẫu tối thiểu gấp 05 lần tổng số biến quan sát. Kline (2014) khuyến nghị kích thước mẫu ít nhất
là 100, tuy nhiên, việc xem xét tỷ lệ số lượng người tham gia so với số lượng các biến là một
cách tốt hơn để xác định cỡ mẫu tối thiểu. Gorsuch (1974) khuyến nghị một tỷ lệ tối thiểu có thể
chấp nhận được là không ít hơn 100 cá thể cho bất kỳ phân tích nào. Theo đó, nghiên cứu chọn
kích thước mẫu tối thiểu là N = 100, tác giả đã truy cập cơ sở dữ liệu của phần mềm Portal
Office, sau đó chọn lọc ra đối tượng khảo sát là các viên chức có lịch sử đã từng đăng nhập vào
hệ thống, 169 bảng câu hỏi trong đó có 104 bảng theo hình thức in giấy và 65 bảng câu hỏi điện
tử được gửi đến trực tiếp cho các đối tượng đã được chọn lọc thông qua việc gặp, phân phát trực
tiếp hoặc gửi email có nội dung bảng câu hỏi từ Tháng 03 đến Tháng 04 năm 2021. Kết quả thu
về 108 phản hồi. Số phản hồi hợp lệ là 100. Dữ liệu sau khi được thu thập và làm sạch được đưa
vào phân tích. SEM (Structural Equation Model) là một trong những kỹ thuật phân tích thống kê
tiên tiến nhất xuất hiện trong những thập kỷ gần đây (Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2016). Đây
là một loại kỹ thuật đa biến kết hợp các khía cạnh của phân tích nhân tố và hồi quy, cho phép các
nhà nghiên cứu đồng thời kiểm tra mối quan hệ giữa các cấu trúc tiềm ẩn như Nhận thức, Thái
độ hoặc Ý định của Người tiêu dùng và ảnh hưởng của chúng đến các thước đo Hiệu suất Tổ
chức. Phổ biến nhất có hai cách tiếp cận để ước tính các mối quan hệ trong mô hình phương trình
cấu trúc là CB-SEM sử dụng khi dữ liệu phân phối chuẩn, có cở mẫu lớn và PLS-SEM sử dụng
với cở mẫu nhỏ và không giả định phân phối chuẩn (Hair et al., 2016; Hair, Risher, Sarstedt, &
Ringle, 2019). Mỗi kỹ thuật phân tích phù hợp với một mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Trong
thời gian gần đây, PLS-SEM hiện được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội,
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 25
bao gồm quản lý tổ chức (Sosik, Kahai, & Piovoso, 2009), quản lý nguồn nhân lực (Ringle,
Sarstedt, Mitchell, & Gudergan, 2020), hệ thống thông tin quản lý (Hair, Hollingsworth,
Randolph, & Chong, 2017; Ringle, Sarstedt, & Straub, 2012), quản lý hoạt động (Peng & Lai,
2012). Trong nghiên cứu này phương pháp PLS-SEM phù hợp xử lý cở mẫu nhỏ. Để đánh giá
kết quả PLS-SEM bao gồm việc kiểm tra các mô hình đo lường. Nếu các mô hình đo lường đáp
ứng yêu cầu, các nhà nghiên cứu cần đánh giá mô hình cấu trúc (Hair et al., 2017).
Bảng 1
Thang đo đề xuất
Mã
hóa
Nội dung câu hỏi
Nguồn
Nhận thức sự hữu ích
Sử dụng Portal Office trong công việc cho phép tôi
hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn
HI1
HI3
HI2
Davis và cộng sự (1989)
Sử dụng Portal Office làm tăng năng suất làm việc của
tôi
Sử dụng Portal Office cải thiện hiệu suất công việc của
tôi (tránh lãng phí công sức, thời gian)
Davis và cộng sự (1989);
Tapanainen, Dao, Nguyen, và
Nguyen (2019)
HI6 Tôi thấy Portal Office hữu ích trong công việc của tôi
Chan (2004); Davis và cộng
HI4 Sử dụng Portal Office giúp tôi tăng hiệu quả công việc sự (1989); Tapanainen và
cộng sự (2019)
Sử dụng Portal Office giúp tôi thực hiện công việc dễ Chan (2004); Davis và cộng
HI5
hơn
sự (1989)
Nhận thức dễ sử dụng
Học cách vận hành Portal Office khá dễ dàng đối với
tôi
DD1
DD3
DD2
Chan (2004); Davis và cộng
sự (1989)
Tôi thấy Portal Office thật rõ ràng và dễ hiểu để tương
tác
Tôi thấy thật dễ quản lý, tìm kiếm, nhận thông báo văn
bản thông qua Portal Office
Davis và cộng sự (1989)
DD4 Tôi thấy dễ thành thạo Portal Office
DD5 Tôi thấy Portal Office dễ sử dụng
Các điều kiện thuận lợi
Chan (2004); Davis và cộng
sự (1989); Tapanainen và
cộng sự (2019)
Trường ĐHQT có cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết để Nguyen và cộng sự (2014);
TL1
hỗ trợ tôi sử dụng Portal Office
Pham và cộng sự (2020)
Venkatesh và cộng sự (2003);
Venkatesh và cộng sự (2012);
Wang (2016); Wong và cộng
sự (2013)
Tôi có kiến thức công nghệ thông tin cần thiết để sử
dụng hệ thống Portal Office
TL2
26 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Mã
hóa
Nội dung câu hỏi
Nguồn
Venkatesh và cộng sự (2003);
Venkatesh và cộng sự (2012);
Wang (2016)
Portal Office không tương thích với các hệ thống khác
mà tôi sử dụng
TL3
Thompson,
Higgins,
và
Howell (1991); Venkatesh và
cộng sự (2003); Venkatesh và
cộng sự (2012); Wong và
cộng sự (2013)
Có người sẵn sàng hỗ trợ khi tôi gặp khó khăn trong
lúc sử dụng Portal Office
TL4
Thói quen
Việc sử dụng Portal Office đã trở thành một thói quen
đối với tôi
TQ1
Nguyen và cộng sự (2014);
Pham và cộng sự (2020);
Venkatesh và cộng sự (2003)
TQ2 Tôi sử dụng Portal Office thường xuyên
Nếu không có yếu tố bắt buộc, tôi vẫn thấy nhất thiết
cần phải sử dụng Portal Office
TQ3
Sử dụng Portal Office đã trở thành điều tự nhiên đối Pham và cộng sự (2020);
TQ4
với tôi
Ý định hành vi
Venkatesh và cộng sự (2012)
Davis (1993); Venkatesh và
Davis (2000); Wang (2016);
Wong và cộng sự (2013)
Tôi sẽ sử dụng Portal Office bất cứ lúc nào tôi có nhu
cầu
YD1
Tôi nghĩ nên khuyến khích mọi người sử dụng Portal
Office
Davis (1993); Tapanainen và
cộng sự (2019); Venkatesh và
Davis (2000)
YD2
YD5 Tôi sẽ giới thiệu Portal Office cho người khác
Ajzen (1991); Davis và cộng
Tôi sẽ thường xuyên sử dụng Portal Office trong tương sự (1989); Moore và Benbasat
YD3
YD4
lai
(1991); Wang (2016); Wong
và cộng sự (2013)
Ajzen (1991); Moore và
Benbasat (1991); Pham và
cộng sự (2020)
Tôi nghĩ hầu hết mọi nhiệm vụ của tôi đều thực hiện
được thông qua Portal Office
Hành vi sử dụng
HV1 Tôi có thể sử dụng Portal Office cho mọi nhiệm vụ
HV2 Tôi sử dụng Portal Office cho nhiều hơn một nhiệm vụ
Tôi sẽ tiếp tục sử dụng Portal Office cho công việc Davis (1993); Tapanainen và
HV3
trong thời gian tới
cộng sự (2019); Venkatesh và
Davis (2000)
HV4 Nhìn chung Portal Office làm tôi thấy hài lòng
Tôi thấy thích khi sử dụng Portal Office cho công việc
của mình
HV5
Nguồn: Tác giả tổng hợp (2021)
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 27
4. Kết quả phân tích và thảo luận
4.1. Mô tả đặc điểm mẫu
Nghiên cứu chính thức với số bảng câu hỏi được gửi đi là 169, tổng số lượng đáp viên
phản hồi là 108 (tỷ lệ phản hồi 64%). Sau khi tác giả tiến hành lọc và xử lý dữ liệu, số mẫu hợp
lệ cuối cùng chính thức là N = 100. Về đặc điểm giới tính, dựa theo kết quả khảo sát, giới tính
Nữ chiếm nhiều hơn với tỷ lệ 53%. Có thể thấy sự chênh lệch về giới tính không đáng kể. Về đặc
điểm độ tuổi, kết quả cho thấy độ tuổi từ 30 - 40 tuổi chiếm đa số với tỷ lệ 67%; từ 23 - 29 tuổi
chiếm 25%, và trên 40 tuổi chiếm 8%. Ta thấy giữa các độ tuổi có sự chênh lệch tương đối lớn.
Đối với đặc điểm trình độ học vấn, trình độ cử nhân/kỹ sư chiếm 51%; trình độ thạc sĩ chiếm
46%; trình độ tiến sĩ chiếm 3%. Xem xét đặc điểm về bằng cấp/chứng chỉ tin học, kết quả cho
thấy đáp viên có bằng cấp/chứng chỉ về tin học chiếm tỷ lệ 69%; đáp viên chưa có bằng
cấp/chứng chỉ về tin học chiếm tỷ lệ 31%. Đối với đặc điểm về tham gia lớp tập huấn Portal
Office, đáp viên đã từng tham gia lớp tập huấn về sử dụng Portal Office chiếm tỷ lệ 74%; đáp
viên chưa từng tham gia chiếm tỷ lệ 26%.
4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo
Các hệ số tải về độ tin cậy phải đáp ứng được giá trị lớn hơn 0.7 (Hair et al., 2016). Kết
quả phân tích cho thấy nhân tố HI (Nhận thức sự hữu ích) có 05 biến quan sát với hệ số nhân tải
ngoài trong khoảng 0.904 - 0.928; nhân tố DD (Nhận thức dễ sử dụng) có 05 biến quan sát với
hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.739 - 0.913; nhân tố TQ (Thói quen) có 04 biến quan sát với
hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.827 - 0.913; nhân tố TL (Các điều kiện thuận lợi) với 02
biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.719 - 0.905; nhân tố YD (Ý định hành vi)
có 05 biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.722 - 0.909; nhân tố HV (Hành vi sử
dụng) có 04 biến quan sát với hệ số nhân tải ngoài trong khoảng 0.868 - 0.924. Tiếp theo đó,
theo Hair và cộng sự (2019) độ tin cậy tổng hợp CR thỏa đáng trong khoảng 0.7 đến 0.9. Phương
sai trích AVE lớn hơn giá trị ngưỡng 0.5. Độ tin cậy Cronbach’s Alpha >= 0.7. Kết quả phân tích
cho thấy tất cả các nhân tố thể hiện Độ tin cậy tổng hợp (CR) đều đạt yêu cầu với hệ số lớn hơn
0.7 và cụ thể là nằm trong khoảng giá trị từ 0.799 - 0.963. Hệ số Phương sai trích AVE của các
nhân tố đều nằm trong khoảng 0.668 - 0.838 và lớn hơn 0.5 giải thích được tối thiểu > 50% biến
thiên của dữ liệu quan sát nên thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy Cronbach’s Alpha đều trong
khoảng từ 0.890 - 0.952. Riêng nhân tố TL (Các điều kiện thuận lợi) có CA = 0.623 (> 0.5) vẫn
có thể chấp nhận được theo Nunnally và Bernstein (1994). Để đảm bảo không có mối quan hệ
tương quan nào giữa các yếu tố được sử dụng để đo lường các nhân tố, Độ giá trị phân biệt được
kiểm định bởi Giá trị phân biệt (Discriminant validity). Theo Hair và cộng sự (2019), Giá trị
phân biệt được xác định bằng cách bình phương AVE, độ giá trị phân biệt được đảm bảo khi hệ
số tải của các nhân tố này lớn hơn so với các nhân tố khác.
Bảng 2
Kết quả kiểm định Giá trị phân biệt
Nhân tố
DD (Nhận thức dễ sử dụng)
HI (Nhận thức sự hữu ích)
HV (Hành vi sử dụng)
DD
HI
HV
TL
TQ
YD
0.854
0.475
0.916
0.600 0.759
0.901
TL (Các điều kiện thuận lợi)
0.473 0.410 0.536
0.817
28 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Nhân tố
DD
HI
HV
TL
TQ
YD
TQ (Thói quen)
0.647 0.719 0.811 0.483
0.885
YD (Ý định hành vi)
0.636 0.698 0.866 0.496 0.831
0.835
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
4.3. Kiểm định mô hình cấu trúc
Không có một tiêu chí nào là duy nhất phù hợp để đánh giá các ước tính trong PLS-SEM.
Việc đánh giá kết quả đo lường và mô hình cấu trúc trong PLS-SEM được xây dựng dựa trên
một tập hợp các tiêu chí đánh giá phi tham số và sử dụng các kỹ thuật chẳng hạn như
bootstrapping (Hair et al., 2019). Trong nghiên cứu này, mẫu ban đầu có 100 quan sát, mỗi mẫu
bootstrapping cũng sẽ chứa 100 quan sát. Nhằm đảm bảo yêu cầu kiểm định mô hình cấu trúc
tuyến tính, tác giả triển khai kỹ thuật bootstrapping 1,000 lần (Hair et al., 2016).
4.4. Kiểm định vi phạm đa cộng tuyến (Collinearity Statistics)
Kết quả quan trọng duy nhất để đánh giá các vấn đề liên kết trong mô hình cấu trúc là giá
trị dung sai (VIF). VIF của mỗi chỉ báo phải cao hơn 0.2 và thấp hơn 5. Nếu nằm ngoài giới hạn
này, cần xem xét loại bỏ các chỉ số, hợp nhất các chỉ số thành một chỉ mục duy nhất hoặc tạo các
cấu trúc bậc cao hơn để xử lý các vấn đề về đa cộng tuyến (Hair et al., 2019). Bảng 3 cho thấy
kết quả của VIF chỉ ra rằng sự liên kết giữa các nhân tố dự đoán không vi phạm giả định về đa
cộng tuyến vì tất cả các hệ số đều nằm trong khoảng chấp nhận (VIF = 1.144 - 4.613 < 5), do đó
việc phân tích có thể được tiếp tục.
Bảng 3
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Hệ số phóng đại
Nhân tố
Đánh giá
phương sai (VIF)
1.858 - 1.935
3.662 - 4.613
2.548 - 3.834
1.144 - 1.144
2.011 - 3.942
1.670 - 4.104
DD (Nhận thức dễ sử dụng)
HI (Nhận thức sự hữu ích)
HV (Hành vi sử dụng)
TL (Các điều kiện thuận lợi)
TQ (Thói quen)
< 5: Không vi phạm
< 5: Không vi phạm
< 5: Không vi phạm
< 5: Không vi phạm
< 5: Không vi phạm
< 5: Không vi phạm
YD (Ý định hành vi)
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
4.5. Kiểm định sự phù hợp mô hình (model fit)
Các tiêu chí chính để đánh giá mô hình cấu trúc trong PLS-SEM bao gồm: các hệ số
đường dẫn (path coefficients), giá trị R2, hệ số tác động f2, mức độ phù hợp dự báo Q2 (Hair et
al., 2019). Thước đo thường được sử dụng nhất để đánh giá mô hình cấu trúc là hệ số xác định
(giá trị R2). Giá trị R2 càng cao sẽ cho thấy mức độ dự đoán càng chính xác. Kết quả phân tích
cho thấy, giá trị R2 của mô hình HI là 0.225; giá trị R2 của mô hình HV là 0.787 và YD với R2
của mô hình là 0.728. Ngoài ra, giá trị Q2 của Stone-Geisser (Geisser, 1974; Stone, 1974) là một
chỉ báo về mức độ phù hợp dự đoán của mô hình. Trong mô hình cấu trúc, các giá trị Q2 lớn hơn
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 29
0 cho một biến tiềm ẩn nội sinh phản ánh mức độ liên quan nhất định dự đoán của mô hình
đường dẫn đối với cấu trúc cụ thể này (Hair et al., 2019). Bảng 4 cho thấy Q2 của nghiên cứu này
đối với tất cả các cấu trúc có giá trị lớn hơn 0, điều này chỉ ra rằng tất cả các biến phụ thuộc
trong mô hình đều có mức độ dự đoán phù hợp.
Bảng 4
Kết quả của R2 và Q2
Giá trị R2
0.225
Giá trị Q2
0.187
HI (Nhận thức sự hữu ích)
HV (Hành vi sử dụng)
0.787
0.628
YD (Ý định hành vi)
0.728
0.489
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
Ngoài việc đánh giá các giá trị R2 trong cấu trúc nội sinh, trong trường hợp một cấu trúc
ngoại sinh thay đổi làm thay đổi R2, sự thay đổi bị bỏ qua này có thể được sử dụng để đánh giá
xem cấu trúc bị bỏ qua có tác động đáng kể đến cấu trúc nội sinh hay không. Phép đo lường này
được gọi là hệ số tác động f2. Các giá trị f2 lần lượt là 0.02; 0.15 và 0.35 phản ánh các tác động
“nhỏ”, “trung bình” và “lớn” (Cohen, 2013). Kết quả Bảng 5 cho thấy:
Bảng 5
Kết quả giá trị f2 và mức độ ảnh hưởng
Giá trị f2
Mối quan hệ giữa các biến
TL → HV
Mức độ ảnh hưởng
0.047
0.059
0.075
0.104
0.291
0.443
0.477
Nhỏ
Nhỏ
DD → YD
Nhỏ
HI → YD
Trung bình
Trung bình
Lớn
TQ → HV
DD → HI
TQ → YD
Lớn
YD → HV
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
4.6. Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính
Trong nghiên cứu này, tác giả triển khai kỹ thuật bootstrapping phi tham số kiểm định cho
mẫu với 100 quan sát, thiết lập mức lặp 1,000 lần nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm định mô hình cấu
trúc tuyến tính. Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các biến được thể hiện ở Bảng 6 dưới đây:
Bảng 6
Kết quả tác động trực tiếp của các mối quan hệ
Mối quan hệ giữa các biến
TQ → YD
Hệ số tác động Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa
0.576
0.205
0.095
0.099
6.056
2.071
0.000
0.039
HI → YD
30 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Mối quan hệ giữa các biến
DD → YD
Hệ số tác động Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa
0.166
0.270
0.116
0.475
0.584
0.072
0.098
0.054
0.083
0.103
2.302
2.758
2.150
5.684
5.671
0.022
0.006
0.032
0.000
0.000
TQ → HV
TL → HV
DD → HI
YD → HV
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
Kết quả cho thấy mô hình Ý định hành vi sử dụng Portal Office có 03 mối quan hệ cùng
chiều và có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95% là: (1) TQ → YD với hệ số tác động (β = 0.576);
(2) HI → YD với hệ số tác động (β = 0.205); (3) DD → YD với hệ số tác động (β = 0.166). So
sánh mức độ 03 biến TQ, DD, HI tác động vào biến phụ thuộc Ý định hành vi sử dụng YD theo
thứ tự giảm dần, ta thấy: biến TQ (Thói quen) có tác động mạnh nhất (β = 0.576), tiếp theo là
biến HI (Nhận thức sự hữu ích) (β = 0.205) và cuối cùng là biến DD (Nhận thức dễ sử dụng) (β =
0.166). Như vậy các giả thuyết H1, H2 và H4 đều được chấp nhận ở độ tin cậy 95%. Điều này
cho thấy Thói quen, Nhận thức dễ sử dụng, Nhận thức sự hữu ích đều tạo nên Ý định hành vi sử
dụng Portal Office.
Mô hình Hành vi sử dụng Portal Office có 02 mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa
thống kê ở độ tin cậy 95% là: (1) TQ → HV với hệ số tác động (β = 0.270); (2) TL → HV với
hệ số tác động (β = 0.116). So sánh mức độ 02 biến TQ, TL tác động vào biến phụ thuộc Hành vi
sử dụng HV theo thứ tự giảm dần, ta thấy: biến TQ (Thói quen) có tác động mạnh nhất (β =
0.270), tiếp đến là biến TL (Các điều kiện thuận lợi) (β = 0.116). Như vậy các giả thuyết H5 và
H6 đều được chấp nhận ở độ tin cậy 95%. Theo đó, Thói quen và Các điều kiện thuận lợi có sự
ảnh hưởng đến Hành vi sử dụng Portal Office.
Xét mô hình mối quan hệ giữa 2 biến DD, HI, ta có 01 mối quan hệ cùng chiều và có ý
nghĩa thống kê ở độ tin cậy 99% là: DD → HI với hệ số tác động (β = 0.475). Như vậy, giả
thuyết H3 được chấp nhận ở độ tin cậy 99%. Có nghĩa là Nhận thức dễ sử dụng có tác động đáng
kể đến Nhận thức sự hữu ích.
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng nhìn nhận mối quan hệ giữa Ý định hành vi và Hành
vi sử dụng, kết quả cho thấy đây là 02 mối quan hệ có tương quan lớn và cùng chiều, cụ thể như
sau: YD → HV với hệ số tác động (β = 0.584) có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 99%. Do đó, H7
được chấp nhận ở độ tin cậy 99%. Như vậy, Ý định hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến Hành vi
sử dụng.
Tác giả cũng xem xét tác động gián tiếp của các nhân tố đến Hành vi sử dụng (HV) thông
qua Ý định hành vi (YD). Kết quả từ phân tích SmartPLS cho thấy các mối quan hệ gián tiếp
như sau:
Bảng 7
Kết quả tác động gián tiếp của các nhân tố
Mối quan hệ giữa các biến
TQ → YD → HV
Hệ số Beta Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa
0.337
0.097
0.078
0.043
4.337
2.233
0.000
0.026
DD → YD → HV
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 31
Mối quan hệ giữa các biến
DD → HI → YD
Hệ số Beta Sai số (SE) Giá trị t Mức ý nghĩa
0.097
0.057
0.120
0.046
0.030
0.065
2.132
1.871
1.840
0.033
0.062
0.066
DD → HI → YD → HV
HI → YD → HV
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
Từ Bảng 7 ta có thể thấy rằng 02 nhân tố TQ (Thói quen) và DD (Nhận thức dễ sử dụng)
có tác động gián tiếp đến HV (Hành vi sử dụng) thông qua YD (Ý định hành vi), trong đó TQ có
tác động lớn nhất (β = 0.337) với độ tin cậy 99%, sau đó là DD (β = 0.097) với độ tin cậy là
95%. Bên cạnh đó, nhân tố DD có tác động gián tiếp đến YD thông qua HI (β = 0.097) với độ tin
cậy 95%, đồng thời cũng có tác động gián tiếp đến HV thông qua HI và YD (β = 0.057) với độ
tin cậy 90%. Cuối cùng, HI có tác động gián tiếp đến HV thông qua YD (β = 0.120) với độ tin
cậy 90%.
4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ tác động trực tiếp của Nhận thức sự
hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng đến Ý định hành vi (H1 và H2). Đối với tác động gián tiếp lên Ý
định hành vi, kết quả cho thấy Nhận thức dễ sử dụng có tác động gián tiếp lên Ý định hành vi
thông qua Nhận thức sự hữu ích. Đối với tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng, ta có thể thấy
cả 02 nhân tố Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng đều có tác động gián tiếp đến Hành vi
sử dụng thông qua Ý định hành vi. Điều này bổ sung thêm bằng chứng khẳng định cho kết quả
nghiên cứu của các tác giả Adams và cộng sự (1992); Agarwal và Karahanna (2000), Davis và
cộng sự (1989), Doll và cộng sự (1998), Segars và Grover (1993). Nghiên cứu cũng xác định
được mối quan hệ trực tiếp giữa Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích (H3), đồng thời
nhận thấy tác động gián tiếp của Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích lên Hành vi sử
dụng thông qua Ý định hành vi, cũng như tác động gián tiếp của Nhận thức dễ sử dụng lên Hành
vi thông qua Nhận thức sự hữu ích và Ý định hành vi. Kết quả này tương đồng với Agarwal và
Karahanna (2000), Gefen và Straub (2000), Hsu và Lu (2004), Lederer và cộng sự (2000), Moon
và Kim (2001), Venkatesh và Davis (2000). Kết quả kiểm định cho thấy Thói quen có tác động
trực tiếp đến Ý định hành vi (H4) và Hành vi sử dụng (H5). Bên cạnh đó, Thói quen cũng có tác
động gián tiếp đáng kể lên Hành vi sử dụng thông qua Ý định hành vi. Điều này thể hiện sự
tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả Arenas và cộng sự (2015), Kim và Malhotra
(2005), Kim và cộng sự (2005), Limayem và cộng sự (2007), Pham và cộng sự (2020). Cuối
cùng, ta nhận thấy 02 nhân tố Các điều kiện thuận lợi và Ý định hành vi đều có tác động trực tiếp
đến Hành vi sử dụng (H6, H7). Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Alalwan và cộng
sự (2015), Im và cộng sự (2011), Nguyen và cộng sự (2014), Pham và cộng sự (2020), Teo
(2011), Venkatesh và cộng sự (2003), và Wang (2016).
5. Kết luận và khuyến nghị
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình đề xuất
đến Ý định hành vi và Hành vi sử dụng phần mềm Portal Office. Trong đó, tác động mạnh mẽ
nhất là từ biến Thói quen đến Hành vi sử dụng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy mối quan
hệ chặt chẽ giữa Ý định hành vi và Hành vi sử dụng. Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với
các nghiên cứu liên quan trước đó trong cùng bối cảnh. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm
bằng chứng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Hành vi sử dụng phần mềm Portal
Office của viên chức trường ĐHQT bao gồm: Thói quen, Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử
dụng và Các điều kiện thuận lợi.
32 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Yếu tố Thói quen (TQ) có tác động mạnh nhất (β = 0.576) đến Ý định hành vi sử dụng,
tiếp đó là đến Hành vi sử dụng (β = 0.270), điều này có ý nghĩa là khi viên chức của trường
ĐHQT có thói quen sử dụng phần mềm Portal Office tăng thêm 01 lần thì Ý định sử dụng phần
mềm của họ tăng thêm 0.576 lần, Hành vi sử dụng phần mềm của họ tăng thêm 0.270 lần (giả
định rằng các biến khác không đổi). Cuối cùng, Thói quen có tác động gián tiếp đến Hành vi sử
dụng thông qua Ý định hành vi sử dụng (β = 0.337). Độ lệch chuẩn của các biến quan sát Thói
quen dao động ở mức cao từ 0.89 - 1.08, giá trị trung bình không chênh lệch đáng kể từ 2.92 -
3.04. Do đó, có thể thấy sự chênh lệch lớn ở các biến quan sát, thói quen sử dụng phần mềm
Portal Office của viên chức tại trường ĐHQT là rất khác nhau. Vì vậy, tác giả có đề xuất với Ban
lãnh đạo và bộ phận tổ chức hành chính của trường ĐHQT quan tâm đến những vấn đề như cần
xem xét tạo thói quen cho viên chức xử lý công việc thông qua việc sử dụng phần mềm Portal
Office, bắt đầu bằng việc thay đổi thói quen trao đổi và xử lý công việc theo lối truyền thống (ví
dụ: cấp quản lý giao việc cho chuyên viên thông qua khẩu lệnh, văn bản giấy hoặc email). Nhà
trường cũng cần truyền thông về phần mềm để củng cố thói quen sử dụng Portal Office của viên
chức bằng cách khuyến khích, xét thi đua, không ngừng phổ biến về những lợi ích mà viên chức
có được thông qua việc sử dụng phần mềm.
Kết quả kiểm định cho thấy yếu tố Nhận thức sự hữu ích (β = 0.205) và Nhận thức dễ sử
dụng (β = 0.166) đều có tác động trực tiếp đến Ý định hành vi sử dụng. Trong đó Nhận thức dễ
sử dụng có ảnh hưởng đáng kể đến Nhận thức sự hữu ích (β = 0.475). Đối với mối quan hệ gián
tiếp, ta có thể thấy Nhận thức dễ sử dụng tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng thông qua Ý
định hành vi (β = 0.097) và thông qua Nhận thức sự hữu ích → Ý định hành vi → Hành vi sử
dụng (β = 0.057). Nhận thức sự hữu ích cũng tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng thông qua
Ý định hành vi (β = 0.120). Kết quả này nhất quán với một số nghiên cứu trước đây và phù hợp
với lý thuyết của mô hình TAM. Tổng trung bình các đánh giá của yếu tố Nhận thức sự hữu ích
là mean = 3.452 (độ lệch chuẩn từ 0.92 - 1.05); Tổng trung bình các đánh giá của yếu tố Nhận
thức dễ sử dụng là mean = 3.502 (độ lệch chuẩn từ 0.95 - 1.03). Theo kết quả này, Ban lãnh đạo
cần cải thiện một số điểm cụ thể như thảo luận với nhà cung cấp, nghiên cứu và tìm hiểu dựa trên
cảm quan và nhu cầu sử dụng của người dùng, thiết kế Portal Office đảm bảo việc tận dụng khả
năng nhận thức của nhân viên, nói cách khác là giao diện được đưa lên với các tính năng ở các vị
trí trực quan, dễ thấy, dễ tương tác. Đối với một hệ thống nhiều tác vụ, điều này không nhất thiết
phải làm cho nó trở nên dễ hiểu mà có nghĩa là thiết kế nó trở nên dễ dàng nhận biết và khám
phá một cách nhanh chóng. Cần cố gắng đạt được việc đơn giản hóa và càng giúp người dùng
tập trung vào các tác vụ chính của hệ thống càng tốt. Nhà trường cũng cần nhận thức sự phù hợp
của Portal Office với các yêu cầu công việc của nhân viên. Tóm lại, để tăng ý định hành vi sử
dụng hệ thống Portal Office, cần phải phát triển hệ thống Portal Office trở nên khả dụng (có khả
năng dễ sử dụng và tính ứng dụng cao). Khi ý định sử dụng hệ thống cao hơn, hành vi sử dụng sẽ
theo đó tăng lên.
Có thể thấy yếu tố Các điều kiện thuận lợi (TL) trong nghiên cứu này có mối quan hệ tác
động trực tiếp đến Hành vi sử dụng là thấp nhất (β = 0.116) với mức ý nghĩa 95%. Tuy nhiên đây
cũng là một trong những thang đo quan trọng ảnh hưởng đến hành vi. Kết quả cho thấy mức độ
đánh giá của viên chức về yếu tố Điều kiện thuận lợi tác động đến Hành vi sử dụng đều ở mức
tương đối cao (mean từ 3.47 đến 3.97 với tổng trung bình là 3.84; độ lệch chuẩn từ 0.82 - 0.88).
Sự chênh lệch cũng không cao giữa các biến quan sát. Theo đó, tác giả đề xuất với BGH về hàm
ý quản trị như trường ĐHQT cần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm ứng dụng Portal Office
vào công việc một cách thuận lợi hơn (ví dụ: phát triển mạng lưới internet tốt hơn, tối ưu hóa tốc
độ đường truyền, nâng cấp hệ thống máy tính làm việc của nhân viên, tăng cường bảo mật, tăng
cường các khóa đào tạo sử dụng hệ thống, …).
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 33
Kết quả kiểm định cho thấy tác động của Ý định hành vi sử dụng phần mềm (YD) có tác
động đáng kể (β = 0.584) đến Hành vi sử dụng. Ý định hành vi là một biến trung gian và đóng
vai trò rất quan trọng trong việc dự đoán hành vi của người sử dụng. Theo đó, nghiên cứu này đề
xuất: Để tăng khả năng ứng dụng Portal Office vào trong công việc của viên chức, nhà trường
cần tăng Ý định hành vi của người dùng thông qua việc nâng cao nhận thức sự hữu ích, nhận
thức dễ sử dụng, thói quen và các điều kiện thuận lợi. Quyết định sử dụng phần mềm với thói
quen lặp lại theo thời gian có thể được thúc đẩy khi các nguồn lực và tài nguyên công nghệ sẵn
có thúc đẩy việc sử dụng liên tục, chẳng hạn như các công cụ truyền thông, đào tạo, hướng dẫn
sử dụng và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật.
Nghiên cứu này bổ sung thêm các bằng chứng cho thấy UTAUT là mô hình phù hợp để
giải thích ý định của viên chức trường ĐHQT về việc có nên ứng dụng Portal Office vào trong
công việc hay không. Nghiên cứu cũng xem xét mô hình này trong bối cảnh cơ sở giáo dục và
khu vực công tại Việt Nam. Kết quả khảo sát này sẽ hỗ trợ cho ban lãnh đạo có cái nhìn tổng
quan về thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết hồ sơ trên nền điện tử tại đơn
vị của mình. Bên cạnh đó, thấy được những yếu tố nào đang ảnh hưởng đến ý thức, hành vi sử
dụng phần mềm Portal Office để tìm ra các giải pháp đúng đắn và kịp thời để cải tiến hệ thống,
cơ sở vật chất và kỹ thuật, tạo các điều kiện thuận lợi và thói quen nhằm thúc đẩy hành vi ứng
dụng công nghệ vào nâng cao hiệu quả công việc.
6. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ giới hạn đối tượng là viên chức trong bối cảnh cơ sở giáo
dục trường ĐHQT đã từng có lịch sử đăng nhập phần mềm Portal Office, dẫn đến hạn chế lớn
nhất là kích cỡ mẫu không lớn. Do đó, kết quả có thể không phản ánh nhận thức, hành vi của đại
bộ phận viên chức ở các đơn vị khu vực công nói chung và các cơ sở giáo dục khác nói riêng.
Tác giả đề xuất các nghiên cứu về sau sẽ kiểm tra mô hình được sử dụng cho viên chức trong các
bối cảnh khác (các tỉnh/thành khác, các phần mềm khác) với tập mẫu lớn hơn để xác minh tính
đúng đắn của nó. Thứ hai, nghiên cứu này không phân tích tác động điều hòa của giới tính và
tuổi tác, trải nghiệm và sự tự nguyện. Những ảnh hưởng này có thể hạn chế tính tổng quát của
kết quả. Điều này đặt ra một vấn đề nghiên cứu tiềm năng cho tương lai là các nhà nghiên cứu có
thể tiến hành các nghiên cứu khám phá và tìm hiểu vai trò điều tiết của chúng đối với ý định của
viên chức về việc sử dụng phần mềm quản lý văn bản hành chính. Cuối cùng, các nghiên cứu
trong tương lai có thể tích hợp thêm các yếu tố khác đối với mô hình UTAUT mà chưa đề cập
đến trong nghiên cứu hoặc các mô hình khác để làm phong phú thêm khung khái niệm được sử
dụng trong nghiên cứu này.
LỜI CÁM ƠN
Nghiên cứu này được trường Đại học Quốc tế, ĐHQG-HCM tài trợ trong đề tài có mã số
SV2019-CPA-05.
Tài liệu tham khảo
Adams, D. A., Nelson, R. R., & Todd, P. A. (1992). Perceived usefulness, ease of use, and usage
of information technology: A replication. MIS Quarterly, 16(2), 227-247.
Agarwal, R., & Karahanna, E. (2000). Time flies when you're having fun: Cognitive absorption
and beliefs about information technology usage. MIS Quarterly, 24(4), 665-694.
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior & Human Decision
Processes, 50(2), 179-211.
34 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
Alalwan, A. A., Dwivedi, Y. K., Rana, N. P., Lal, B., & Williams, M. D. (2015). Consumer
adoption of Internet banking in Jordan: Examining the role of hedonic motivation, habit,
self-efficacy and trust. Journal of Financial Services Marketing, 20(2), 145-157.
Arenas, G., Peral, P., & Ramón, J. M. (2015). Elderly and internet banking: An application of
UTAUT2. Journal of Internet Banking & Commerce, 20(1), 1-23.
Bộ Nội Vụ (2019). Báo cáo số 6466/BC-BNV ngày 24/12/2019 của Bộ Nội vụ về tình hình thực
hiện công tác cải cách hành chính năm 2019 [Report No. 6466/BC-BNV dated December
24, 2019 of the Ministry of Home Affairs of the Socialist Republic of Vietnam on the
implementation of administrative reform in 2019]. Retrieved December 24, 2019, from
ve-tinh-hinh-thuc-hien-cong-tac-cai-cach-hanh-chinh-nam-2019-41443.html
Bộ Y Tế (2020). Ministry of health portal. Retrieved March 11, 2020, from
thi-ay-manh-phong-chong-dich-covid-19-trong-tinh-hinh-moi
Chan, S. C. (2004). Understanding internet banking adoption and use behavior: A Hong Kong
perspective. Journal of Global Information Management, 12(3), 21-43.
Cohen, J. (2013). Statistical power analysis for the behavioral sciences. New York, NY:
Academic Press.
Davis, F. D. (1985). A technology acceptance model for empirically testing new end-user
information systems: Theory and results. (Doctoral dissertation, Massachusetts Institute of
Technology,
Cambridge,
MA).
Retrieved
May
30,
2014,
from
or_Empirically_Testing_New_End-User_Information_Systems
Davis, F. D. (1993). User acceptance of information technology: System characteristics, user
perceptions and behavioral impacts. International Journal of Man-machine Studies, 38(3),
475-487.
Davis, F. D., Bagozzi, R. P., & Warshaw, P. R. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of
use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
Doll, W. J., Hendrickson, A., & Deng, X. (1998). Using Davis’s perceived usefulness and ease
of use instruments for decision making: A confirmatory and multigroup invariance
analysis. Decision Science, 29(4), 839-870.
Gefen, D., & Straub, D. (2000). The relative importance of perceived ease of use in IS adoption:
A study of e-commerce adoption. Journal of The Association for Information Systems,
1(8), 1-30.
Geisser, S. (1974). A predictive approach to the random effect model. Biometrika, 61(1), 101-
107.
Gia Huy (2021). Chính phủ số tại Việt Nam sẽ được hình thành vào năm 2025 [Digital
government in Vietnam will be formed by 2025]. Retrieved March 10, 2021, from the Văn
phòng Chính phủ (Government Office) website: http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Chinh-
phu-so-tai-Viet-Nam-se-duoc-hinh-thanh-vao-nam-2025/20213/29655.vgp
Gorsuch, R. L. (1974). Factor analysis. Philadelphia, Pennsylvania: W.B. Saunders Co.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2009). Multivariate data analysis.
Hoboken, NJ: Prentice Hall.
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 35
Hair, J. F., Hollingsworth, C. L., Randolph, A. B., & Chong, A. L. (2017). An updated and
expanded assessment of PLS-SEM in information systems research. Industrial
Management & Data Systems, 117(3), 442-458.
Hair, J. F., Hult, G. M., Ringle, C., & Sarstedt, M. (2016). A primer on partial least squares
structural equation modeling (PLS-SEM). Thousand Oaks, CA: Sage Publications.
Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the
results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.
Hidayanto, A. N., & Ekawati, R. K. (2010). The influence of antecedent factors of IS/IT
utilization towards organizational performance: A case study of IAIN Raden Fatah
Palembang. Proceeding of the 3rd International Conference on Information and
Communication
Technology
for
the
Moslem
World
(ICT4M),
40-47.
doi:10.1109/ICT4M.2010.5971937
Hill, T., Smith, N. D., & Mann, M. F. (1987). Role of efficacy expectations in predicting the
decision to use advanced technologies: The case of computers. Journal of Applied
Psychology, 72(2), 307-313.
Hsu, C. L., & Lu, H. P. (2004). Why do people play on-line games? An extended TAM with
social influences and flow experience. Information & Management, 41(7), 853-868.
Im, I., Hong, S., & Kang, M. S. (2011). An international comparison of technology adoption:
Testing the UTAUT model. Information & Management, 48(1), 1-8.
Israel, G. D. (1992). Determining sample size. Retrieved March 11, 2021, from
ael.pdf
Kardes, F., & Cronley, M. (2015). Consumer behavior. Stamford, CT: Cengage Learning.
Khan, M. A. (2007). Consumer behaviour and advertising management. Daryaganj, New Delhi:
New Age International.
Kim, H. W., & Kankanhalli, A. (2009). Investigating user resistance to information systems
implementation: A status quo bias perspective. MIS Quarterly, 33(3), 567-582.
Kim, S. S., & Malhotra, N. K. (2005). A longitudinal model of continued IS use: An integrative
view of four mechanisms underlying postadoption phenomena. Management Science,
51(5), 741-755.
Kim, S. S., Malhotra, N. K., & Narasimhan, S. (2005). Research note - two competing
perspectives on automatic use: A theoretical and empirical comparison. Information
Systems Research, 16(4), 418-432.
Kline, P. (2014). An easy guide to factor analysis. Abingdon, Oxfordshire: Routledge.
Lederer, A. L., Maupin, D. J., Sena, M. P., & Zhuang, Y. (2000). The technology acceptance
model and the World Wide Web. Decision Support Systems, 29(3), 269-282.
Likert, R. (1932). A technique for the measurement of attitudes. Archives of Psychology,
22(140), 1-55.
Limayem, M., Hirt, S. G., & Cheung, C. M. (2007). How habit limits the predictive power of
intention: The case of information systems continuance. MIS Quarterly, 31(4), 705-737.
Lippert, S. K., & Davis, M. (2006). A conceptual model integrating trust into planned change
activities to enhance technology adoption behavior. Journal of Information Science, 32(5),
36 Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37
434-448.
Moon, J. W., & Kim, Y. G. (2001). Extending the TAM for a World-Wide-Web context.
Information and Management, 38(4), 217-230.
Moore, G. C., & Benbasat, I. (1991). Development of an instrument to measure the perceptions
of adopting an information technology innovation. Information Systems Research, 2(3),
192-222.
Nguyen, T. D., Nguyen, D. T., & Cao, H. T. (2014). Acceptance and use of information system:
E-learning based on cloud computing in Vietnam. In Information and Communication
Technology-EurAsia Conference (pp.139-149). Berlin, Heidelberg: Springer.
Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory. New York, NY: McGraw-Hill.
Peng, D. X., & Lai, F. (2012). Using partial least squares in operations management research: A
practical guideline and summary of past research. Journal of Operations Management,
30(6), 467-480.
Pham, T., Dang, L., & Le, T. (2020). Factors affecting teachers’ behavioral intention of using
information technology in lecturing-economic universities. Management Science Letters,
10(11), 2665-2672.
Raman, A., & Don, Y. (2013). Preservice teachers' acceptance of learning management software:
An application of the UTAUT2 model. International Education Studies, 6(7), 157-164.
Ringle, C. M., Sarstedt, M., & Straub, D. W. (2012). A critical look at the use of PLS-SEM in
MIS. MIS Quarterly, 36(1), 3-14.
Ringle, C. M., Sarstedt, M., Mitchell, R., & Gudergan, S. P. (2020). Partial least squares
structural equation modeling in HRM research. The International Journal of Human
Resource Management, 31(12), 1617-1643.
Segars, A. H., & Grover, V. (1993). Re-examining perceived ease of use and usefulness: A
confirmatory factors analysis. MIS Quarterly, 17(4), 517-526.
Sharma, D. (2013). Resistance to Human Resource Information Systems (HRIS)-problem
recognition, diagnosis, and positive intervention: A study on employee behavior and
change management. Indian Journal of Applied Research, 3(1), 99-104.
Sosik, J. J., Kahai, S. S., & Piovoso, M. J. (2009). Silver bullet or voodoo statistics? A primer for
using the partial least squares data analytic technique in group and organization research.
Group & Organization Management, 34(1), 5-36.
Stone, M. (1974). Cross validatory choice and assessment of statistical predictions. Journal of
the Royal Statistical Society: Series B (Methodological), 36(2), 111-133.
Tapanainen, T., Dao, K. T., Nguyen, H. T., & Nguyen, H. T. T. (2019). 4G adoption: A survey
of Vietnam market. Journal of Information Technology Applications & Management,
26(1), 1-19.
Teo, T. (2011). Factors influencing teachers’ intention to use technology: Model development
and test. Computers & Education, 57(4), 2432-2440.
Thompson, R. L., Higgins, C. A., & Howell, J. M. (1991). Personal computing: Toward a
conceptual model of utilization. MIS Quarterly, 15(1), 125-143.
Venkatesh, V., & Davis, F. D. (1996). A model of the antecedents of perceived ease of use:
Development and test. Decision Sciences, 27(3), 451-481.
Venkatesh, V., & Davis, F. D. (2000). A theoretical extension of the technology acceptance
Nguyễn N. D. Phương, Huỳnh, V. Trường. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 19-37 37
model: Four longitudinal field studies. Management Science, 46(2), 186-204.
Venkatesh, V., & Zhang, X. (2010). Unified theory of acceptance and use of technology: US vs.
China. Journal of Global Information Technology Management, 13(1), 5-27.
Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of
information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478.
Venkatesh, V., Thong, J. Y., & Xu, X. (2012). Consumer acceptance and use of information
technology: Extending the unified theory of acceptance and use of technology. MIS
Quarterly, 36(1), 157-178.
Wang, M. H. (2016). Factors influencing usage of e-learning systems in Taiwan's public sector:
Applying the utaut model. Advances in Management and Applied Economics, 6(6), 63-82.
Warshaw, P. R., & Davis, F. D. (1985). Disentangling behavioral intention and behavioral
expectation. Journal of Experimental Social Psychology, 21(3), 213-228.
Wong, K. T., Teo, T., & Russo, S. (2013). Interactive whiteboard acceptance: Applicability of
the UTAUT model to student teachers. The Asia-Pacific Education Researcher, 22(1), 1-
10.
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT): Trường hợp sử dụng phần mềm quản lý văn bản của viên chức trường Đại học Quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ung_dung_mo_hinh_chap_nhan_va_su_dung_cong_nghe_hop_nhat_uta.pdf

