Tín ngưỡng của cư dân ven biển Nam Trung bộ

Tín ngưỡng của cư dân ven biển Nam Trung bộ  
Bùi Đức Mậu(*)  
Tóm tắt: Văn hóa biển vùng duyên hải Nam Trung bộ rất phong phú, đa dạng và đã được  
các nhà nghiên cứu đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt là tín ngưỡng của  
cư dân ven biển. Bài viết tập trung làm rõ tục thờ cá Ông, tục thờ nữ thần Thiên Y A Na  
và tục thờ cúng âm hồn - ba tín ngưỡng tiêu biểu của cư dân ven biển Nam Trung bộ - ở  
các khía cạnh như nguồn gốc, đặc trưng và giá trị. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số  
giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng của cư dân ven biển Nam Trung  
bộ trong bối cảnh hiện nay  
Từ khóa: Tín ngưỡng, Tục thờ cá Ông, Tục thờ nữ thần Thiên Y A Na, Tục thờ cúng âm  
hồn, Duyên hải Nam Trung bộ  
Abstract: The diversity of marine culture, notably the beliefs of local residents in the  
South Central Coast has been approached from various academic angles. The paper  
focuses on three main beliefs in Cá Ông (Whale), Lady Po Nagar and spirits in terms of  
its origin, characteristics and values. Thereby, it proposes solutions for preservating and  
promoting the native religious values in current context.  
Keywords: Beliefs, Whale Worship, Lady Po Nagar Worship, Spirit Worship, South  
Central Coast  
Đặt vấn đề1  
tín ngưỡng gắn bó mật thiết với đời sống  
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi  
Vùng duyên hải Nam Trung bộ gồm 8 hằng ngày của người dân.  
tỉnh/thành: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng  
Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, không bàn sâu về việc thực hành các nghi  
Ninh Thuận, Bình Thuận. Đây là những lễ trong tín ngưỡng, mà chủ yếu đề cập đến  
tỉnh/thành ven biển, gắn liền với những nguồn gốc, đặc trưng và giá trị của các tín  
nét đặc trưng văn hóa biển phong phú và ngưỡng này đối với đời sống của cư dân  
đa dạng, được các nhà nghiên cứu đề cập ven biển nơi đây trên cơ sở tổng quan tài  
đến ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó liệu, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm bảo  
có tín ngưỡng dân gian. Trong số các tín tồn và phát huy giá trị của các tín ngưỡng  
ngưỡng của cư dân ven biển nơi đây, nổi này trong bối cảnh hiện nay.  
bật lên là tục thờ cá Ông, tục thờ nữ thần 1. Tục thờ cá Ông  
Thiên YA Na, tục thờ cúng âm hồn - những  
Cá Ông thực chất là cá voi - một loại  
sinh vật biển. Dân gian thường gọi cá Ông  
bằng nhiều tên khác nhau như: Ông Nam  
Hải, Ông Chuông, Ông Khơi, Ông Lớn, Ông  
Cậu… Cá Ông là một loài vật thiêng được  
(*) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn  
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
Tín ngưỡng của…  
39  
ngư dân khắp các làng chài ven biển Nam thành tín ngưỡng dân gian (Nguyễn Thanh  
Trung bộ thờ cúng (Lê Thế Vịnh, 2015: 46). Lợi, 2007: 61). Tuy nhiên, người ta tin rằng  
Nghiên cứu các tài liệu về dân tộc học cá Ông không cứu hết tất cả mọi người mà  
ở Việt Nam cho thấy, tục thờ cá Ông phổ chỉ cứu những người có duyên với Ông, đó  
biến trong người Việt và người Chăm từ chính là những người ăn ở hiền lành, nhân  
vùng biển Thanh Hóa trở vào phía Nam. đức. Bởi vậy, vẫn có trường hợp ngư dân  
Tại vùng biển thuộc vịnh Bắc bộ, có thể bị đắm thuyền đã hết lời cầu xin, khấn vái  
xưa kia cũng tồn tại tục này, nhưng ngày nhưng không được cá Ông - thần Nam Hải  
nay đã bị các lớp văn hóa, tín ngưỡng phía cứu giúp. Như vậy, trên cơ sở đặt niềm tin  
Bắc phủ lên nên tục này chỉ còn rất mờ tuyệt đối vào tính thiện của cá Ông, ngư  
nhạt ở đôi nơi hoặc không còn tồn tại nữa dân vẫn có những lý giải về một số trường  
(Nguyễn Duy Thiệu, 2011: 61).  
hợp lời cầu nguyện chưa được đáp ứng, về  
Nguồn gốc của tục thờ cúng cá Ông việc cá Ông chưa được thiêng hóa như tâm  
niệm và lòng tin của ngư dân (Lê Thế Vịnh,  
2015: 46).  
được các nhà nghiên cứu lý giải với nhiều  
quan điểm khác khau như: Cá Ông là hóa  
thân của thần Po Riyak của người Chăm,  
hay cá Ông là một miếng vải của chiếc  
áo cà sa của Quán Thế Âm Bồ Tát. Hay  
theo lý giải của người dân, tín ngưỡng này  
xuất phát từ câu chuyện chàng sĩ tử bị thầy  
chém đầu, sau hóa thành cá Ông... (Huỳnh  
Thiệu Phong, 2016). Có ý kiến cho rằng,  
tục thờ cá Ông hiện nay là một trong những  
biểu hiện của quá trình tiếp biến văn hóa  
Việt - Chăm. Nếu tìm về nguồn cội của  
tục thờ này, chúng ta thấy rằng, ngay từ  
đầu, người Chăm đã xem cá Ông như Hải  
Vương. Chính qua quá trình tiếp xúc với họ  
mà người Việt mới bắt đầu chú ý đến động  
vật có vú lớn này (Nguyễn Phước Bảo Đàn,  
2019: 179).  
Tục thờ cá Ông có vai trò, giá trị lớn  
trong đời sống tinh thần của ngư dân nơi  
đây. Trong tâm thức của ngư dân chài lưới,  
với những người thường lênh đênh trên  
biển khơi, những khi sóng to, gió lớn, đắm  
thuyền, mất lưới, mạng sống con người bị  
đe dọa, hình ảnh cá Ông độ mạng trở thành  
chỗ dựa tinh thần quý giá, là nơi gửi gắm  
niềm tin. Niềm tin này, ban đầu là một nhu  
cầu giúp người ta chịu đựng gian khó, hiểm  
nguy trong cuộc mưu sinh, dần dần dấu  
Không chỉ trông chờ, phụ thuộc vào cá  
Ông, ngư dân còn chủ động giúp đỡ khi cá  
Ông mắc cạn. Đó là mối quan hệ hai chiều  
về sự gắn bó giữa con người với tự nhiên.  
Nó phản ánh một triết lý sống, một quan  
niệm sống, thể hiện được tính dung hợp,  
hài hòa của văn hóa truyền thống người  
Việt (Nguyễn Duy Đoài, 2017: 51).  
Ở ven biển miền Trung, cá Ông luôn  
được tôn kính nên đám tang cá Ông cũng  
được tổ chức rất long trọng. Vì là sinh vật  
linh thiêng, là vị phúc thần, là hiện thân của  
Phật Bà Quan Âm nên hễ thấy xác cá Ông  
lụy (chết) ở đâu thì ngư dân đều rước vào  
bờ để làm lễ mai táng theo những nghi lễ  
bài bản. Người nhìn thấy xác cá Ông đầu  
tiên được xem là người lo đám tang Ông với  
tư cách là tang chủ. Tang chủ có nhiệm vụ  
báo cho vị trưởng vạn của mình biết sự việc  
để trưởng vạn huy động ngư dân sở tại đến  
chỗ Ông lụy mà đưa xác Ông về mai táng ở  
lăng. Nếu xác cá Ông ở ngoài khơi thì vạn  
chài sẽ cử một đoàn thuyền ra tận nơi dìu  
Ông về bờ. Cùng lúc ấy, vạn chài cũng phải  
cử một số người lo chuyện dựng rạp trên  
bờ để tổ chức đám tang. Tạm táng xong,  
người dân phải rước hồn Ông về lăng để thờ  
vết của niềm tin hằn sâu vào tiềm thức, trở phụng, hương khói trong lúc đợi ngày đưa  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
40  
xương cốt về (Lê Văn Kỳ, 2015: 230-231). giá trị lớn trong đời sống tinh thần của ngư  
Giá trị của việc làm này chính là nêu cao dân nơi đây. Lễ hội, theo các nhà nghiên  
truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cứu, là phần “nổi” của dòng tâm thức tín  
tốt đẹp của dân tộc và cũng là một cách để ngưỡng, là mặt biểu hiện của sinh hoạt  
giáo dục người dân biết tri ân những ai đã cộng đồng, thể hiện biểu trưng văn hóa  
giúp đỡ, che chở cho mình. Bên cạnh đó, cá cộng đồng (Hà Đình Thành, 2016: 191).  
voi có thể đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Cũng giống như các lễ hội khác trên khắp  
khi mà vấn nạn săn bắt trái phép loài cá này Việt Nam, lễ hội nghinh Ông bao gồm cả  
vẫn đang diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có lễ  
gây mất cân bằng sinh thái… Vì vậy, việc rước kiệu của Nam Hải tướng quân xuống  
người dân thực hành tục thờ cá Ông chính thuyền rồng, ra biển và lễ tế. Đây là phần  
là một cách tuyên truyền, giáo dục hữu ích lễ mang đậm tính chất vùng biển, thể hiện  
đối với việc bảo vệ các động vật quý hiếm sự tôn nghiêm, kính trọng đối với cá Ông.  
và môi trường thiên nhiên…  
Phần hội với nhiều hoạt động vui chơi, giải  
Hầu hết các làng ven biển Nam Trung trí, thưởng thức ẩm thực biển... mang đến  
bộ đều có lăng và miếu thờ cá Ông. Ngoài luồng sinh khí vui tươi, tinh thần lạc quan  
lăng Ông, còn có lăng Cô (thờ cá voi cái) cho người dân ven biển Nam Trung bộ nói  
như lăng Cô ở thôn Từ Thiện (Ninh Thuận), riêng và du khách thập phương nói chung.  
lăng Cô ở phường Cam Linh (Khánh Hòa) Hơn nữa, lễ hội nghinh Ông còn giúp người  
và một số địa phương khác ở tỉnh Ninh dân quên đi những khó khăn, vất vả trong  
Thuận như Ninh Chữ, Sơn Hải, Cà Ná. cuộc sống, góp phần tái tạo năng lượng cho  
Các lăng Ông ở vùng này có niên đại khá những ngày lao động mới. Trong lễ hội  
sớm như: lăng Thủy Tú (Khánh Hòa) được nghinh Ông ở vùng duyên hải Nam Trung  
xây dựng năm 1762; lăng An Thạnh (Bình bộ thường có lồng ghép các loại hình văn  
Thuận) được xây dựng năm 1781; lăng Ông hóa dân gian khác như: hát bài chòi, hát bả  
Bình Thái (Tuy Phước) được xây dựng năm trạo và các môn thể thao biển truyền thống  
1875 - là lăng Ông có lịch sử lâu đời ở Bình như đua thuyền, thi đan lưới, kéo co,... Do  
Định (Hà Đình Thành, 2016: 100). Bên cạnh đó, không gian lễ hội là một môi trường  
những giá trị kiến trúc, các đền/lăng này còn tốt để giới thiệu, quảng bá, gìn giữ các loại  
lưu giữ nhiều di sản văn hóa biển quý giá hình nghệ thuật truyền thống này.  
như hàng ngàn bộ xương cá Ông to, nhỏ các  
Như vậy, có thể thấy, sự kính trọng của  
loại thuộc nhiều niên đại, giai đoạn khác cư dân ven biển Nam Trung bộ đối với cá  
nhau. Ngoài ý nghĩa về mặt tâm linh, đây Ông thể hiện đậm nét qua việc tổ chức tang lễ  
còn là những bộ hiện vật gốc có giá trị cho cho cá Ông, lễ hội nghinh Ông hay các lăng  
các bảo tàng sinh học, bảo tàng đại dương. miếu thờ cá Ông ở khắp các vùng ven biển.  
Hệ thống các bản sắc phong do các vua triều Tục thờ cá Ông cũng chứa đựng nhiều giá  
Nguyễn phong tặng các vị thần Nam Hải đại trị quan trọng trong đời sống của cư dân nơi  
vương và đồ thờ trong các đền/lăng Ông là đây, góp phần giáo dục đạo đức cho người  
những bộ sưu tập hiện vật văn hóa biển vô dân (giáo dục sự tôn kính đối với cá Ông -  
giá (Nguyễn Duy Thiệu, 2011: 66).  
thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn),  
Nhắc đến tục thờ cá Ông không thể góp phần bảo vệ môi trường sinh thái (qua  
không đề cập đến lễ hội nghinh Ông - một việc kiêng kỵ đánh bắt cá voi), có giá trị cố  
lễ hội quan trọng của tín ngưỡng này và có kết cộng đồng (qua lễ hội Nghinh Ông). Lễ  
Tín ngưỡng của…  
41  
hội Nghinh Ông cũng là môi trường để các ngư dân trước biển cả thì còn được thờ cả  
loại hình nghệ thuật, trò chơi dân gian truyền ở khu vực nông thôn với tư cách là vị thần  
thống được bảo tồn và gìn giữ.  
2. Tục thờ nữ thần Thiên Y A Na  
dạy dân cách trồng trọt và phù hộ cho mùa  
màng tốt tươi. Ở những nơi làm các nghề  
Thiên Y A Na có nguồn gốc từ nữ thần liên quan đến lâm nghiệp thì thần Thiên Y  
xứ sở Pô Inư Nagar của người Chăm. Hình A Na lại trở thành chúa trầm hương, chúa  
tượng Pô Inư Nagar bắt nguồn từ Devi - rừng... Ở vùng duyên hải miền Trung, đặc  
biểu tượng âm tính cho sức mạnh sáng tạo biệt từ Huế vào đến Ninh Thuận, hầu khắp  
và hủy diệt của vũ trụ, một trong những nữ các tỉnh/thành từ nông thôn, miền núi đến  
thần tối thượng trong thần điện Hindu giáo. miền biển đều có di tích đền thờ, miếu thờ  
Tuy nhiên, khi du nhập và tồn tại trong cộng thần Thiên Y A Na. Nữ thần Thiên Y A Na  
đồng của người Chăm, chịu ảnh hưởng thường được phối thờ trong các đình làng,  
ngược lại của các tín ngưỡng bản địa nên chùa, miếu ngũ hành, đặc biệt là ở vùng  
nữ thần Devi đã trở thành Pô Inư Nagar, biển Nam Trung bộ, vị nữ thần này còn  
nữ thần xứ sở của người Chăm - nhân vật được phối thờ tại các lăng cá Ông. Thiên  
huyền thoại mang yếu tố của một anh hùng Y A Na được thờ phụng khá phổ biến và  
văn hóa. Trước thế kỷ XVI, nữ thần Pô Inư ngày càng có xu hướng phát triển nhiều  
Nagar được thờ phụng ở thánh địa Pô Nagar trong các điện thờ tư gia (Nguyễn Văn  
Nha Trang (Khánh Hòa). Vì nhiều nguyên Bốn, 2016: 21). Đặc biệt, từ thế kỷ XIX,  
nhân, đến giữa thế kỷ XVI, người Chăm triều Nguyễn đã dành cho thần Thiên Y A  
đã chuyển nữ thần Pô Inư Nagar về thờ ở Na một sự sùng bái đặc biệt. Để tỏ lòng  
đền Pô Inư Nagar tại thôn Hữu Đức (Ninh biết ơn đối với vị thánh mẫu này, ngay sau  
Thuận), còn nữ thần được thờ ở thánh địa khi lên ngôi, Vua Gia Long đã sắc phong  
Pô Nagar trở thành thánh mẫu Thiên Y A nữ thần tên gọi chính thức là Thiên Y A Na  
Na (Nguyễn Thị Thanh Vân, 2015).  
Diện Phi Chúa Ngọc, tước Hồng nhân Phổ  
Từ một vị nữ thần Chăm, vị nữ thần tế linh ứng thượng đẳng thần (Nguyễn Thế  
này đã được Việt hóa nhưng trong đó căn Anh, 2005: 33).  
tính Chăm vẫn còn rất rõ nét. Đó là biểu  
Nghi thức thờ thần Thiên Y A Na ở  
hiện sự tương đồng trong văn hóa Chăm và Nam Trung bộ hết sức trang trọng, đặc biệt  
Việt ở “nguyên lý thờ mẹ” (Nguyễn Công là ở những nơi bà là thần chủ. Thời nhà  
Bằng, 2005: 188). Từ lâu, tục thờ nữ thần Nguyễn, hằng năm đích thân quan đầu tỉnh  
Thiên Y A Na đã trở thành một tín ngưỡng phải làm chủ tế trong lễ thờ thần Thiên Y  
quen thuộc và đóng vai trò quan trọng trong A Na (lễ vía Bà) ở Am Chúa và Tháp Bà  
đời sống của cư dân ven biển Nam Trung (Nha Trang). Ở Huế, triều đình nhà Nguyễn  
bộ. Trong quá trình tiếp biến văn hóa Việt công nhận và sắc phong vị thần núi Ngọc  
- Chăm, người Việt đã đón nhận, thờ cúng Trản (Thiên Y A Na) là thượng đẳng thần,  
bà và coi bà như một trong những vị phúc đến đời Vua Đồng Khánh đã cho xây dựng  
thần, luôn che chở, giúp đỡ họ trước những và mở rộng Ngọc Trản Sơn thành điện Huệ  
khó khăn trong cuộc sống.  
Nam (Hòn Chén) nguy nga, lộng lẫy, đồng  
Khác với cá Ông - vị thần chủ yếu thời ra lệnh “mỗi năm hai lần vào mùa  
được cư dân ven biển thờ, Thiên Y A Na xuân, mùa thu làm lễ cúng, có đại diện triều  
ngoài được thờ ở vùng ven biển như nữ đình chủ l ễ để nhớ ơn nữ thần” (Nguyễn  
thần phù hộ cho nghề cá và sự bình an của Đình Hòe, 1997: 345).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
42  
Nếu trong tục thờ cá Ông có lễ hội thuật truyền thống. Đặc biệt, hệ thống di  
nghinh Ông thì trong tục thờ nữ thần Thiên tích thờ tự nữ thần Thiên Y A Na lâu đời  
Y A Na của cư dân ven biển Nam Trung ở khắp vùng duyên hải Nam Trung bộ là  
bộ có lễ hội vía Bà rất nổi tiếng. Ở mỗi địa những di sản văn hóa vật thể quý giá cũng  
phương, lễ hội vía Bà có những nét khác cần được gìn giữ, bảo tồn.  
nhau, nhưng nhìn chung thường gồm ba lễ 3. Tục thờ cúng âm hồn  
chính là lễ tế âm linh, lễ cáo và lễ chánh.  
Âm hồn là hồn của người chết nơi cõi  
Cứ ba năm có một lần lễ đại “ngày vía Bà” âm theo tưởng tượng, có thể quanh quẩn  
(lễ phong), trong dịp lễ này dân làng mổ bên người thân còn sống. Ở vùng ven biển,  
heo, mổ bò làm vật phẩm dâng cúng và âm hồn cũng có thể là linh hồn của người  
mời các gánh tuồng đến biểu diễn. Còn lễ chết từ nơi khác trôi dạt về, không rõ danh  
nhỏ trong từng năm gọi là lễ sái (người dân tính, được người dân trong làng mai táng.  
nơi đây quen gọi là “trầm trà”), lễ này chỉ Âm hồn còn là “cộng đồng vong hồn gồm  
có hương đăng, hoa quả, xôi gà, trà rượu. đủ loại từ vua quan đến thứ dân, từ giàu  
Dù là lễ phong hay lễ sái thì đều phải thực sang đến nghèo hèn, từ con người đến côn  
hiện một nghi lễ có tính quy phạm - lễ dâng trùng, thú vật” (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương  
mâm (Lê Văn Kỳ, 2015: 271).  
Ngọc Tường, 1999: 138).  
Cũng tương tự như lễ hội nghinh Ông  
Đối với cư dân ven biển Nam Trung bộ,  
trong tục thờ cá Ông, lễ vía Bà cũng là âm hồn hay còn gọi là âm linh là những vong  
không gian trình diễn, bảo tồn các loại hình hồn, vong linh bất hạnh, không nơi nương  
nghệ thuật dân gian như: hát bả trạo, hát bài tựa, không ai thờ cúng, phiêu dạt, bơ vơ dưới  
tròi, múa võ, các trò chơi dân gian, “múa cõi âm (Lê Văn Kỳ, 2015: 279). Đó có thể là  
bóng”. Múa bóng là loại hình nghệ thuật những người dân làng chết mất xác trên biển  
dân gian tiêu biểu nhất trong lễ hội vía khi ra khơi, hay những người chết trên biển  
Bà của người Việt và người Chăm ở vùng trôi dạt đến, hay những người chết trong trận  
duyên hải Nam Trung bộ. Đặc biệt, những mạc mà không rõ danh tính. Cư dân ven biển  
năm gần đây, tín ngưỡng này còn tích nơi đây coi tất cả những người có số phận  
hợp thêm nghi thức hầu đồng và hát văn không may mắn này là những âm hồn, và họ  
(Nguyễn Văn Bốn, 2016: 22). Ngoài ra, lễ tổ chức thờ cúng để bày tỏ lòng thương xót,  
hội còn góp phần kết nối cộng đồng giữa chia sẻ, cảm thông với những người đã mất.  
người Việt, người Chăm và các tộc người Ngoài ra, theo quan niệm “có thờ có thiêng,  
khác ở các địa phương nơi đây.  
có kiêng có lành”, người dân ven biển coi  
Bên cạnh những nét đặc trưng văn hóa những âm hồn chết trên biển rất linh thiêng,  
thể hiện qua các nghi lễ thờ cúng, tục thờ nếu thờ cúng chu đáo thì sẽ được họ phù  
nữ thần Thiên YANa còn chứa đựng những hộ cho yên ổn, đánh bắt thuận lợi, còn nếu  
giá trị tinh thần quan trọng đối với cư dân không thì sẽ bị các âm hồn quở trách.  
ven biển Nam Trung bộ: Nữ thần Thiên Y  
Bên cạnh việc xây dựng đình làng,  
A Na là điểm tựa tinh thần của người dân miếu thờ Thành Hoàng làng, thờ mẫu, thờ  
ven biển Nam Trung bộ với vai trò là một các thiên thần hay thờ các nhân thần, người  
vị phúc thần. Lễ hội vía Bà góp phần cố dân còn xây dựng các nghĩa trũng, nghĩa tự,  
kết các cộng đồng, đồng thời cũng là môi miếu thờ âm hồn. Nghĩa trũng thực chất là  
trường bảo tồn, phát huy các loại hình nghệ một ngôi mộ chung cho những người chết  
Tín ngưỡng của…  
43  
vì làm việc nghĩa. Tất cả những ngôi mộ của nhìn chung lễ tế âm hồn ở vùng này thường  
chiến sĩ vô danh - những người vốn có công tiến hành các nghi lễ như: Lễ giẫy mả (dọn  
với đất nước, nhưng chết không xác định dẹp mả); Lễ tế cùng với vật được hiến tế  
được danh tính đều được quy tập trung vào (Nguyễn Đăng Vũ, 2007: 50).  
nghĩa trũng. Nhưng có những nghĩa trũng  
Lễ tế âm hồn với sự tham gia, phối hợp  
không chỉ có hài cốt của những người có của tất cả dân làng (cả dân chính cư và dân  
công, những chiến sĩ vô danh mà còn có cả ngụ cư) trong các bước thực hành nghi lễ đã  
xương cốt của những người vô danh khác. giúp gắn kết cộng đồng cư dân lại với nhau.  
Nghĩa trũng thường do làng xóm quản lý Hơn thế nữa, lễ tế âm hồn còn là biểu hiện  
và đứng ra cúng tế một cách tự phát. Tuy của tinh thần nhân văn, lòng nhân ái, yêu  
nhiên, cũng có những nghĩa trũng do chính thương đồng loại, đồng bào. Lễ tế âm hồn  
quyền địa phương trực tiếp chăm lo việc cũng thể hiện lòng biết ơn của người dân  
quy tập hài cốt, trực tiếp tế lễ. Còn nghĩa đối với những người đã hi sinh vì Tổ quốc,  
tự là nơi thờ việc nghĩa, thường được đặt những người đã có công khai phá xóm làng,  
gần nghĩa trũng. Nghĩa tự là một thiết chế đồng thời giáo dục các thế hệ phải luôn nhớ  
tín ngưỡng của cộng đồng, là nơi dùng để ơn tổ tiên và những người đi trước.  
tế lễ các âm hôn, cô hồn không có ai thờ  
Khác với tục thờ cá Ông và tục thờ nữ  
cúng, bao gồm cả các chiến sĩ chết trận vô thần Thiên Y A Na, ở tục thờ cúng âm hồn  
danh (Phạm Tấn Thiên, 2015: 36). Khi nói của cư dân ven biển Nam Trung bộ, sau khi  
tới các lăng miếu, nghĩa tự, nghĩa trũng ở kết thúc phần lễ, thường không có phần hội  
vùng duyên hải Nam Trung bộ, không thể mà người dân chỉ chia sẻ với nhau mâm cỗ  
không đề cập đến Âm linh tự làng An Vĩnh và lễ vật đã được cúng tế. Tuy vậy, tục thờ  
(thôn Tây, xã An Vinh, đảo Lý Sơn). Đây là cúng âm hồn vẫn là một nét đẹp trong đời  
nơi không chỉ để cúng tế các âm linh - cô sống tinh thần của người dân nơi đây, thể  
hồn nói chung, mà đặc biệt còn thờ những hiện đậm nét tính nhân văn, lòng nhân ái  
người lính đã hi sinh vì Hoàng Sa (Đỗ Thị của con người, góp phần cố kết cộng đồng.  
Minh Thúy, Nguyễn Thành Nam, Vũ Văn 4. Bàn luận và kết luận  
Đạt, 2015: 127). Ngoài ra còn phải kể đến  
Để nâng cao tính hiệu quả của việc sử  
những ngôi mộ gió lính đội Hoàng Sa - dấu dụng biển với tư cách là một không gian  
tích tâm linh của những người đi giữ biển sinh tồn, cư dân ven biển đã sử dụng biển  
vẫn được người dân trên đảo Lý Sơn hương như một không gian văn hóa, ở đó, sự cố  
khói. Đây là các di tích tiêu biểu có giá trị kết nội tại và liên minh với thần linh đã tạo  
lớn trong việc giáo dục sâu rộng truyền thành một sức mạnh khối trong sự nương  
thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn cho theo, thỏa hiệp, chống chọi, đối đầu với sức  
người dân, góp phần nâng cao ý thức bảo mạnh thiên nhiên hoang dã của biển khơi  
vệ chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.  
(Trần Thị An, 2015: 8).  
Hằng năm vào dịp Tết Nguyên tiêu  
Tín ngưỡng dân gian vùng duyên hải  
hoặc phổ biến hơn cả là dịp Thanh minh, Nam Trung bộ là biểu hiện sinh động của  
hay ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, cư dân đời sống văn hóa gắn liền với biển của cư  
ven biển Nam Trung bộ thường tổ chức lễ dân nơi đây. Các tín ngưỡng như tục thờ  
tế âm hồn. Tuy các địa phương thực hành cá Ông, tục thờ nữ thần Thiên Y A Na, tục  
lễ tế âm hồn có đôi nét khác nhau, nhưng thờ cúng âm hồn… ngoài việc phục vụ, đáp  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
44  
ứng nhu cầu tâm linh của người dân còn hồn. Ngoài ra, có thể cần có một “bảo tàng  
mang những giá trị văn hóa, giá trị nhân văn hóa biển” được xây dựng tại vùng duyên  
văn sâu sắc, góp phần làm phong phú đời hải Nam Trung bộ - nơi có nền văn hóa biển  
sống văn hóa tinh thần của người dân, gắn phong phú và đa dạng - để bảo tồn di sản văn  
kết cộng đồng.  
Để bảo tồn và phát huy giá trị của các dân gian  
tín ngưỡng dân gian này trong đời sống của  
hóa biển nơi đây, trong đó có các tín ngưỡng  
cư dân ven biển Nam Trung bộ, trước hết Tài liệu tham khảo  
chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội 1. Trần Thị An (2015), “Thích ứng với  
và những người làm công tác quản lý văn  
hóa ở các địa phương có các loại hình tín  
ngưỡng này cần chủ động tìm hiểu sâu về  
tín ngưỡng để có thể quản lý, hỗ trợ, hướng  
dẫn người dân trong việc thực hành các tín  
ngưỡng này. Các lễ hội nghinh Ông, lễ vía  
biển của người Việt - nhìn từ khía cạnh  
sinh kế và tín ngưỡng thờ thần biển của  
cư dân ven biển (Khảo sát từ một số  
cộng đồng ngư dân ven biển Bắc Trung  
bộ, Việt Nam)”, Tạp chí Văn học dân  
gian, số 6.  
Bà… ngoài phần nghi lễ còn có phần hội 2. Nguyễn Thế Anh (2005), “Thiên Y A  
với nhiều loại hình nghệ thuật dân gian.  
Đây là những giá trị cần gìn giữ, phát huy  
để vừa gìn giữ tín ngưỡng, vừa bảo tồn các  
loại hình nghệ thuật truyền thống.  
Dọc bờ biển Nam Trung bộ có rất nhiều  
di sản văn hóa liên quan đến các tín ngưỡng  
Na hay sự tiếp nhận nữ thần Po Nagar  
của các triều đại Nho giáo Việt Nam”,  
Tạp chí Xưa và nay, số 233 (tháng 4).  
3. Nguyễn Công Bằng (2005), Tháp Bà  
Nha Trang, Nxb. Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
này như đền thờ cá Ông, các bộ xương được 4. Nguyễn Văn Bốn (2016), “Tín ngưỡng  
lưu giữ tại lăng cá Ông hay các bảo tàng,  
các bản sắc phong do vua triều Nguyễn  
thờ Thiên YANa ở Khánh Hòa”, Tạp chí  
Văn hóa Nghệ thuật, số 380 (tháng 2).  
phong tặng các vị thần Nam Hải đại vương; 5. Nguyễn Phước Bảo Đàn (2019), “Các  
các di tích đền thờ, miếu thờ Thiên YA Na;  
các nghĩa trũng, nghĩa tự (nơi chôn cất và  
thờ cúng các âm hồn). Đây là những di sản  
văn hóa biển hết sức quý giá về mặt lịch  
sử và khoa học. Do đó, bên cạnh việc quan  
tâm đầu tư bảo tồn, trùng tu trước sự bào  
lễ hội liên quan đến ngư nghiệp ở tỉnh  
Quảng Nam: Thực trạng và giải pháp  
bảo tồn, phát huy giá trị”, trong: Viện  
Nghiên cứu Văn hóa (2019), Văn hóa  
biển miền Trung trong xã hội đương  
đại, Nxb. Thế giới, Hà Nội.  
mòn của thời gian, cần tăng cường nghiên 6. Nguyễn Duy Đoài (2017), “Tín ngưỡng  
cứu từ góc độ khoa học đối với các di sản  
quý giá này.  
Bảo tồn giá trị của các loại hình tín  
ngưỡng trên không chỉ là “phục cổ”, bảo tồn  
cá Ông của cư dân huyện đảo Lý Sơn,  
Quảng Ngãi”, Tạp chí Phát triển Khoa  
học và công nghệ, Chuyên san Khoa  
học xã hội và nhân văn, tập 1, số 4.  
một cách nguyên vẹn mà còn có thể phát huy 7. Nguyễn Đình Hòe (1997), “Huệ Nam  
giá trị này bằng việc đưa ra những ý tưởng  
mới như khuyến khích sáng tác thơ văn, âm  
nhạc về đề tài cá Ông, nữ thần Thiên YA Na  
hay những bài văn tế ý nghĩa cho lễ cúng âm  
điện”, trong: Những người bạn Cố đô  
Huế, tập II, Nxb. Thuận Hóa, Huế.  
(xem tiếp trang 59)  
pdf 7 trang Thùy Anh 19260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng của cư dân ven biển Nam Trung bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_cua_cu_dan_ven_bien_nam_trung_bo.pdf