Vấn đề bất bình đẳng giới trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ từ góc nhìn văn hóa
SCIENCE
JOURNAL OF
QUY NHON UNIVERSITY
Gender inequality in Nguyễn Dữ's Truyen ky man luc
from cultural perspective
Nguyen Dinh Thu*
Faculty of Social Sciences and Humanities, Quy Nhon University, Vietnam
Received: 30/06/2021; Accepted: 22/08/2021
ABSTRACT
Truyen ky man luc (Collection of StrangeTales) by Nguyễn Dữ is considered as a masterpiece of Vietnamese
legends in medieval Vietnamese literature. The work has shown many manifestations and consequences of
gender inequality in contemporary feudal society that women have to endure, thereby enhancing its the realistic
and humanitarian value. Despite not realizing the existence of gender inequality and its causes in feudal society,
Truyen Ky Man Luc is still worthy of being one of the most typical works of medieval Vietnamese prose in Han
script thanks to its great artistic and content contributions
Keywords: Gender inequality, Truyen ky man luc, Nguyễn Dữ, cultural perspective.
*Corresponding author.
Email: [email protected]
77
Journal of Science - Quy Nhon University, 2021, 15(4), 77-84
KHOA HỌC
TẠP CHÍ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Vấn đề bất bình đẳng giới trong Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ từ góc nhìn văn hóa
Nguyễn Đình Thu*
Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quy Nhơn, Việt Nam
Ngày nhận bài: 30/06/2021; Ngày nhận đăng: 22/08/2021
TÓM TẮT
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được đánh giá lꢀ đꢁnh cao của thể loại truyền kỳ trong văn học trung
đại Việt Nam. Tác phẩm đã cho người đọc thấy được nhiều biểu hiện cùng hậu quꢂ của sự bất bình đẳng giới trong
xã hội phong kiến đương thời mꢀ người phụ nữ phꢂi gánh chịu, góp phꢃn lꢀm tăng giá trị hiện thực vꢀ giá trị nhân
đạo cho tập truyện. Dù chưa nhận ra được sự tồn tại của vấn đề bất bình đẳng giới cùng căn nguyên của nó trong
xã hội phong kiến nhưng qua những đóng góp lớn về nội dung vꢀ nghệ thuật, Truyền kỳ mạn lục vẫn xứng đáng lꢀ
một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi chữ Hán Việt Nam thời trung đại.
Từ khóa: Bất bình đẳng giới, Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ, góc nhìn văn hóa.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
giới lꢀ một trong những vấn đề nổi bật, đáng lưu
tâm. Nghiên cứu vấn đề bất bình đẳng giới trong
Truyền kỳ mạn lục từ góc nhìn văn hóa lꢀ đặt tác
phẩm trong bꢃu khí quyển của môi trường thời
trung đại nhằm mô tꢂ vꢀ lý giꢂi những biểu hiện
bất bình đẳng giới dựa trên những căn nguyên,
cơ tꢃng văn hóa đã tác động, chi phối, quy định
đến các yếu tố trong cấu trúc, thi pháp của tác
phẩm.4 Bꢀi viết nꢀy góp phꢃn giꢂi mã nhiều giá
trị nghệ thuật còn ẩn tꢀng trong tác phẩm, bổ
sung điểm nhìn tham chiếu trong việc định hình
đặc trưng thể loại truyện truyền kỳ trung đại Việt
Nam, tiếp tục nâng cao hiệu quꢂ giꢂng dạy tác
phẩm văn học thuộc thể loại truyền kỳ.
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ lꢀ một “tập
đại thꢀnh”, “áng thiên cổ kỳ bút”, tác phẩm
truyền kỳ tiêu biểu trong thꢀnh tựu văn xuôi
chữ Hán Việt Nam thời trung đại. Từ lâu, nhiều
nhꢀ nghiên cứu, học giꢂ trong vꢀ ngoꢀi nước đã
quan tâm khai thác giá trị của tác phẩm nꢀy ở
phương diện đặc điểm thể loại, hình tượng nhân
vật, hệ thống chủ đề, thi pháp, nhất lꢀ nghiên cứu
tác phẩm trong mối tương quan với truyền kỳ
Đông Á cũng như với một số tác phẩm truyền kỳ
trung đại Việt Nam.1-3 Cho đến nay vẫn chưa có
một công trình chuyên sâu, mang tính hệ thống
nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục từ góc nhìn văn
hóa. Dù vậy, những bꢀi viết, công trình nghiên
cứu của người đi trước đã gợi dẫn nhiều vấn
đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu tập truyền
kỳ nꢀy.
2. VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Nếu “giống” thuộc về kiến tạo tự nhiên thì “giới”
lại lꢀ một kiến tạo xã hội. Từ trong những diễn
ngôn huyền thoại (Thꢃn thoại, Sử thi, Truyền
thuyết,…) cho đến những diễn ngôn tôn giáo,
Tập truyện phꢂn ánh nhiều vấn đề của
hiện thực đương thời, trong đó bất bình đẳng
* Tác giả liên hệ chính.
Email: [email protected]
78
Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Quy Nhơn, 2021, 15(4), 77-84
SCIENCE
JOURNAL OF
QUY NHON UNIVERSITY
chính trị, đạo đức (Kitô giáo, Hindu giáo, Nho
giáo,…), con người đã từng bước xác lập vị trí,
vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của từng giới
trong tất cꢂ các mối quan hệ xã hội.5,6 Từ đó
dẫn đến những đặc điểm về tâm lý, tính cách,
khát vọng, số phận của từng giới; biểu hiện ra
lꢀ những đặc điểm về ngôn ngữ, cử chꢁ, hꢀnh
động, cách ăn mặc,… của mỗi giới cũng như môi
trường (không gian, thời gian) mꢀ giới đó tồn tại,
hoạt động. Những diễn ngôn nꢀy đã từng bước
đưa quỹ đạo xã hội loꢀi người từ chế độ mẫu
hệ sang chế độ phụ quyền. Về bꢂn chất, đây lꢀ
những diễn ngôn của nam giới, lꢀ trò chơi ngụy
tạo, mꢀ ở đó vai trò của đꢀn ông được đẩy lên
thꢀnh trung tâm, còn phụ nữ bị đẩy xuống lꢀm
thứ yếu, trở thꢀnh cái khác, cái phụ thuộc; tạo
nên sự bất bình đẳng giới tồn tại một cách dai
dẳng, chuyển thꢀnh vô thức cộng đồng không dễ
gì xóa bỏ được, ngay cꢂ khi phong trꢀo đấu tranh
đòi nữ quyền cũng như lý thuyết nữ quyền luận
trên thế giới đã đạt được nhiều thꢀnh tựu.
nhau, mꢀ phía bị khinh thị, chịu thiệt thòi chính
lꢀ ở giới nữ.
Trong tác phẩm Chuyện gã Trà đồng
giáng sinh có đoạn kể rằng: “Năm năm mươi
tuổi, Đức Công vẫn không có con trai, chợt bị
ốm nặng rồi chết […]. Dương gian thật không
có người nꢀo được thế, cứu sống cho mọi người
nhiều lꢄm. Chꢁ tiếc hưởng tuổi không dꢀi vꢀ
dòng sau không người nối dõi”.8 Chꢁ với vꢀi
dòng kể ngꢄn gọn đã cho ta thấy biểu hiện bất
bình đẳng giới được thể hiện ngay ở mong muốn
sinh được con trai hơn lꢀ con gái, ở quan niệm
con trai mới lꢀ người nối dõi tông đường. Đó rõ
rꢀng lꢀ thái độ kỳ thị giới tính, quan niệm trọng
nam khinh nữ. Điều nꢀy xuất phát, chịu sự chi
phối từ trong tư tưởng của học thuyết Nho giáo
như: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Một
nam cũng được xem lꢀ có, mười nữ cũng xem
như không), “Nữ nhi ngoại tộc” (con gái ở ngoꢀi
dòng họ), không sinh được con (nhất lꢀ con trai
để nối dõi) lꢀ một trong những tội đại bất hiếu,...9
Những quan niệm bất bình đẳng giới nꢀy vốn
đã “Thâm căn cố đế” trong đời sống của xã hội
phong kiến vꢀ vẫn còn lꢀ vấn đề thời sự trong xã
hội ngꢀy nay. Sự nhẹ nhꢀng, tinh tế từ cách kể
chuyện cùng với sự tinh nhạy nꢄm bꢄt, phꢂn ánh
những vấn đề bꢂn chất của hiện thực đương thời
như trên đã góp phꢃn đưa Truyền kỳ mạn lục trở
thꢀnh tác phẩm có giá trị vượt thời gian.
Văn học nghệ thuật phꢂn ánh mọi mặt đời
sống xã hội,7 trong đó có vấn đề về giới. Những
quan niệm giới, đặc điểm giới, biểu hiện bất
bình đẳng giới, cho đến tiếng nói đòi bình quyền
giới có lúc được phát ngôn trực tiếp, có khi ẩn
tꢀng kín đáo qua từng hình tượng, biểu tượng
vꢀ ngôn ngữ nghệ thuật. Trên cꢂ phương diện
lý thuyết lẫn ứng dụng, gꢄn liền với trꢀo lưu nữ
quyền đꢃu thế kỷ XX, vấn đề giới (nhất lꢀ những
biểu hiện bất bình đẳng giới) ngꢀy cꢀng được
nghiên cứu sâu rộng ở nhiều quốc gia, dân tộc,
trong đó có Việt Nam. Trên tinh thꢃn giꢂi cấu
trúc,5 các nghiên cứu về giới đã lꢃn lượt phꢂn
biện lại kiến tạo giới trong lịch sử, xác lập lại
vai trò bình đẳng của phụ nữ. Từ đó vấn đề giới
nói chung, bất bình đẳng giới nói riêng được mở
rộng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: tâm lý, văn
hoá, ngôn ngữ, chủng tộc, trong đó có văn học
nghệ thuật.
So với những tác phẩm văn học ở giai
đoạn trước, trong Truyền kỳ mạn lục, hình tượng
người phụ nữ đã xuất hiện nhiều hơn, thậm chí
trở thꢀnh nhân vật chính, trung tâm của sự phꢂn
ánh. Tuy nhiên, xét từ phạm vi gia đình đến ngoꢀi
xã hội thì vị trí, vai trò, địa vị của họ lại hết sức
mờ nhạt. Bꢂn thân họ không có thực quyền, bị
tước đi sự lựa chọn, quyết định của bꢂn thân đối
với số phận, hạnh phúc cá nhân của chính mình.
Đọc Truyền kỳ mạn lục, chúng ta nhận thấy
những người con, người vợ thường bị trao truyền
quyền lực quꢂn lý, sở hữu từ tay cha mẹ sang tay
chồng hay vꢀo tay một thế lực đꢀn ông nꢀo khác
trong xã hội. Vũ Nương vꢀ Nhị Khanh, một đời
hết cung phụng cha mẹ lại lo gánh vác giang
sơn nhꢀ chồng cho đến lúc chết (Chuyện người
con gái Nam Xương, Chuyện người nghĩa phụ
3. BIỂU HIỆN VÀ CĂN NGUYÊN BẤT
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỀN KỲ
MẠN LỤC
Khꢂo sát 20 thiên truyện trong tập Truyền kỳ
mạn lục,8 chúng tôi nhận thấy vấn đề bất bình
đẳng giới được biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác
79
Journal of Science - Quy Nhon University, 2021, 15(4), 77-84
KHOA HỌC
TẠP CHÍ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
ở Khoái Châu); Thị Nghi, vì gia cꢂnh túng quẫn
nên bị bán cho một phú thương họ Phạm khi hãy
còn nhỏ (Chuyện yêu quái ở Xương Giang). Khi
bị tước đi quyền tự quyết, người phụ nữ dễ dꢀng
bị các thế lực cꢃm quyền như vua chúa, quan
lại biến thꢀnh những con hát, cung nhân chꢁ với
chức năng dùng để mua vui. Đꢀo thị vốn lꢀ cung
nhân thời Trꢃn. Khi vua Dụ Tôn mất, nꢀng bị
thꢂi ra ngoꢀi, sống một cuộc sống vất vưởng nay
đây mai đó (Chuyện nghiệp oan của Đào thị).
Lệ Nương đang sống một cuộc sống yên bình
cùng hôn ước với Phật Sinh sꢄp được thực hiện
thì lại bị bꢄt vꢀo cung (Chuyện Lệ Nương). Hay
như Túy Tiêu chꢁ lꢀ một con hát trong tư gia
của quan Trꢃn soái Lạng Giang Nguyễn Trung
Ngạn. Nꢀng dễ dꢀng bị Nguyễn Trung Ngạn tặng
cho Dư Nhuận Chi chẳng khác gì một món quꢀ
(Chuyện nàng Túy Tiêu). Những người phụ nữ
trong Truyền kỳ mạn lục họ còn gặp gỡ nhau ở
điểm chung thiệt thòi lꢀ không có cơ hội học tập
hay tham gia vꢀo bộ máy chính quyền nhꢀ nước
một cách bình đẳng như nam giới. Những chức
tước mꢀ các nhân vật nữ chính có thường chꢁ
được phong sau khi họ đã mất, nhờ vꢀo đức hạnh
khi sống. Cùng với đó lꢀ không gian để các nhân
vật nữ tồn tại, hoạt động nổi bật lꢀ kiểu không
gian nhỏ hẹp, khép kín, hoang phế. Dương thị bị
giam lỏng trong tư dinh của thꢃn Thuồng Luồng
(Chuyện đối tụng ở Long cung); hai nꢀng tinh
hoa Đꢀo Hồng Nương vꢀ Liễu Nhu Nương sống
trong dinh cơ cũ đã bỏ hoang của quan Thái sư
triều Trꢃn (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây); hay như
Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), ngay cꢂ khi đã
mất cũng không được mai táng tử tế, quan tꢀi của
nꢀng chꢁ đặt trong một túp nhꢀ tranh bỏ hoang
ngoꢀi đồng, “dây vôi dây bìm leo đꢃy lên vách
vꢀ lên mái”.8 Căn nguyên của sự bất bình đẳng
nꢀy cũng xuất phát từ trong quan niệm của Nho
giáo phong kiến, khi người con trai được đánh
giá lꢀ bậc quân tử, có trách nhiệm lớn lao với gia
đình, dòng tộc, đất nước thì phụ nữ lại bị xem lꢀ
hạng tiểu nhân, phꢂi chịu thân phận phụ thuộc.9
vật phꢂn diện được khꢄc họa với vẻ bề ngoꢀi hết
sức tươi đẹp, sở hữu nhiều tꢀi năng (cꢃm, kỳ,
thi, họa,…) nhưng lại đối lập với bꢂn chất, tính
cách bên trong, như chuyên quyến rũ đꢀn ông để
hấp thụ dương khí, hoặc lꢀm những điều tác oai
tác quái, quấy nhiễu dân chúng. Nếu bóc tách,
bỏ đi lớp vỏ kỳ ꢂo, ta còn thấy ẩn sau loại nhân
vật nꢀy lꢀ cái nhìn không mấy thiện cꢂm đối với
phụ nữ, rằng phụ nữ lꢀ đối tượng thường gây
ra những điều xui xẻo, tai ương, hệ lụy đối với
nam giới. Vì suốt ngꢀy gꢃn gũi với hai nꢀng tinh
hoa mꢀ nho sinh Hꢀ Nhân không thể chuyên tâm
học hꢀnh (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây); viên quan
họ Hoꢀng, khi chung sống với Thị Nghi, vốn lꢀ
hồn ma đã sinh ra điên cuồng (Chuyện yêu quái
ở Xương Giang); Trình Trung Ngộ vì đam mê
luyến ái với hồn ma Nhị Khanh nên bỏ bê việc
buôn bán, cuối cùng sinh mê sꢂng, ôm quan tꢀi
Nhị Khanh mꢀ chết (Chuyện cây gạo); vꢀ trái
với lẽ thông thường của một vị sư tu hꢀnh, vì
không vượt qua được cám dỗ sꢄc dục trước Hꢀn
Than mꢀ sư Vô Kỷ đã phạm vꢀo ngũ giới (năm
điều cấm kỵ) của nhꢀ Phật (Chuyện nghiệp oan
của Đào thị). Có thể nói, từ trong quan niệm âm
dương thời cổ đại, phụ nữ đã bị xếp vꢀo cực âm
(xấu) trong mối tương quan với đꢀn ông lꢀ cực
dương (tốt). Đến chế độ phong kiến, giới cꢃm
quyền nói riêng cũng như xã hội nói chung lại
có cái nhìn kì thị với nữ sꢄc, coi sꢄc đẹp phụ nữ
lꢀ nguồn căn của tội lỗi. Trong khi đó, nguyên
nhân sâu xa lại xuất phát từ chính hiện thực của
chế độ phong kiến đương thời, đối lập với việc
củng cố địa vị của nam giới, nhꢀ nước đã không
có những cơ chế thực sự nghiêm ngặt, bình đẳng
nhằm bꢂo vệ cho người phụ nữ (nhất lꢀ những
người phụ nữ có nhan sꢄc, tꢀi hoa) được an toꢀn,
dẫn đến những bi kịch cho chính bꢂn thân họ vꢀ
những tai ương, vạ lây cho người thân hay những
người xung quanh, khiến họ bị xem lꢀ hiện thân
cho những điều không tốt đẹp, cꢃn phꢂi xa lánh.4
Biểu hiện bất bình đẳng giới trong
Truyền kỳ mạn lục thể hiện tập trung vꢀ nổi bật
nhất lꢀ ở quan hệ hôn nhân - vợ chồng. Hôn nhân
bình đẳng vꢀ đúng nghĩa tiến bộ phꢂi được xây
dựng trên cơ sở tình yêu cá nhân đến từ cꢂ hai
phía nam - nữ dꢀnh cho nhau. Đọc Truyền kỳ
Trong loại hình nhân vật siêu nhiên bước
ra từ những trang văn của Truyền kỳ mạn lục,
chúng ta còn dễ dꢀng nhận ra số lượng lớn các
nhân vật lꢀ yêu nữ, ma nữ.3 Đây lꢀ những nhân
80
Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Quy Nhơn, 2021, 15(4), 77-84
SCIENCE
JOURNAL OF
QUY NHON UNIVERSITY
mạn lục, các cuộc hôn nhân giữa những người
phꢀm trꢃn, có xuất phát điểm lꢀ sự cꢂm mến
của cꢂ đôi lứa, được xã hội thừa nhận chꢁ xuất
hiện duy nhất trong tác phẩm Chuyện người
nghĩa phụ ở Khoái Châu, giữa Trọng Quỳ vꢀ
Nhị Khanh: “Hai người thường gặp nhau trong
những bữa tiệc, mến vì tꢀi, yêu vì sꢄc, cũng có
ý muốn kết duyên Châu Trꢃn. Cha mẹ đôi bên
cũng vui lòng ưng cho, nhân chọn ngꢀy mối lái,
định kỳ cưới hỏi”.8 Hoặc xuất phát điểm của
cuộc hôn nhân chꢁ đến từ tình cꢂm yêu mến một
phía ở người con trai, như hôn nhân giữa Trương
Sinh với Vũ Nương: “Vũ Thị Thiết, người con
gái quê ở Nam Xương, người đã thùy mị, nết na,
lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong lꢀng có chꢀng
Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem
trăm lạng vꢀng cưới về”.8 Qua đó cho thấy, trong
tình yêu nam nữ, sự chủ động thường xuất phát
từ phía người con trai vꢀ quyền quyết định đi đến
hôn nhân lại lꢀ chuyện của cha mẹ, hai bên gia
đình, dòng tộc. Nhiều tác phẩm của tập truyện
lại phꢂn ánh hiện thực: người phụ nữ ở thế hoꢀn
toꢀn bị động, mất quyền tự chủ, trở thꢀnh những
vật phẩm hiến tặng trong vỏ bọc hôn nhân. Đó lꢀ
nꢀng Lệ Nương bị bꢄt tiến cung cho vua (Chuyện
Lệ Nương); lꢀ Hán Anh (Chuyện gã Trà đồng
giáng sinh) trở thꢀnh vợ của Dương Thiên Tích
vì ý nguyện của cha muốn đền báo công ơn đối
với Dương công: “Ngꢀy xưa, tôi từng được chịu
ơn dꢃy của Dương công, không biết lấy gì đền
báo. Có đứa con gái lꢀ HánAnh, vậy xin hiến cậu
để hꢃu hạ chăn gối”;8 lꢀ nꢀng Túy Tiêu (Chuyện
nàng Túy Tiêu), vốn lꢀ tặng phẩm mꢀ Nguyễn
Trung Ngạn dꢀnh cho chꢀng Dư Nhuận Chi:
“Cuối đời Thiệu Phong nhꢀ Trꢃn, Dư nhân có
việc, vꢀo yết kiến quan Trꢃn soái Lạng Giang lꢀ
Nguyễn Trung Ngạn. Ông Nguyễn thấy Dư đến,
lật đật ra tiếp, đặt tiệc ở Phiếm bích đường thết
đãi, gọi mười mấy con hát ra hát múa ở trước
tiệc. Trong bọn con hát có ꢂ Túy Tiêu lꢀ người
rất xinh đẹp. Ông Nguyễn bꢂo Dư sinh rằng: -
Ấy tùy ngꢀi kén chọn trong bọn ấy, hễ bằng lòng
ai thì tôi xin tặng cho”.8
đồng đều. Trong cuộc sống gia đình, bằng những
mỹ từ “thiên tính”, “thiên chức” đꢃy ngụy biện,
lꢀ những kiến tạo xã hội mang tính chủ ý của
nam giới dꢀnh cho nữ giới, người vợ thường phꢂi
gánh vác mọi công việc gia đình, điều công bằng
mꢀ nói phꢂi có sự chung tay san sẻ của cꢂ người
chồng. Tác phẩm Chuyện người nghĩa phụ ở
Khoái Châu lꢀ một minh chứng điển hình: Trọng
Quỳ suốt ngꢀy chꢁ biết chơi bời lêu lổng, cờ bạc
để một mình vợ lꢀ Nhị Khanh lo mọi việc trong
gia đình. Sự bất bình đẳng còn được tô đậm ở
việc người vợ không chꢁ một mực cung phụng
mꢀ còn phꢂi tuyệt đối giữ tiết hạnh với chồng
trong bất kỳ hoꢀn cꢂnh nꢀo. Tác phẩm Chuyện
người nghĩa phụ ở Khoái Châu có đoạn kể rằng:
“Nhị Khanh tuy hãy còn nhỏ, nhưng sau khi về
nhꢀ họ Phùng, khéo biết cư xử với họ hꢀng rất
hòa mục vꢀ thờ chồng rất cung thuận, người ta
đều khen lꢀ người nội trợ hiền”.8 Nỗi ám ꢂnh lớn
nhất vꢀ cũng lꢀ vấn đề sống còn trong cuộc đời
người phụ nữ, người vợ đó lꢀ trinh tiết. Bởi vậy,
dù mới chꢁ bị nghi oan lꢀ thất tiết với chồng, Vũ
Nương đã phꢂi kết thúc cuộc đời đꢃy bi kịch của
mình bằng bước đường cùng trꢃm mình xuống
bến sông Hoꢀng Giang tự vẫn (Chuyện người
con gái Nam Xương). Hay như Lệ Nương, với
Phật Sinh mới chꢁ lꢀ hôn ước, nhưng nꢀng đã
sẵn sꢀng quyên sinh để thủ tiết với chꢀng, không
chịu nhơ khi bị rơi vꢀo tay giặc Minh (Chuyện
Lệ Nương).
Những biểu hiện bất bình đẳng trong hôn
nhân cũng như trong quan hệ vợ chồng nêu trên
có cơ sở từ quy định “tam tòng tứ đức” đối với
nữ giới trong lễ giáo phong kiến.9 Nó như những
chiếc vòng kim cô, những sợi dây trói buộc
người phụ nữ, không đơn giꢂn lꢀ nhằm ổn định
trật tự xã hội nói chung, mꢀ sâu xa hơn lꢀ nhằm
bꢂo vệ, bồi đꢄp thêm cho quyền lợi của nam giới,
nhất lꢀ giới cꢃm quyền quý tộc, quan lại.
4. HỆ QUẢ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ
THÁI ĐỘ CỦA TÁC GIẢ TRƯỚC VẤN ĐỀ
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỀN
KỲ MẠN LỤC
Trong quan hệ vợ chồng, vấn đề bất bình
đẳng giới lại thể hiện trước hết ở sự phân công
trách nhiệm vꢀ hưởng thụ các quyền lợi không
Từ những biểu hiện bất bình đẳng giới trong
quan niệm, ứng xử giữa con người với con người
81
Journal of Science - Quy Nhon University, 2021, 15(4), 77-84
KHOA HỌC
TẠP CHÍ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
trong xã hội, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
còn phơi bꢀy nhiều mꢂng hiện thực đau lòng mꢀ
người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã phꢂi
gánh chịu. Trong quan hệ với nam giới, tiếng nói
của nữ giới trở nên yếu thế. Vꢀ hệ quꢂ lꢀ họ phꢂi
chịu rất nhiều bị kịch.
Họ thꢂn nhiên bị bꢄt, bị cướp vꢀo tay các thế lực
cꢃm quyền, xấu xa mꢀ những người thấp cổ bé
họng như họ không cách nꢀo có thể can thiệp
được, chꢁ còn biết ôm sꢃu, nuốt hận. Nhân vật
nꢀng Túy Tiêu trong Chuyện nàng Túy Tiêu lꢀ
một minh chứng điển hình: “Gặp ngꢀy mồng
một đꢃu năm, Túy Tiêu rủ mấy người bạn gái
đến chùa tháp Báo Thiên dâng hương lễ Phật.
Bấy giờ có quan Trụ quốc họ Thân thꢃm đi chơi
phố, trông thấy Túy Tiêu đẹp, bꢄt cướp đem về
lꢀm của mình. Sinh lꢀm đơn kiện tận triều đình,
nhưng vì họ Thân uy thế rất lớn, các tòa các sở
đều tránh kẻ quyền hꢀo, gác bút không dám xét
xử. Sinh đau buồn lꢄm bèn chẳng thiết gì thi cử
nữa”.8 Hay như Lệ Nương, hết bị bꢄt vꢀo trong
cung lại bị rơi vꢀo tay giặc Minh, cuối cùng
phꢂi tự vẫn để thủ tiết với Phật Sinh (Chuyện
Lệ Nương)...
Vì bị hạn chế, bị tước đi nhiều quyền lợi
cꢂ về vật chất lẫn tinh thꢃn từ trong quan niệm,
quy định của Nho giáo, lễ giáo phong kiến nên
nhìn chung, người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn
lục thường có cuộc sống vô định, bấp bênh; phꢂi
cam chịu cꢂnh khốn cùng, ngột ngạt, khổ đau,
tủi nhục (Chuyện cây gạo, Chuyện Yêu quái ở
Xương Giang, Chuyện đối tụng ở Long cung,…).
Nhất lꢀ khi có những biến cố lịch sử - xã hội
xꢂy ra, như chiến tranh, binh biến thì người chịu
thiệt thòi dai dẳng vꢀ lớn nhất không ai khác lại
lꢀ người phụ nữ (Vũ Nương trong Chuyện người
con gái Nam Xương, Lệ Nương trong Chuyện
Lệ Nương). Điều đáng nói lꢀ ở lâu trong sự bó
buộc, kìm hãm, trong cái khổ, người phụ nữ dꢃn
có tâm lý tự ti, phụ thuộc, đánh mất niềm tin vꢀo
bꢂn thân mình. Trong Chuyện người nghĩa phụ
ở Khoái Châu, bꢀ cô Lưu thị khuyên Nhị Khanh
đi bước nữa khi đã sáu năm vẫn không có tin tức
của Trọng Quỳ (chồng Nhị Khanh), đơn giꢂn chꢁ
lꢀ để được nương nhờ: “Chi bằng bạn lꢀnh kén
lựa, duyên mới vương se, lấp những lời giăng
gió cợt trêu, nương dưới bóng tùng quân cao
cꢂ. Tội gì mꢀ bơ vơ trơ trọi, sống cái đời sương
phụ buồn tênh”.8 Hay trong Chuyện người con
gái Nam Xương, Vũ Nương từng cꢂm thấy hạnh
phúc vì được vꢀo cửa nhꢀ giꢀu, xuất giá cũng chꢁ
để mong được nương tựa vꢀo chồng: “Thiếp vốn
nhꢀ nghèo, được vꢀo cửa tía […]. Thiếp sở dĩ
nương tựa vꢀo chꢀng, vì có cái thú vui nghi gia
nghi thất”.8
Điều đáng buồn lꢀ ngay trong quan hệ vợ
chồng thân thiết, người phụ nữ lại bị chính người
chồng của mình bạo hꢀnh, ruồng bỏ, phụ bạc,
bán đổi, đẩy người vợ đến bước đường cùng phꢂi
chết thꢂm. Trong Chuyện cây gạo, Nhị Khanh
bị chồng ruồng bỏ, mất khi còn rất trẻ, không
được chôn cất tử tế. Ở tác phẩm Chuyện người
nghĩa phụ ở Khoái Châu, cũng với cái tên Nhị
Khanh, nhân vật nữ chính nꢀy đã bị chồng mang
ra cược đánh bạc, trở thꢀnh vật sở hữu trong tay
lái buôn Đỗ Tam, cuối cùng phꢂi thꢄt cổ tự vẫn.
Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương)
lại bị chồng mꢄng nhiếc, nghi oan lꢀ thất tiết,
chꢁ còn cách gieo mình xuống bến sông Hoꢀng
Giang để minh oan. Dù có hội tụ bao nhiêu vẻ
đẹp hình thức vꢀ phẩm chất vừa vặn với thước
đo thẩm mĩ của chế độ phong kiến nhưng người
phụ nữ ở đây vẫn phꢂi nhận lấy kết cục bi
thương. Tấn bi kịch của người phụ nữ cꢀng được
khꢄc sâu, nhấn mạnh khi đối tượng gây ra hậu
quꢂ ấy lại lꢀ những người chồng từng đꢃu ấp tay
gối. Từ đây, tiếng nói phê phán hiện thực vꢀ tấm
lòng cꢂm thương của tác giꢂ đã được biểu hiện
một cách mạnh mẽ vꢀ sâu sꢄc. Đó cũng lꢀ mạch
nguồn khơi gợi cho trꢀo lưu chủ nghĩa nhân văn
phát triển rực rỡ trong văn học viết trung đại
Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đꢃu thế kỷ XIX.
Vì bị xem thường, xã hội lại không có
nhữngcơchế, luậtphápnghiêmngặtđểbꢂovệnên
nhiều người phụ nữ đã trở thꢀnh đối tượng mua
vui của nam giới (Đꢀo thị trong Nghiệp oan của
Đào thị, Túy Tiêu trong Chuyện nàng Túy Tiêu,
Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương, Thị Nghi
trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Dương
thị trong Chuyện đối tụng ở Long cung,…).
82
Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Quy Nhơn, 2021, 15(4), 77-84
SCIENCE
JOURNAL OF
QUY NHON UNIVERSITY
Sự bất bình đẳng giới dai dẳng trong xã hội
phong kiến còn trở thꢀnh mặc định, vô thức cộng
đồng, biến cái bất thường thꢀnh cái bình thường,
được chính giới nữ thừa nhận, thậm chí nữ giới
trở thꢀnh chủ thể áp bức chính giới mình.5 Nhiều
thiên truyện trong Truyền kỳ mạn lục đã phꢂn
ánh một vấn đề tưởng chừng như nghịch lý, đó lꢀ
bi kịch của các nhân vật nữ lại do chính giới nữ
gây ra. Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu
kể về nhân vật Nhị Khanh bị bꢀ cô của mình
lꢀ Lưu thị cưỡng ép lấy cháu họ ngoại của bꢀ
lꢀ quan tướng quân họ Bạch… Vì ghen tuông,
vợ của quan Hꢀnh khiển Ngụy Nhược Chân đã
cho người bꢄt Đꢀo thị vꢀ đánh một trận tꢀn nhẫn
đến mức khiến trong lòng Đꢀo thị không bao giờ
nguôi khát vọng báo thù (Chuyện nghiệp oan
của Đào thị). Vꢀ Thị Nghi, trong Chuyện yêu
quái ở Xương Giang, cũng bị vợ của phú thương
họ Phạm đánh cho đến chết. Sống trong một xã
hội bất công, khi quyền lợi nữ giới được thực thi
theo kiểu ban phát nhỏ giọt từ tay của nam giới,
những người phụ nữ vốn cùng cꢂnh ngộ lại trở
nên ích kỷ, hẹp hòi, tꢀn nhẫn với nhau. Hệ quꢂ ấy
thật khiến ta phꢂi xót xa, đau lòng.
vô vꢀn những mꢂng đen tối khác nhau: có chiến
tranh, có đói nghèo, có sự xuống cấp, suy đồi của
vua quan, nho sĩ, thꢃy tu cho đến thương nhân,
vꢀ cꢂ những đối xử bất công đối với người phụ
nữ,... Tuy nhiên những biểu hiện không công
bằng trong ứng xử đối với người phụ nữ lại
không được tác giꢂ nhìn nhận lꢀ vấn đề bất bình
đẳng giới, còn những hệ lụy từ sự bất bình đẳng
giới mꢀ người phụ nữ phꢂi gánh chịu lại được
tác giꢂ xem như hậu quꢂ của những biến cố lịch
sử khách quan, nhất lꢀ do sự rạn nứt, suy đồi từ
trong những giường mối của lễ giáo phong kiến,
mꢀ đúng ra nguyên nhân sâu xa lại xuất phát từ
chính trong các quan niệm, quy định bất bình
đẳng của Nho giáo, lễ giáo phong kiến đương
thời. Vꢀ dường như cao hơn, khái quát hơn, trên
con đường lý giꢂi về những bất công, ngang trái
đối với người phụ nữ, các tác giꢂ lúc bấy giờ đều
tìm đến nguyên nhân mang tính chất siêu hình lꢀ
bởi sự chi phối của thiên mệnh (mệnh trời). Đó
cũng lꢀ phông nền văn hóa, thế giới quan, nhân
sinh quan nói chung của con người trong xã hội
phong kiến đương thời.
Có thể nói, vấn đề bất bình đẳng giới được
biểu hiện trong Truyền kỳ mạn lục như một lẽ
hiển nhiên, một mặc định, một chân lý được cꢂ
cộng đồng chấp nhận vꢀ tác giꢂ chưa hề có ý thức
phꢂn tꢁnh, nhận thức lại, cꢀng không có tiếng nói
trực tiếp phê phán tư tưởng nam quyền, đòi bình
quyền cho nữ giới như trong văn học viết giai
đoạn sau nꢀy. Trước bức tranh hiện thực xã hội
đang có những biểu hiện xuống cấp, trước những
bi kịch của con người, nhất lꢀ đối với người phụ
nữ, tác giꢂ mới chꢁ dừng lại ở thái độ hoặc phê
phán, hoặc cꢂm thương nhằm mục đích cꢂnh
tꢁnh xã hội, khẳng định Nho giáo, lập lại trật tự
phong kiến trên lập trường đạo đức chứ không
nhằm mục đích phủ định xã hội trên lập trường
tư tưởng nhân văn như trong sáng tác của các tác
giꢂ văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX. Hạn
chế nꢀy trong sáng tác của Nguyễn Dữ mang
tính lịch sử, vꢀ cũng lꢀ hạn chế chung trong cái
nhìn đối với hiện thực của các tác giꢂ văn học
lúc bấy giờ. Lꢀ bởi, dù bꢄt đꢃu có những biểu
hiện suy tꢀn sau khi đạt đến đꢁnh cao cực thịnh ở
thế kỷ XV nhưng về cơ bꢂn, chế độ phong kiến
Đứng trước vấn đề bất bình đẳng giới
trong tác phẩm, Nguyễn Dữ đã có cách xử lý
qua hꢀnh động của nhân vật, tình huống truyện,
kết thúc truyện,… tưởng chừng như còn nhiều
nghịch lý, không phù hợp. Rằng những đối
tượng lꢀ nam giới thuộc nhân vật chính diện trực
tiếp hay gián tiếp gây ra bi kịch cho người phụ
nữ vẫn được tiếp tục sống, chꢁ cꢃn đã tꢁnh ngộ,
cꢂm thấy hối hận về những việc sai trái mình đã
lꢀm; còn người phụ nữ lại thường phꢂi nhận cái
chết thꢂm, dù sau đó có được an ủi, bù đꢄp bởi
sự cꢂm thương của người đời hay có cuộc sống
hạnh phúc ở thế giới bên kia. Trương Sinh trong
Chuyện người con gái Nam Xương, hay Trọng
Quỳ trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái
Châu đã gây ra cái chết oan uổng, tủi nhục cho
vợ nhưng chẳng hề bị trừng phạt đích đáng như
trong truyện cổ tích. Vậy, phꢂi chăng Nguyễn
Dữ đã có thái độ bꢀng quan trước vấn đề bất bình
đẳng giới trong xã hội lúc bấy giờ?
Nhìn vꢀo hiện thực xã hội được phꢂn ánh
trong Truyền kỳ mạn lục, chúng ta nhận thấy có
83
Journal of Science - Quy Nhon University, 2021, 15(4), 77-84
KHOA HỌC
TẠP CHÍ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
nước ta ở thời đại Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) vẫn
còn tương đối ổn định trên nền tꢂng tư tưởng
Nho giáo. Lúc bấy giờ, vẫn chưa có một hệ tư
tưởng nꢀo mới, tiến bộ hơn có thể thay thế cho tư
tưởng Nho giáo trong việc quꢂn lý xã hội, củng
cố vương quyền, xây dựng nhꢀ nước phong kiến.
Từ trong tư tưởng của học thuyết Nho giáo, được
cụ thể hóa thꢀnh những phép tꢄc ứng xử trong
lễ giáo phong kiến, đây vẫn được xem lꢀ khuôn
vꢀng thước ngọc, lý tưởng tiến bộ, cao cꢂ cho
con người thời đại lúc bấy giờ soi vꢀo, mꢀ giữ
vai trò tiên phong lại lꢀ tꢃng lớp quý tộc, Nho
sĩ đương thời, trong đó có Nguyễn Dữ.10 Ngay
cꢂ đến những tác phẩm văn học nổi tiếng ở giai
đoạn sau, như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm,
hay Truyện Kiều,... trên con đường tìm kiếm
nguyên nhân để giꢂi thích cho những bi kịch
của người phụ nữ, các tác giꢂ cũng chưa nhận ra
đó lꢀ hệ quꢂ của sự bất bình đẳng giới, vꢀ cuối
cùng cũng quay trở về với quỹ đạo của những lý
tưởng, khuôn khổ đạo đức Nho giáo.
nữ. Đó cũng lꢀ tiền đề cho tiếng nói đòi nữ quyền
cũng như tư tưởng nhân văn được biểu hiện rõ
nét hơn trong văn học viết trung đại ở những thế
kỷ sau. Bởi vậy, có thể nói Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ vẫn xứng đáng lꢀ một áng “thiên cổ
kỳ bút”, một “tập đại thꢀnh” trong thꢀnh tựu văn
xuôi chữ Hán Việt Nam thời trung đại.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực
hiện trong khuôn khổ đề tài khoa học công nghệ
cấp cơ sở của Trường Đại học Quy Nhơn với mã
số T2020.677.25.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Phong Nam. Truyện truyền kỳ Việt Nam,
đặc điểm hình thái – văn hóa & lịch sử, Nxb Văn
học, Hꢀ Nội, 2015.
2. Lê Dương Khꢄc Minh. Truyện truyền kỳ Việt
Nam thời trung đại: diện mạo và đặc trưng nghệ
thuật, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa
học xã hội, Hꢀ Nội, 2019.
5. KẾT LUẬN
3. Phan Thị Thu Hiền (Chủ biên). Chuyện tình ma
nữ trong truyền kỳ Đông Á (Trung Quốc - Korea -
Việt Nam - Nhật Bản), Nxb Văn hóa - Văn nghệ,
Thꢀnh phố Hồ Chí Minh, 2017.
Tóm lại, trong những mꢂng hiện thực được phꢂn
ánh, Truyền kỳ mạn lục đã hé lộ cho người đọc
thấy được nhiều biểu hiện của sự bất bình đẳng
giới. Ở đó, người phụ nữ bị xem thường, chịu
bao thiệt thòi, bất hạnh so với nam giới. Căn
nguyên của vấn đề bất bình đẳng giới ở đây, dù
trực tiếp hay gián tiếp, hꢃu hết xuất phát từ sự chi
phối trong quan niệm của học thuyết Nho giáo,
của lễ giáo phong kiến lúc bấy giờ. Tuy chưa
nhận ra sự hiện hữu rõ nét cùng căn nguyên của
vấn đề bất bình đẳng giới trong xã hội đương
thời, vꢀ cũng lꢀ hạn chế chung của giai cấp, của
thời đại nhưng điều đáng nói vꢀ đáng ghi nhận ở
Nguyễn Dữ lꢀ tác giꢂ đã tô đậm được bức tranh
hiện thực đương thời với nhiều mꢂng mꢀu phong
phú, sinh động; ở tinh thꢃn nhân đạo thấm đẫm
vꢀ nghệ thuật viết truyện truyền kỳ hấp dẫn trong
tập truyện. Dù chưa nhận diện vꢀ phát ngôn trực
tiếp (do sự chi phối của bối cꢂnh lịch sử vꢀ văn
hóa), nhưng ẩn sâu trong lời kể chuyện vꢀ lời
đối thoại của nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục,
người đọc vẫn có thể phꢃn nꢀo nhận ra được thái
độ ngꢃm phê phán chế độ nam quyền vꢀ sự cꢂm
thông, trân trọng của tác giꢂ dꢀnh cho người phụ
4. Trꢃn Nho Thìn. Văn học trung đại Việt Nam
dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục Việt Nam,
Hꢀ Nội, 2009.
5. Châu Minh Hùng, Giải huyền thoại, lý thuyết
và ứng dụng, Báo cáo tổng kết Đề tꢀi khoa học
vꢀ công nghệ cấp Trường, Trường Đại học Quy
Nhơn, 2019.
6. Châu Minh Hùng. Giꢂi huyền thoại Thượng Đế,
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quy Nhơn,
2021, 15(2), trang 6-19.
7. Phương Lựu (Chủ biên). Lí luận văn học, Nxb
Giáo dục, Hꢀ Nội, 2002.
8. Nguyễn Dữ. Truyền kỳ mạn lục, Ngô Văn Triện
dịch, Nxb Trẻ, Thꢀnh phố Hồ Chí Minh & Nxb
Hồng Bꢀng, Gia Lai, 2011.
9. Trꢃn Trọng Kim. Nho giáo, Nxb Thời đại, Hꢀ
Nội, 2012.
10. Trꢃn Đình Hượu. Nho giáo và văn học Việt Nam
trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hꢀ Nội, 1999.
84
Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Quy Nhơn, 2021, 15(4), 77-84
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề bất bình đẳng giới trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ từ góc nhìn văn hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
van_de_bat_binh_dang_gioi_trong_truyen_ky_man_luc_cua_nguyen.pdf

