Thể chế và phát triển kinh tế: Minh chứng ở Việt Nam

Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
Thể chế và phát triển kinh tế: Minh chứng ở Việt Nam  
Institutions and economic development: Evidence from Vietnam  
Trần Phạm Khánh Toàn1*, Trương Trung Trực2  
1Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
2Khách sạn Renaissance Riverside, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: kh[email protected]om  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Bài viết này tổng lược cơ sở lý thuyết về thể chế và vai trò  
của thể chế đối với tăng trưởng kinh tế. Về mặt lý thuyết và  
nghiên cứu thực tiễn, thể chế tác động đến tăng trưởng kinh tế  
thông qua nhiều khía cạnh (i) tạo ra một môi trường ổn định,  
làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế; (ii)  
đảm bảo các cơ chế thị trường diễn ra một cách hiệu quả; (iii)  
thiết lập các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và (iv)  
tạo nên cấu trúc khuyến khích của nền kinh tế. Bài viết trình bày  
thực trạng chất lượng thể chế hiện nay của Việt Nam và tiến  
hành so sánh với các quốc gia trong cùng khu vực. Cuối cùng  
bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thể  
chế để từ đó góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, duy trì tăng  
trưởng kinh tế bền vững.  
Ngày nhận: 21/12/2020  
Ngày nhận lại: 30/03/2021  
Duyệt đăng: 02/04/2021  
Từ khóa:  
thể chế, phát triển kinh tế, Việt  
Nam  
ABSTRACT  
This paper summarizes the theory of institutions and the  
role of institutions in economic development. In terms of theory  
and practical research, institutions affect economic growth  
through many aspects (i) create a stable environment, reduce the  
uncertainty and risks of economic transactions; (ii) ensure  
effective market mechanism; (iii) establish legislation  
framework, and (iv) create an incentive structure. The paper  
also presents the current state of Vietnam’s institutional quality  
in comparison with other countries. Finally, the article proposes  
several solutions to improve the quality of institutions, thereby  
contributing to maintaining sustainable economic growth.  
Keywords:  
institutions, economic  
development, Vietnam  
1. Giới thiệu  
Các nhà kinh tế luôn bị thách thức bởi câu hỏi lớn: đâu là căn nguyên của sự phát  
triển, của sự khác nhau về mức độ tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa các quốc gia? Tại sao  
một số quốc gia đạt đuợc thành tích tăng trưởng kinh tế tốt trong khi những quốc gia khác lại  
trì trệ? Các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng các yếu tố như vốn vật chất, vốn con người, công  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
nghệ… có quan hệ trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Những yếu tố đó tất nhiên là quan trọng  
nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng đó là sự thể hiện, bề nổi của tăng trưởng chứ không  
phải là căn nguyên sâu xa nhất của phát triển. Câu trả lời được nhiều nhà kinh tế ủng hộ là thể  
chế. Thể chế được xem là nguyên nhân sâu xa, mang tính cơ bản quyết định sự khác nhau về  
mức độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do vậy, bài viết này nhằm tổng lược cơ sở lý thuyết  
về thể chế, tác động của thể chế đối với tăng trưởng kinh tế, ngoài ra, bài viết còn tập trung  
phân tích chất lượng thể chế của các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước cung cấp để  
phân tích thực trạng của chất lượng thể chế Việt Nam trong giai đoạn gần đây.  
2. Lꢀ thuyết vꢁ thể chế  
2.1. Khái niệm và phân loại thể chế  
Các nhà kinh tế học, xã hội học và chính trị học đưa ra rất nhiều các khái niệm khác  
nhau về thể chế. Xét về khía cạnh kinh tế, Veblen (1994) cho rằng thể chế là tính quy chuẩn  
của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành  
viên của một nhóm xã hội chấp nhận về cơ bản và sự tuân thủ các quy tắc đó là do bản thân tự  
kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế. North (1990) được xem là người tiên  
phong trong việc đưa ra khái niệm về thể chế rõ ràng và cụ thể, theo đó thể chế là luật lệ của  
trò chơi trong xã hội (the rules of the game in a society); hay nói một cách trang trọng hơn,  
thể chế là những ràng buộc do con người tạo ra (human devised contrains) để định hình những  
mới quan hệ giữa con người với nhau. Theo định nghĩa này, thể chế có ba đặc điểm: (1) thể  
chế do con người tạo ra (human devised), điều này tương phản với các những yếu tố khác  
nằm ngoài sự kiểm soát của con người, ví dụ như: các yếu tố địa lý, thời tiết, khí hậu…. (2)  
thể chế là quy tắc của trò chơi (the rules of the game) mà từ đó tạo nên các ràng buộc tác động  
đến hành vi con người; (3) hiệu quả cơ bản của thể chế là thông qua các ràng buộc tác động  
lên hành vi từ đó tạo ra cấu trúc động cơ (incentives structuce) và hành động của con người  
(Acemoglu & Robison, 2008).  
Kasper và Streit (1999) định nghĩa thể chế là những quy tắc ràng buộc hành vi của  
từng cá nhân (vốn mang tính cơ hội chủ nghĩa (opportunistics) và thất thường, không nhất  
quán (erratic); từ đó dễ dàng dự đoán hành vi của con người và góp phần đẩy nhanh sự phân  
công lao động và tạo ra hàng hóa, vật chất. Thể chế chỉ phát huy tác dụng khi và chỉ khi có  
những chế tài (sanction) đi kèm để xử lý những vi phạm.  
Ngoài ra, thể chế cũng được định nghĩa là một cấu trúc gồm các đặc điểm của xã hội,  
như tổ chức, quy tắc, tín ngưỡng. Những cấu trúc này hướng dẫn, chỉ đạo và hạn chế các hoạt  
động của con người (Greif, 2000; Dixit, 2004) hoặc là sự đồng nhất trong cách cư xử, ứng xử  
xã hội mà mọi thành phần trong cộng đồng đều chấp nhận (Schotter, 1981) và hành vi này  
được kiểm soát bởi bản thân cá nhân hoặc do sự điều chỉnh bên ngoài. Thể chế cũng được  
xem như là chính sách do con người lựa chọn (Dixit, 2004).  
Thể chế thông thường có thể được phân chia thành hai loại: thể chế bên trong (internal  
institutions)/thể chế phi chính thức (informal institutions) và thể chế bên ngoài (external  
institutions)/thể chế chính thức (formal institutions) (Kasper & Streit, 1999). Theo đó, thể chế  
bên trong (phi chính thức) được hình thành từ kinh nghiệm của con người và bao gồm những  
hữu ích nhất để điều chỉnh hành vi của con người trong quá khứ như tập quán (customs), quy  
chuẩn đạo đức (ethical norms), lề lối tốt (good manners).…Trong khi đó, thể chế bên ngoài  
(chính thức) mang tính áp đặt và có tính chế tài. Thể chế này được thiết lập thông qua một  
quy trình, ví dụ như luật lệ (legislation) và được chế tài bằng quyền lực hợp pháp (quân đội,  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
công an, tòa án…).  
Ở cuộc sống hiện đại, ngay cả trong các nền kinh tế phát triển nhất thì các luật lệ, quy  
định chính thức cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng hợp các ràng buộc hình thành nên sự  
lựa chọn. Sự tương tác giữa các cá nhân trong xã hội chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ các thể chế  
phi chính thức như quy chuẩn đạo đức, ứng xử, tập quán… Nói như vậy, không có nghĩa là  
các thể chế chính thức không có ý nghĩa. Cùng với sự phân công lao động, chuyên môn hóa  
ngày càng cao, tính phức tạp của xã hội cũng không ngừng gia tăng. Điều này đòi hỏi phải  
chính thức hóa, chế định hóa các ràng buộc. Các thể chế chính thức có thể bổ sung và tăng  
hiệu quả của các ràng buộc không chính thức.  
Như vậy, dù có những khác biệt nhất định song nhìn chung các quan niệm về thể chế  
bao hàm ba khía cạnh cơ bản nhất là “luật chơi” (chính thức và phi chính thức), “cách chơi”  
(cơ chế, chế tài thực thi), và “người chơi” (con người, tổ chức gắn với hành vi).  
Gần đây, trong tác phẩm của mình, Acemoglu và Robison (2013) đã giới thiệu các  
định nghĩa mới về thể chế. Theo đó, các tác giả phân loại thể chế thành thể chế dung nạp  
(inclusive institutions) và thể chế tước đoạt (extractive institutions) tương ứng với từng loại  
thể chế kinh tế hay thể chế chính trị. Thể chế kinh tế dung nạp (inclusive economic  
institutions) là thể chế cho phép và khuyến khích sự tham gia đông đảo của người dân trong  
các hoạt động kinh tế, từ đó, làm cho tài năng, năng lực và giá trị của mỗi người sử dụng tốt  
nhất. Thể chế này đặc trưng bởi sự bảo đảm quyền tài sản cá nhân, một hệ thống pháp luật  
công bằng và sự cung cấp dịch vụ công bình đẳng để mọi người có thể tham gia và trao đổi  
với nhau.  
Thể chế kinh tế tước đoạt (extractive economic institutions) là thể chế không có các  
đặc trưng trên mà chúng được thiết kế nhằm tước đoạt hay khai thác thu nhập hay của cải của  
nhóm này để phục vụ cho nhóm khác, hay của số đông người dân để phục vụ cho số ít nhà  
cầm quyền và người có liên quan.  
Thể chế chính trị dung nạp là thể chế hội đủ các điều kiện: mức độ tập trung cần thiết  
và khuyến khích sự tham gia của người dân vào công việc nhà nước, thượng tôn pháp luật.  
Ngược lại, thể chế chính trị khai thác hay tước đoạt được hình thành khi một thiểu số ít người  
nắm trong tay quyền lực tập trung, không thượng tôn pháp luật.  
Acemoglu và Robison (2013) nhấn mạnh có mối quan hệ sâu sắc, chặt chẽ giữa thể  
chế kinh tế và thể chế chính trị. Thể chế kinh tế tước đoạt một cách tự nhiên gắn liền với thể  
chế chính trị tước đoạt. Ngược lại, thể chế kinh tế dung nạp được xây dựng và phát triển trên  
các cơ sở được tạo ra bởi thể chế chính trị dung nạp và mọi sự kết hợp giữa thể chế chính trị  
dung nạp và thể chế kinh tế tước đoạt hoặc ngược lại đều không bền vững.  
2.2. Đo lường thể chế  
Đo lường thể chế theo thời gian giữa các quốc gia không chỉ là một trở ngại, thách  
thức cho các nhà kinh tế mà còn cho các nhà quản lý công, bởi vì rõ ràng khái niệm thể chế  
rất rộng và không dễ dàng định lượng. Woodruff (2006) cho rằng hệ thống lý thuyết hiện nay  
cho thấy có ít sự thống nhất về cách thức đo lường thể chế. Hiện nay, chất lượng thể chế  
thường được đo lường bằng các chỉ số dựa trên các phán đoán, nhận xét, cảm nhận của công  
chúng và doanh nghiệp. Có nhiều chỉ số được sử dụng để phân tích, đánh giá chất lượng thể  
chế của các quốc gia như Chỉ số tự do kinh tế (the Index of Economic Freedom - IEF) của tổ  
chức Heritage Foundation, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
Index - GCI) của Diễn đàn kinh tế thế giới, Chỉ số thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh  
(Ease of Doing Business Index - EBDI) của Ngân hàng Thế giới... Tuy nhiên, nhiều nghiên  
cứu sử dụng Chỉ số quản trị toàn cầu (Wordwide Goverance Indicator – WGI) của Ngân hàng  
thế giới và Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) của Tổ chức  
Minh bạch quốc tế là thước đo chính cho chất lượng thể chế. Trong bài viết này, tác giả sẽ  
giới thiệu sơ lược Chỉ số quản trị toàn cầu và Chỉ số cảm nhận tham nhũng1.  
2.2.1. Chỉ số quản trị toàn cầu (Wordwide Goverance Indicator – WGI)  
Ở hình thức đơn giản nhất, quản trị nhà nước có thể được xem là cách thức sử dụng  
các cơ chế, chính sách về chính trị, kinh tế và xã hội đểthực hiện quyền lực nhà nước trong  
một quốc gia. Quản trị tốt được xem là yếu tố tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của  
một quốc gia đặc biệt là trong trung và dài hạn (Kaufmann & Kraay, 2003). Cơ sở dữ liệu về  
quản trị quốc gia thường được nhiều nhà nghiên cứu đề cập phân tích đó là Chỉ số quản trị  
toàn cầu (WGI). Dữ liệu này bao gồm hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số này ra đời  
vào năm 1996 và bao gồm hơn 300 chỉ tiêu từ 30 nguồn dữ liệu từ những người trả lời khảo  
sát, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức trong khu vực công (Kaufmann, Kraay, &  
Mastruzzi, 2010). Xét một cách tổng thể, các chỉ số này đo lường cảm nhận về “quy trình  
chọn lựa, giám sát và thay thế bộ máy cầm quyền; năng lực hoạch định và thực hiện chính  
sách của chính phủ; sự tôn trọng của người dân và nhà nước đối với các thể chế chi phối các  
tương tác trong xã hội” (Ngân hàng Thế giới, 2014, p. 2), và được phân loại sáu nhóm chỉ  
tiêu lớn:  
- Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability): đo lường cảm nhận  
của người dân về sự tham gia vào quản trị công cũng như thái độ, ý kiến của người dân về  
chính quyền, chính sách trên các phương tiện thông tin đại chúng.  
- Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political Instability and Absence of  
Violence): đo lường cảm nhận về sự ổn định của chính phủ hay bị các lực lượng đối lập  
chống đối, phản kháng bằng bạo lực (bao gồm khủng bố)  
- Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness): đo lường cảm nhận về khả  
năng, năng lực của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ công cũng như chất lượng của dịch  
vụ công và quá trình triển khai thực hiện các chính sách quản lý đúng theo cam kết.  
- Chất lượng các quy định (Regulatory Quality): đo lường cảm nhận về khả năng của  
chính phủ trong ban hành các quy định của pháp luật, chính sách bảo đảm quyền tư hữu, sự  
phát triển của khu vực tư nhân.  
- Nhà nước pháp quyền (Rule of Law): đo lường cảm nhận về mức độ tinh thần  
thượng tôn pháp luật của người dân.  
- Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption): đo lường cảm nhận về mức độ trừng  
phạt,chế tài của hệ thống pháp luật đối với các hành vi tham nhũng khác nhau.  
2.2.2. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI)  
Chỉ số cảm nhận tham nhũng ra đời năm 1995 như là một chỉ số tổng hợp dùng để đo  
lường mức độ tham nhũng của khu vực công của một quốc gia được các chuyên gia và nhà  
1 Có thể tìm hiểu sâu hơn về phương pháp tính toán Chỉ số quản trị toàn cầu và Chỉ số cảm nhận tham nhũng tại  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
điều hành doanh nghiệp đánh giá. Đây là chỉ số về tham nhũng được sử dụng rộng rãi nhất  
trên toàn thế giới được Tổ chức Minh bạch quốc tế thực hiện hằng năm. Thang đo của chỉ số  
này dao động từ 0 đến 100 điểm, theo đó quốc gia có điểm càng cao thì mức độ minh bạch,  
trong sạch càng cao.  
Chỉ số cảm nhận tham nhũng được xây dựng dựa trên nhiều nguồn dữ liệu của các tổ  
chức có uy tín. Đã có sự thay đổi về cách tính vào năm 2012 làm cho việc so sánh điểm giữa  
các năm của các quốc gia sẽ khả thi.  
3. Mꢂi quan hệ giꢃa thể chế vꢄ phꢅt triển kinh tế  
3.1. Tác động của thể chế đối với phát triển kinh tế  
Rodrik (2005) cho rằng kích thích để tăng trưởng kinh tế không giống như việc duy trì  
tăng trưởng. Để tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhìn chung đòi hỏi một số “cú hích” để  
phát huy một số tiềm năng của quốc gia nhưng để duy trì tăng trưởng kinh tế đặc biệt là trong  
dài hạn thì đòi hỏi phải có những cải cách để nâng cao chất lượng thể chế. Do vậy, thể chế  
đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội nói chung và phát triển kinh tế nói riêng  
(North, 1990; Rodrik, Subramanian, & Trebbi, 2004). Vai trò của thể chế được thể hiện ở một  
số điểm sau:  
Thứ nhất, thể chế tạo ra một môi trường ổn định, làm giảm tính bất định và rủi ro của  
các giao dịch kinh tế (Nguyen, 2013). Kinh tế thị trường được hiểu một cách đơn giản là nền  
kinh tế nơi mà người mua và người bán tác động với nhau theo các quy luật thị trường để xác  
định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Nguyên lý của thị trường là cạnh  
tranh và cạnh tranh đem lại hiệu quả tối ưu trong việc sử dụng các nguồn lực xã hội và giúp  
cho thị trường cân bằng. Để xác lập được trạng thái thị trường như vậy, điều kiện tiên quyết là  
phải có thể chế để có thể định hướng, điều chỉnh hành vi của các tác nhân kinh tế khi tham gia  
giao dịch, trao đổi hàng hóa. Kasper và Streit (1999) cho rằng các giao dịch trao đổi hàng hóa  
chỉ xảy ra khi và chỉ khi các chủ thể kinh tế có một mức độ tin tưởng nhất định rằng các thỏa  
thuận của giao dịch sẽ được thực hiện và nếu không thực hiện được sẽ có những hành động  
chế tài đi kèm theo. North (1990) cho rằng các giao dịch thì tốn chi phí và khi đó thể chế hay  
là các luật chơi đóng vai trò cực kỳ quan trọng để có thể làm giảm các chi phí giao dịch, tăng  
cường giám sát, thúc đẩy các hoạt động trao đổi hàng hóa hiệu quả hơn.  
Thứ hai, về mặt lý luận và thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào thị trường cũng  
chính xác trong việc phân bổ các nguồn lực và thị trường có những khuyết tật, thất bại vốn có  
của nó. Sự thất bại, khuyết tật của thị trường sẽ mang lại những tổn thất xã hội, thậm chí gây  
ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Vai trò của thể chế thể hiện ở đây là đảm  
bảo các cơ chế thị trường diễn ra một cách hiệu quả bằng cách loại bỏ hoặc hạn chế các thất  
bại của thị trường, với mục tiêu là tạo một môi trường cho phép các tác nhân kinh tế cảm  
nhận được một mức rủi ro thích hợp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh.  
Thứ ba, thể chế thiết lập các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà  
đầu tư, tạo một bầu không khí phù hợp để tạo thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển bên cạnh việc  
cạnh tranh trong xã hội. Giá trị của thể chế cũng tác động đến giá trị của các quốc gia cũng  
như từng cá nhân con người. Khi đó thể chế rất cần thiết cho sự phát triển của xã hội.  
Thứ tư, tác động của thể chế lên tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra một cấu trúc khuyến  
khích, ảnh hưởng đến việc phân bổ các nguồn lực xã hội theo hướng tốt hay xấu cho xã hội  
(Hasan, Wachtel, & Zhou, 2009). North (1990) cho rằng các thể chế của một xã hội nhất định  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
ảnh hưởng đến con đường phát triển kinh tế bằng cách cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế  
và xã hội giữa các thành viên nó. Thể chế tạo ra những kích thích quyết định loại hình, phạm  
vi và tầm mức của các hoạt động sản xuất của cải, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực  
và nâng cao phúc lợi xã hội. Một quốc gia giàu hay nghèo, thịnh vượng hay không phụ thuộc  
vào những ràng buộc của thể chế, quy định những đánh đổi về mặt kinh tế (payoff), có  
khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh hay không? Nói một cách khác, các tổ chức  
và người dân chỉ tham gia các hoạt động sản xuất khi và chỉ khi khung thể chế mà họ hoạt  
động trong đó tạo cho họ động cơ để tích cực tham gia các hoạt động tạo ra các của cải vật  
chất cho bản thân họ và cho xã hội.  
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu nhận ra vai trò thiết yếu của thể chế trong mối quan  
hệ với sự tăng trưởng kinh tế. Barro (1991) cho thấy bất ổn về chính trị có ảnh hưởng tiêu cực  
đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Alesina, Özler, Roubini, và Swagel (1996) cũng cho  
thấy kết quả tương tự.  
Knack và Keefer (1995) nhận ra sự tác động tích cực của quyền sở hữu tài sản  
(property rights) lên tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu đánh giá nguy cơ  
đối với các nhà đầu tư như sự thực thi hợp đồng (contract enforceability) và nguy cơ bị chiếm  
đoạt (risk of expropriation) làm biến đại diện cho quyền sở hữu tài sản.  
Một khía cạnh khác của thể chế cũng thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu là  
nhà nước pháp quyền (rule of law). Kết quả nghiên cứu của Barro (1996) ở 100 quốc gia  
trong giai đoạn 1960 đến 1990 cho thấy biến nhà nước pháp quyền có ý nghĩa thống kê và ảnh  
hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này cũng được các nghiên cứu của Dollar và  
Kraay (2003); Mehlum, Moene, và Torvik (2006); Rodrik và cộng sự (2004) minh chứng ở  
những quốc gia mà việc tuân thủ nguyên tắc nhà nước pháp quyền hay thượng tôn pháp luật  
càng cao thì tăng trưởng kinh tế càng tốt.  
Kaufmann, Kraay, và Zoido (1999) nghiên cứu tác động của quản trị công  
(governance) đến thu nhập bình quân đầu người. Kết quả cho thấy quản trị quốc gia có tác  
động mạnh và tích cực đến thu nhập bình quân đầu người, quản trị tốt hơn dẫn đến thu nhập  
bình quân đầu người cao hơn. Bên cạnh đó, sử dụng các chỉ số thể hiện chất lượng của thể  
chế, các nghiên cứu của Collins và Bosworth (2003); Easterly và Levine (1997); Glaeser, La  
Porta, Lopez-de-Silanes, và Shleifer (2004); Tan (2010) cũng cho thấy tác động tích cực của  
thể chế đến tăng trưởng kinh tế.  
Tuy nhiên, một điều cần lưu ý về tác động của thể chế đến sự phát triển kinh tế là rất  
phức tạp, khác nhau giữa các quốc gia và thay đổi theo thời gian theo thời gian. Thậm chí, ở  
cùng một mức độ và trong cùng một quốc gia, cùng một thể chế có thể thúc đẩy tăng trưởng  
tại một thời điểm nhưng lại hạn chế sự phát triển ở một thời điểm khác (Chang, 2011).  
Tóm lại, lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng chất lượng thể chế  
đóng vai trò cơ bản trong tăng trưởng kinh tế dài hạn và thịnh vượng của một quốc gia. Một  
quốc gia có tiềm năng lớn chỉ có thể trở nên thịnh vượng về lâu dài nếu họ nỗ lực để xây dựng  
và phát huy các thể chế cho phép phát huy hết tiềm năng bên trong và tận dụng các cơ hội bên  
ngoài.  
3.2. Tác động của phát triển kinh tế đối với thể chế  
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tác động của thể chế đối với phát triển kinh tế  
(Barro, 1991; Knack & Keefer, 1995; Rodrik et al., 2004). Tuy nhiên, tác động ngược lại của  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
phát triển kinh tế đối với thể chế dường như chưa thu hút được nhiều sự quan tâm phân tích.  
Phát triển kinh tế có thể tác động đến chất lượng thể chế thông qua một số kênh truyền  
dẫn sau. Thứ nhất, khi đời sống vật chất, tinh thần của con người giàu có hơn, phong phú hơn  
người ta thường có xu hướng đòi hỏi chất lượng thể chế cao hơn (ví dụ nhu cầu đòi hỏi các  
thể chế chính trị phải công khai, minh bạch và tiếng nói của người dân có trọng lượng hơn).  
Thứ hai, khi kinh tế phát triển sẽ cung cấp các nguồn lực để xây dựng, thiết lập và vận hành  
các thể chế chính thức hiện đại. Chất lượng của các thể chế càng cao, càng hiện đại thì chi phí  
bỏ ra để xây dựng và vận hành chúng càng cao. Thứ ba, phát triển kinh tế tạo ra những tác  
nhân (nhân tố) kinh tế mới đòi hỏi sự thay đổi những thể chế để phù hợp. Cuối thế kỷ XIX  
đầu thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ về số lượng lẫn chất lượng của giai cấp công nhân dẫn  
đến sự trỗi dậy của nhà nước phúc lợi, bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng của công nhân,  
chống lại sự áp bức, bóc lột của giới tư bản. Hoặc là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế  
chia sẻ (sharing economy) trong hơn một thập niên trở lại đây đã thu hút được sự quan tâm  
nhiều của các nhà nghiên cứu và người dân. Các đại diện tiêu biểu của nền kinh tế chia sẻ là  
Uber trong lĩnh vực chia sẻ xe, Airbnb trong lĩnh vực nhà, phòng cho thuê…. đã thiết lập các  
thị trường mới thay thế các thị trường truyền thống. Điều này đã đặt ra nhiều thách thức cho  
các quốc gia trên thế giới đặc biệt là về các quy định pháp lý để có thể quản lý các công ty  
thuộc dạng này.  
4. Thực trạng chất lượng thể chế Việt Nam  
Kết quả khảo sát lý thuyết ở trên cho thấy thể chế đóng vai trò quan trọng rất lớn trong  
việc phát triển kinh tế. Phần này sử dụng các chỉ số đo lường chất lượng thể chế của các tổ  
chức nghiên cứu trong và ngoài nước cung cấp để cho thấy một cái nhìn toàn diện về chất  
lượng thể chế Việt Nam trong giai đoạn gần đây.  
Bảng 1 trình bày chi tiết sáu khía cạnh của chỉ số quản trị toàn cầu của Việt Nam qua  
các năm. Nhìn chung, các chỉ số của Việt Nam đều được thay đổi theo hướng tích cực và  
được thể hiện rõ nét trong giai đoạn 2013 đến nay. Điều này chứng minh Việt Nam đã có  
nhiều sự cải cách, nỗ lực từng bước đổi mới, cải cách để hỗ trợ, thúc đẩy, nâng cao chất lượng  
thể chế trong thời gian qua, đặc biệt là việc cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng  
kinh tế.  
Bảng 1  
Thống kê các khía cạnh của chỉ số quản trị toàn cầu của Việt Nam qua các năm  
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019  
Tiếng nói và trách  
nhiệm giải trình  
-1.5 -1.46 -1.42 -1.37 -1.37 -1.36 -1.37 -1.4 -1.44 -1.38  
Ổn định chính trị và  
không có bạo lực  
0.15 0.19 0.27 0.25 -0.02 0.07 0.23 0.29 0.11 0.13  
Hiệu quả chính phủ -0.26 -0.23 -0.27 -0.27 -0.07 0.07 0.02 0.01  
0
0.04  
Chất lượng các quy  
định  
-0.62 -0.6 -0.67 -0.64 -0.59 -0.48 -0.45 -0.4 -0.35 -0.26  
Nhà nước pháp  
quyền  
-0.59 -0.54 -0.55 -0.51 -0.36 -0.34 0.08 0.07  
0
-0.02  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019  
Kiểm soát tham  
nhũng  
-0.62 -0.61 -0.53 -0.48 -0.44 -0.43 -0.45 -0.58 -0.49 -0.51  
Nguồn: Tổng hợp từ Chỉ số quản trị toàn cầu (n.d.)  
Tuy nhiên, khi tiến hành so sánh chất lượng thể chế của Việt Nam đối với trung bình  
các nước có thu nhập trung bình cao và các nước trong khu vực thì còn nhiều vấn đề cần phải  
quan tâm cải thiện chất lượng thể chế.  
Hình 1 cho thấy khi đối chiếu với trung bình các nước có thu nhập trung bình cao, các  
chỉ số Việt Nam đạt được vẫn ở mức thấp hơn (trừ chỉ số Ổn định chính trị và không có bạo  
lực, Hiệu quả của chính phủ và Nhà nước pháp quyền). Khi tiếp tục so sánh với các nước  
trong cùng khu vực, các chỉ số chất lượng thể chế của Việt Nam thua hầu hết các nước (trừ  
chỉ số Ổn định chính trị và không có bạo lực) ở các chỉ số Hiệu quả chính phủ, Chất lượng  
các quy định và Kiểm soát tham nhũng, đặc biệt là chỉ số Tiếng nói và trách nhiệm giải trình.  
Điều này phù hợp với nhận xét trong báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng  
tạo, bình đẳng và dân chủ” đã xem xét các vấn đề tồn tại trong quản lý công của Việt Nam ở  
các khía cạnh bao gồm hiệu lực, hiệu quả nhà nước; sự vắng mặt của hệ thống hành chính  
chuyên nghiệp, thực tài, hiện đại trách nhiệm giải trình của chính phủ, và thương mại hóa các  
thiết chế công (Ngân hàng Thế giới, 2016).  
100  
80  
60  
40  
20  
0
Tiếng nói và Ổn định chính trị Hiệu quả chính Chất lượng  
Nhà nước Kiểm soát tham  
các quy định pháp quyền  
trách nhiệm giải và không có bạo  
phủ  
nhũng  
trình  
lực  
Việt Nam  
Thái Lan  
Malaysia  
Singapore  
Indonesia  
Philippines  
Thu nhập trung bình cao  
Hình 1. Các khía cạnh của chỉ số quản trị toàn cầu của Việt Nam và các nước  
trong cùng khu vực  
Nguồn: Tổng hợp từ Chỉ số quản trị toàn cầu (n.d.)  
Chỉ số Ổn định chính trị và không có bạo lực của Việt Nam luôn giữ được điểm số  
cao, cao hơn mức trung bình của các nước thu nhập trung bình cao và chỉ thua Singapore ở  
khu vực Đông Nam Á. Điều này giúp Việt Nam trở thành một điểm đến an toàn đối với các  
nhà đầu tư quốc tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng trưởng  
ổn định trong những năm gần đây (Bishop, 2018).  
Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có 33070 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng  
ký là 384 tỷ USD, vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 231,86  
tỷ USD (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2021). Đến nay, đã có 135 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự  
án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào 19/21 ngành trong  
hệ thống kinh tế quốc dân. Theo Báo cáo đầu tư thế giới (UNCTAD, 2018) thì Việt Nam nằm  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
trong top 20 quốc gia thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khu vực Đông  
Nam Á đứng thứ ba, sau Singapore và Indonesia.  
Đối với chỉ số Hiệu quả chính phủ tuy có sự thay đổi tích cực trong giai đoạn vừa qua  
nhưng vẫn ở mức thấp. Hiệu quả của chính phủ được xem như là khả năng, năng lực của nhà  
nước trong việc thiết lập, duy trì và thực hiện các thông lệ, quy tắc tốt về quản trị công để tạo  
điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng và bền vững. Sự yếu kém trong điều  
hành của chính phủ Việt Nam có thể được xem là các quy định pháp luật mâu thuẫn hoặc gây  
khó hiểu cho người dân và doanh nghiệp, sự chồng chéo về quản lý của các cơ quan nhà nước  
(Ngân hàng Thế giới, 2016). Mặc dù có những cải thiện rõ rệt trong quy trình đăng ký kinh  
doanh, cắt giảm các thủ tục hành chính nhưng người dân, doanh nghiệp vẫn phàn nàn về các  
khoản chi không chính thức và thủ tục hành chính rườm rà trong quản lý đất đai, giải phóng  
mặt bằng…. Có đến 4.4% người được phỏng vấn cho rằng các cơ quan nhà nước trả hồ sơ  
hành chính trễ hẹn và trên 16% người được hỏi phải đi lại trên 3 lần để hoàn thành thủ tục  
hành chính (Bộ Nội vụ, 2019)  
Điều này càng được thể hiện rõ hơn khi so sánh xếp hạng Chỉ số môi trường kinh  
doanh và Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam với các nước trong cùng khu vực. Với điểm số  
69.8 trong Chỉ số môi trường kinh doanh, Việt Nam xếp hạng thứ 70 thua Singapore,  
Malaysia và Thái Lan, Brunei (lần lượt xếp thứ 02, 14, 23 và 66 trên toàn thế giới) nhưng có  
thành tích tốt hơn so với Indonesia (một chút) và Philippines. Tuy nhiên, xếp hạng chỉ số tự  
do kinh doanh cho thấy Việt Nam xếp hạng thứ 105, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia  
cùng khu vực.  
Bảng 2  
Xếp hạng Chỉ số môi trường kinh doanh, Chỉ số tự do kinh tế, Chi phí khởi sự kinh doanh  
Xếp hạng sꢂ ngꢄy khởi  
sự kinh doanh  
Xếp hạng Chỉ sꢂ  
Xếp hạng Chỉ sꢂ tự  
do kinh tế  
Quꢂc gia  
môi trường kinh doanh  
Singapore  
Đài Loan  
Malaysia  
Thái Lan  
Indonesia  
Brunei  
2
1
11  
24  
43  
54  
61  
105  
70  
1.5  
10.0  
13.5  
4.5  
15  
12  
21  
73  
66  
70  
95  
19.6  
5.5  
Việt Nam  
Philippines  
17.0  
31.0  
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank (2020); 2021 Index of Economic Freedo (n.d.) và Word Economic Forum  
(2019)  
Chỉ số Chất lượng các quy định của pháp luật của Việt Nam có xu hướng cải thiện tích  
cực qua các năm. Tuy hệ thống cấu trúc pháp luật Việt Nam còn nhiều hạn chế nhưng đến nay  
hệ thống quy định pháp luật đã cơ bản điều chỉnh, tác động hầu hết các hoạt động kinh tế, văn  
hóa, xã hội. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới (2016), trong giai đoạn 29 năm sau khi  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
thực hiện Đổi Mới (từ ngày 01/01/1986 đến 30/06/20015), nhà nước Việt Nam đã ban hành số  
lượng các Bộ Luật, Luật, Pháp lệnh gấp hơn tám lần so với giai đoạn 02/9/1945 đến  
30/12/19862. Tuy nhiên, nếu so sánh chỉ số này của Việt Nam với các nước trong khu vực thì  
có thể thấy Việt Nam còn rất hạn chế (Hình 1). Bên cạnh đó, theo báo cáo năng lực cạnh tranh  
toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn kinh tế thế giới thì chỉ số gánh nặng tuân thủ các quy định  
của Chính phủ thì Việt Nam xếp hạng 79 trên thế giới kém hơn so với các nước, trừ Brunei và  
Philippines. Quy định pháp luật thiếu rõ ràng, thậm chí mâu thuẫn, các cơ quan nhà nước  
được giao những nhiệm vụ chồng chéo lẫn nhau có nguy cơ gây xung đột lợi ích là nguyên  
nhân gây cản trở cho việc đầu tư, kinh doanh.  
Philippines  
Brunei  
103  
83  
Việt Nam  
Thái Lan  
Đài Loan  
Indonesia  
Malaysia  
Singapore  
79  
50  
36  
40  
29  
5
1
0
20  
60  
80  
100  
120  
Hình 2. Chỉ số gánh nặng tuân thủ các quy định của Việt Nam và các nước  
trong cùng khu vực  
Nguồn: Word Economic Forum (2019)  
Một vấn đề thách thức lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là hoàn thiện nhà nước  
pháp quyền. Hiểu một cách đơn giản, nhà nước pháp quyền mạnh có nghĩa là pháp luật phải  
được công nhận và tôn trọng tuyệt đối để kiểm soát, điều chỉnh hành vi của mọi cá nhân trong  
xã hội. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các nền  
tảng về pháp lý nói riêng và nền tảng kinh tế, xã hội nói chung cho việc xây dựng, củng cố và  
hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, ở khía cạnh thực tế, sự yếu kém trong việc thực  
thi, áp dụng pháp luật đã dẫn đến việc có quy định pháp luật tốt nhưng chưa hẳn đã có pháp  
quyền thực sự (Ngân hàng Thế giới, 2016). Chỉ số nhà nước pháp quyền của Việt Nam còn  
kém so với các nước trong cùng khu vực. Thêm vào đó, việc hạn chế trong việc giám sát và  
hạn chế quyền lực nhà nước khiến Việt Nam chỉ có điểm số là 0.49, xếp hạng thứ 85 (World  
Justice Project, 2021).  
Bảng 3  
Xếp hạng Chỉ số Nhà nước pháp quyền  
Quꢂc gia  
Singapore  
Malaysia  
Indonesia  
2015  
9
2016  
9
2017-2018  
2019  
13  
2020  
12  
13  
53  
63  
39  
56  
51  
47  
52  
61  
62  
59  
2
Cụ thể từ ngày 01/7/1987 đến ngày 30/6/2015, số Bộ luật, Luật, Pháp lệnh được ban hành là 524 so với 63  
Luật, Pháp lệnh trong giai đoạn 41 năm trước đổi mới.  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
Quꢂc gia  
Thái Lan  
Việt Nam  
Philippines  
2015  
56  
2016  
64  
2017-2018  
2019  
76  
2020  
71  
71  
74  
88  
64  
67  
81  
85  
51  
70  
89  
91  
Nguồn: Tổng hợp từ World Justice Project (2021)  
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề nghiêm trọng mà Việt Nam cần phải nghiêm túc  
xử lý đó chính là tình trạng tham nhũng. Tham nhũng được xem là sự lạm dụng quyền lực  
công để đạt được lợi ích riêng (Tổ chức Minh bạch quốc tế, 2019). Mặc dù đã có những cố  
gắng gần đây trong việc kiểm soát, đẩy lùi tham nhũng nhưng Việt Nam liên tục bị xếp hạng  
thấp trong Chỉ số Nhận thức tham nhũng toàn cầu từ 2015 đến 2019, và đứng thứ 96 vào năm  
2019. Điều này cho thấy Việt Nam chưa đạt được nhiều tiến bộ đáng kể (Tổ chức Minh bạch  
quốc tế, 2019). Ngoài ra, có đến 41.2% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng họ phải chi trả  
các khoản chi phí không chính thức để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh (Báo cáo PCI,  
2019). Họ coi các khoản thanh toán đó là thông lệ bình thường và được chấp nhận rộng rãi  
trong tiến hành kinh doanh (Ngân hàng Thế giới, 2016). Ngoài ra, theo số liệu từ Chỉ số năng  
lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Việt Nam xếp hạng thứ 101 các quốc gia được khảo sát (so với  
các nước cùng khu vực thì chỉ cao hơn Lào và Campuchia).  
100  
50  
0
2016  
2017  
Đài Loan  
2018  
2019  
Brunei  
Việt Nam  
Thái Lan  
Malaysia  
Indonesia  
Hình 3. Chỉ số gánh nặng tuân thủ các quy định của Việt Nam và các nước  
trong cùng khu vực  
Nguồn: Tổng hợp từ Chỉ số Nhận thức tham nhũng toàn cầu (Tổ chức Minh bạch quốc tế, 2019)  
Ngoài ra, ở Việt Nam còn một hiện tượng cần quan tâm phân tích đó là “tham nhũng  
vặt” (petty corruption). Đây là hiện tượng các doanh nghiệp, người dân phải trả một khoản chi  
phí không chính thức để “bôi trơn” các quy định, thủ tục hành chính hoặc để tiếp cận được  
các dịch vụ công. Theo báo cáo PCI gần đây, mặc dù vẫn có 53.6% doanh nghiệp Việt Nam  
phải chi trả các khoản chi không chính thức, nhưng con số này vào năm 2019 là thấp nhất  
trong vòng 05 năm qua và 48% doanh nghiệp FDI thừa nhận họ phải tốn khoảng phí không  
chính thức là 24 triệu đồng cho giấy phép xây dựng (Báo cáo PCI, 2019).  
Hình 1 thể hiện qua các năm chỉ số Tiếng nói và trách nhiệm giải trình của Việt Nam  
có cải thiện nhưng rất chậm và thấp nhất khi so sánh với các quốc gia khác trong cùng khu  
vực. Ngân hàng Thế giới (2016) cho rằng sự tham gia của người dân vào công tác quản lý nhà  
nước và việc tác động của ý kiến, quan điểm của người dân vào các chính sách công vẫn còn  
hạn chế mặc dù Việt Nam có số lượng đáng kể các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
nghiệp đại diện. Dường như Chính phủ Việt Nam không tham khảo ý kiến một cách thực chất  
với các tổ chức đó và các tổ chức đó chưa được xem là có tác động đến các quy định, chính  
sách.  
Ở một khía cạnh khác, theo kết quả Báo cáo PCI (2019) cho thấy khả năng doanh  
nghiệp được tiếp cận với các tài liệu quy hoạch, văn bản pháp lý của các cơ quan chính quyền  
còn rất hạn chế chỉ đạt điểm trung bình lần lượt là 2.5 và 3.08 điểm trên thang điểm từ 1 đến 5  
(Không thể - dễ). Có đến 60.4% doanh nghiệp trả lời rằng họ cần phải có các “mối quan hệ”  
để có thể được biết các thông tin, tài liệu, văn bản của chính quyền cấp tỉnh trở xuống.  
Bảng 4  
Thống kê chỉ tiêu của Chỉ số thành phần Tính minh bạch trong báo cáo PCI qua các năm  
2017  
2018  
2019  
Chỉ tiêu  
2015  
2016  
Tiếp cận tài liệu quy  
hoạch (1= Không thể;  
5= Rất dễ)  
2.38  
2.39  
2.44  
2.38  
2.50  
Tiếp cận tài liệu pháp lý  
(1= Không thể; 5= Rất  
dễ)  
3.03  
3.10  
3.06  
70  
3
3.08  
Cần có "mối quan hệ"  
để có được các tài liệu  
của tỉnh (% quan trọng)  
76.19  
66.33  
69.44  
60.38  
Vai trò của các hiệp hội  
DN địa phương trong  
việc xây dựng và phản  
biện chính sách, quy  
định của tỉnh (% quan  
trọng)  
43.16  
40.28  
47.69  
52.17  
46.27  
Nguồn: Báo cáo PCI (2019)  
5. Kết luận vꢄ kiến nghꢆ  
Kết luận rút ra từ nghiên cứu là cả về lý thuyết và thực tiễn cho thấy cả về lý thuyết và  
thực tiễn, thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và duy trì phát triển kinh tế. Do  
đó, để đạt được và duy trì tăng trưởng thì cần phải thường xuyên cải thiện chất lượng thể chế.  
Đối với Việt Nam, như đã phân tích, chất lượng thể chế còn thấp so với các nước trong cùng  
khu vực. Do đó, Việt Nam cần phải thực hiện cải cách thể chế một cách hệ thống, bài bản  
theo hướng:  
Một là, thiết kế cơ chế và thể chế giám sát theo nguyên tắc quyền lực nhà nước từ  
Trung ương đến địa phương phải được kiểm soát, giám sát. Hoàn thiện cơ chế giám sát, phản  
biện xã hội thông qua tạo lập, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế để thực thi các quyền  
dân chủ của người dân. Thực hiện tư pháp độc lập và đặc biệt là công tác xét xử phải tuân thủ  
nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật.  
Hai là, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức. Bảo  
đảm được mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, trong đó người dân tham gia rộng rãi vào  
quá trình ban hành chính sách, truy cứu được trách nhiệm của cán bộ, công chức về tính trung  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
thực và kết quả hoạt động công vụ.  
Cần thiết lập cơ chế thực thi hữu hiệu quyền tiếp cận thông tin của người dân để mở  
rộng không gian và cơ hội cho công chúng tham gia thực chất vào công việc của nhà nước.  
Nhà nước cũng cần xem xét cải thiện môi trường hoạt động cho các tổ chức xã hội đại diện  
cho tiếng nói của người dân.  
Ba là, nâng cao chất lượng của bộ máy hành chính nhà nước thông qua việc tổ chức bộ  
máy tinh gọn, hiệu quả, tinh giản biên chế, cải cách tiền lương; ứng dụng công nghệ thông tin  
vào quản lý nhà nước. Xây dựng cơ chế tuyển chọn, trọng dụng và sử dụng người tài trong  
các cơ quan nhà nước. Xây dựng hệ thống hành chính công Việt Nam hiện nay theo nguyên  
tắc chuyên nghiệp, thực tài, hiện đại. Việc tuyển dụng và bổ nhiệm công chức phải dựa trên  
cơ sở năng lực. thực tài của từng cá nhân chứ không dựa trên quan hệ thân hữu, đỡ đầu và hối  
lộ (Ngân hàng Thế giới, 2016). Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)  
năm 2017 xác nhận các khoản chi không chính thức và các mối quan hệ cá nhân đóng vai trò  
quan trọng đối với những người muốn theo đuổi và thăng tiến trong sự nghiệp ở khu vực  
công.  
Bốn là, mở rộng và đảm bảo hơn nữa quyền tài sản của công dân thông qua việc xây  
dựng hệ thống pháp luật đáng tin cậy, tự do khế ước, tự do kinh doanh và cạnh tranh, một cơ  
chế đáng tin cậy giúp giải quyết các tranh chấp cũng như một chính quyền minh bạch, mọi  
hành vi can thiệp của chính quyền vào nền kinh tế có thể tiên liệu và có khả năng lường trước  
được.  
Năm là, cần đẩy mạnh việc phân quyền, phân cấp nhưng phải đảm bảo tính hợp lý,  
khoa học giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trên các lĩnh vực ngân  
sách, đầu tư, tài chính, … nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; phát  
huy tính sáng tạo của địa phương. Cần bảo đảm điều kiện về ngân sách và nguồn nhân lực của  
các địa phương khi phân cấp, phân quyền; bảo đảm không chồng chéo nhiệm vụ, thẩm quyền  
giữa các cơ quan. Tuy nhiên, phải thiết lập được cơ chế điều chỉnh mối quan hệ giữa chính  
quyền trung ương và địa phương nhằm kiểm soát quyền lực và làm rõ hơn cơ chế truy cứu  
trách nhiệm.  
Cuối cùng, Sự rõ ràng trong các quy định về nội dung, phạm vi quyền tài sản cùng sự  
thực thi công bằng, nghiêm minh các quy định sẽ góp phần giảm thiểu rủi ra và kích thích các  
hoạt động đầu tư dài hạn, tăng số lượng và mật độ giao dịch, giảm chi phí giao dịch.  
Tꢄi liệu tham khảo  
2021 Index of Economic Freedom [Chỉ số tự do kinh tế]. (n.d.). Retrieved September 20, 2020,  
Acemoglu, D., & Robinson, J. A. (2008). The role of institutions in growth and development.  
commission on growth and development (Working Paper No. 10). World Bank. Retrieved  
Acemoglu, D., & Robison, J. A. (2013). Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc quyền lực,  
thịnh vượng và nghèo đói [Why nations fail: The origins of power, prosperity, and  
power]. Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà xuất bản Trẻ.  
Alesina, A., Özler, S., Roubini, N., & Swagel, P. (1996). Political instability and economic  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
growth. Journal of Economic growth, 1(2), 189-211.  
Báo cáo PCI (2019). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2019 [Vietnam’s  
provincial competitiveness index 2019]. Retrieved October 22, 2020, from  
Barro, R. (1991). Economic growth in a cross section of countries. Quarterly Journal of  
Economics, 106(2),407-443.  
Barro, R. (1996). Democracy and growth. Journal of Economic Growth, 1(1), 1-27.  
Bishop, B. (2018). Liberalising foreign direct investment policies in the APEC region. London,  
UK: Routledge.  
Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2021). Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2021  
[Report on foregin direct investment in 2021]. Retrieved October 12, 2020, from  
Bộ Nội vụ. (2019). Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính 2019 [Public administration reform  
kien/tin-hoat-dong-cua-bo-noi-vu/bao-cao-chi-so-cai-cach-hanh-chinh-par-44318.html  
Chang, H. J. (2011). Institutions and economic development: Theory, policy and  
history. Journal of Institutional Economics, 7(4), 473-498.  
Collins, S., & Bosworth, B. (2003). The empirics of growth: An update. Brookings Papers on  
Economic Activity, 2003(2), 13-206.  
Dixit, A. (2004). Lawlessness and economics: Alternative modes of governance. Princeton, NJ:  
Princeton University Press.  
Dollar, D., & Kraay, A. (2003). Institutions, trade, and growth. Journal of Monetary Economics,  
50(1), 33-162.  
Easterly, W., & Levine, R. (1997). Africa’s growth tragedy: Policies and ethnic divisions. The  
Quarterly Journal of Economics, 112(4), 203-1250.  
Glaeser, E., La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., & Shleifer, A. (2004). Do institutions cause  
growth? Journal of Economic Growth, 9(3), 271-303.  
Greif, A. (2000). The fundamental problem of exchange: A research agenda in historical  
institutional analysis. European Review of Economic History, 4(3), 251-284.  
Hasan, I., Wachtel, P., & Zhou, M. (2009). Institutional development, financial deepening and  
economic growth: Evidence from China. Journal of Banking and Finance, 33(1), 157-  
170.  
Kasper, W., & Streit, M. E. (1999). Institutional economics: Social order and public policy.  
UK: Edward Elgar Publishing.  
Kaufmann, D., & Kraay, A. (2003). Governance and growth: Causality which way? Evidence  
for  
the  
World,  
in  
brief.  
Retrieved  
September  
10,  
2020,  
from  
f
Kaufmann, D., Kraay, A., & Zoido, P. (1999). Governance matters (World Bank Policy  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
Research Working Paper No. 2196). World Bank. Retrieved September 12, 2020, from  
reports/documentdetail/665731468739470954/governance-matters  
Kaufmann, D., Kraay, A.,& Mastruzzi, M. (2010). The worldwide governance indicators:  
Methodology and analytical issues (World Bank Policy Research Working Paper, No.  
5430).  
reports/documentdetail/665731468739470954/governance-matters  
World  
Bank.  
Retrieved  
September  
12,  
2020,  
from  
Knack, S., & Keefer, P. (1995). Institutions and economic performance: Cross-country tests  
using alternative institutional indicators. Economics & Politics, 7(3), 207-227.  
Mehlum, H., Moene, K., & Torvik, R. (2006). Institutions and the resource curse. Economic  
Journal, 116(508), 1-20.  
Ngân hàng Thế giới. (2014). World development indicators. Washington D.C.: The World  
Bank.  
Ngân hàng Thế giới. (2016). Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, bình đẳng và  
dân chủ [ Vietnam 2035: Toward Prosperity, Creativity, Equity, and Democracy].  
Retrieved  
October  
22,  
2020,  
from  
e.pdf  
Nguyen, P. V (2013). Thể chế và tăng trưởng kinh tế: Lý thuyết và thực tiễn [Institution and  
economic growth: Theory and practice]. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 191(5), 23-30.  
North, D. (1990). Institutions, institutional change, and economic performance. New York,  
NY: Cambridge University Press.  
Rodrik, D. (2005). Growth strategies. In P. Aghion & S. Durlauf (Eds.), Handbook of Economic  
Growth (pp. 967-1014). Amsterdam: North-Holland.  
Rodrik, D., Subramanian, A., & Trebbi, F. (2004). Institutions rule: The primacy of institutions  
over geography and integration in economic development. Journal of Economic Growth,  
9(2), 131-165.  
Schotter, A. (1981). The economic theory of social institutions. New York, NY: Cambridge  
University Press.  
Tan, C. (2010). No one true path: Uncovering the interplay between geography, institutions, and  
fractionalization in economic development. Journal of Applied Econometrics, 25(7),  
1100-1127.  
Tổ chức Minh bạch quốc tế. (2019). Chỉ số cảm nhận tham nhũng 2019 [Corruption Perception  
Index  
2019].  
Retrieved  
October  
12,  
2020,  
from  
Trung Tâm Dữ Liệu - Phân Tích Kinh tế -Trường Đại học Kinh tế TP.HCM. (2016). Báo cáo  
dữ liệu phục vụ nghiên cứu. chủ đề: Các nguồn dữ liệu và nghiên cứu về thể chế [Data  
reporting for research topic: Institutional research and data sources]. Retrieved October  
the-che.pdf  
Trần P. K. Toàn, Trương T. Trực. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh, 17(1), ...-...  
UNCTAD. (2018). Báo cáo đầu tư thế giới (World Investment Report). Retrieved October 12,  
Veblen, T. (1994). The theory of the leisure class: An economic study in the evolution of  
institution. New York, NY: Macmillan.  
Woodruff, D. M. (2006). Understanding rules and institutions: Possibilities and limits of game  
theory. Qualitative Methods Newsletter, 4(1), 13-17.  
Word Economic Forum. (2019). Report [Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu]. Retrieved  
Wordwide Goverance Indicator [Chỉ số quản trị toàn cầu]. (n.d.). Retrieved September 15,  
World Bank. (2020). Báo cáo môi trường kinh doanh [Business environment report]. Retrieved  
World Justice Project (2021). World justice project rule of law index 2020. Retrieved  
pdf 16 trang Thùy Anh 14140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thể chế và phát triển kinh tế: Minh chứng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthe_che_va_phat_trien_kinh_te_minh_chung_o_viet_nam.pdf