Tăng cường vai trò của Pháp luật tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đạo đức kinh doanh hiện nay
TS. Lê Thị TUyếT BA
223
TĂNG CƯꢀNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUꢁT
TẠO MÔI TRƯꢀNG THUꢁN LỢI CHO VIỆC XÂY DỰNG
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH HIỆN NAY
TS. Lê Thị TUyếT BA
Trưꢀng Đꢁi hꢂc Kinh tꢃ, Đꢁi hꢂc Đꢄ Nꢅng
TꢀM TꢁT
Vꢂn đꢃ đạo đức nꢄi chung, đạo đức kinh doanh nꢄi riêng đang trở thꢅnh mꢆi
quan tâm cꢇa toꢅn xꢈ hꢉi. Đꢆi vꢊi Viꢋt Nam, viꢋc phꢌi tăng cưꢍng vai trꢎ cꢇa phꢏp
luꢐt để tạo môi trưꢍng thuꢐn lꢑi cho sꢒ hꢓnh thꢅnh vꢅ phꢏt triển đạo đức kinh doanh
đꢈ trở thꢅnh mꢉt trong nhꢔng vꢂn đꢃ cꢂp thiꢕt. Trong khuôn khổ bꢅi viꢕt nꢅy, tꢏc giꢌ
muꢆn lꢅm rõ thêm mꢆi quan hꢋ giꢔa đạo đức vꢅ phꢏp luꢐt, sꢒ tꢏc đꢉng cꢇa phꢏp luꢐt
đꢕn đꢍi sꢆng xꢈ hꢉi, đặc biꢋt lꢅ đꢍi sꢆng đạo đức. Viꢋc thể chꢕ hꢄa đưꢍng lꢆi chính
sꢏch cꢇa Đꢌng thꢅnh phꢏp luꢐt mꢉt cꢏch đꢖng đắn, kꢗp thꢍi, cꢄ tính khoa học- thꢒc
tiꢘn cao cꢄ ꢙ nghꢚa trong viꢋc ổn đꢗnh xꢈ hꢉi, phꢏt triển kinh tꢕ đồng thꢍi gꢄp phần
vꢅo viꢋc đꢃ ra vꢅ thꢒc hiꢋn nhꢔng nguyên tắc, chuẩn mꢒc, giꢏ trꢗ đạo đức để hꢓnh
thꢅnh nhꢔng phẩm chꢂt mꢊi cꢇa ngưꢍi Viꢋt Nam. Vꢓ vꢐy, viꢋc nâng cao vai trꢎ, hiꢋu
quꢌ phꢏp luꢐt không chỉ lꢅ nhằm để lꢐp lại trꢐt tꢒ, kỷ cương xꢈ hꢉi mꢅ cꢎn tạo môi
trưꢍng thuꢐn lꢑi cho viꢋc hꢓnh thꢅnh vꢅ phꢏt triển đạo đức mꢊi, trong đꢄ cꢄ đạo đức
kinh doanh.
Tꢀ khꢁa: Đꢂo đꢃc, phꢄp luꢅt, đꢂo đꢃc kinh doanh, kinh tꢆ thꢇ trưꢈng, ꢉ thꢃc phꢄp
quyꢊn
rong quá trình phát triển của lịch của giai cấp cầm quyền. Trên thực tế, có rất
sử nhân loại, cùng với Nhà nước,
pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh
hành vi con người và các mối quan hệ xã hội.
Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp
luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của
Nhà nước.
nhiều vấn đề thuộc phạm vi đạo đức được
pháp luật can thiệp, dùng sức mạnh của pháp
luật để bảo vệ đạo lý, bảo vệ chính nghĩa.
Điều này được phản ánh đầy đủ trong các bộ
luật của Nhà nước như Luật dân sự, Luật hình
sự hay Luật hôn nhân và gia đình, v.v…Tuy
nhiên, không phải tất cả các mối quan hệ đạo
đức đều có sự can thiệp của pháp luật. Pháp
luật chỉ thực sự có vai trò và ảnh hưởng quyết
định đối với một số lĩnh vực, còn các lĩnh vực
tình cảm, niềm tin bên trong hay lương tâm,
danh dự hoặc nỗi bất hạnh của con người thì
pháp luật cũng trở nên bất lực. Nghĩa là, trong
hệ thống các mối quan hệ xã hội, có nhiều
T
Giữa pháp luật và đạo đức luôn có mối
quan hệ và tác động qua lại, bổ sung cho nhau
trong quá trình điều chỉnh hành vi của con
người. Đó là mối quan hệ giữa hai hình thái ý
thức xã hội cùng hướng tới mục tiêu chung là
bảo vệ cho lẽ phải, cho sự công bằng, công lý
và đạo lý làm người trong xã hội. Tất nhiên,
điều này có liên quan đến vận mệnh của đất
nước, của dân tộc và tùy thuộc vào quyền lợi nhóm quan hệ là đối tượng điều chỉnh chung
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
224
của cả pháp luật và đạo đức nhưng cũng có
Trong lịch sử, Nho giáo đã từng lấy đạo
nhiều mối quan hệ xã hội chỉ có thể là đối đức để răn dạy con người và từ đó ổn định xã
tượng điều chỉnh hoặc của pháp luật, hoặc hội. Nho giáo quan niệm đức là gốc của con
của đạo đức mà thôi.
người, nói đến con người là nói đến đạo đức.
Theo Khổng Tử, làm người trước hết phải
có đức và phải luôn luôn tu dưỡng đức. Đức
không chỉ là thiện đức, là đức hạnh mà còn là
lẽ sống, là biểu hiện sự tồn tại với tư cách con
người.. Khổng Tử không tách rời đạo đức với
chính trị mà đã “đạo đức hóa chính trị”. Và tất
cả triết lý chính trị của ông gồm trong danh từ
“đức trị”, mà danh từ này có nghĩa là “người
trị dân, phải trị dân bằng đức chứ không bằng
bạo lực…”. Với chủ trương đức trị, Nho giáo
coi đức trị là Vương đạo. Thực chất của đức
trị là đòi hỏi người trị dân phải có đức, quản
lý xã hội bằng đức, phải nêu gương, cảm hóa,
làm cho dân an tâm mà giữ đúng đạo làm
người. Bản thân những nhà Nho thanh cao, có
đạo đức, giàu tình nghĩa, những gia đình gia
giáo, ấm êm, hòa thuận thực sự cần thiết cho
một xã hội ổn định và phát triển. Tuy nhiên,
bên cạnh những ảnh hưởng to lớn đối với đời
sống xã hội, Nho giáo cũng có những mặt hạn
chế, tiêu cực và bảo thủ.
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
là mối quan hệ cùng song hành, “mối quan
hệ bổ sung cho nhau, “giúp đỡ” lẫn nhau
trong quá trình điều chỉnh hành vi của con
người”[1]. Để nâng cao vai trò của đạo đức
thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và
ý thức pháp quyền. Pháp luật càng chặt chẽ,
càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh
thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều
chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở
rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện đến
mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người với xã hội và
với môi trường tự nhiên.
Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với
giai cấp cầm quyền. Trong xã hội có phân
chia và đối kháng giai cấp, Nhà nước của
giai cấp thống trị là người đại diện cho một
bộ phận, cho một thiểu số bóc lột nên pháp
luật chủ yếu là nhằm bảo vệ lợi ích cho giai
cấp cầm quyền. Hoạt động của đời sống xã
hội được đưa vào trong khuôn khổ pháp luật
cũng nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp cầm
quyền. Trên thực tế, pháp luật của những Nhà
nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại
thì thường phù hợp với xu hướng tiến bộ vì
nó bao hàm những chuẩn mực, những quy
định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm
giá con người. Đương nhiên, pháp luật trong
xã hội này cũng sẽ được xây dựng trên cơ sở
Đối lập với chủ trương đức trị là tư tưởng
pháp trị. Thực tế cho thấy, đã từng có những
vị vua dùng pháp luật để cai trị đất nước. Phép
trị nước theo đường lối pháp trị với những
chính sách thiết thực, thưởng phạt phân minh
đã đưa xã hội đi vào cuộc sống có quy củ, vận
hành theo khuôn khổ của phép nước. Song,
trong cuộc sống, không phải tất cả mọi mối
quan hệ xã hội, mọi hành vi của cá nhân đều
có nhu cầu được điều chỉnh bằng pháp luật.
khuyến thiện, trừ ác, tạo điều kiện cho sự phát và, nếu chỉ “dựa vào pháp luật để trị dân, sử
dụng hình phạt để chỉnh đốn dân thì họ tạm
thời khỏi bị phạm tội nhưng lại không có liêm
sỉ” (Khổng Tử). Trên thực tế, pháp luật chỉ có
vai trò điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản và
phổ biến. Cho nên, cả tư tưởng đức trị và tư
tưởng pháp trị thời phong kiến, bên cạnh mặt
tích cực, đều có tích chất phiến diện. Thực
ra, những tư tưởng ấy chỉ là những biện pháp
khác nhau của các thế lực thống trị nhằm
triển, tiến bộ của con người và cộng đồng.
Ngược lại, nếu pháp luật của Nhà nước gắn
với giai cấp đang suy tàn, không còn vai trò
lịch sử thì thường chứa đựng yếu tố trì trệ,
bảo thủ, đi ngược lại lợi ích chân chính của
con người. Trong trường hợp như vậy, pháp
luật sẽ không phản ánh được những yêu cầu
đạo đức tiến bộ, phù hợp với xu hướng phát
triển khách quan của thời đại.
TS. Lê Thị TUyếT BA
225
củng cố địa vị và quyền lực của mình. Bởi chất đánh giá tốt - xấu, đúng - sai, cao thượng
vì, không thể có đức trị khi giới cầm quyền
sống xa hoa, hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt
và xương máu của nhân dân. Tương tự như
vậy, cũng không thể có pháp trị theo đúng
nghĩa nếu như giới cầm quyền sẵn sàng dùng
mọi thủ đoạn tàn bạo để đàn áp nhân dân, coi
rẻ tính mạng của người dân và bất chấp cả
những quy định của luật pháp.
- thấp hèn…và tồn tại bất thành văn. Mọi sự
vi phạm về đạo đức sẽ bị dư luận xã hội lên
án chứ không có sự trừng phạt bằng một hình
thức cưỡng chế nào. Trong khi đó, pháp luật
“không chỉ đánh giá và chủ yếu không phải
để đánh giá tính chất của hành vi mà làm
chuẩn mực lý tưởng và bắt buộc cho hành vi.
Pháp luật hiện đại tồn tại chủ yếu dưới dạng
thành văn, mang dấu hiệu quyền lực chính trị,
thể hiện ý chí của giai cấp và được bảo đảm
thực hiện bằng sự cưỡng chế Nhà nước” [3].
Mặc dù khác nhau về phương thức tồn tại và
hình thức tác động nhưng cả pháp luật và đạo
đức đều là những quy phạm được sử dụng để
điều chỉnh hành vi con người và các mối quan
hệ xã hội.
Trong xã hội không còn đối kháng về mặt
giai cấp, Nhà nước là người đại diện cho nhân
dân lao động quản lý và điều hành tất cả mọi
hoạt động của đời sống xã hội. Cho nên, hoạt
động của Nhà nước và hệ thống pháp luật tự
bản thân nó đã bao hàm trong đó ý nghĩa đạo
đức. Đồng thời, pháp luật đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc bảo vệ nền đạo
đức của xã hội. Có thể nói rằng, pháp luật lꢄ
phương tiện không thể thiꢃu được cho sự tồn
tꢁi bình thưꢀng của xã hội nói chung vꢄ nền
đꢁo đức nói riêng. Việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội bằng pháp luật là phương thức điều
chỉnh thông qua các nguyên tắc, điều luật,
các quy định có phạm vi và hiệu quả rõ rệt.
Bởi vì, pháp luật được Nhà nước ban hành
và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng
chế. Nói đúng hơn, “pháp luật bao giờ cũng
là một trong những biện pháp để khẳng định
một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói
quen. Chuẩn mực càng khó khẳng định bao
nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng
bấy nhiêu. Vì vậy, không thể buông lỏng pháp
luật nếu việc này chưa được chuẩn bị bằng sự
tiến bộ đạo đức của xã hội”[2]. Cùng với sự
phát triển của xã hội thì các mối quan hệ ngày
càng đa dạng và phong phú hơn. Pháp luật
càng có vai trò quan trọng hơn trong việc giữ
gìn trật tự của các quan hệ xã hội và tạo điều
kiện cho sự phát triển của các quan hệ xã hội
theo một hướng nhất định.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và quá
trình toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, yêu
cầu đặt ra đối với pháp luật là phải tác động
tích cực đến đạo đức của xã hội. Nền kinh
tế thị trường đòi hỏi mỗi cá nhân trong hoạt
động của mình phải tính toán chặt chẽ những
điều kiện khách quan và hiệu quả kinh tế. Khi
đời sống kinh tế xã hội đã và đang có những
chuyển biến lớn, thì quan hệ giữa con người
với con người không chỉ là “mối quan hệ trực
tiếp, cảm tính, chủ yếu vẫn bị chi phối bởi
những nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát
triển ưu trội về đạo đức” [4] mà còn cần phải
có sự bổ sung tính kinh tế, tính hiệu quả, tính
pháp lý vào những chuẩn mực, những quan
niệm, những giá trị và vào cả việc đánh giá
đạo đức.
Đối với Việt Nam, việc phải tăng cường
vai trò của pháp luật để tạo môi trường thuận
lợi cho sự hình thành và phát triển đạo đức
kinh doanh đã trở thành một trong những vấn
đề cấp thiết. Đã đến lúc cần phải hình thành
và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời xã
hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo
cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý
pháp lý và khoa học. Quan niệm về chuẩn giá
trị và đánh giá đạo đức ngày càng mang tính
Quan hệ giữa đạo đức và pháp luật là mối
quan hệ qua lại, bổ sung lẫn nhau trong quá
trình điều chỉnh hành vi con người. Đối với
đạo đức đó là những quy chuẩn mang tính
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
226
khách quan và duy lý. Sự điều chỉnh xã hội lĩnh hơn trong đấu tranh vì công bằng và lẽ
phải; biết trân trọng và hướng tới cái đúng,
cái tốt và cái đẹp. Có thể nói rằng, sự điều
chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân vꢄ xã hội từ
chỗ chủ yꢃu bằng đꢁo đức chuyển sang điều
chỉnh chủ yꢃu bằng pháp luật lꢄ một trong
những yêu cầu quan trꢂng trong đꢀi sống xã
hội. Bởi vì, sự gắn bó giữa pháp luật và đạo
đức, việc hình thành ý thức pháp luật của mỗi
công dân là điều kiện để nâng cao nhận thức
đạo đức và năng lực thực hiện những nhu cầu
đạo đức của mối cá nhân, là cơ sở để phát
triển đạo đức của xã hội, trong đó có đạo đức
kinh doanh.
bằng pháp luật đã làm cho mỗi thành viên
trong xã hội đều có thể tự do phát huy mọi
khả năng sáng tạo của mình. Với ý nghĩa đó,
việc quản lý xã hội bằng pháp luật và nâng
cao hiệu lực thi hành pháp luật sẽ là cơ sở xã
hội quan trọng cho sự phát triển đạo đức kinh
doanh hiện nay.
Đạo đức kinh doanh là vấn đề khá mới
ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra
nhiều ý kiến với nhiều góc nhìn khác nhau.
Đạo đức kinh doanh được hiểu là một tập hợp
các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều
chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành
vi của các chủ thể kinh doanh. Nói cách khác,
trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, chủ thể
kinh doanh luôn trung thực, giữ chữ tín với
khách hàng, tôn trọng pháp luật, tôn trọng
môi trường… là cách thức kinh doanh có đạo
đức hay có thể gọi là đạo đức kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù, là một
dạng đạo đức nghề nghiệp, luôn chịu sự chi
phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức
xã hội nói chung.
Cả pháp luật và đạo đức đều góp phần
bảo vệ các giá trị chân chính, đều liên quan
đến hành vi và đụng chạm đến lợi ích của
con người và xã hội. Pháp luật tham gia vào
việc điều chỉnh quan hệ xã hội bằng những
quy phạm, điều khoản quy định các quyền và
nghĩa vụ của chủ thể. Các quy phạm pháp luật
quy định chi tiết các hành vi được phép và
hành vi bị cấm đoán. Đồng thời, chúng còn
nêu cụ thể cách cư xử lẫn những hình phạt sẽ
áp dụng nếu chủ thể vi phạm. Nhận thức được
tầm quan trọng của luật pháp, cho nên lúc
sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cập
và coi trọng vai trò của pháp luật trong điều
hành và quản lý xã hội. Theo Người, pháp
luật luôn chi phối, chỉ đạo mọi hành vi, mọi
hoạt động của bộ máy và cơ quan nhà nước;
còn môi trường pháp lý thì luôn bao trùm mọi
mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngay
từ những ngày đầu lập nước cho đến sau này,
trong quá trình giữ nước, Hồ Chủ tịch luôn
quan tâm đến vai trò của pháp luật. Người
đã từng chủ trương sửa đổi, ban hành hiến
pháp phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.
Người quan niệm: một khi điều kiện kinh tế
- xã hội thay đổi thì pháp luật, đặc biệt là các
đạo luật gốc – Hiến pháp cũng phải thay đổi
để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các
quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình trong
quá trình phát triển. Điều đó đã góp phần lý
giải tại sao từ năm 1945 đến 1969, ngoài hai
bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm
Công cuộc đổi mới đất nước diễn ra trong
điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ. Thực tế đó luôn
đòi hỏi và thúc đẩy nâng cao trình độ dân trí,
trình độ đào tạo cho lực lượng lao động và xã
hội hóa tri thức khoa học. Cho nên, trình độ
nhận thức của mỗi cá nhân và của toàn xã hội
cũng được nâng lên làm cho trình độ phản
ánh và khả năng điều chỉnh của đạo đức cũng
biến đổi và phát triển. Sự biến đổi đó được
biểu hiện ở tính duy lý cao hơn trong việc
đánh giá, lựa chọn những giá trị và chuẩn
mực đạo đức. Nói cách khác, con người
Việt Nam đã dần chuyển từ thói quen theo
“lệ” sang ý thức tuân thủ theo luật. Mọi hoạt
động của cá nhân và xã hội đang dịch chuyển
từ cách ứng xử duy cảm, duy tình sang lối
ứng xử “có lý có tình”, trong khuôn khổ “kỷ
cương, tình thương và trách nhiệm”. Mỗi con
người trong hoạt động của mình đã có ý thức
hơn trong việc tôn trọng pháp luật, có bản
TS. Lê Thị TUyếT BA
227
1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “chỉ đạo soạn
thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và
1300 văn bản dưới luật”.
bên trong hoặc bởi sự cắn rứt của lương tâm.
Sự khác biệt nhưng lại thống nhất này là cơ
sở bổ sung và hỗ trợ cho nhau giữa đạo đức
và pháp luật.
Thực tế những năm vừa qua ở nước ta, hệ
thống pháp luật và việc thi hành pháp luật
đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã
hội. Có thể nói rằng, những quy định trong
Hiến pháp, những đạo luật và những văn bản
dưới luật luôn “đề cao tính nhân đạo và nhân
văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của
nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân
làm chủ [5]. Nói đúng hơn, đó là hệ thống
pháp luật phục vụ cho việc thực thi các lợi ích
cơ bản của con người, mà đạc biệt là lợi ích
của người lao động. Vì vậy, các nguyên tắc
định hướng cho việc xây dựng nội dung của
hệ thống pháp luật như công bằng, nhân đạo,
vì sự phát triển tiến bộ của con người và xã
hội cũng chính là những nguyên tắc, những
chuẩn mực đạo đức cơ bản mà nhân loại tiến
bộ đã, đang và sẽ hướng tới. Do đó, pháp luật
sẽ góp phần rất lớn trong việc hình thành ý
thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm
chung và giúp con người sẽ có những hành vi
ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng
phát triển tiến bộ của thời đại.
Trên thực tế, pháp luật là công cụ định
hướng hành vi và điều chỉnh các quá trình
xã hội, ngoài ra, pháp luật còn phản ánh các
quy luật khách quan, các giá trị mà con người
đạt được trong cuộc sống. Từ trước đến nay,
trong hệ thống văn bản pháp luật của nước ta,
kể cả Hiến pháp, các bộ luật và văn bản dưới
luật thường có nhiều quy phạm pháp luật ghi
nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo
đức được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh
cưỡng chế bởi các cơ quan pháp luật của Nhà
nước. Đặc biệt, trong Hiến pháp năm 1992
của nước ta đã từng nhấn mạnh: “Nhà nước
bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm
chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và
của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh,
thực hiện công bằng xã hội, mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện”[6]. Hiến pháp cũng
đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân. Trong việc xử lý mối quan hệ
giữa quyền và nghĩa vụ, Hiến pháp vừa thể
hiện các quyền, lợi ích của công dân nhưng
cũng quy định rõ các nghĩa vụ mà người dân
phải thực hiện trên cơ sở đường lối chính sách
của Đảng và đạo lý truyền thống của dân tộc.
Cho nên, Hiến pháp khẳng định: “Bảo vệ Tổ
quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao
quý của công dân” và quy định: “Công dân
phải trung thành với Tổ quốc, phản bội Tổ
quốc là tội lớn nhất”[7]. Ngoài ra, các bộ luật
như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật hôn
nhân và gia đình, Luật bảo vệ và chăm sóc
trẻ em…đều được xây dựng trên cơ sở những
nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Vì vậy, có thể nhấn
mạnh rằng, pháp luật vừa là công cụ hữu hiệu
trong việc bảo tồn những giá trị truyền thống,
vừa góp phần bồi đắp nên những giá trị mới,
trong đó có đạo đức kinh doanh.
Pháp luật thực hiện điều chỉnh mối quan
hệ giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc,
cưỡng chế từ bên ngoài. Có thể coi pháp luật
là một bước phát triển cao hơn của đạo đức,
góp phần điều chỉnh những quan hệ cơ bản và
quan trọng nhất liên quan tới lợi ích và vận
mệnh quốc gia. Pháp luật có tính bao quát,
toàn diện và giúp nhà cầm quyền cai trị trên
một diện rộng, đồng thời, nó còn có khả năng
chuẩn bị cho những cái mới trong tương lai.
Trên thực tế, một hệ thống pháp luật đầy đủ,
đồng bộ sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển, đẩy lùi các tệ nạn, các hiện tượng
tiêu cực để ổn định xã hội. Vì vậy, pháp luật
còn có thể được coi là một trong những yếu
tố quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển
tiến bộ của một quốc gia. Trong khi đó, đạo
đức lại điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư
luận xã hội, bằng sự giác ngộ, sự thôi thúc từ
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
228
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở
nước ta còn kém phát triển, một bộ phận nhân
dân ít hiểu biết về pháp luật cộng với những
bất cập của hệ thống pháp luật đã dẫn đến tình
trạng vi phạm kỷ cương xã hội, coi thường
pháp luật. Không ít những trường hợp khi
tham gia thị trường đã vì lợi nhuận mà bất
chấp tất cả, coi thường đạo lý, vi phạm pháp
luật, làm đảo lộn các giá trị đạo đức. Hiện
tượng buôn lậu, trốn thuế; nạn làm hàng giả,
buôn bán hàng giả đang ngày càng có chiều
hướng gia tăng. Nhiều người vì đồng tiền, vì
lợi nhuận mà bất chấp cả tính mạng người
tiêu dùng; tàn phá môi trường; lừa đảo cả
đối tác của mình bằng những hành vi rất xảo
quyệt và phi nhân… Những biểu hiện xuống
cấp và suy thoái đạo đức, hiện tượng xa hoa,
lãng phí trong một bộ phận dân cư đang là nỗi
bất bình của toàn xã hội. Thực tế nhức nhối
đó chắc chắn là do nhiều nguyên nhân, trong
đó có phần do pháp luật chưa đầy đủ hoặc
thiếu chặt chẽ và việc thi hành pháp luật còn
chưa nghiêm, chưa công bằng và hiệu quả.
Trong hoàn cảnh như vậy, đòi hỏi luật pháp
phải tỏ rõ sức mạnh của mình để lập lại trật tự
kỷ cương. Bởi vì, “nếu đạo lý không đủ mạnh
để thuyết phục thì pháp lý phải ra tay. Nếu dư
luận xã hội chưa đủ độ để lên án thì luật pháp
phải kết án”[8].
rõ ràng có phần đóng góp to lớn của hệ thống
pháp luật. Phải thừa nhận rằng, những năm
vừa qua, pháp luật đã góp phần đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế, duy trì và tạo được
một số chuyển biến khả quan về mặt xã hội.
Pháp luật cũng đã góp phần không nhỏ trong
việc củng cố tiềm lực quốc phòng, giữ vững
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp
phần vào việc cải cách một bước nền hành
chính quốc gia, đồng thời đưa nước ta từng
bước hội nhập khu vực và thế giới. Chúng ta
cũng đang từng bước xây dựng, sửa đổi, bổ
sung hệ thống pháp luật. Nhiều văn bản pháp
luật và dưới luật được ban hành và đang đi
vào cuộc sống, đáp ứng được nguyện vọng
của đông đảo quần chúng nhân dân, được
quần chúng hoan nghênh, đồng tình đón nhận
và nghiêm túc thực hiện. Công cuộc đổi mới
càng đi vào chiều sâu, càng nảy sinh nhiều
vấn đề phức tạp. Cho nên, việc thể chế hóa
đường lối chính sách của Đảng thành pháp
luật một cách đúng đắn, kịp thời, có tính khoa
hoc – thực tiễn cao không những có ý nghĩa
trong việc ổn định xã hội, phát triển kinh tế
mà còn góp phần vào việc đề ra và thực hiện
những nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo
đức để hình thành những phẩm chất mới của
người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Có
thể nói rằng, việc ban hành Hiến pháp năm
1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung (2011) và
hàng loạt các văn bản pháp luật mới để thể
chế hóa đường lối chủ trương của Đảng một
cach kịp thời, trên thực tế đã và đang thúc đẩy
việc xây dựng các quan hệ xã hội ngày càng
lành mạnh ở nước ta. Điều đó càng khẳng
định một thực tế là, nếu như pháp luật ngày
một hoàn thiện hơn, hoạt động tuyên truyền
pháp luật được phổ biến rộng rãi hơn thì ý
thức pháp luật sẽ được nâng cao hơn và định
hướng hành vi cho mọi công dân sẽ tốt hơn.
Những năm gần đây, các cơ quan chức
năng đã có nhiều nỗ lực trong việc thanh tra,
khám phá và đưa ra xét xử công khai nhiều
vụ trong án, đã kiên quyết trừng trị thích đáng
những kẻ phạm tội, thu về cho Nhà nước một
lượng tài sản không nhỏ. Việc đưa ra ánh sáng
và xử lý nghiêm khắc nhiều vụ án điển hình
không những được quần chúng hoan nghênh,
dư luận xã hội đồng tình ủng hộ cái đúng,
cái thiện, lên án cái sai, bài trừ cái ác mà còn
chứng tỏ vai trò vô cùng quan trọng của luật
pháp trong việc bảo vệ nền đạo đức và lành
mạnh hóa đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế hệ thống pháp luật
của Nhà nước ta vẫn còn thiếu những quy
định cần thiết trong lĩnh vực quản lý kinh tế
và các quy định về quyền cơ bản của công
dân.. Việc tăng cường hiệu lực pháp luật trong
Công cuộc đổi mới ở nước ta đang ngày
càng có những chuyển biến tích cực. Tình
hình chính trị - xã hội về cơ bản là ổn định,
TS. Lê Thị TUyếT BA
229
quản lý đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống
tinh thần vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó,
việc phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được
chú trọng nếu không nói là còn bị xem nhẹ.
Trước đây, Hồ Chủ tịch luôn nhắc nhở rằng,
hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi
người đều nghiêm chỉnh chấp hành. Để pháp
luật được thực thi trong đời sống xã hội thì
phải chú trọng giáo dục pháp luật một cách
thường xuyên và rộng rãi trong quần chúng.
Nghĩa là, phải làm cho pháp luật đến được
với dân, với tất cả mọi đối tượng. Pháp luật
phải “đi vào giữa dân gian” để cho mọi người
dân đều biết luật, tôn trọng luật và có ý thức
làm đúng luật. Những năm vừa qua ở nước ta,
tình trạng vi phạm pháp luật có chiều hướng
gia tăng là do nhiều nguyên nhân, trong đó
không thể không nói đến công tác giáo dục
pháp luật. Trong điều kiện ở nước ta khi trình
độ dân trí còn thấp, văn hóa chính trị, văn hóa
pháp luật còn hạn chế thì việc tuyên truyền,
giáo dục pháp luật càng trở nên hết sức cần
thiết.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
căn dặn: pháp luật của ta là pháp luật dân
chủ, pháp luật không phải là để trừng trị con
người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích
của con người. Đáng tiếc là trong đời sống
xã hội ở nước ta vẫn còn một bộ phận trong
dân chúng coi pháp luật là sự trói buộc mình
nên đã có tâm lý trốn tránh pháp luật. Thực
tế đó cũng đã góp phần làm cho việc thực thi
pháp luật càng trở nên phức tạp hơn và ít hiệu
quả hơn. Ngoài ra, sự bất cập trong hoạt động
của một số cơ quan bảo vệ pháp luật, sự yếu
kém trong lĩnh vực thực hiện đã có ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả pháp luật. Sự sơ hở
trong quản lý kinh tế đã đẻ ra những kẻ sống
phè phỡn trên sự bất công, làm cho xã hội
ngày càng phân hóa rõ rệt và tệ hơn là những
hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức ngày càng
có đà sinh sôi nảy nở. Đội ngũ cán bộ trực
tiếp thực thi luật pháp không những còn hạn
chế về chuyên môn mà còn chưa thực sự công
tâm, nghiêm minh và gương mẫu trong việc
chấp hành pháp luật cộng với tình trạng pháp
luật bị buông lỏng đã tạo điều kiện cho những
hiện tượng phản đạo đức xuất hiện và lây lan
nhanh chóng, gây ảnh hưởng xấu đến việc
xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh và
tiến bộ.
Không những lơi lỏng trong công tác giáo
dục pháp luật mà công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát việc thi hành luật của các cơ quan
chức năng còn nhiều bất cập. Trên thực tế,
nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một
nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, lạc
hậu lại trải qua nhiều năm chiến tranh, cho
nên những kinh nghiệm xây dựng hệ thống
pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật
còn nhiều hạn chế. Tâm lý tiểu nông, thói
quen của người làm nông nghiệp, sản xuất
nhỏ lẻ, phân tán, tự cấp, tự túc và tự do lại
chưa hề trải qua nền dân chủ tư sản nên đại đa
số nhân dân chưa có được ý thức pháp luật,
thậm chí còn mang nặng tư tưởng “phép vua
thua lệ làng”. Điều đó đã góp phần lí giải tại
sao trong đời sống xã hội vẫn còn không ít
người chưa có thói quen sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật. Cá biệt ở một số
địa phương, không chỉ là người dân mà cả đội
ngũ cán bộ cơ sở vẫn còn coi trọng tập tục, “lệ
làng” hơn pháp luật của Nhà nước.
Pháp luật không loại trừ một ai và không
phân biệt đối xử với bất kỳ ai. Đứng trước
pháp luật thì mọi công dân đều có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau. Nói đúng hơn, pháp
luật không chỉ có giá trị ràng buộc đối với
công dân mà còn đối với cả giới cầm quyền,
đối với người bị quản lý và cả người quản lý.
Pháp luật là công cụ hữu hiệu “nhằm ngăn
chặn, đẩy lùi cái xấu, cái ác, khuyến khích,
nâng đỡ, phát huy cái tốt, cái thiện vốn có
trong mỗi con người, chứ không đơn thuần
trừng phạt, răn đe”[9]. Cho nên, trong cuộc
đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở: pháp luật không chỉ
dừng lại ở các quyền con người được ghi
trong các văn bản mà phải thấm đượm lòng
nhân ái, “nghĩa đồng bào”, phải thể hiện sự
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
230
quan tâm, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc bất bình cho dân chúng. Trên thực tế, vẫn còn
của nhân dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nếu vi phạm pháp luật mà không xử phạt là
không đúng, song cái gì cũng trừng phạt cả
thì cúng là không đúng. Nghĩa là, không nên
quá lạm dụng pháp luật. Việc thực thi pháp
luật là nhằm đi đến một xã hội có trật tự kỷ
cương, văn minh, tiến bộ vì con người và cho
con người. Do đó, tính nghiêm minh và hiệu
lực của pháp luật không chỉ phụ thuộc vào sự
đúng đắn, công tâm của pháp luật mà trong
quan hệ thực tế còn phụ thuộc vào cái tâm của
chính người đại diện cho pháp luật và thực
thi pháp luật. Với ý nghĩa như vậy thì rõ ràng
pháp luật và việc thực thi pháp luật là môi
trường nuôi dưỡng và phát triển các giá trị
đạo đức, kể cả đạo đức kinh doanh.
tình trạng kẻ phạm pháp nhưng lại sống nhởn
nhơ ngoài vòng pháp luật hoặc chưa bị pháp
luật trừng trị một cách thích đáng. Điều đó
đã góp phần làm giảm sút lòng tin của quần
chúng vào pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi
cho những hành vi phạm pháp và những hiện
tượng phản đạo đức, phản luân lý. Cho nên,
một nền đꢁo đức tiꢃn bộ không thể không dựa
trên sự hình thꢄnh một đꢁo luật đúng đắn,
chặt chẽ vꢄ toꢄn diện. Ngược lꢁi, pháp luật lꢄ
điều kiện không thể thiꢃu cho sự tồn tꢁi của
đꢁo đức.
Vì vậy, việc nâng cao vai trò, hiệu quả
pháp luật không chỉ là nhằm để lập lại trật
tự, kỷ cương xã hội mà còn tạo môi trường
thuận lợi cho việc hình thành và phát triển
đạo đức mới, trong đó có đạo đức kinh doanh.
Nghĩa là, cùng với quá trình xây dựng và phát
triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh hội
nhập, chúng ta phải biết kế thừa, phát huy và
đổi mới những giá trị truyền thống của dân
tộc, đồng thời phải biết tiếp nhận và nuôi
dưỡng những giá trị mới được bổ sung trong
sự phát triển của thế giới ngày nay. Để làm
được điều đó, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành
một cách đồng bộ nhiều biện pháp quan trọng
cùng với việc đổi mới và hoàn thiện nhà nước
Hiện nay trong đời sống xã hội nước ta,
vẫn còn ý thức, tâm lý thờ ơ với pháp luật,
thiếu tin tưởng vào pháp luật của một bộ phận
nhân dân. Tình trạng vi phạm pháp luật đang
có chiều hướng gia tăng một phần là do ý thức
pháp luật của người dân còn hạn chế. Nhiều
người coi pháp luật là sự trói buộc chứ chưa
có ý thức tự giác. Việc chấp hành pháp luật
nhiều khi và nhiều nơi chỉ vì sợ bị trừng phạt
chứ không phải vì trách nhiệm, nghĩa vụ công
dân. Ngoài ra, việc xét xử thiếu nghiêm minh,
công bằng, xét xử không đúng người, đúng
tội, nhiều trường hợp oan sai đã gây không ít theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền.
TꢀI LIꢁU ThAM KhꢂO
[1] Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995). Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật.
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 152
[2] G.Bandzeladze (1985) Đạo đức học, tập I. Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 177
[3] Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Sđd, tr 152
[4] Phạm Thị Ngọc Trầm (1995) Bước chuyển đổi và mối quan hệ giữa các giá trị “chân” và “thiện” trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Tạp chí triết học Số 1, tr 25
[5] Tô Huy Rứa 2005). Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân. Tạp chí Cộng sản, Số 22, tr 24
[6] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (1992). Nxb Sự thật – Nxb Pháp lý, Hà
Nội, tr 13
[7] Hiến pháp (1992) , Sđd, tr 38
[8] Nhị Lê (1999) Đạo lý. Tạp chí Cộng sản, số 13, tr 55
[9]Tô Huy Rứa (2005), Sđd, tr 26
Bạn đang xem tài liệu "Tăng cường vai trò của Pháp luật tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đạo đức kinh doanh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tang_cuong_vai_tro_cua_phap_luat_tao_moi_truong_thuan_loi_ch.pdf

