Tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và niềm tin với thương hiệu đến trung thành thương hiệu: Vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Journal of Finance – Marketing; Vol. 66, No. 6; 2021  
ISSN: 1859-3690  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
IMPACTS OF BRAND EXPERIENCE, BRAND SATISFACTION AND  
BRAND TRUST WITH BRAND LOYALTY: MEDIATE ROLE OF BRAND LOVE  
Nguyen i oa1*, Tieu Van Trang1, Vu i Tinh1, Do i Tuyet Nga1, Nguyen i Minh Ngoc1  
1University of Finance – Marketing  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
DOI:  
Brandloyaltyofcustomersplaysimportantroleinthesuccessofenterprises.  
Based on the theory of customer and brand relationship, authors analyzed  
impacts of brand experience, brand satisfaction, brand trust, and brand  
love on brand loyalty. e structural equation model was used to verify the  
proposed hypotheses by analyzing the data of 250 people who use cosmetic  
products in Hochiminh city. Results of the study proved the importance  
of brand experience, brand satisfaction, brand trust in building brand love,  
and brand loyalty. In practice, enterprises should increase opportunities  
to experience products of consumers, specifically, customers can try  
enterprises’ products. Moreover, enterprises should build a community  
of users in order to permit users to share their feelings with enterprises’  
products.  
10.52932/jfm.vi66.222  
Received:  
March 01, 2021  
Accepted:  
April 22, 2021  
Published:  
December 25, 2021  
Keywords:  
Brand experience;  
Brand satisfaction;  
Brand trust;  
Brand love;  
Brand loyalty.  
*Corresponding author:  
Email: nguyenthoaufm@gmail.com  
42  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
TÁC ĐỘNG CỦA TRẢI NGHIỆM THƯƠNG HIỆU, SỰ HÀI LÒNG  
VÀ NIỀM TIN VỚI THƯƠNG HIỆU ĐẾN TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU:  
VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG HIỆU  
Nguyễn ị oa1*, Tiêu Vân Trang1, Vũ ị Tình1, Đỗ ị Tuyết Nga1, Nguyễn ị Minh Ngọc1  
1Trường Đại học Tài chính – Marketing  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:  
Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng đóng vai trò quan trọng  
cho sự thành công của doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết xây dựng thương  
hiệu, nhóm tác giả phân tích tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài  
lòng và niềm tin thương hiệu cùng tình yêu thương hiệu đến trung thành  
thương hiệu. Mô hình phương trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra các  
giả thuyết nghiên cứu bằng việc phân tích dữ liệu của 250 người có sử dụng  
mỹ phẩm tại thị trường ành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã  
chứng minh tầm quan trọng của trải nghiệm thương hiệu cùng sự hài lòng  
và niềm tin thương hiệu trong việc xây dựng tình yêu thương hiệu và lòng  
trung thành với thương hiệu. Ở góc độ thực tiễn, doanh nghiệp cần tăng  
cường cơ hội trải nghiệm của khách hàng, cụ thể là việc cho phép khách  
hàng có cơ hội sử dụng thử sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, cần xây  
dựng cộng đồng người sử dụng sản phẩm để họ có thể chia sẻ cảm nhận cá  
nhân về sản phẩm của doanh nghiệp.  
10.52932/jfm.vi66.222  
Ngày nhận:  
01/03/2021  
Ngày nhận lại:  
22/04/2021  
Ngày đăng:  
25/12/2021  
Từ khóa:  
Trải nghiệm thương  
hiệu; Hài lòng với  
thương hiệu; Niềm tin  
thương hiệu; Trung  
thành thương hiệu.  
1. Giơi thiiu  
như hành vi của khách hàng. Đa số các tác giả  
trên thế giới đều chọn trải nghiệm thương hiệu  
Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về mối quan  
hệ giữa nhãn hàng và người tiêu dùng, trải  
nghiệm thương hiệu được coi là yếu tố quyết  
định trong việc xây dựng thương hiệu vì ảnh  
hưởng của nó đến thái độ, quyết định cũng  
làm tiền tố ảnh hưởng đến các khía cạnh khác.  
Yếu tố này cũng đã được nghiên cứu như một  
hậu tố hoặc trung gian trong nhiều nghiên cứu  
khác nhau. Ví dụ, vào năm 2018, Dwivedi và  
cộng sự đã hợp tác với nhau để xác định lại ảnh  
hưởng trực tiếp của trải nghiệm thương hiệu  
đối với mức độ sẵn sàng trả giá cao của người  
tiêu dùng. Vào năm 2019 Japutra và cộng sự đã  
*Tác giả liên hệ:  
Email: nguyenthoaufm@gmail.com  
43  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
sống, kể cả kinh doanh. Nói chung, thương  
hiệu giúp khách hàng nhận biết một sản phẩm  
và phân biệt các sản phẩm với nhau. Hơn nữa,  
thương hiệu còn là nền tảng vô cùng thiết yếu,  
có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đến toàn bộ  
quá trình hoạt động của một doanh nghiệp. Đã  
có nhiều nghiên cứu về đặc tính thương hiệu  
– một khía cạnh nghiên cứu phổ biến trong  
những năm gần đây, dựa trên lý thuyết về  
thương hiệu. Aaker (1997) cho rằng, tính cách  
thương hiệu có thể bị ảnh hưởng thông qua các  
mối liên hệ khác nhau với thương hiệu. Nghiên  
cứu trước đây đề xuất rằng, trải nghiệm thương  
hiệu có tác động đáng kể đến đặc tính thương  
hiệu (Brakus và cộng sự, 2009). Sau khi xem  
xét các tài liệu trước, nghiên cứu này được xây  
dựng trên nền tảng lý thuyết thương hiệu với  
mục đích khám phá chi tiết hơn về mối quan  
hệ giữa người tiêu dùng và thương hiệu cũng  
như tìm hiểu cách thức kết nối giữa trải nghiệm  
thương hiệu và người tiêu dùng.  
nghiên cứu về tác động của trải nghiệm thương  
hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu như  
một tiền tố và đặc điểm thương hiệu có ảnh  
hưởng như thế nào đối với mối quan hệ của  
những cấu trúc này. Klein và cộng sự (2016) đã  
xem xét cách thức trải nghiệm thương hiệu làm  
trung gian cho mối liên hệ giữa các đặc điểm  
của cửa hàng riêng biệt và truyền miệng. Bên  
cạnh trải nghiệm thương hiệu, các nhà nghiên  
cứu thời gian gần đây đã chú ý nhiều hơn vào  
khai thác khía cạnh tình yêu thương hiệu – một  
yếu tố mới chi phối mạnh mẽ sự liên kết giữa  
những đặc điểm thương hiệu và hành vi người  
tiêu dùng. Hsu và Chen (2018) đã tập trung vào  
vai trò của tình yêu thương hiệu khi nghiên cứu  
về quá trình hình thành những hành vi gắn kết  
của khách hàng dành cho doanh nghiệp dưới sự  
tác động của các hoạt động tiếp thị. Bên cạnh  
đó, Manthiou và cộng sự (2018) khảo sát cách  
nhận thức về tính xác thực của thương hiệu, ấn  
tượng trong trí nhớ, sự tương đồng về lối sống  
và tình yêu thương hiệu tương quan với nhau  
như thế nào. Dựa vào những nghiên cứu trước  
đây, nhóm tác giả tiếp tục phát triển nghiên  
cứu về trải nghiệm thương hiệu kết hợp với yếu  
tố tình yêu thương hiệu đặt trong bối cảnh thị  
trường mỹ phẩm tại ành phố Hồ Chí Minh  
để tìm hiểu chi tiết hơn về cách mà hành vi  
người tiêu dùng được thúc đẩy bởi từng khía  
cạnh khác nhau của thương hiệu. eo thống  
kê của Hiệp hội hóa mỹ phẩm Việt Nam, quy  
mô thị trường mỹ phẩm Việt Nam tuy nhỏ  
nhưng có tốc độ tăng trưởng ở khu vực châu  
Á. Đó là lý do nhóm tác giả muốn tiến hành  
nghiên cứu này.  
2.2. Các khái niệm  
2.2.1. Trải nghiệm thương hiệu (Brand  
experience)  
eo quan điểm của Brakus và cộng sự  
(2009), trải nghiệm thương hiệu được định  
nghĩa là những phản ứng chủ quan và nội tâm  
của khách hàng bao gồm cảm giác, giác quan  
và hiểu biết về những đặc điểm của thương  
hiệu. Nhận thức về thương hiệu thường được  
hình thành sau khi khách hàng đã trải nghiệm  
các khía cạnh cụ thể của thương hiệu như tên,  
biểu tượng, khẩu hiệu, hình thức bao bì. Trải  
nghiệm thương hiệu xảy ra khi khách hàng tiếp  
xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với thương hiệu, ví  
dụ như khi khách hàng sử dụng sản phẩm của  
thương hiệu, tìm kiếm thông tin của thương  
hiệu và chia sẻ thông tin đã tìm kiếm với những  
người khác, tham gia các chương trình khuyến  
mãi, v.v. (Ambler và cộng sự, 2002). Qua các  
nghiên cứu trước đây, trải nghiệm thương hiệu  
được coi là có mối quan hệ với lòng trung thành  
với thương hiệu, sự tin tưởng thương hiệu và sự  
hài lòng của người tiêu dùng (Aaker, 1996; Ha  
& Perks, 2005).  
2. Cơ sở lý luận  
2.1. Lý thuyết xây dựng thương hiệu – Mối  
quan hệ giữa người tiêu dùng và thương hiệu  
(Customer and brand relationship)  
Đây là lý thuyết tiếp thị phổ biến mà các công  
ty lớn sử dụng để tối đa hóa doanh số bán hàng  
cho một khách hàng mục tiêu cụ thể. Lý thuyết  
này được xây dựng bởi nhiều học giả và được  
áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc  
44  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
cảm của họ với một thương hiệu cụ thể (Carroll  
& Ahuvia, 2006). Yếu tố này được hình thành  
dựa trên các lý thuyết về tình yêu giữa các cá  
nhân; bao gồm niềm đam mê, sự tuyên bố về  
tình yêu và sự gắn bó với thương hiệu cũng như  
lòng trung thành và lời truyền miệng tích cực  
(Carroll & Ahuvia, 2006). Mặc dù các học giả  
đã xác định được một số điểm tương đồng giữa  
tình yêu thương hiệu và sự hài lòng, họ thừa  
nhận rằng, đây là hai cấu trúc khác biệt. So với  
sự hài lòng về thương hiệu, tình yêu thương  
hiệu tập trung vào tình cảm mạnh mẽ hơn và  
nảy sinh từ mối quan hệ lâu dài của người tiêu  
dùng với thương hiệu. Nếu đã có tình yêu với  
thương hiệu, người tiêu dùng thường dựa vào  
cảm xúc tình yêu này để quyết định mua hàng.  
2.2.2. Sự hài lòng với thương hiệu (Brand  
satisfaction)  
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của khách hàng như đặc điểm cá nhân, sự  
kỳ vọng của người tiêu dùng cũng như các yếu  
tố khác như sự thuận tiện, nhân viên bán hàng,  
sự đa dạng các lựa chọn hàng hóa dịch vụ, bầu  
không khí, địa điểm và các hoạt động khuyến  
mại (Anselmsson, 2006). Sự hài lòng là kết  
quả tâm lý và cảm xúc được hình thành từ trải  
nghiệm cá nhân, bất kể nó có phù hợp với kỳ  
vọng ban đầu hay không. Tóm lại, sự hài lòng  
đề cập đến các phản ứng cảm xúc của người  
tiêu dùng với một thương hiệu (Iglesias và cộng  
sự, 2011) và đây là một yếu tố ảnh hưởng đến sự  
gắn kết lâu dài của người tiêu dùng với thương  
hiệu (Aaker, 1996). Trải nghiệm với thương  
hiệu của khách hàng là cơ sở của sự hài lòng và  
hình thành thái độ trong tương lai đối với nhãn  
hàng (Ganesan, 1994) ví dụ như sự gắn bó lâu  
dài hay sẵn sàng chi trả nhiều hơn.  
2.2.5. Trung thành thương hiệu (Brand loyalty)  
eo Keller (1993) lòng trung thành với  
thương hiệu bao gồm những cảm nhận tích  
cực đối với một thương hiệu và sự sẵn lòng  
mua lặp lại cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ  
được cung cấp bởi cùng một thương hiệu, bất  
kể những thay đổi. Trên thực tế, lòng trung  
thành không phải là một thói quen, yếu tố này  
bao hàm sự cống hiến của người tiêu dùng và  
sự gắn bó trong mối quan hệ giữa người tiêu  
dùng và thương hiệu. Định nghĩa về lòng trung  
thành được sử dụng để chỉ việc mua lặp lại, sở  
thích, cam kết và cống hiến thay cho ý nghĩa  
hoạt động của nó (Şahin và cộng sự, 2011).  
Lòng trung thành với nhãn hiệu cho thấy rằng  
người tiêu dùng có thái độ tích cực đối với một  
nhãn hiệu cụ thể và có xu hướng thường xuyên  
mua nhãn hiệu này (Aaker, 1996) . Người tiêu  
dùng có lòng trung thành cao có xu hướng sẽ  
giới thiệu thương hiệu này cho người thân hay  
bạn bè.  
2.2.3. Niềm tin thương hiệu (Brand trust)  
Trong nghiên cứu của Agustin và Singh  
(2005) khái niệm “niềm tin” là sự tin tưởng của  
khách hàng về việc họ có thể dựa vào người bán  
để nhận được các dịch vụ như đã thỏa thuận.  
Yếu tố này còn được hiểu như một trạng thái  
tâm lý của con người (Rousseau và cộng sự,  
1998), nó có thể mang lại lợi ích cho cá nhân,  
nhóm và cả tổ chức (Dirks & Ferrin, 2002). Bên  
cạnh đó, Chaudhuri và Holbrook (2001) đề cập  
đến niềm tin thương hiệu là trạng thái sẵn sàng  
tin tưởng vào thương hiệu về sản phẩm, dịch vụ  
hay chính sách chăm sóc khách hàng và là sự  
cam kết của người tiêu dùng sẽ tiếp tục tương  
tác với thương hiệu đó. Việc duy trì mối quan  
hệ giữa người mua và người bán đã chứng minh  
tầm quan trọng của niềm tin (Agustin & Singh,  
2005). Sự tin tưởng vào thương hiệu đã mua có  
thể được coi là đòn bẩy của sự tín nhiệm, đổi  
lại có thể củng cố hành vi mua lặp lại của người  
tiêu dùng.  
2.3. Các giả thuyết nghiên cứu  
Một số tác giả đã gợi ý rằng sự hài lòng về  
thương hiệu là kết quả từ tác động của trải  
nghiệm thương hiệu. White và Yu (2005), Ha  
và Perks (2005) chỉ ra rằng, trong lĩnh vực bán  
lẻ, khi người tiêu dùng tận hưởng những trải  
nghiệm thương hiệu tuyệt vời, họ sẽ dễ dàng  
2.2.4. Tình yêu thương hiệu (Brand love)  
Tình yêu thương hiệu đề cập đến mức độ  
đam mê của người tiêu dùng và sự gắn bó tình  
45  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
cảm gắn bó hơn với thương hiệu (Keh và cộng  
sự, 2007; Keller, 1993). Cam kết cho thấy lòng  
trung thành và tình yêu với thương hiệu được  
hình thành một cách vững chắc. Mặt khác, chỉ  
khi khách hàng có được những ấn tượng và  
cảm nhận tốt về thương hiệu thì những kết nối  
dài lâu trong tương lai mới có thể phát triển.  
Nói cách khác, sự hài lòng với sản phẩm và dịch  
vụ của thương hiệu là nền tảng cho những yếu  
tố khác chẳng hạn như tình yêu hay sự trung  
thành. Một khi những nhu cầu của khách hàng  
được đáp ứng vượt mức mong đợi thì họ có  
xu hướng thể hiện tình yêu và sự trung thành  
của mình bằng một số cam kết mang tính hành  
động, ví dụ như sự sẵn sàng chi trả hay truyền  
miệng. Từ các diễn giải nêu trên, nhóm tác giả  
đề xuất Giả thuyết H4: Sự hài lòng với thương  
hiệu tác động tích cực đến tình yêu thương  
hiệu. Giả thuyết H5: Sự hài lòng với thương hiệu  
tác động tích cực đến trung thành thương hiệu.  
trở thành khách hàng có mức độ hài lòng cao.  
Trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, theo quan  
điểm của Taylor và cộng sự (2012) hoàn toàn có  
sự ảnh hưởng trực tiếp của trải nghiệm thương  
hiệu bằng giác quan, tình cảm, hành vi và trí  
tuệ đến sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng  
của khách hàng cho thấy thương hiệu đã bước  
đầu quảng bá sản phẩm thành công. Iglesias và  
cộng sự (2019) đã phát hiện ra rằng, trải nghiệm  
thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến sự hài  
lòng của khách hàng. Trải nghiệm thương hiệu  
là cơ sở quan trọng để đánh giá quá trình xây  
dựng lòng tin của thương hiệu. Định nghĩa  
của yếu tố này cũng đã chỉ ra rằng, trải nghiệm  
thường nảy sinh trong các cuộc tiếp xúc giữa  
thương hiệu và khách hàng. Niềm tin phản ánh  
nỗ lực xây dựng thương hiệu của các nhà tiếp  
thị, việc một thương hiệu có thể đạt được niềm  
tin hay không phụ thuộc vào trải nghiệm của  
khách hàng với thương hiệu đó, chẳng hạn như  
chất lượng sản phẩm, hiệu ứng quảng cáo, dịch  
vụ khách hàng, v.v. Şahin và cộng sự (2011)  
đã nghiên cứu và chứng minh được rằng, mối  
quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu và niềm  
tin thương hiệu phát triển theo hướng tích cực.  
Tương tự, yếu tố trải nghiệm thương hiệu cũng  
tác động tích cực đến tình yêu thương hiệu, trải  
nghiệm với các sản phẩm hoặc dịch vụ càng tốt  
thì tình yêu mà người tiêu dùng dành cho nhãn  
hàng càng nhiều (Kazmi & Khalique, 2019). Từ  
các nhận định nêu trên, nhóm tác giả đề xuất  
giả thuyết H1: Trải nghiệm thương hiệu tác động  
tích cực đến sự hài lòng với thương hiệu. Giả  
thuyết H2: Trải nghiệm thương hiệu tác động  
tích cực đến niềm tin thương hiệu. Giả thuyết  
H3: Trải nghiệm thương hiệu tác động tích cực  
đến tình yêu thương hiệu.  
Trong bài nghiên cứu của mình, Carroll và  
Ahuvia (2006) tin rằng, khi một thương hiệu  
duy trì và phát triển mối quan hệ thương mại  
bền vững với khách hàng, biết liệu thương hiệu  
có thể thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của khách  
hàng hay không sẽ giúp thương hiệu dự đoán  
hoặc giải thích hành vi của khách hàng và tạo  
ra sự hài lòng cao. Một số tác giả gợi ý rằng,  
mối quan hệ giữa khách hàng và thương hiệu  
sẽ chuyển từ hài lòng sang yêu thích khi khách  
hàng kết nối với thương hiệu và coi đó là biểu  
hiện của sự tự nhận diện của họ. Khi khách  
hàng cho rằng thương hiệu đáng tin cậy và khi  
khách hàng tin tưởng vào những lời hứa mà  
thương hiệu đưa ra, họ sẽ sẵn sàng cho những  
lần mua tiếp theo (Keller, 1993). Chaudhuri và  
Holbrook (2001) chỉ ra rằng, niềm tin thương  
hiệu và hiệu ứng thương hiệu là những yếu tố  
quan trọng ảnh hưởng đến lòng trung thành  
thương hiệu. Niềm tin thương hiệu ảnh hưởng  
tích cực đến sự nhiệt tình đối với thương hiệu,  
là một trong những yếu tố cấu thành nên tình  
yêu thương hiệu, và lòng tin thương hiệu tác  
động tích cực đến tình yêu thương hiệu. Giả  
thuyết H6: Niềm tin thương hiệu tác động tích  
cực đến tình yêu thương hiệu. Giả thuyết H7:  
Trong các tài liệu nghiên cứu về sự cam kết  
với thương hiệu có đề cập rằng sự cam kết liên  
quan đến mong muốn lâu dài để tiếp tục mối  
quan hệ với một thương hiệu (Suh và cộng sự,  
2003). Người tiêu dùng sẵn sàng cải thiện và  
duy trì mối quan hệ gắn bó với thương hiệu  
nếu thương hiệu đó khiến người tiêu dùng cảm  
thấy ấm áp và thú vị. Đồng thời, những người  
tiêu dùng có cam kết thương hiệu cao sẽ có tình  
46  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Niềm tin thương hiệu tác động tích cực đến Giả thuyết H8: Tình yêu thương hiệu có tác động  
trung thành thương hiệu.  
tích cực đến trung thành thương hiệu.  
Dick và Basu (1994) cũng chỉ ra rằng, trạng  
thái cảm xúc của người tiêu dùng liên quan  
đến thương hiệu có ảnh hưởng đối với lòng  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu định lượng được  
trung thành của họ. Một số nghiên cứu cũng sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các  
chứng minh thái độ của người tiêu dùng đối với  
thương hiệu có góp phần vào việc xây dựng nên  
lòng trung thành thương hiệu. Dưới góc nhìn và  
phân tích của các tác giả, tình yêu thương hiệu  
được coi là có giá trị quản lý và kiểm soát vì nó  
có thể ảnh hưởng tích cực đến một số hệ quả.  
Các nghiên cứu trước thường tập trung vào một  
số kết quả liên quan đến hành vi như sự tham  
gia tích cực, sự sẵn sàng chi trả nhiều hơn hoặc  
truyền miệng (Albert & Merunka, 2013). Kết  
quả được nghiên cứu nhiều nhất của tình yêu  
thương hiệu là lòng trung thành dưới một số  
hình thức nhất định theo từng bối cảnh nghiên  
cứu khác nhau. Trong trường hợp những khách  
hàng có cảm giác yêu thích thương hiệu vượt  
quá mức độ hài lòng về thương hiệu, họ có xu  
hướng mua hàng lặp lại liên tục (Keller, 1993).  
nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Các thang  
đo của trải nghiệm thương hiệu được rút ra từ  
nghiên cứu của Brakus và các cộng sự (2009).  
Các quan sát về hài lòng với thương hiệu và  
trung thành thương hiệu được sử dụng từ bộ  
câu hỏi khảo sát của Oliver (1999). Nghiên cứu  
của Chaudhuri và Holbrook (2001) đóng góp  
cho thang đo về niềm tin thương hiệu. Cuối  
cùng, thang đo về tình yêu thương hiệu được  
các tác giả tham khảo từ nghiên cứu của Carroll  
và Ahuvia (2006).  
Việc khảo sát được thực hiện online với mẫu  
khảo sát là 250 người tại khu vực ành phố Hồ  
Chí Minh có sử dụng mỹ phẩm. Nhóm tác giả  
sử dụng phần mềm Smart PLS 3.2.8 để xử lý và  
phân tích dữ liệu.  
Hài lòng  
với  
thương  
hiệu  
Trải  
nghiệm  
thương  
hiệu  
Trung  
thành  
thương  
hiệu  
Tình yêu  
thương  
hiệu  
Niềm tin  
thương  
hiệu  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
47  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
4. Phân tích kết quả nghiên cứu  
4.1. ông tin mẫu khảo sát  
4.2. Kết quả nghiên cứu  
4.2.1. Kiểm định mô hình đo lường  
Việc thực hiện khảo sát này được tiến hành  
Việc kiểm định mô hình đo lường nhằm  
với 250 người, nữ giới chiếm tỷ lệ 82%, đa số đánh giá mối quan hệ giữa thang đo và các  
là dưới 25 tuổi (88%), nghề nghiệp chủ yếu là nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Việc này  
nhân viên văn phòng (72%); 54% người trả lời dựa vào các thông tin về độ tin cậy của hệ số tải  
khảo sát có thời gian sử dụng mỹ phẩm từ 2 nhân tố, độ tin cậy nhất quán nội bộ, giá trị hội  
năm trở lên.  
tụ và giá trị phân biệt.  
Bảng 1. ông tin thang đo  
Nhân tố và thang đo  
CR  
Cronbach’s alpha  
AVE  
1. Trải nghiệm thương hiệu  
0,88  
0,841  
0,515  
Bao gồm 7 thang đo: 1BEX12; 1BEX2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,609; 0,803; 0,779; 0,697;  
1BEX3; 1BEX4; 1BEX6; 1BEX7; 1BEX8  
2. Hài lòng với thương hiệu  
0,628; 0,741; 0,743  
0,916  
0,861  
0,784  
Bao gồm 3 thang đo: 2SAT1; 2SAT2; 2SAT3 Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,914; 0,893; 0,846  
3. Niềm tin thương hiệu 0,874 0,782  
0,7  
Bao gồm 3 thang đo: 3TRU1; 3TRU2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,864; 0,743; 0,895  
3TRU3  
4. Tình yêu thương hiệu  
0,939  
0,922  
0,72  
Bao gồm 6 thang đo: 4LOV1; 4LOV2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,764; 0,894; 0,861; 0,868;  
4LOV3; 4LOV5; 4LOV6  
5. Trung thành thương hiệu  
0,871; 0,826  
0,884  
0,8  
0,718  
Bao gồm 3 thang đo: 5LOY1; 5LOY2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,885; 0,911; 0,737  
5LOY3  
Ghi chú: Các thang đo 1BEX1, 1BEX5, 1BEX9, 1BEX10, 1BEX11 bị loại ra khỏi mô hình nghiên cứu.  
eo Bagozzi và cộng sự (1991), các thang trị Cronbach’s alpha đều cao hơn 0,7 (Hair và  
cộng sự, 2017). Nhờ vào giá trị AVE cao hơn  
0,5, hoàn toàn có thể kết luận rằng, tất cả các  
biến quan sát đều có giá trị hội tụ (Hair và cộng  
sự, 2017).  
đo với hệ số tải nhân tố thấp hơn 0,4 nên được  
loại bỏ khỏi mô hình và các thang đo có hệ số  
tải nhân tố từ 0,7 trở lên cần được giữ lại trong  
mô hình. Bên cạnh đó, các thang đo có hệ số tải  
nhân tố nằm trong khoảng từ 0,4 đến dưới 0,7  
chỉ nên được loại bỏ khi việc loại bỏ chúng dẫn  
đến sự cải thiện giá trị của độ tin cậy tổng hợp  
hoặc giá trị của phương sai trích trung bình.  
Năm nhân tố trong mô hình đều đạt được độ  
tin cậy nhất quán nội bộ khi giá trị CR và giá  
Giá trị Fornell-Larcker được sử dụng để  
đánh giá giá trị phân biệt. Các giá trị Fornell-  
Larcker trên đường chéo (Bảng 2) đều lớn hơn  
các giá trị khác nằm trên đường thẳng và đường  
ngang chứng tỏ các biến quan sát có giá trị phân  
biệt (Hair và cộng sự, 2017).  
48  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Bảng 2. ông tin giá trị Fornell-Larcker  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
1. Trải nghiệm thương hiệu  
2. Hài lòng với thương hiệu  
3. Niềm tin thương hiệu  
4. Tình yêu thương hiệu  
5. Trung thành thương hiệu  
0,718  
0,587  
0,595  
0,615  
0,542  
0,885  
0,768  
0,765  
0,699  
0,837  
0,709  
0,693  
0,848  
0,731  
0,848  
4.2.2. Kiểm định mô hình cấu trúc  
Giá trị VIF được sử dụng để đánh giá vấn đề đa  
cộng tuyến giữa biến độc lập và biến phụ thuộc.  
Các giá trị VIF giữa biến độc lập và biến phụ thuộc  
trong mô hình biến động từ 1 đến 3,204, đều nhỏ  
hơn 5 nghĩa là mô hình không có hiện tượng đa  
cộng tuyến (Hair và cộng sự, 2017).  
Bốn vấn đề cần được đánh giá: hiện tượng đa  
cộng tuyến, hệ số tác động, hệ số xác định R2,  
hệ số tác động f2 trong việc kiểm định mô hình  
cấu trúc  
Bảng 3. Hệ số tác động, giá trị p và giá trị f2  
Giả thuyết  
H1  
Hi số  
0,587  
0,595  
0,204  
0,473  
0,193  
0,225  
0,263  
0,397  
Giá trị p  
0%  
Kết luận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
f2  
Mức độ tác động  
Lớn  
0,527  
0,548  
0,071  
0,243  
0,030  
0,054  
0,066  
0,151  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
H8  
0%  
0%  
0%  
1%  
0%  
0%  
0%  
Lớn  
Nhỏ  
Trung bình  
Nhỏ  
Nhỏ  
Nhỏ  
Trung bình  
Ghi chú: Các giả thuyết từ H1 đến H8 đều được chấp nhận khi tất cả các giá trị p đều nhỏ hơn 5%.  
Giá trị R2 nằm trong khoảng từ 0 đến 1, trị số ba biến độc lập. Điều này cho thấy mức độ phù  
càng cao sẽ cho thấy mức độ dự đoán chính xác  
trong mô hình càng cao. Tuy nhiên, giá trị R2  
bao nhiêu là cao vẫn là vấn đề gây nhiều tranh  
cãi giữa các nhà nghiên cứu (Hair và ctg, 2017).  
Trong mô hình nghiên cứu có bốn biến phụ  
thuộc: (1) Hài lòng với thương hiệu; (2) Niềm  
tin thương hiệu; (3) Tình yêu thương hiệu; (4)  
hợp tương đối tốt của mô hình nghiên cứu.  
Bên cạnh việc đánh giá giá trị R2 của các biến  
phụ thuộc, sự thay đổi của giá trị R2 khi một biến  
độc lập được loại bỏ ra khỏi mô hình nghiên  
cứu cũng được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng  
của một biến độc lập đến biến phụ thuộc. eo  
Trung thành thương hiệu. Bốn giá trị R2 lần lượt Cohen (1988), các giá trị f2 lần lượt là 0,02; 0,15  
là 35%; 35%; 65%; 61%. Có thể thấy chỉ riêng và 0,35 được xem là nhỏ, trung bình và đáng  
một nhân tố “Trải nghiệm thương hiệu” đã giải kể. Có thể thấy “trải nghiệm thương hiệu” là  
thích được 1/3 giá trị biến thiên của hai nhân tố  
phụ thuộc “hài lòng với thương hiệu” và “niềm  
tin thương hiệu”. Hơn 60% sự biến thiên của  
hai biến phụ thuộc “tình yêu thương hiệu” và  
“trung thành thương hiệu” được giải thích bởi  
một nhân tố quan trọng có tác động mạnh đến  
“hài lòng với thương hiệu” và “niềm tin thương  
hiệu”, “tình yêu thương hiệu” có tác động mức  
độ trung bình đến “trung thành thương hiệu”.  
49  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
5. Kết luận và khuyến nghị  
hội trải nghiệm sản phẩm. ứ hai, mỹ phẩm  
là một sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe và  
sắc đẹp của người dùng. Việc xây dựng niềm  
tin của người tiêu dùng với thương hiệu là cần  
thiết. Các chứng nhận của những tổ chức uy  
tín với sản phẩm của doanh nghiệp là một giải  
pháp giúp gia tăng niềm tin của người dùng.  
Bên cạnh đó, những ý kiến tích cực của khách  
hàng hiện tại trên các trang mạng xã hội sẽ giúp  
lan tỏa niềm tin của người mua với sản phẩm.  
5.1. Kết luận  
Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu giúp  
góp phần củng cố lý thuyết xây dựng thương  
hiệu. Cũng tương tự như kết quả nghiên cứu  
của Kazmi và cộng sự (2019), kết quả nghiên  
cứu đã chứng minh được ảnh hưởng quan trọng  
của trải nghiệm thương hiệu đến các nhân tố  
khác như sự hài lòng với thương hiệu, niềm tin  
thương hiệu và tình yêu thương hiệu của khách  
hàng trên thị trường mỹ phẩm, một sản phẩm  
mà sự trải nghiệm của khách hàng đóng vai  
5.3. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất  
Nghiên cứu này cũng có những hạn chế  
trò quan trọng với quyết định của khách hàng. nhất định. ứ nhất, những mẫu khảo sát của  
Điều này cũng tương đồng với kết quả nghiên bài nghiên cứu đa số trong độ tuổi dưới 25, là  
cứu của Iglesias và cộng sự (2019), Lin (2015), nhân viên văn phòng – chưa đủ để đại diện cho  
Sahin và cộng sự (2011). Bên cạnh đó là ảnh một tổng thể lớn trên thị trường. Ngoài ra, trải  
hưởng tích cực của sự hài lòng với thương hiệu, nghiệm thương hiệu được nhiều tác giả nhìn  
niềm tin thương hiệu, tình yêu thương hiệu nhận như một nhân tố bậc hai. Những nghiên  
đến trung thành thương hiệu. Đây cũng là các cứu sau này nên tiến hành phân tích nhân tố  
kết quả có được từ các nghiên cứu của Song và này như một nhân tố đa bậc. Một vấn đề nữa  
cộng sự (2019), Drennan và cộng sự (2015).  
làm hạn chế tính ứng dụng của bài nghiên cứu  
này là phạm vi thực hiện nghiên cứu: chỉ nghiên  
cứu ở Việt Nam và cụ thể là thành phố Hồ Chí  
Minh. Ở các khu vực địa lý khác nhau với khác  
biệt về văn hóa, kinh tế, các kết quả nghiên cứu  
có thể khác nhau. Vì vậy, các nghiên cứu sau  
có thể tiến hành tại các thị trường khác nhau  
để có thể so sánh, đối chiếu kết quả với nghiên  
cứu này.  
5.2. Khuyến nghị  
Ở góc độ thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã  
đưa một số gợi ý đến các nhà quản lý. Trước  
nhất, doanh nghiệp cần tăng cường trải nghiệm  
của người dùng với thương hiệu. Cụ thể, trong  
lĩnh vực mỹ phẩm, việc dùng thử là cực kỳ  
quan trọng. Việc triển khai các showroom tại  
nhiều nơi giúp khách hàng có nhiều hơn các cơ  
Tài liiu tham khảo  
Aaker, D. (1996). Building Strong Brands –e Free Press. A Division of Simon & Schuster. Inc./D. Aaker.–NY.  
Aaker, J. L. (1997). Dimensions of brand personality. Journal of marketing research, 34(3), 347-356.  
Agustin, C., & Singh, J. (2005). Curvilinear effects of consumer loyalty determinants in relational exchanges.  
Journal of marketing research, 42(1), 96-108.  
Albert, N., & Merunka, D. (2015). Role of Brand Love in Consumer Brand Relationships, 15-30. Palgrave Macmillan.  
Ambler, T., Bhattacharya, C. B., Edell, J., Keller, K. L., Lemon, K. N., & Mittal, V. (2002). Relating brandand  
customer perspectives on marketing management. Journal of Service Research, 5(1), 13-25.  
Anselmsson, J. (2006). Sources of customer satisfaction with shopping malls: A comparative study of different  
customer segments. International Review of Retail, Distribution and Consumer Research, 16(1), 115-138.  
Yi, Y., & Phillips, L. W. (1991). Assessing Construct Validity in Organizational Research Richard P. Bagozzi.  
Administrative Science Quarterly, 36(3), 421-458.  
Brakus, J. J., Schmitt, B. H., & Zarantonello, L. (2009). Brand experience: What is it? How is it measured? Does it  
affect loyalty?. Journal of marketing, 73(3), 52-68.  
Carroll, B. A., & Ahuvia, A. C. (2006). Some antecedents and outcomes of brand love. Marketing letters, 17(2),  
79-89.  
50  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Chaudhuri, A., & Holbrook, M. B. (2001). e chain of effects from brand trust and brand affect to brand  
performance: e role of brand loyalty. Journal of marketing, 65(2), 81-93.  
Cohen, J. (1988). Statistical Power Analysis for the Behavioral Sciences. Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.  
Dick, A. S., & Basu, K. (1994). Customer loyalty: toward an integrated conceptual framework. Journal of the  
academy of marketing science, 22(2), 99-113.  
Dirks, K. T., & Ferrin, D. L. (2002). Trust in leadership: Meta-analytic findings and implications for research and  
practice. Journal of applied psychology, 87(4), 611-628.  
Drennan, J., Bianchi, C., Cacho-Elizondo, S., Louriero, S., Guibert, N., & Proud, W. (2015). Examining the role  
of wine brand love on brand loyalty: A multi-country comparison. International Journal of Hospitality  
Management, 49, 47-55.  
Dwivedi, A., Nayeem, T., & Murshed, F. (2018). Brand experience and consumers’ willingness-to-pay (WTP)  
a price premium: Mediating role of brand credibility and perceived uniqueness. Journal of Retailing and  
Consumer Services, 44, 100-107.  
Ganesan, S. (1994). Determinants of long-term orientation in buyer-seller relationships. Journal of marketing,  
58(2), 1-19.  
Ha, H. Y., & Perks, H. (2005). Effects of consumer perceptions of brand experience on the web: Brand familiarity,  
satisfaction and brand trust. Journal of Consumer Behaviour: An International Research Review, 4(6),  
438-452.  
Hair Jr, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2017). A primer on partial least squares structural  
equation modeling (PLS-SEM) (2nd ed.). Sage publications.  
Hsu, C. L., & Chen, M. C. (2018). How gamification marketing activities motivate desirable consumer behaviors:  
Focusing on the role of brand love. Computers in Human Behavior, 88, 121-133.  
Iglesias, O., Markovic, S., & Rialp, J. (2019). How does sensory brand experience influence brand equity?  
Considering the roles of customer satisfaction, customer affective commitment, and employee empathy.  
Journal of Business Research, 96, 343-354.  
Iglesias, O., Singh, J. J., & Batista-Foguet, J. M. (2011). e role of brand experience and affective commitment in  
determining brand loyalty. Journal of brand Management, 18(8), 570-582.  
Japutra, A., & Molinillo, S. (2019). Responsible and active brand personality: On the relationships with brand  
experience and key relationship constructs. Journal of Business Research, 99, 464-471.  
Kazmi, S. H. A., & Khalique, M. (2019). Brand experience and mediating roles of brand love, brand prestige and  
brand trust. Market Forces, 14(2), 78-98.  
Keh, H. T., Nguyen, T. T. M., & Ng, H. P. (2007). e effects of entrepreneurial orientation and marketing  
information on the performance of SMEs. Journal of business venturing, 22(4), 592-611.  
Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of  
marketing, 57(1), 1-22.  
Klein, J. F., Falk, T., Esch, F. R., & Gloukhovtsev, A. (2016). Linking pop-up brand stores to brand experience and  
word of mouth: e case of luxury retail. Journal of Business Research, 69(12), 5761-5767.  
Lin, Y. H. (2015). Innovative brand experience’s influence on brand equity and brand satisfaction. Journal of  
Business Research, 68(11), 2254-2259.  
Manthiou, A., Kang, J., Hyun, S. S., & Fu, X. X. (2018). e impact of brand authenticity on building brand love:  
An investigation of impression in memory and lifestyle-congruence. International Journal of Hospitality  
Management, 75, 38-47.  
Oliver, R. L. (1999). Whence consumer loyalty?. Journal of marketing, 63(4_suppl1), 33-44.  
Rousseau, D. M., Sitkin, S. B., Burt, R. S., & Camerer, C. (1998). Not so different afer all: A cross-discipline view  
of trust. Academy of management review, 23(3), 393-404.  
Sahin, A., Zehir, C., & Kitapçı, H. (2011). The effects of brand experiences, trust and satisfaction on building  
brand loyalty; an empirical research on global brands. Procedia-Social and Behavioral Sciences, 24,  
1288-1301.  
Song, H., Wang, J., & Han, H. (2019). Effect of image, satisfaction, trust, love, and respect on loyalty formation for  
name-brand coffee shops. International Journal of Hospitality Management, 79, 50-59.  
Suh, B., & Han, I. (2003). e impact of customer trust and perception of security control on the acceptance of  
electronic commerce. International Journal of electronic commerce, 7(3), 135-161.  
Taylor, S. A., Mulligan, J. R., & Ishida, C. (2012). Facebook, social networking, and business education. American  
Journal of Business Education (AJBE), 5(4), 437-448.  
Yu, Y. T., & White, C. (2005). Satisfaction Emotions and Consumer Behavioral Intention. Journal of Service  
Marketing, 19(6), 411-420.  
51  
pdf 10 trang Thùy Anh 17040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và niềm tin với thương hiệu đến trung thành thương hiệu: Vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_trai_nghiem_thuong_hieu_su_hai_long_va_niem_tin.pdf