Tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và niềm tin với thương hiệu đến trung thành thương hiệu: Vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu
Journal of Finance – Marketing; Vol. 66, No. 6; 2021
ISSN: 1859-3690
ISSN: 1859-3690
T ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Journal of Finance – Marketing
IMPACTS OF BRAND EXPERIENCE, BRAND SATISFACTION AND
BRAND TRUST WITH BRAND LOYALTY: MEDIATE ROLE OF BRAND LOVE
Nguyen i oa1*, Tieu Van Trang1, Vu i Tinh1, Do i Tuyet Nga1, Nguyen i Minh Ngoc1
1University of Finance – Marketing
ARTICLE INFO
ABSTRACT
DOI:
Brandloyaltyofcustomersplaysimportantroleinthesuccessofenterprises.
Based on the theory of customer and brand relationship, authors analyzed
impacts of brand experience, brand satisfaction, brand trust, and brand
love on brand loyalty. e structural equation model was used to verify the
proposed hypotheses by analyzing the data of 250 people who use cosmetic
products in Hochiminh city. Results of the study proved the importance
of brand experience, brand satisfaction, brand trust in building brand love,
and brand loyalty. In practice, enterprises should increase opportunities
to experience products of consumers, specifically, customers can try
enterprises’ products. Moreover, enterprises should build a community
of users in order to permit users to share their feelings with enterprises’
products.
10.52932/jfm.vi66.222
Received:
March 01, 2021
Accepted:
April 22, 2021
Published:
December 25, 2021
Keywords:
Brand experience;
Brand satisfaction;
Brand trust;
Brand love;
Brand loyalty.
*Corresponding author:
Email: nguyenthoaufm@gmail.com
42
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
ISSN: 1859-3690
T ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
TÁC ĐỘNG CỦA TRẢI NGHIỆM THƯƠNG HIỆU, SỰ HÀI LÒNG
VÀ NIỀM TIN VỚI THƯƠNG HIỆU ĐẾN TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU:
VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG HIỆU
Nguyễn ị oa1*, Tiêu Vân Trang1, Vũ ị Tình1, Đỗ ị Tuyết Nga1, Nguyễn ị Minh Ngọc1
1Trường Đại học Tài chính – Marketing
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:
Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng đóng vai trò quan trọng
cho sự thành công của doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết xây dựng thương
hiệu, nhóm tác giả phân tích tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài
lòng và niềm tin thương hiệu cùng tình yêu thương hiệu đến trung thành
thương hiệu. Mô hình phương trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra các
giả thuyết nghiên cứu bằng việc phân tích dữ liệu của 250 người có sử dụng
mỹ phẩm tại thị trường ành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã
chứng minh tầm quan trọng của trải nghiệm thương hiệu cùng sự hài lòng
và niềm tin thương hiệu trong việc xây dựng tình yêu thương hiệu và lòng
trung thành với thương hiệu. Ở góc độ thực tiễn, doanh nghiệp cần tăng
cường cơ hội trải nghiệm của khách hàng, cụ thể là việc cho phép khách
hàng có cơ hội sử dụng thử sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, cần xây
dựng cộng đồng người sử dụng sản phẩm để họ có thể chia sẻ cảm nhận cá
nhân về sản phẩm của doanh nghiệp.
10.52932/jfm.vi66.222
Ngày nhận:
01/03/2021
Ngày nhận lại:
22/04/2021
Ngày đăng:
25/12/2021
Từ khóa:
Trải nghiệm thương
hiệu; Hài lòng với
thương hiệu; Niềm tin
thương hiệu; Trung
thành thương hiệu.
1. Giơi thiiu
như hành vi của khách hàng. Đa số các tác giả
trên thế giới đều chọn trải nghiệm thương hiệu
Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về mối quan
hệ giữa nhãn hàng và người tiêu dùng, trải
nghiệm thương hiệu được coi là yếu tố quyết
định trong việc xây dựng thương hiệu vì ảnh
hưởng của nó đến thái độ, quyết định cũng
làm tiền tố ảnh hưởng đến các khía cạnh khác.
Yếu tố này cũng đã được nghiên cứu như một
hậu tố hoặc trung gian trong nhiều nghiên cứu
khác nhau. Ví dụ, vào năm 2018, Dwivedi và
cộng sự đã hợp tác với nhau để xác định lại ảnh
hưởng trực tiếp của trải nghiệm thương hiệu
đối với mức độ sẵn sàng trả giá cao của người
tiêu dùng. Vào năm 2019 Japutra và cộng sự đã
*Tác giả liên hệ:
Email: nguyenthoaufm@gmail.com
43
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
sống, kể cả kinh doanh. Nói chung, thương
hiệu giúp khách hàng nhận biết một sản phẩm
và phân biệt các sản phẩm với nhau. Hơn nữa,
thương hiệu còn là nền tảng vô cùng thiết yếu,
có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đến toàn bộ
quá trình hoạt động của một doanh nghiệp. Đã
có nhiều nghiên cứu về đặc tính thương hiệu
– một khía cạnh nghiên cứu phổ biến trong
những năm gần đây, dựa trên lý thuyết về
thương hiệu. Aaker (1997) cho rằng, tính cách
thương hiệu có thể bị ảnh hưởng thông qua các
mối liên hệ khác nhau với thương hiệu. Nghiên
cứu trước đây đề xuất rằng, trải nghiệm thương
hiệu có tác động đáng kể đến đặc tính thương
hiệu (Brakus và cộng sự, 2009). Sau khi xem
xét các tài liệu trước, nghiên cứu này được xây
dựng trên nền tảng lý thuyết thương hiệu với
mục đích khám phá chi tiết hơn về mối quan
hệ giữa người tiêu dùng và thương hiệu cũng
như tìm hiểu cách thức kết nối giữa trải nghiệm
thương hiệu và người tiêu dùng.
nghiên cứu về tác động của trải nghiệm thương
hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu như
một tiền tố và đặc điểm thương hiệu có ảnh
hưởng như thế nào đối với mối quan hệ của
những cấu trúc này. Klein và cộng sự (2016) đã
xem xét cách thức trải nghiệm thương hiệu làm
trung gian cho mối liên hệ giữa các đặc điểm
của cửa hàng riêng biệt và truyền miệng. Bên
cạnh trải nghiệm thương hiệu, các nhà nghiên
cứu thời gian gần đây đã chú ý nhiều hơn vào
khai thác khía cạnh tình yêu thương hiệu – một
yếu tố mới chi phối mạnh mẽ sự liên kết giữa
những đặc điểm thương hiệu và hành vi người
tiêu dùng. Hsu và Chen (2018) đã tập trung vào
vai trò của tình yêu thương hiệu khi nghiên cứu
về quá trình hình thành những hành vi gắn kết
của khách hàng dành cho doanh nghiệp dưới sự
tác động của các hoạt động tiếp thị. Bên cạnh
đó, Manthiou và cộng sự (2018) khảo sát cách
nhận thức về tính xác thực của thương hiệu, ấn
tượng trong trí nhớ, sự tương đồng về lối sống
và tình yêu thương hiệu tương quan với nhau
như thế nào. Dựa vào những nghiên cứu trước
đây, nhóm tác giả tiếp tục phát triển nghiên
cứu về trải nghiệm thương hiệu kết hợp với yếu
tố tình yêu thương hiệu đặt trong bối cảnh thị
trường mỹ phẩm tại ành phố Hồ Chí Minh
để tìm hiểu chi tiết hơn về cách mà hành vi
người tiêu dùng được thúc đẩy bởi từng khía
cạnh khác nhau của thương hiệu. eo thống
kê của Hiệp hội hóa mỹ phẩm Việt Nam, quy
mô thị trường mỹ phẩm Việt Nam tuy nhỏ
nhưng có tốc độ tăng trưởng ở khu vực châu
Á. Đó là lý do nhóm tác giả muốn tiến hành
nghiên cứu này.
2.2. Các khái niệm
2.2.1. Trải nghiệm thương hiệu (Brand
experience)
eo quan điểm của Brakus và cộng sự
(2009), trải nghiệm thương hiệu được định
nghĩa là những phản ứng chủ quan và nội tâm
của khách hàng bao gồm cảm giác, giác quan
và hiểu biết về những đặc điểm của thương
hiệu. Nhận thức về thương hiệu thường được
hình thành sau khi khách hàng đã trải nghiệm
các khía cạnh cụ thể của thương hiệu như tên,
biểu tượng, khẩu hiệu, hình thức bao bì. Trải
nghiệm thương hiệu xảy ra khi khách hàng tiếp
xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với thương hiệu, ví
dụ như khi khách hàng sử dụng sản phẩm của
thương hiệu, tìm kiếm thông tin của thương
hiệu và chia sẻ thông tin đã tìm kiếm với những
người khác, tham gia các chương trình khuyến
mãi, v.v. (Ambler và cộng sự, 2002). Qua các
nghiên cứu trước đây, trải nghiệm thương hiệu
được coi là có mối quan hệ với lòng trung thành
với thương hiệu, sự tin tưởng thương hiệu và sự
hài lòng của người tiêu dùng (Aaker, 1996; Ha
& Perks, 2005).
2. Cơ sở lý luận
2.1. Lý thuyết xây dựng thương hiệu – Mối
quan hệ giữa người tiêu dùng và thương hiệu
(Customer and brand relationship)
Đây là lý thuyết tiếp thị phổ biến mà các công
ty lớn sử dụng để tối đa hóa doanh số bán hàng
cho một khách hàng mục tiêu cụ thể. Lý thuyết
này được xây dựng bởi nhiều học giả và được
áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc
44
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
cảm của họ với một thương hiệu cụ thể (Carroll
& Ahuvia, 2006). Yếu tố này được hình thành
dựa trên các lý thuyết về tình yêu giữa các cá
nhân; bao gồm niềm đam mê, sự tuyên bố về
tình yêu và sự gắn bó với thương hiệu cũng như
lòng trung thành và lời truyền miệng tích cực
(Carroll & Ahuvia, 2006). Mặc dù các học giả
đã xác định được một số điểm tương đồng giữa
tình yêu thương hiệu và sự hài lòng, họ thừa
nhận rằng, đây là hai cấu trúc khác biệt. So với
sự hài lòng về thương hiệu, tình yêu thương
hiệu tập trung vào tình cảm mạnh mẽ hơn và
nảy sinh từ mối quan hệ lâu dài của người tiêu
dùng với thương hiệu. Nếu đã có tình yêu với
thương hiệu, người tiêu dùng thường dựa vào
cảm xúc tình yêu này để quyết định mua hàng.
2.2.2. Sự hài lòng với thương hiệu (Brand
satisfaction)
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài
lòng của khách hàng như đặc điểm cá nhân, sự
kỳ vọng của người tiêu dùng cũng như các yếu
tố khác như sự thuận tiện, nhân viên bán hàng,
sự đa dạng các lựa chọn hàng hóa dịch vụ, bầu
không khí, địa điểm và các hoạt động khuyến
mại (Anselmsson, 2006). Sự hài lòng là kết
quả tâm lý và cảm xúc được hình thành từ trải
nghiệm cá nhân, bất kể nó có phù hợp với kỳ
vọng ban đầu hay không. Tóm lại, sự hài lòng
đề cập đến các phản ứng cảm xúc của người
tiêu dùng với một thương hiệu (Iglesias và cộng
sự, 2011) và đây là một yếu tố ảnh hưởng đến sự
gắn kết lâu dài của người tiêu dùng với thương
hiệu (Aaker, 1996). Trải nghiệm với thương
hiệu của khách hàng là cơ sở của sự hài lòng và
hình thành thái độ trong tương lai đối với nhãn
hàng (Ganesan, 1994) ví dụ như sự gắn bó lâu
dài hay sẵn sàng chi trả nhiều hơn.
2.2.5. Trung thành thương hiệu (Brand loyalty)
eo Keller (1993) lòng trung thành với
thương hiệu bao gồm những cảm nhận tích
cực đối với một thương hiệu và sự sẵn lòng
mua lặp lại cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ
được cung cấp bởi cùng một thương hiệu, bất
kể những thay đổi. Trên thực tế, lòng trung
thành không phải là một thói quen, yếu tố này
bao hàm sự cống hiến của người tiêu dùng và
sự gắn bó trong mối quan hệ giữa người tiêu
dùng và thương hiệu. Định nghĩa về lòng trung
thành được sử dụng để chỉ việc mua lặp lại, sở
thích, cam kết và cống hiến thay cho ý nghĩa
hoạt động của nó (Şahin và cộng sự, 2011).
Lòng trung thành với nhãn hiệu cho thấy rằng
người tiêu dùng có thái độ tích cực đối với một
nhãn hiệu cụ thể và có xu hướng thường xuyên
mua nhãn hiệu này (Aaker, 1996) . Người tiêu
dùng có lòng trung thành cao có xu hướng sẽ
giới thiệu thương hiệu này cho người thân hay
bạn bè.
2.2.3. Niềm tin thương hiệu (Brand trust)
Trong nghiên cứu của Agustin và Singh
(2005) khái niệm “niềm tin” là sự tin tưởng của
khách hàng về việc họ có thể dựa vào người bán
để nhận được các dịch vụ như đã thỏa thuận.
Yếu tố này còn được hiểu như một trạng thái
tâm lý của con người (Rousseau và cộng sự,
1998), nó có thể mang lại lợi ích cho cá nhân,
nhóm và cả tổ chức (Dirks & Ferrin, 2002). Bên
cạnh đó, Chaudhuri và Holbrook (2001) đề cập
đến niềm tin thương hiệu là trạng thái sẵn sàng
tin tưởng vào thương hiệu về sản phẩm, dịch vụ
hay chính sách chăm sóc khách hàng và là sự
cam kết của người tiêu dùng sẽ tiếp tục tương
tác với thương hiệu đó. Việc duy trì mối quan
hệ giữa người mua và người bán đã chứng minh
tầm quan trọng của niềm tin (Agustin & Singh,
2005). Sự tin tưởng vào thương hiệu đã mua có
thể được coi là đòn bẩy của sự tín nhiệm, đổi
lại có thể củng cố hành vi mua lặp lại của người
tiêu dùng.
2.3. Các giả thuyết nghiên cứu
Một số tác giả đã gợi ý rằng sự hài lòng về
thương hiệu là kết quả từ tác động của trải
nghiệm thương hiệu. White và Yu (2005), Ha
và Perks (2005) chỉ ra rằng, trong lĩnh vực bán
lẻ, khi người tiêu dùng tận hưởng những trải
nghiệm thương hiệu tuyệt vời, họ sẽ dễ dàng
2.2.4. Tình yêu thương hiệu (Brand love)
Tình yêu thương hiệu đề cập đến mức độ
đam mê của người tiêu dùng và sự gắn bó tình
45
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
cảm gắn bó hơn với thương hiệu (Keh và cộng
sự, 2007; Keller, 1993). Cam kết cho thấy lòng
trung thành và tình yêu với thương hiệu được
hình thành một cách vững chắc. Mặt khác, chỉ
khi khách hàng có được những ấn tượng và
cảm nhận tốt về thương hiệu thì những kết nối
dài lâu trong tương lai mới có thể phát triển.
Nói cách khác, sự hài lòng với sản phẩm và dịch
vụ của thương hiệu là nền tảng cho những yếu
tố khác chẳng hạn như tình yêu hay sự trung
thành. Một khi những nhu cầu của khách hàng
được đáp ứng vượt mức mong đợi thì họ có
xu hướng thể hiện tình yêu và sự trung thành
của mình bằng một số cam kết mang tính hành
động, ví dụ như sự sẵn sàng chi trả hay truyền
miệng. Từ các diễn giải nêu trên, nhóm tác giả
đề xuất Giả thuyết H4: Sự hài lòng với thương
hiệu tác động tích cực đến tình yêu thương
hiệu. Giả thuyết H5: Sự hài lòng với thương hiệu
tác động tích cực đến trung thành thương hiệu.
trở thành khách hàng có mức độ hài lòng cao.
Trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, theo quan
điểm của Taylor và cộng sự (2012) hoàn toàn có
sự ảnh hưởng trực tiếp của trải nghiệm thương
hiệu bằng giác quan, tình cảm, hành vi và trí
tuệ đến sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng
của khách hàng cho thấy thương hiệu đã bước
đầu quảng bá sản phẩm thành công. Iglesias và
cộng sự (2019) đã phát hiện ra rằng, trải nghiệm
thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến sự hài
lòng của khách hàng. Trải nghiệm thương hiệu
là cơ sở quan trọng để đánh giá quá trình xây
dựng lòng tin của thương hiệu. Định nghĩa
của yếu tố này cũng đã chỉ ra rằng, trải nghiệm
thường nảy sinh trong các cuộc tiếp xúc giữa
thương hiệu và khách hàng. Niềm tin phản ánh
nỗ lực xây dựng thương hiệu của các nhà tiếp
thị, việc một thương hiệu có thể đạt được niềm
tin hay không phụ thuộc vào trải nghiệm của
khách hàng với thương hiệu đó, chẳng hạn như
chất lượng sản phẩm, hiệu ứng quảng cáo, dịch
vụ khách hàng, v.v. Şahin và cộng sự (2011)
đã nghiên cứu và chứng minh được rằng, mối
quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu và niềm
tin thương hiệu phát triển theo hướng tích cực.
Tương tự, yếu tố trải nghiệm thương hiệu cũng
tác động tích cực đến tình yêu thương hiệu, trải
nghiệm với các sản phẩm hoặc dịch vụ càng tốt
thì tình yêu mà người tiêu dùng dành cho nhãn
hàng càng nhiều (Kazmi & Khalique, 2019). Từ
các nhận định nêu trên, nhóm tác giả đề xuất
giả thuyết H1: Trải nghiệm thương hiệu tác động
tích cực đến sự hài lòng với thương hiệu. Giả
thuyết H2: Trải nghiệm thương hiệu tác động
tích cực đến niềm tin thương hiệu. Giả thuyết
H3: Trải nghiệm thương hiệu tác động tích cực
đến tình yêu thương hiệu.
Trong bài nghiên cứu của mình, Carroll và
Ahuvia (2006) tin rằng, khi một thương hiệu
duy trì và phát triển mối quan hệ thương mại
bền vững với khách hàng, biết liệu thương hiệu
có thể thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của khách
hàng hay không sẽ giúp thương hiệu dự đoán
hoặc giải thích hành vi của khách hàng và tạo
ra sự hài lòng cao. Một số tác giả gợi ý rằng,
mối quan hệ giữa khách hàng và thương hiệu
sẽ chuyển từ hài lòng sang yêu thích khi khách
hàng kết nối với thương hiệu và coi đó là biểu
hiện của sự tự nhận diện của họ. Khi khách
hàng cho rằng thương hiệu đáng tin cậy và khi
khách hàng tin tưởng vào những lời hứa mà
thương hiệu đưa ra, họ sẽ sẵn sàng cho những
lần mua tiếp theo (Keller, 1993). Chaudhuri và
Holbrook (2001) chỉ ra rằng, niềm tin thương
hiệu và hiệu ứng thương hiệu là những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến lòng trung thành
thương hiệu. Niềm tin thương hiệu ảnh hưởng
tích cực đến sự nhiệt tình đối với thương hiệu,
là một trong những yếu tố cấu thành nên tình
yêu thương hiệu, và lòng tin thương hiệu tác
động tích cực đến tình yêu thương hiệu. Giả
thuyết H6: Niềm tin thương hiệu tác động tích
cực đến tình yêu thương hiệu. Giả thuyết H7:
Trong các tài liệu nghiên cứu về sự cam kết
với thương hiệu có đề cập rằng sự cam kết liên
quan đến mong muốn lâu dài để tiếp tục mối
quan hệ với một thương hiệu (Suh và cộng sự,
2003). Người tiêu dùng sẵn sàng cải thiện và
duy trì mối quan hệ gắn bó với thương hiệu
nếu thương hiệu đó khiến người tiêu dùng cảm
thấy ấm áp và thú vị. Đồng thời, những người
tiêu dùng có cam kết thương hiệu cao sẽ có tình
46
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
Niềm tin thương hiệu tác động tích cực đến Giả thuyết H8: Tình yêu thương hiệu có tác động
trung thành thương hiệu.
tích cực đến trung thành thương hiệu.
Dick và Basu (1994) cũng chỉ ra rằng, trạng
thái cảm xúc của người tiêu dùng liên quan
đến thương hiệu có ảnh hưởng đối với lòng
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng được
trung thành của họ. Một số nghiên cứu cũng sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các
chứng minh thái độ của người tiêu dùng đối với
thương hiệu có góp phần vào việc xây dựng nên
lòng trung thành thương hiệu. Dưới góc nhìn và
phân tích của các tác giả, tình yêu thương hiệu
được coi là có giá trị quản lý và kiểm soát vì nó
có thể ảnh hưởng tích cực đến một số hệ quả.
Các nghiên cứu trước thường tập trung vào một
số kết quả liên quan đến hành vi như sự tham
gia tích cực, sự sẵn sàng chi trả nhiều hơn hoặc
truyền miệng (Albert & Merunka, 2013). Kết
quả được nghiên cứu nhiều nhất của tình yêu
thương hiệu là lòng trung thành dưới một số
hình thức nhất định theo từng bối cảnh nghiên
cứu khác nhau. Trong trường hợp những khách
hàng có cảm giác yêu thích thương hiệu vượt
quá mức độ hài lòng về thương hiệu, họ có xu
hướng mua hàng lặp lại liên tục (Keller, 1993).
nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Các thang
đo của trải nghiệm thương hiệu được rút ra từ
nghiên cứu của Brakus và các cộng sự (2009).
Các quan sát về hài lòng với thương hiệu và
trung thành thương hiệu được sử dụng từ bộ
câu hỏi khảo sát của Oliver (1999). Nghiên cứu
của Chaudhuri và Holbrook (2001) đóng góp
cho thang đo về niềm tin thương hiệu. Cuối
cùng, thang đo về tình yêu thương hiệu được
các tác giả tham khảo từ nghiên cứu của Carroll
và Ahuvia (2006).
Việc khảo sát được thực hiện online với mẫu
khảo sát là 250 người tại khu vực ành phố Hồ
Chí Minh có sử dụng mỹ phẩm. Nhóm tác giả
sử dụng phần mềm Smart PLS 3.2.8 để xử lý và
phân tích dữ liệu.
Hài lòng
với
thương
hiệu
Trải
nghiệm
thương
hiệu
Trung
thành
thương
hiệu
Tình yêu
thương
hiệu
Niềm tin
thương
hiệu
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
47
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
4. Phân tích kết quả nghiên cứu
4.1. ông tin mẫu khảo sát
4.2. Kết quả nghiên cứu
4.2.1. Kiểm định mô hình đo lường
Việc thực hiện khảo sát này được tiến hành
Việc kiểm định mô hình đo lường nhằm
với 250 người, nữ giới chiếm tỷ lệ 82%, đa số đánh giá mối quan hệ giữa thang đo và các
là dưới 25 tuổi (88%), nghề nghiệp chủ yếu là nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Việc này
nhân viên văn phòng (72%); 54% người trả lời dựa vào các thông tin về độ tin cậy của hệ số tải
khảo sát có thời gian sử dụng mỹ phẩm từ 2 nhân tố, độ tin cậy nhất quán nội bộ, giá trị hội
năm trở lên.
tụ và giá trị phân biệt.
Bảng 1. ông tin thang đo
Nhân tố và thang đo
CR
Cronbach’s alpha
AVE
1. Trải nghiệm thương hiệu
0,88
0,841
0,515
Bao gồm 7 thang đo: 1BEX12; 1BEX2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,609; 0,803; 0,779; 0,697;
1BEX3; 1BEX4; 1BEX6; 1BEX7; 1BEX8
2. Hài lòng với thương hiệu
0,628; 0,741; 0,743
0,916
0,861
0,784
Bao gồm 3 thang đo: 2SAT1; 2SAT2; 2SAT3 Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,914; 0,893; 0,846
3. Niềm tin thương hiệu 0,874 0,782
0,7
Bao gồm 3 thang đo: 3TRU1; 3TRU2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,864; 0,743; 0,895
3TRU3
4. Tình yêu thương hiệu
0,939
0,922
0,72
Bao gồm 6 thang đo: 4LOV1; 4LOV2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,764; 0,894; 0,861; 0,868;
4LOV3; 4LOV5; 4LOV6
5. Trung thành thương hiệu
0,871; 0,826
0,884
0,8
0,718
Bao gồm 3 thang đo: 5LOY1; 5LOY2; Giá trị hệ số tải nhân tố lần lượt là: 0,885; 0,911; 0,737
5LOY3
Ghi chú: Các thang đo 1BEX1, 1BEX5, 1BEX9, 1BEX10, 1BEX11 bị loại ra khỏi mô hình nghiên cứu.
eo Bagozzi và cộng sự (1991), các thang trị Cronbach’s alpha đều cao hơn 0,7 (Hair và
cộng sự, 2017). Nhờ vào giá trị AVE cao hơn
0,5, hoàn toàn có thể kết luận rằng, tất cả các
biến quan sát đều có giá trị hội tụ (Hair và cộng
sự, 2017).
đo với hệ số tải nhân tố thấp hơn 0,4 nên được
loại bỏ khỏi mô hình và các thang đo có hệ số
tải nhân tố từ 0,7 trở lên cần được giữ lại trong
mô hình. Bên cạnh đó, các thang đo có hệ số tải
nhân tố nằm trong khoảng từ 0,4 đến dưới 0,7
chỉ nên được loại bỏ khi việc loại bỏ chúng dẫn
đến sự cải thiện giá trị của độ tin cậy tổng hợp
hoặc giá trị của phương sai trích trung bình.
Năm nhân tố trong mô hình đều đạt được độ
tin cậy nhất quán nội bộ khi giá trị CR và giá
Giá trị Fornell-Larcker được sử dụng để
đánh giá giá trị phân biệt. Các giá trị Fornell-
Larcker trên đường chéo (Bảng 2) đều lớn hơn
các giá trị khác nằm trên đường thẳng và đường
ngang chứng tỏ các biến quan sát có giá trị phân
biệt (Hair và cộng sự, 2017).
48
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
Bảng 2. ông tin giá trị Fornell-Larcker
1.
2.
3.
4.
5.
1. Trải nghiệm thương hiệu
2. Hài lòng với thương hiệu
3. Niềm tin thương hiệu
4. Tình yêu thương hiệu
5. Trung thành thương hiệu
0,718
0,587
0,595
0,615
0,542
0,885
0,768
0,765
0,699
0,837
0,709
0,693
0,848
0,731
0,848
4.2.2. Kiểm định mô hình cấu trúc
Giá trị VIF được sử dụng để đánh giá vấn đề đa
cộng tuyến giữa biến độc lập và biến phụ thuộc.
Các giá trị VIF giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
trong mô hình biến động từ 1 đến 3,204, đều nhỏ
hơn 5 nghĩa là mô hình không có hiện tượng đa
cộng tuyến (Hair và cộng sự, 2017).
Bốn vấn đề cần được đánh giá: hiện tượng đa
cộng tuyến, hệ số tác động, hệ số xác định R2,
hệ số tác động f2 trong việc kiểm định mô hình
cấu trúc
Bảng 3. Hệ số tác động, giá trị p và giá trị f2
Giả thuyết
H1
Hi số
0,587
0,595
0,204
0,473
0,193
0,225
0,263
0,397
Giá trị p
0%
Kết luận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
f2
Mức độ tác động
Lớn
0,527
0,548
0,071
0,243
0,030
0,054
0,066
0,151
H2
H3
H4
H5
H6
H7
H8
0%
0%
0%
1%
0%
0%
0%
Lớn
Nhỏ
Trung bình
Nhỏ
Nhỏ
Nhỏ
Trung bình
Ghi chú: Các giả thuyết từ H1 đến H8 đều được chấp nhận khi tất cả các giá trị p đều nhỏ hơn 5%.
Giá trị R2 nằm trong khoảng từ 0 đến 1, trị số ba biến độc lập. Điều này cho thấy mức độ phù
càng cao sẽ cho thấy mức độ dự đoán chính xác
trong mô hình càng cao. Tuy nhiên, giá trị R2
bao nhiêu là cao vẫn là vấn đề gây nhiều tranh
cãi giữa các nhà nghiên cứu (Hair và ctg, 2017).
Trong mô hình nghiên cứu có bốn biến phụ
thuộc: (1) Hài lòng với thương hiệu; (2) Niềm
tin thương hiệu; (3) Tình yêu thương hiệu; (4)
hợp tương đối tốt của mô hình nghiên cứu.
Bên cạnh việc đánh giá giá trị R2 của các biến
phụ thuộc, sự thay đổi của giá trị R2 khi một biến
độc lập được loại bỏ ra khỏi mô hình nghiên
cứu cũng được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng
của một biến độc lập đến biến phụ thuộc. eo
Trung thành thương hiệu. Bốn giá trị R2 lần lượt Cohen (1988), các giá trị f2 lần lượt là 0,02; 0,15
là 35%; 35%; 65%; 61%. Có thể thấy chỉ riêng và 0,35 được xem là nhỏ, trung bình và đáng
một nhân tố “Trải nghiệm thương hiệu” đã giải kể. Có thể thấy “trải nghiệm thương hiệu” là
thích được 1/3 giá trị biến thiên của hai nhân tố
phụ thuộc “hài lòng với thương hiệu” và “niềm
tin thương hiệu”. Hơn 60% sự biến thiên của
hai biến phụ thuộc “tình yêu thương hiệu” và
“trung thành thương hiệu” được giải thích bởi
một nhân tố quan trọng có tác động mạnh đến
“hài lòng với thương hiệu” và “niềm tin thương
hiệu”, “tình yêu thương hiệu” có tác động mức
độ trung bình đến “trung thành thương hiệu”.
49
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
5. Kết luận và khuyến nghị
hội trải nghiệm sản phẩm. ứ hai, mỹ phẩm
là một sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe và
sắc đẹp của người dùng. Việc xây dựng niềm
tin của người tiêu dùng với thương hiệu là cần
thiết. Các chứng nhận của những tổ chức uy
tín với sản phẩm của doanh nghiệp là một giải
pháp giúp gia tăng niềm tin của người dùng.
Bên cạnh đó, những ý kiến tích cực của khách
hàng hiện tại trên các trang mạng xã hội sẽ giúp
lan tỏa niềm tin của người mua với sản phẩm.
5.1. Kết luận
Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu giúp
góp phần củng cố lý thuyết xây dựng thương
hiệu. Cũng tương tự như kết quả nghiên cứu
của Kazmi và cộng sự (2019), kết quả nghiên
cứu đã chứng minh được ảnh hưởng quan trọng
của trải nghiệm thương hiệu đến các nhân tố
khác như sự hài lòng với thương hiệu, niềm tin
thương hiệu và tình yêu thương hiệu của khách
hàng trên thị trường mỹ phẩm, một sản phẩm
mà sự trải nghiệm của khách hàng đóng vai
5.3. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất
Nghiên cứu này cũng có những hạn chế
trò quan trọng với quyết định của khách hàng. nhất định. ứ nhất, những mẫu khảo sát của
Điều này cũng tương đồng với kết quả nghiên bài nghiên cứu đa số trong độ tuổi dưới 25, là
cứu của Iglesias và cộng sự (2019), Lin (2015), nhân viên văn phòng – chưa đủ để đại diện cho
Sahin và cộng sự (2011). Bên cạnh đó là ảnh một tổng thể lớn trên thị trường. Ngoài ra, trải
hưởng tích cực của sự hài lòng với thương hiệu, nghiệm thương hiệu được nhiều tác giả nhìn
niềm tin thương hiệu, tình yêu thương hiệu nhận như một nhân tố bậc hai. Những nghiên
đến trung thành thương hiệu. Đây cũng là các cứu sau này nên tiến hành phân tích nhân tố
kết quả có được từ các nghiên cứu của Song và này như một nhân tố đa bậc. Một vấn đề nữa
cộng sự (2019), Drennan và cộng sự (2015).
làm hạn chế tính ứng dụng của bài nghiên cứu
này là phạm vi thực hiện nghiên cứu: chỉ nghiên
cứu ở Việt Nam và cụ thể là thành phố Hồ Chí
Minh. Ở các khu vực địa lý khác nhau với khác
biệt về văn hóa, kinh tế, các kết quả nghiên cứu
có thể khác nhau. Vì vậy, các nghiên cứu sau
có thể tiến hành tại các thị trường khác nhau
để có thể so sánh, đối chiếu kết quả với nghiên
cứu này.
5.2. Khuyến nghị
Ở góc độ thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã
đưa một số gợi ý đến các nhà quản lý. Trước
nhất, doanh nghiệp cần tăng cường trải nghiệm
của người dùng với thương hiệu. Cụ thể, trong
lĩnh vực mỹ phẩm, việc dùng thử là cực kỳ
quan trọng. Việc triển khai các showroom tại
nhiều nơi giúp khách hàng có nhiều hơn các cơ
Tài liiu tham khảo
Aaker, D. (1996). Building Strong Brands –e Free Press. A Division of Simon & Schuster. Inc./D. Aaker.–NY.
Aaker, J. L. (1997). Dimensions of brand personality. Journal of marketing research, 34(3), 347-356.
Agustin, C., & Singh, J. (2005). Curvilinear effects of consumer loyalty determinants in relational exchanges.
Journal of marketing research, 42(1), 96-108.
Albert, N., & Merunka, D. (2015). Role of Brand Love in Consumer Brand Relationships, 15-30. Palgrave Macmillan.
Ambler, T., Bhattacharya, C. B., Edell, J., Keller, K. L., Lemon, K. N., & Mittal, V. (2002). Relating brandand
customer perspectives on marketing management. Journal of Service Research, 5(1), 13-25.
Anselmsson, J. (2006). Sources of customer satisfaction with shopping malls: A comparative study of different
customer segments. International Review of Retail, Distribution and Consumer Research, 16(1), 115-138.
Yi, Y., & Phillips, L. W. (1991). Assessing Construct Validity in Organizational Research Richard P. Bagozzi.
Administrative Science Quarterly, 36(3), 421-458.
Brakus, J. J., Schmitt, B. H., & Zarantonello, L. (2009). Brand experience: What is it? How is it measured? Does it
affect loyalty?. Journal of marketing, 73(3), 52-68.
Carroll, B. A., & Ahuvia, A. C. (2006). Some antecedents and outcomes of brand love. Marketing letters, 17(2),
79-89.
50
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 66 – áng 12 Năm 2021
Chaudhuri, A., & Holbrook, M. B. (2001). e chain of effects from brand trust and brand affect to brand
performance: e role of brand loyalty. Journal of marketing, 65(2), 81-93.
Cohen, J. (1988). Statistical Power Analysis for the Behavioral Sciences. Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.
Dick, A. S., & Basu, K. (1994). Customer loyalty: toward an integrated conceptual framework. Journal of the
academy of marketing science, 22(2), 99-113.
Dirks, K. T., & Ferrin, D. L. (2002). Trust in leadership: Meta-analytic findings and implications for research and
practice. Journal of applied psychology, 87(4), 611-628.
Drennan, J., Bianchi, C., Cacho-Elizondo, S., Louriero, S., Guibert, N., & Proud, W. (2015). Examining the role
of wine brand love on brand loyalty: A multi-country comparison. International Journal of Hospitality
Management, 49, 47-55.
Dwivedi, A., Nayeem, T., & Murshed, F. (2018). Brand experience and consumers’ willingness-to-pay (WTP)
a price premium: Mediating role of brand credibility and perceived uniqueness. Journal of Retailing and
Consumer Services, 44, 100-107.
Ganesan, S. (1994). Determinants of long-term orientation in buyer-seller relationships. Journal of marketing,
58(2), 1-19.
Ha, H. Y., & Perks, H. (2005). Effects of consumer perceptions of brand experience on the web: Brand familiarity,
satisfaction and brand trust. Journal of Consumer Behaviour: An International Research Review, 4(6),
438-452.
Hair Jr, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2017). A primer on partial least squares structural
equation modeling (PLS-SEM) (2nd ed.). Sage publications.
Hsu, C. L., & Chen, M. C. (2018). How gamification marketing activities motivate desirable consumer behaviors:
Focusing on the role of brand love. Computers in Human Behavior, 88, 121-133.
Iglesias, O., Markovic, S., & Rialp, J. (2019). How does sensory brand experience influence brand equity?
Considering the roles of customer satisfaction, customer affective commitment, and employee empathy.
Journal of Business Research, 96, 343-354.
Iglesias, O., Singh, J. J., & Batista-Foguet, J. M. (2011). e role of brand experience and affective commitment in
determining brand loyalty. Journal of brand Management, 18(8), 570-582.
Japutra, A., & Molinillo, S. (2019). Responsible and active brand personality: On the relationships with brand
experience and key relationship constructs. Journal of Business Research, 99, 464-471.
Kazmi, S. H. A., & Khalique, M. (2019). Brand experience and mediating roles of brand love, brand prestige and
brand trust. Market Forces, 14(2), 78-98.
Keh, H. T., Nguyen, T. T. M., & Ng, H. P. (2007). e effects of entrepreneurial orientation and marketing
information on the performance of SMEs. Journal of business venturing, 22(4), 592-611.
Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of
marketing, 57(1), 1-22.
Klein, J. F., Falk, T., Esch, F. R., & Gloukhovtsev, A. (2016). Linking pop-up brand stores to brand experience and
word of mouth: e case of luxury retail. Journal of Business Research, 69(12), 5761-5767.
Lin, Y. H. (2015). Innovative brand experience’s influence on brand equity and brand satisfaction. Journal of
Business Research, 68(11), 2254-2259.
Manthiou, A., Kang, J., Hyun, S. S., & Fu, X. X. (2018). e impact of brand authenticity on building brand love:
An investigation of impression in memory and lifestyle-congruence. International Journal of Hospitality
Management, 75, 38-47.
Oliver, R. L. (1999). Whence consumer loyalty?. Journal of marketing, 63(4_suppl1), 33-44.
Rousseau, D. M., Sitkin, S. B., Burt, R. S., & Camerer, C. (1998). Not so different afer all: A cross-discipline view
of trust. Academy of management review, 23(3), 393-404.
Sahin, A., Zehir, C., & Kitapçı, H. (2011). The effects of brand experiences, trust and satisfaction on building
brand loyalty; an empirical research on global brands. Procedia-Social and Behavioral Sciences, 24,
1288-1301.
Song, H., Wang, J., & Han, H. (2019). Effect of image, satisfaction, trust, love, and respect on loyalty formation for
name-brand coffee shops. International Journal of Hospitality Management, 79, 50-59.
Suh, B., & Han, I. (2003). e impact of customer trust and perception of security control on the acceptance of
electronic commerce. International Journal of electronic commerce, 7(3), 135-161.
Taylor, S. A., Mulligan, J. R., & Ishida, C. (2012). Facebook, social networking, and business education. American
Journal of Business Education (AJBE), 5(4), 437-448.
Yu, Y. T., & White, C. (2005). Satisfaction Emotions and Consumer Behavioral Intention. Journal of Service
Marketing, 19(6), 411-420.
51
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và niềm tin với thương hiệu đến trung thành thương hiệu: Vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_trai_nghiem_thuong_hieu_su_hai_long_va_niem_tin.pdf

