Tác động của marketing xanh đến ý định mua hàng của người tiêu dùng: Một nghiên cứu tại thành phố Đà Lạt
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
TÁC ĐỘNG CỦA MARKETING XANH
ĐẾN Ý ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG:
MỘT NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Phạm Thị Ngọc Trâm1, Lê Phong Lam2
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét sự
ảnh hưởng của các công cụ marketing xanh đến ý định mua hàng
của người tiêu dùng. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô
hình cấu trúc tuyến tính (CB-SEM) với kích thước mẫu là 157
marketing on consumer’s
Title The impact of green
người tiêu dùng tại thành phố Đà Lạt. Nghiên cứu đã đo lường
mức độ tác động của các thành phần marketing xanh bao gồm
niềm tin môi trường, bao bì xanh, nhãn sinh thái, thương hiệu
xanh và quảng cáo xanh đến ý định mua hàng của người tiêu dùng.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các công cụ marketing xanh
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra ý định mua hàng tích cực
đối với các sản phẩm xanh. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu
cũng đề xuất một số hàm ý quản trị về việc sử dụng công cụ
buying intention: A study in
Dalat city
Từ khóa: Marketing xanh,
niềm tin môi trường, bao bì
xanh, nhãn sinh thái, thương
hiệu xanh, quảng cáo xanh, ý
định mua
Keywords: Green marketing,
environmental belief, green
packaging, eco-labeling, green
marketing xanh để tạo ra ý định mua hàng xanh cho các doanh
nghiệp định hướng phát triển xanh, phát triển bền vững.
ABSTRACT
branding,
green
The main purpose of this study is to examine the influence of
green marketing tools on consumers’ purchase intention. Applying
the structural equation modeling (CB-SEM) with the sample of 157
consumers in Da Lat City. This research evaluates the effects of five
elements of green marketing, including environmental belief,
green packaging, eco-labeling, green branding, green
advertisement, on consumer purchase intention. The research
revealed that green marketing tools play a significant role in
inducing a positive purchase intention towards green products.
Based on the results of the analysis, the paper also provides
managerial implications for using green marketing tools to create
green purchasing intentions for green development-oriented and
sustainable businesses.
advertisement
Lịch sử bài báo:
Ngày nhận bài: 12/11/2020;
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
25/11/2020;
Ngày chấp nhận đăng bài:
09/12/2020.
Tác giả: 1,2 Trường Đại học Đà
Lạt
Email: [email protected].vn
1. Giới thiệu
các quy định về môi trường nhằm thúc đẩy
sự quan tâm của công chúng cũng như trách
nhiệm xã hội của các doanh nghiệp tại nhiều
quốc gia trên Thế giới (Dagelico & cs, 2017).
Các quy định và sức ép này cũng thúc đẩy
Đối mặt với những hậu quả nghiêm
trọng từ việc mất cân bằng sinh thái và ô
nhiễm môi trường hiện nay, Chính phủ và
các cơ quan liên quan đã liên tục ban hành
Tập 8 (12/2020)
11
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
các doanh nghiệp áp dụng các phương thức
nghiên cứu nào tại Việt Nam nghiên cứu cụ
thể mức độ ảnh hưởng của các công cụ
marketing xanh của các doanh nghiệp đến
việc chọn mua sản phẩm của người tiêu
dùng. Do đó, nhóm tác giả thực hiện nghiên
cứu tìm hiểu sự tác động của các công cụ
marketing xanh đến hành vi mua của khách
hàng tại Thành phố Đà Lạt. Trong đó, các
công cụ marketing xanh như bao bì xanh,
nhãn sinh thái, thương hiệu xanh, quảng cáo
xanh, và niềm tin môi trường là những
thuộc tính chính hướng tới việc xác định ý
định mua hàng trong nghiên cứu này. Kết
quả của nghiên cứu hy vọng sẽ là gợi ý cho
các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cũng như các
nhà tiếp thị trong việc lựa chọn công cụ
marketing xanh một cách hiệu quả cho hoạt
động kinh doanh của mình trong xu hướng
hiện nay.
tiếp cận tài nguyên và sản xuất thân thiện
với môi trường. Họ cũng nhanh chóng đưa
hoạt động marketing xanh vào chiến lược
phát triển kinh doanh của mình thay cho
hoạt động truyền thống. Trong vài năm qua,
ngày càng nhiều người tiêu dùng bày tỏ sự
quan tâm của họ đối với các sản phẩm thân
thiện với môi trường và sẵn sàng trả giá cao
cho chúng (Lee & cs, 2012). Một sự thay đổi
tích cực đã được nhìn thấy trong sở thích và
mối quan tâm của người tiêu dùng đối với
các sản phẩm thân thiện với môi trường (Lee
& cs, 2012). Đây là một cơ hội cho các doanh
nghiệp trong việc xây dựng cho mình một
hình ảnh doanh nghiệp/ thương hiệu xanh
hơn, vì môi trường hơn để thu hút sự chú ý
tích cực từ phía người tiêu dùng cũng như tác
động đến hành vi mua hàng của người tiêu
dùng theo xu hướng lựa chọn những sản
phẩm/ dịch vụ xanh, bảo vệ môi trường.
Green marketing (marketing xanh) đang là
một chiến lược phù hợp của các doanh
nghiệp để hòa vào xu hướng bảo vệ môi
trường toàn cầu, thu hút sự chú ý của khách
hàng cũng như gia tăng hình ảnh thương
hiệu của mình trong các hoạt động xanh.
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết
nghiên cứu
2.1 Marketing xanh (Green marketing)
Marketing xanh sử dụng chiến lược
marketing hướng vào giá trị doanh nghiệp,
tập trung vào chiến lược kéo. Quá trình này
đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện vì doanh
nghiệp đương nhiên phải tích hợp tất cả các
hoạt động phù hợp với các mối quan tâm về
môi trường. Marketing xanh liên quan đến
tất cả các hoạt động được thiết kế nhằm tạo
ra và tạo điều kiện thuận lợi cho bất kỳ hoạt
động trao đổi nào nhằm thỏa mãn nhu cầu
hoặc mong muốn của con người với tác
động bất lợi tối thiểu đến môi trường tự
nhiên, tức là an toàn môi trường (Polonsky,
1994). Sự phát triển của tiếp thị xanh và tiêu
dùng xanh “có lẽ là cơ hội lớn nhất cho các
doanh nghiệp và phát minh mà thế giới công
nghiệp từng thấy” (Cairncross, 2003). Các
thuật ngữ marketing xanh hiện cũng dựa
trên quan điểm của Polonsky (1994), được
Theo đó, Việt Nam cũng đã định hướng
hội nhập vào con đường tăng trưởng xanh –
tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên hoạt động
marketing xanh tại Việt Nam được đánh giá
là còn khá mới mẻ (Bùi, 2003). Tại Việt Nam
nói chung và Đà Lạt nói riêng, cũng đã xuất
hiện những làn sóng trong việc kêu gọi thực
hiện các hành động bảo vệ môi trường và sử
dụng các sản phẩm/chế phẩm bảo vệ môi
trường. Điều này cho thấy sự quan tâm của
người tiêu dùng đến việc bảo vệ môi trường,
do vậy các hoạt động quảng bá xanh của
doanh nghiệp trong giai đoạn này có thể sẽ
tác động đến việc chọn mua các sản phẩm
sắp tới. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có
Tập 8 (12/2020)
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
hiểu là hoạt động tiếp thị các sản phẩm và
những kết quả này sẽ có giá trị và đồng
thuận với hành vi và họ có những nguồn lực,
khả năng và cơ hội cần thiết để thực hiện
hành vi đó (Ajzen, 1985, Conner & cs, 1998).
Theo Brown (2003), người tiêu dùng có ý
định mua một sản phẩm nào đó sẽ thể hiện
tỷ lệ mua thực tế cao hơn so với những
khách hàng chứng minh rằng họ không có ý
định mua. Những người tiêu dùng có niềm
tin về môi trường cao, tức nhận thức cao về
môi trường sẽ bị thu hút nhiều hơn đối với
các sản phẩm xanh. Theo Arbuthnot (1977)
và Simon (1992), người tiêu dùng quan tâm
hơn đến môi trường và dần dần thay đổi
hành vi của họ (được trích dẫn bởi Shrestha,
2018). Hơn nữa, Hoyer và MacInnis (2004)
cho rằng các giá trị và niềm tin của người
tiêu dùng cần được xem xét khi nghiên cứu
những yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định
mua hàng của khách hàng (được trích dẫn
bởi Shrestha, 2018). Lý thuyết về dự định
hành vi do Ajzen (1991) đề xuất chứng minh
niềm tin về môi trường hình thành thái độ
đối với hành vi, từ đó chuyển thành ý định
mua (Hoyer & cs, 2004).
dịch vụ được công nhận là an toàn với môi
trường. Nó kết hợp sửa đổi sản phẩm/dịch
vụ, thực hiện các thay đổi trong quá trình sản
xuất/đóng gói và chiến lược truyền thông.
2.2 Hành vi người tiêu dùng, niềm tin
môi trường và ý định mua hàng của
người tiêu dùng
Thuật ngữ hành vi tiêu dùng để chỉ hành
vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm
kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các
sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong
muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ. Hành vi
tiêu dùng tập trung vào việc cá nhân ra quyết
định như thế nào để sử dụng các nguồn lực
hiện có (thời gian, tiền bạc, công sức) vào
việc tiêu thụ các mặt hàng có liên quan. Nó
bao gồm việc họ mua gì, tại sao mua, khi nào
mua, mua ở đâu, họ có thường mua chúng, có
thường sử dụng chúng hay không, đánh giá
chúng ra sao sau khi mua và ảnh hưởng của
những đánh giá này đến những lần mua tới
(Kotler & Armstrong, 2015).
Ý định hành vi được định nghĩa là mức
độ mà một người đã lên kế hoạch một cách
có ý thức để thực hiện hoặc không thực hiện
một số hành vi trong tương lai (Warshaw &
Davis, 1985). Nó thể hiện sự mong đợi của
cá nhân về một hành vi nhất định nào đó
trong một tình trạng cho trước và rất có khả
năng xảy ra. Khi đó, yếu tố kế hoạch hành
động (những kế hoạch xác định rõ ở đâu và
khi nào mà một người sẽ thực hiện dự tính
của họ) được thêm vào ý định hành vi. Về cơ
bản, ý định mua thể hiện những gì người
tiêu dùng nghĩ rằng họ sẽ mua (Blackwell &
cs, 2001). Theo mô hình cơ bản của lý thuyết
dự định hành vi (TPB), con người có thể
thực hiện một dạng hành vi nhất định nếu
họ tin hành vi này sẽ mang lại kết quả nhất
định nào đó có giá trị; tầm quan trọng của
2.3 Marketing xanh và ý định mua
hàng của người tiêu dùng
Các doanh nghiệp hiện nay càng ngày
càng có nhiều ứng dụng xanh trong xuyên
suốt các hoạt động marketing của mình, từ
việc đầu tư nghiên cứu phát triển thân thiện
với môi trường như thay đổi thành phần cấu
tạo, thiết kế, thay đổi quy trình và cách thức
đóng gói, cho đến phân phối cũng như hoạt
động logictics thu hồi để thu được lợi thế
cạnh tranh và phát triển bền vững. Các hoạt
động marketing xanh cũng có xu hướng thể
hiện qua bao bì sản phẩm từ các doanh
nghiệp. Bao bì hiện nay cũng được xem là
chữ P thứ năm trong chiến lược marketing
của các doanh nghiệp. Các yếu tố của bao bì
Tập 8 (12/2020)
13
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
là một trong những thuộc tính quan trọng
phản ứng cảm xúc, phản ứng theo chiều
hướng và hành vi mua của người tiêu dùng
dẫn đến việc mua những sản phẩm mà
người tiêu dùng gắn bó về mặt tình cảm
Norazah (2013).
nhất đối với quyết định mua hàng của người
tiêu dùng Deliya & Parmar (2012). Người
tiêu dùng cũng bị thu hút bởi bao bì sản
phẩm khi mua hàng xanh Isa & Yao (2013).
Morris và cộng sự (1995) đã chỉ ra rằng các
tuyên bố về sản phẩm cụ thể trên nhãn sản
phẩm như “thân thiện với môi trường”, “có
thể tái chế”, “có thể phân hủy sinh học” và
“thân thiện với ozon” được các nhà tiếp thị
sử dụng giúp các công ty truyền thông
những lợi ích môi trường của sản phẩm đến
người tiêu dùng của mình.
Mục đích tiếp theo của nghiên cứu là tìm
ra mối quan hệ giữa quảng cáo xanh và ý định
mua hàng của người tiêu dùng. Nó liên quan
đến các hoạt động quảng bá tập trung vào các
khía cạnh môi trường. Mục tiêu của quảng
cáo xanh là tác động đến hành vi mua hàng
của người tiêu dùng bằng cách khuyến khích
họ mua các sản phẩm không hoặc ít gây hại
cho môi trường và hướng sự chú ý của họ
đến những hiệu quả tích cực của hành vi mua
hàng, đối với bản thân cũng như môi trường
(Rahbar & Wahid, 2010). Richards (2013) đã
xác định tác động của quảng cáo xanh thông
qua việc đánh giá kết nối của người tiêu dùng
với môi trường và các yếu tố cho thấy sự tin
tưởng vào quảng cáo và sự sẵn lòng mua các
sản phẩm xanh. Người tiêu dùng đánh giá cao
các sản phẩm và thương hiệu xanh đáng tin
cậy, giá cả phải chăng, tốt cho sức khỏe và có
lợi cho môi trường. Niazi và cộng sự (2012),
Saleem và Abideen (2011) cũng đã thực hiện
các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực
giữa phản ứng cảm xúc, phản ứng theo chiều
hướng và hành vi mua của người tiêu dùng
dẫn đến việc mua những sản phẩm mà người
tiêu dùng gắn bó về mặt tình cảm.
Liên quan đến thông điệp thể hiện trên
bao bì sản phẩm, nhãn sinh thái cũng đã
được các cơ quan chính phủ và các hiệp hội
ban hành. Nhãn sinh thái là biểu tượng hoặc
nhãn hiệu được trao cho sản phẩm tuân thủ
theo tiêu chí thân thiện với môi trường
được đưa ra bởi chính phủ, hiệp hội hoặc
tiêu chuẩn do doanh nghiệp chứng nhận.
Như vậy, một trong những công cụ
marketing xanh quan trọng là sử dụng nhãn
sinh thái trên các sản phẩm thân thiện với
môi trường. Nhãn sinh thái ngày càng được
các doanh nghiệp sử dụng để thúc đẩy việc
nhận dạng các sản phẩm xanh (D’Souza & cs,
2006). Sammer và Wu¨stenhagen (2006)
cũng khẳng định rằng nhãn sinh thái là một
công cụ quan trọng để cung cấp thông tin từ
người bán cho người mua. Hơn nữa, Rex và
Baumann (2007) cũng chứng minh nhãn
sinh thái như một công cụ để người tiêu
dùng dễ dàng đưa ra quyết định lựa chọn
các sản phẩm thân thiện với môi trường và
cũng là cách để họ biết sản phẩm được sản
xuất như thế nào. Bên cạnh đó, các nhà
nghiên cứu cũng chỉ ra “thương hiệu xanh”
còn được gọi là “thương hiệu sinh thái” hoặc
“thương hiệu môi trường”. Tuy là hoạt động
tiếp cận tự nguyện của các doanh nghiệp
nhưng nó cũng có mối quan hệ tích cực giữa
3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
nghiên cứu
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, mô hình
nghiên cứu được đề xuất như trong Hình
1. Mục tiêu chính của nghiên cứu phân tích
tác động của các công cụ marketing xanh
đến ý định mua hàng của người tiêu dùng.
Trong đó, các công cụ marketing xanh
Tập 8 (12/2020)
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
được đề cập trong mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực
hiện bằng phương pháp phỏng vấn sâu
nhóm khách hàng đã mua sản phẩm/dịch vụ
xanh để lấy ý kiến điều chỉnh và bổ sung
thang đo cho các khái niệm nghiên cứu,
đồng thời đánh giá sự phù hợp của việc sử
dụng thuật ngữ trong bảng hỏi để tiến hành
nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định
lượng chính thức được thực hiện để đánh
giá lại thang đo và kiểm định các giả thuyết
được đưa ra từ mô hình lý thuyết thông qua
việc phát bảng khảo sát cho các khách
hàng tại thành phố Đà Lạt. Bảng hỏi này sử
dụng thang đo Likert, áp dụng thang điểm
từ 1 đến 5 cho dữ liệu. Kết quả thu được
170 phiếu trả lời, trong đó có 157 bảng
khảo sát đạt yêu cầu và được sử dụng để
phân tích. Nghiên cứu sử dụng phương
pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến
tính SEM (Structural Equation Modeling)
bằng phần mềm AMOS 20 để kiểm định
thang đo và kiểm định các giả thuyết.
4. Kết quả nghiên cứu
gồm: Niềm tin về môi trường, bao bì xanh,
nhãn sinh thái, thương hiệu xanh và quảng
cáo xanh. Nghiên cứu áp dụng mô hình
được đề xuất bởi Shrestha (2018), các
biến độc lập sử dụng trong mô hình cũng
được tham khảo từ một số các nghiên cứu
trước về marketing xanh và thuyết dự
định hành vi.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
4.1 Thống kê mô tả
Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, các giả
thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
Trong 157 bảng khảo sát đạt yêu cầu, kết
quả thống kê cho thấy hầu hết người tiêu
dùng được khảo sát ở độ tuổi từ 19-34 chiếm
65% (n = 102), từ 35 tuổi trở lên là 35% (n =
55); trong đó mức chi tiêu bình quân mỗi
tháng dưới 5tr chiếm 43,4% (n=120) và từ 5
triệu trở lên chiếm 56,7% (n = 67).
4.2 Kiểm định mô hình và giả thuyết
4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích EFA cho 20 biến độc lập, biến
phụ thuộc rút trích được 6 thành phần từ 18
biến quan sát còn lại (sau khi loại bỏ 2 biến
không đạt yêu cầu do tải trên 2 nhân tố), các
biến được phân thành từng nhóm nhân tố
như mô hình nghiên cứu đề xuất. Hệ số tải
EFA của các biến có giá trị từ 0,444 đến 0,971
(xem Bảng 1). Ngoài ra, hệ số tin cậy tổng
hợp của các thành phần thang đo có giá trị từ
0,753 đến 0,843 nên thang đo đạt yêu cầu.
Giả thuyết H1: Niềm tin môi trường có
ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng.
Giả thuyết H2: Bao bì xanh có ảnh
hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng.
Giả thuyết H3: Nhãn sinh thái có ảnh
hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng.
Giả thuyết H4: Thương hiệu xanh có
ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng.
Giả thuyết H5: Quảng cáo xanh có ảnh
hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Tập 8 (12/2020)
15
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
Bảng 1. Kết quả đánh giá độ tin cậy và
Quảng cáo xanh (ký hiệu: GRA), Cronbach’s
độ giá trị của các thang đo
alpha = 0,840
Hệ số
Các quảng cáo xanh thu hút sự chú ý
của tôi
0,699
Nhân tố
tải nhân
tố
Tôi thích xem các quảng cáo tập trung
0,971
vào giá trị môi trường của sản phẩm
Niềm tin về môi trường (ký hiệu: ENB),
Cronbach’s alpha = 0,753
Quảng cáo môi trường của sản phẩm
0,679
hấp dẫn sẽ khuyến khích tôi mua các
sản phẩm xanh
Môi trường đang bị hủy hoại nghiêm
trọng
0,697
Tôi là người tiêu dùng, tôi có vai trò
lớn trong việc bảo vệ môi trường
Dự định mua (ký hiệu: BPI), Cronbach’s
alpha = 0,786
0,768
Sản phẩm xanh là sự lựa chọn tốt hơn
cho sự bền vững của môi trường 0,673
trong tương lai
Tôi sẽ chọn mua các sản phẩm thân
0,729
thiện với môi trường
Tôi sẽ mua sản phẩm xanh ngay cả
khi chúng đắt hơn các sản phẩm
thông thường
Bao bì xanh (ký hiệu: GRP), Cronbach’s
alpha = 0,767
0,756
0,752
Bao bì giúp tôi phân biệt đâu là sản
phẩm xanh.
0,444
Tôi thích mua các sản phẩm xanh hơn
sản phẩm không xanh
Tôi thấy bao bì thân thiện với môi
0,835
0,872
trường hấp dẫn hơn bao bì không
thân thiện với môi trường
4.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định
(CFA)
Tôi thích mua các sản phẩm có bao bì
thân thiện với môi trường.
Kiểm định mô hình đo lường với các
chỉ số CMIN/DF = 1,190; TLI = 0,973; CFI
= 0,979; RMSEA = 0,035 cho thấy thang đo
tương thích với dữ liệu. Dựa vào kết quả
tính toán thể hiện ở Bảng 2 cho thấy tất cả
các giá trị CR của các nhân tố đều lớn hơn
0,7, chứng tỏ các nhân tố đều đạt độ tin
cậy; đồng thời CR > AVE và AVE > 0,5,
chứng tỏ mô hình đạt được độ giá trị hội
tụ. Bên cạnh đó, các trọng số chuẩn hóa
của thang đo đều cao (lớn hơn 0,5) và các
trọng số chưa chuẩn hóa có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05. Bảng 2 cũng cho thấy MSV
< AVE, ASV < AVE . Hơn nữa, căn bậc hai
của AVE đều lớn hơn các tương quan giữa
2 khái niệm (xem 6 cột cuối Bảng 2), do đó
các thang đo đều đạt được giá trị phân biệt
(Hair và cs, 2010).
Nhãn sinh thái (ký hiệu: ECL), Cronbach’s
alpha = 0,801
Các nhãn sinh thái thì dễ nhận biết
0,780
0,767
Tôi thấy các nhãn sinh thái rất hữu
ích trong việc lựa chọn một sản phẩm
Nhãn sinh thái ảnh hưởng đến quyết
định của tôi khi mua sản phẩm
0,735
Thương hiệu xanh (ký hiệu: GRB),
Cronbach’s alpha = 0,745
Tôi thấy các thương hiệu xanh thì
đáng tin cậy
0,684
Sản phẩm có thương hiệu xanh thì tốt
0,517
hơn sản phẩm không xanh
Khi mua hàng tôi sẽ ưu tiên mua các
sản phẩm có thương hiệu xanh
0,894
Tập 8 (12/2020)
16
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
Bảng 2. Mô tả dữ liệu, CR, AVE, MSV, và ASV của các nhân tố
CR
0,803 0,576 0,456 0,806 0,759
ENB 0,753 0,504 0,226 0,754 0,308 0,710
GRP 0,790 0,567 0,316 0,866 0,416 0,185 0,753
GRB 0,766 0,526 0,501 0,808 0,494 0,284 0,430 0,725
GRA 0,843 0,642 0,452 0,853 0,491 0,324 0,438 0,530 0,801
BPI 0,790 0,556 0,501 0,790 0,675 0,475 0,562 0,708 0,672 0,746
AVE
MSV
ASV
ECL
ENB
GRP
GRB
GRA
BPI
ECL
Ghi chú: CR: Độ tin cậy tổng hợp; AVE: Trung bình phương sai trích; MSV: Bình phương
hệ số tương quan lớn nhất; ASV: Trung bình của tương quan bình phương; Đường chéo của 5
cột cuối: Căn bậc hai của AVE
4.2.3 Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến
tính (SEM)
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, mô hình
cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng
để kiểm định mối quan hệ giữa các thành
phần của marketing xanh ảnh hưởng đến
Ý định mua hàng của người tiêu dùng.
Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính
được trình bày trong Hình 2. Mô hình có
CMIN/DF = 1,190; TLI = 0,973; CFI = 0,979;
RMSEA = 0,035. Với các chỉ số thống kê trên
cho phép kết luận mô hình lý thuyết phù
hợp với dữ liệu thị trường. Có 5 giả thuyết
Hình 2. Kết quả SEM mô hình lý thuyết
(chuẩn hóa) (Ghi chú: ** p < 0,05)
được chấp nhận trong nghiên cứu này. Các
hệ số hồi quy chuẩn hóa của Niềm tin môi
trường tác động đến Ý định mua hàng của
người tiêu dùng là 0,192; Bao bì xanh tác
động đến Ý định mua hàng là 0,126; Nhãn
sinh thái tác động đến Ý định mua hàng là
0,204; Thương hiệu xanh tác động đến Ý
định mua hàng là 0,257; Quảng cáo xanh tác
động đến Ý định mua hàng của người tiêu
dùng là 0,212. Các ước lượng này có mức ý
nghĩa thống kê p < 0,05. Như vậy, 5 giả
thuyết H1, H2, H3, H4, H5 được chấp nhận
với độ tin cậy 95% (p<0.05).
Dữ liệu phân tích đã trả lời các câu
hỏi nghiên cứu. Cả năm tiền tố niềm tin
môi trường, bao bì xanh, nhãn sinh thái,
thương hiệu xanh và quảng cáo xanh đều
ảnh hưởng đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng (Bảng 3); trong đó
thương hiệu xanh là yếu tố ảnh hưởng
mạnh nhất và bao bì xanh là yếu tố ảnh
hưởng thấp nhất.
Tập 8 (12/2020)
17
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
Bảng 3. Kết quả kiểm định các giả thuyết
tin tưởng và nhận biết được các sản phẩm
xanh thông qua nhãn sinh thái; Katharina và
cộng sự (2006) cũng đưa ra kết quả tương
tự về sự lựa chọn sản phẩm máy giặt dựa
trên nhãn sinh thái năng lượng EU. Người
tiêu dùng có xu hướng quan tâm đến các sản
phẩm máy giặt có dán nhãn sinh thái về quy
định năng lượng EU. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu cũng có sự khác biệt với kết quả
của Elham và cộng sự (2011), họ đã đưa ra
kết luận rằng quảng cáo xanh và niềm tin
môi trường là hai yếu tố không có mối
tương quan với hành vi mua của người tiêu
dùng trong khi nhãn sinh thái và thương
hiệu xanh có mối tương quan thuận tương
đối mạnh với ý định mua hàng của người
tiêu dùng trong nghiên cứu của nhóm tác giả
trên tại Malaysia. Sự bất đồng về kết quả
nghiên cứu có thể do sự khác biệt về nhận
thức, mối quan tâm và niềm tin của người
tiêu dùng về sản phẩm xanh ở các thị trường
là khác nhau. Đây cũng có thể là một hướng
nghiên cứu cho các tác giả quan tâm đến
marketing xanh.
Giả
thuyết
SC
SE
CR
P
Kết quả
H1 0,192 0,080 2,394 0,017 Chấp nhận
H2 0,126 0,059 2,133 0,033 Chấp nhận
H3 0,204 0,071 2,861 0,004 Chấp nhận
H4 0,257 0,079 3,230 0,001 Chấp nhận
H5 0,212 0,088 2,413 0,016 Chấp nhận
Ghi chú: SE: Sai lệch chuẩn, CR: Giá trị tới
hạn, SC: Hệ số hồi quy chuẩn hóa
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này góp phần tìm hiểu vai
trò của các công cụ sử dụng trong hoạt động
marketing xanh của doanh nghiệp. Trong
nghiên cứu này, nhóm công cụ marketing
xanh được đưa vào nghiên cứu bao gồm
niềm tin về môi trường, bao bì xanh, nhãn
sinh thái, thương hiệu xanh và quảng cáo
xanh được đo lường về mức độ tác động đến
ý định mua hàng của khách hàng tại thành
phố Đà Lạt. Bằng kỹ thuật phân tích định
lượng, các chứng cứ về độ phù hợp của mô
hình, độ tin cậy và độ giá trị của các thang
đo đã được kiểm định. Đóng góp trước hết
của nghiên cứu là việc điều chỉnh thang đo,
mà trong một chừng mực nhất định đã
chứng tỏ được độ tin cậy, độ giá trị phân
biệt, độ giá trị hội tụ và giá trị nội dung đã
bao phủ hầu hết các khía cạnh quan trọng
của khái niệm. Thứ hai, nghiên cứu cũng đã
đưa ra kết quả tương đồng với các nghiên
cứu trước đây như nghiên cứu của Shrestha
(2018) thực hiện tại Nepal. Kết quả nghiên
cứu của Norazah (2013) tại Malaysia cũng
cho thấy hình ảnh thương hiệu xanh và các
hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp có
tác động đáng kể đến ý định mua hàng xanh
của người tiêu dùng. Tương tự, Shariar và
cộng sự (2016) cũng cho thấy khách hàng sẽ
4.4 Hàm ý quản trị
Kết quả nghiên cứu có thể là một gợi ý
tốt trong việc lựa chọn sử dụng các thành
phần trong hoạt động marketing xanh cho
các nhà quản trị muốn đưa doanh nghiệp đi
theo hướng xanh. Trong nghiên cứu này, kết
quả cho thấy nhóm 3 yếu tố có tác động
mạnh nhất đến hành vi mua của khách hàng
là thương hiệu xanh, quảng cáo xanh và
nhãn sinh thái. Điều này cho thấy các doanh
nghiệp đi theo hướng “xanh” nên xây dựng
cho mình một hình ảnh thương hiệu thân
thiện và có trách nhiệm với môi trường. Các
hoạt động quảng cáo nên chú trọng xây
dựng thông điệp “xanh” mà sản phẩm của
công ty mang lại cho khách hàng và trách
Tập 8 (12/2020)
18
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
nhiệm môi trường của mình. Việc sử dụng
5. Kết luận
nhãn sinh thái cũng được đề cao thông qua
các quy định của Chính phủ. Các quy định
về nhãn sinh thái nhằm khuyến khích thực
hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng
xanh của Việt Nam vào năm 2012 và Kế
hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng
xanh giai đoạn 2014 – 2020 năm 2014, cụ
thể như dán nhãn sinh thái (Bộ Tài nguyên
và Môi trường năm 2009), nhãn Xanh Việt
Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2014), Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm
và hiệu quả năm 2010, chương trình dán
nhãn năng lượng (Bộ Công thương từ năm
2012) cũng cho thấy đường lối đúng đắn
và đây chính là cơ hội cho các doanh
nghiệp vừa tuân thủ theo quy định vừa gia
tăng nhận biết của khách hàng về sản
phẩm xanh của doanh nghiệp bằng cách
dán nhãn sinh thái. Bên cạnh đó, việc sử
dụng bao bì xanh một cách hiệu quả cũng
có tác động đến ý định chọn mua của
người tiêu dùng; Hơn nữa, bao bì xanh
còn có thể góp phần giảm chi phí cho
doanh nghiệp thông qua việc thay đổi
công nghệ, vật liệu và quy trình tái chế
bao gói sản phẩm. Ngoài các thành phần
marketing xanh nêu trên, hoạt động
nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu
dùng về môi trường, tức niềm tin về môi
trường cũng nên được cân nhắc từ phía
doanh nghiệp bằng cách thực hiện các
hoạt động truyền thông với mục tiêu
nâng cao nhận thức của người tiêu dùng
về môi trường sinh thái, qua đó tạo mối
quan tâm đến các sản phẩm xanh và lựa
chọn sản phẩm xanh của mình.
Nghiên cứu này tập trung vào các
thành phần marketing xanh sẽ ảnh hưởng
đến ý định mua hàng của người tiêu dùng
tại thành phố Đà Lạt. Nghiên cứu góp phần
kiểm định thang đo của các nghiên cứu
trước đây về các yếu tố marketing xanh
được sử dụng trong doanh nghiệp. Đặc
biệt nghiên cứu cũng khẳng định các
thành phần của các công cụ marketing
xanh bao gồm bao bì xanh, nhãn sinh thái,
thương hiệu xanh và quảng cáo xanh trong
mô hình lý thuyết. Các yếu tố này có ảnh
hưởng tích cực đến ý định mua hàng của
người tiêu dùng, là một kiểm chứng chưa
được thực hiện tại Việt Nam. Bên cạnh đó,
căn cứ trên kết quả thu được, nhóm tác giả
cũng đưa ra một số hàm ý quản trị có ý
nghĩa cho các doanh nghiệp “xanh” tại Đà
Lạt nói riêng. Bên cạnh những đóng góp
của đề tài, nghiên cứu này còn một số hạn
chế nhất định. Thứ nhất, hạn chế về tính
đại diện của mẫu do phương pháp lấy mẫu
thuận tiện, đối tượng khảo sát chỉ tập
trung ở Thành phố Đà Lạt với kích thước
mẫu khá nhỏ. Thứ hai, nghiên cứu cũng chỉ
nghiên cứu 5 tiền tố của hoạt động
marketing xanh, trong khi đó, ý định mua
của khách hàng có thể bị ảnh hưởng bởi
nhiều nguyên nhân khác như giá xanh, sản
phẩm xanh… Vì vậy, việc mở rộng nghiên
cứu với việc bổ sung thêm các biến số mới
cũng là một trong những hướng nghiên
cứu tiếp theo.
Tập 8 (12/2020)
19
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Deliya. M & Parma. B (2012). Role of
Packaging on Consumer Buying
Behavior – Patan District. Global
Journal of Management and Business
Research. 12 (10), 2249-4588.
Ajzen, I. (1985). From Intentions to Actions:
A Theory of Planned Behavior. Action
Control, 11–39. doi:10.1007/978-3-
642-69746-3_2
Beskmann (Eds.), Action control: From
cognition to behavior. New York:
Springer, 11-39.
Elham Rahbar & Nabsiah Abdul Wahid
(2011), Investigation of green
marketing tools’ effect on consumers’
purchase behavior. Q Emerald Group
Publishing Limited, Vol. 12 No. 2 2011,
pp. 73-83
Blackwell, R. D., Miniard, R. D., & Engel, P. W.
(2001). Consumer behavior. New York:
Harcourt College Publishers.
Bùi Lan Phương (2013), Marketing xanh xu
hướng phát triển mới của các doanh
nghiệp. Tạp chí Kinh Tế và Dự Báo, 12,
64–66.
Hair, J. F. et al. (2010). Multivariate Data
Analysis: A Global Perspective. New
Jersey: Pearson Education
Hoyer, W.D & et (2004). Consumer
behaviour, National library of Australia
Cataloguing-in-publiccation data.
Cairncross, S. (2003). Water supply and
sanitation: some misconceptions.
Tropical Medicine and International
Health, 8(3), 193-195.
Isa, S. M., & Yao, P. X. (2013). Investigating
the preference for green packaging in
consumer product choices: A choice-
based conjoint approach. Business
Management Dynamics, 3(2), 84-96.
Conner, M. & Armitage, D. J. (1998).
Extending the Theory of Planned
Behavior: A review and avenues for
further research. Journal of Applied
Social Psychology, 28, 1429-1464.
Katharina Sammer & Rolf Wüstenhagen
(2006). The Influence of Eco-Labelling
on Consumer Behaviour – Results of a
Discrete Choice Analysis for Washing
Machines. Business Strategy and the
Environment Bus. Strat. Env. 15, 185–
199
Dangelico, R. M., Vocalelli, D. (2017). “Green
Marketing”: An analysis of definitions,
strategy steps, and tools through a
systematic review of the literature.
Journal of Cleaner Production, 165,
1263–1279.
Lee, C. K. M., Lam, J. S. L. (2012). Managing
D’Souza, C., Taghian, M. and Lamb, P.
(2006). ‘‘An empirical study on the
influence of environmental labels on
reverse
logistics
to
enhance
sustainability of industrial marketing.
Industrial Marketing Management, 41,
589–598.
consumers’’,
Corporate
Communication: An International
Mark Brown, Nigel Pope, Kevin Voges,
(2003). "Buying or browsing?: An
Journal, Vol. 11 No. 2, pp. 162-73.
Tập 8 (12/2020)
20
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ
exploration of shopping orientations
learn from conventional marketing’’,
Journal of Cleaner Production, Vol. 15,
pp. 567-76
and online purchase intention".
European Journal of Marketing, Vol. 37
Iss: 11 pp. 1666 – 1684
Richards Lindsay (2013), Examining Green
Advertising and Its Impact on
Consumer Skepticism and Purchasing
Morris, L., Hastak, M., & Mazis, M. (1995).
Consumer
environmental
comprehension
advertising
of
and
Patterns,
Undergraduate
Elon
Journal
Research
of
in
labelling claims. The Journal of
Consumer Affairs, 29(2), 328–351.
Communications, Vol 4, No 2, 4/4
Niazi & et (2012), Effective advertising and
its influence on consumer buying
behavior. Information Management
and Business Review, Vol. 4, No. 3, pp.
114-119, Mar 2012 (ISSN 2220-3796).
Saleem Abideen (2011). Effective
&
advertising and its influence on
consumer buying behavior. European
Journal of Business and Management
ISSN, 3(3).
Norazal, M.S (2013). Green awareness
effect on consumer’s purchasing
decision: some insign in Malaysia.
Penerbit Universiti Sains Malaysia,
IJAPS, Vol. 9, No. 2
Shrestha, S. (2018). Analysis of Green
Marketing Tools towards Consumer
Purchase Intention in Kathmandu.
Journal of Business and Social Sciences
Research, 1(1), 37-57.
Philip Kotler and Gary Armstrong, (2015).
Principles of Marketing 17th Edition.
Pearson Global Edition. England
Sammer, K. and Wu¨stenhagen, R. (2006).
The influence of eco-labelling on
consumer behaviour – results of a
discrete choice analysis for washing
machines. Business Strategy and the
Environment, Vol. 15 No. 3, pp. 185-99.
Polonsky, M. J. (1994). An Introduction to
Green Marketing. Electronic Green
Journal 1(2): 1–10.
Warshaw, P. R., & Davis, F. D. (1985).
Disentangling behavioral intention and
behavioral expectation. Journal of
Experimental Social Psychology, 21(3),
Rahbar, E. and Abdul Wahid, N. (2010),
‘‘Consumers’ perception of green
products category: implication of
SMEs’’, paper presented at the SME and
Marketing Mini Conference, Penang.
213–228.
doi:10.1016/0022-
1031(85)90017-4
Rex, E. and Baumann, H. (2007), ‘‘Beyond
ecolabels: what green marketing can
Tập 8 (12/2020)
21
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của marketing xanh đến ý định mua hàng của người tiêu dùng: Một nghiên cứu tại thành phố Đà Lạt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_marketing_xanh_den_y_dinh_mua_hang_cua_nguoi_ti.pdf

