Hạt sạn hay tảng đá trong văn hóa kinh doanh Việt Nam hiện nay

ts. nguyễn Hồng cử  
125  
HẠT SẠN HAY TẢNG ĐÁ TRONG  
VĂN HÓA KINH DOANH VIỆT NAM HIỆN NAY  
TS. NGUyễN HồNG Cử  
Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong  
hoạt động của mình. Văn hóa được ví như “quốc hồn” của một dân tộc. Quá trình  
phát triển kinh tế thị trường gắn với hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta mặc dù đạt  
được nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế nhưng đã xuất hiện nhiều hiện  
tượng bất cập về văn hóa, nhất là văn hóa kinh doanh. Bài viết đề cập đến một số  
những hạt sạn trong văn hóa kinh doanh hiện nay ở Việt Nam và khả năng phát  
triển của nó trở thành những tảng đá cản trở sự phát triển nói chung, đó thực sự là  
một nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.  
Từ khóa: Văn hóa, phát triꢀn, kinh tế, bản sꢁc, hội nhꢂp  
iệt Nam cách đây vài chục năm nền tảng của nó là lấy đức làm trọng. Nó đã  
là một nền kinh tế chủ yếu là sản  
xuất tự cung tự cấp, đời sống văn  
góp phần tạo ra những làng nghề nổi tiếng với  
những sản phẩm nổi danh cho đến tận ngày  
nay như đồ gỗ Đồng Kỵ, gốm Bát Tràng, vải  
lụa Vạn Phúc, đá mỹ nghệ Non Nước, đúc  
đồng Bắc Ninh, rượu làng Vân...  
V
hóa về cơ bản là văn hóa làng xã gắn với nền  
kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Tuy vậy, dưới  
thời phong kiến và Pháp thuộc, công thương  
nghiệp cũng dần hình thành và phát triển. Văn  
hóa kinh doanh cũng dần hình thành và chịu  
sự chi phối sâu sắc của đạo Khổng. Nhiều làng  
nghề, phường hội buôn bán ra đời với phương  
châm lấy chữ tín, chất lượng sản phẩm làm  
đầu. Tư tưởng coi trọng nghề, truyền và giữ  
nghề được coi là phương thức tồn tại và phát  
triển của nhiều làng nghề truyền thống. “Nhất  
nghệ tinh, nhất thân vinh” đã thể hiện rất rõ  
quan điểm của ông cha ta về vấn đề cốt lõi  
“con người là nhân tố cơ bản” của văn hóa  
kinh doanh. Mặc dù chưa phải là một xã hội  
kinh tế hàng hóa phổ biến nhưng sự phát triển  
của công thương nghiệp thời kỳ phong kiến  
và thuộc Pháp cũng đã hình thành một một  
thứ văn hóa kinh doanh Việt Nam với những  
đặc điểm nổi trội là: Coi trọng nghề như là  
phương thức tồn tại lâu dài, coi trọng chữ tín  
Kể từ khi chuyển sang kinh tế thị trường  
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa,  
từng bước hội nhập với khu vực và thế giới.  
Nhiều yếu tố tốt đẹp trong văn hóa kinh  
doanh truyền thống vẫn được nhiều người,  
nhiều doanh nghiệp kế tục, phát huy song bên  
cạnh đó xuất hiện ngày càng nhiều những tư  
tưởng, triết lý, phương thức kinh doanh theo  
chiều hướng tiêu cực, không chỉ trái với văn  
hóa truyền thống mà còn bất cập với tiến trình  
phát triển một xã hội hiện đại, hội nhập với  
thế giới. Chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra những  
những hạt sạn văn hóa này là:  
Cung cách làm ăn tùy tiện, đầu voi đuôi  
chuột  
Văn hóa kinh doanh truyền thống Việt  
trong kinh doanh, tôn trọng khách hàng...mà Nam trước đây rất coi trọng nghề và chữ  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
126  
tín, lấy uy tín và sự đảm bảo về chất lượng  
sản phẩm là thương hiệu của mình được lưu  
truyền hết từ đời này sang đời khác. Người  
học nghề và được truyền nghề trước hết phải  
có tâm đức nghề nghiệp, coi đó như là những  
thứ bảo vật của ông cha để lại, họ phải có  
trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo. Những sản phẩm  
làm ra chứa đựng trong đó không chỉ là kỹ  
thuật tinh xảo mà còn là tâm huyết của người  
thợ. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, tư tưởng  
kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp lại  
khá tùy tiện, mang nặng kiểu đầu voi đuôi  
chuột. Biểu hiện phổ biến là doanh nghiệp  
nào khi khởi đầu kinh doanh cũng rất rầm  
rộ, hứa hẹn đủ điều, đưa ra nhiều chiêu thức  
Thói quen làm ăn chụp giựt, thiếu chuyên  
nghiệp  
Trong cách thức làm ăn của người Việt  
Nam, nhiều thói quen, cung cách làm ăn cũ,  
lạc hậu, tùy tiện vẫn đang tồn tại; phong cách  
kinh doanh thiếu chuyên nghiệp. Sự gian dối  
trong kinh doanh vẫn còn tồn tại khá phổ  
biến, không ít người đã thẳng thắn bộc lộ  
“thật thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm”, vì thế họ  
tìm mọi cách trốn lậu, phi pháp, lách luật để  
làm ăn. Các doanh nghiệp Việt Nam thường  
bị kém thế cạnh tranh do cung cách làm ăn  
manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà  
ít nghĩ đến lợi ích lâu dài. Việc liên kết để  
đáp ứng những đơn đặt hàng lớn chỉ thuận  
đảm bảo cái này, cái nọ nhưng chỉ sau một lợi trong những bước đầu, sau đó, các doanh  
nghiệp thường tìm cách xé lẻ, giành riêng hợp  
đồng cho mình để rồi dẫn đến tình trạng luôn  
nghi kỵ, đối phó lẫn nhau và sẵn sàng dùng  
mọi chiêu trò để giành giật quyền lợi riêng  
cho mình. Nhiều doanh nghiệp không có khả  
năng tổ chức sản xuất kinh doanh quy mô  
lớn, không có chiến lược kinh doanh dài hạn.  
Sản xuất kinh doanh theo lối chắp vá, được  
đâu hay đó hoàn toàn không phù hợp với môi  
trường kinh doanh văn minh, hiện đại, nhất  
là trong điều kiện hội nhập. Vì không có tầm  
nhìn dài hạn nên các doanh nhân Việt Nam  
thường không xây dựng mục tiêu dài hạn  
và có kế hoạch đầu tư thích hợp. Các doanh  
nghiệp thường không đầu tư vào những vấn  
đề cốt lõi, lâu dài mà lao theo xu hướng “ăn  
xổi”, đầu tư cả vào những lĩnh vực không  
thuộc chuyên môn của mình.  
thời gian mọi thứ cứ lụi dần. Nhiều sản phẩm  
lúc mới ra đời được nhiều người tin dùng vì  
nó tốt thật nhưng rồi chất lượng cứ dần giảm  
sút đi do bớt xén, thay đổi vật tư nguyên liệu  
để giảm chi phí. Nhiều nhà hàng lúc khai  
trương đã từng được khách hàng lựa chọn vì  
món ăn ngon, giá cả chấp nhận được nhưng  
khi có đông khách rồi, bắt đầu là sự bớt xén  
dần rồi tăng giá khiến nhiều khách hàng lại  
quay lưng. Tình hình làm ăn theo kiểu đầu  
voi, đuôi chuột này không chỉ làm mất sự  
tin tưởng của khách hàng trong nước mà còn  
cả khách hàng nước ngoài đối với hàng xuất  
khẩu. Người nước ngoài rất “sợ” và rất cẩn  
thận khi mua hàng của Việt Nam vì lúc đầu  
thường rất tốt nhưng sau thì phải coi chừng.  
Ở các nước phát triển, ta thấy sản phẩm của  
họ có xu hướng ngày càng tốt hơn, liên tục cải  
tiến về mọi mặt còn Việt Nam thì ngược lại.  
Lối làm ăn này đã thấm sâu vào nhiều doanh  
nghiệp, nhiều nhà kinh doanh và lây lan trong  
mọi ngành, mọi nghề. Theo năm tháng căn  
bệnh kinh niên này ngày càng trở nên nặng  
và bất trị, thậm chí nó còn được coi là thức  
thời. Nguy hiểm hơn việc “treo đầu dê, bán  
thịt chó” còn xâm nhập vào cả những lĩnh vực  
được xem là nhân văn nhất như văn hóa, giáo  
dục, y tế, chăm sóc sức khỏe cho con người.  
Xem nhẹ chữ tín trong kinh doanh và  
không minh bạch  
Chữ tín vốn được giữ gìn rất cẩn thận  
trong văn hóa làm ăn của những người thợ  
thủ công trong các làng nghề truyền thống ở  
Việt Nam. Văn hóa của người Việt cũng rất  
trọng chữ tín. Tuy nhiên, cho đến hiện nay  
nhiều người Việt Nam cũng như nước ngoài  
đều có nhận xét nhiều doanh nhân Việt Nam  
không coi trọng chữ tín. Phần lớn họ đều hay  
ts. nguyễn Hồng cử  
127  
viện dẫn các lý do khách quan để khước từ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Những khẩu  
việc thực hiện cam kết, gây nhiều phiền toái  
trong quan hệ với các đối tác. Trong lĩnh vực  
thương mại, chiêu trò lừa gạt, dụ dỗ diễn ra  
phổ biến cùng với lập luận “buôn gian, bán  
lận” để bao biện hành vi của mình. Hầu như  
không ai dám tin ai, kể cả người thân, quen  
biết. Các hành vi lừa đảo trong kinh doanh,  
gom tiền, hụi hè đã khiến nhiều người cả tin,  
nhẹ dạ tiền mất, tật mang. Tính chất của sự  
lừa đảo không chỉ là xảo quyệt mà còn cả sự  
trắng trợn, thách thức đánh vào lòng tham  
của nhiều người mà đa phần là những người  
kém hiểu biết, thiếu kinh nghiệm. Thiếu niềm  
tin giờ đây đang trở thành hiểm họa cho các  
cơ sở kinh tế Việt Nam về lâu về dài nhất là  
trong điều kiện hội nhập kinh tế, vươn ra thị  
trường quốc tế. Việc xem nhẹ chữ tín đã hạn  
chế rất nhiều khả năng liên kết kinh tế giữa  
các địa phương, các doanh nghiệp và các chủ  
thể kinh tế. Thói quen cố hữu của rất nhiều  
doanh nghiệp là “mạnh ai nấy làm” khiến  
cho liên kết, hợp tác của các doanh nhân theo  
nguyên tắc cùng có lợi còn quá yếu và rời rạc.  
Tính cộng đồng của doanh nhân Việt Nam ở  
mức thấp, chủ trương thành lập những tập  
đoàn kinh tế vấp phải những rào cản nội tại  
do thông tin của doanh nghiệp thường thiếu  
độ tin cậy.  
hiệu “tất cả vì khách hàng”, “khách hàng là  
thượng đế” chỉ được trưng ra như một khẩu  
hiệu thời thượng chứ nó không biến thành  
phương châm kinh doanh của doanh nghiệp.  
Các ông chủ đã không nhìn thấy mối quan  
hệ biện chứng cùng tồn tại của họ và khách  
hàng. Họ coi khách hàng như là một đám  
đông vô thưởng vô phạt, sẵn sàng hứa hẹn,  
sẵn sàng thất hứa, sẵn sàng viện lý do. Họ chỉ  
tìm mọi cách chèo kéo, móc túi khách hàng  
chứ ít quan tâm đến lợi ích của họ. Người tiêu  
dùng Việt Nam luôn được khuyến cáo phải  
“thông minh” và “tự bảo vệ mình” trước sự  
vô cảm của nhiều doanh nghiệp có thể làm  
tổn hại đến lợi ích của mình.  
Chắc khó có thể nói hết những hạt sạn tồn  
tại trong văn hóa kinh doanh Việt Nam hiện  
nay. Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu nguyên  
nhân của nó là gì? Điều chắc chắn là nhiều  
người thường cho rằng nguyên nhân xuất  
phát từ bản chất của cơ chế thị trường. Điều  
này cũng đúng một phần nhưng vấn đề cơ bản  
có lẽ không phải vậy. Theo quan điểm của tôi  
nguyên nhân chính là:  
Thứ nhất, do xuất thân từ nền kinh tế  
tiểu nông, con người Việt Nam thường có  
tầm nhìn ngắn hạn, hay thay đổi và muốn đi  
đường tắt, thay vì kiên nhẫn chờ đợi kết quả  
lâu dài. Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ  
qua chế độ tư bản chủ nghĩa đã tạo ra một cú  
sốc về tư duy kinh doanh. Trong khi những  
làng nghề vẫn giữ được những nét văn hóa  
tốt đẹp trong kinh doanh thì việc hình thành  
tầng lớp doanh nhân vốn xuất thân từ nông  
dân, thiếu kiến thức kinh doanh và không hề  
được rèn dũa bởi đại công nghiệp đã mang  
vào lĩnh vực kinh doanh cách tư duy, làm  
ăn manh mún, chụp giựt. Có lẽ hơn lúc nào  
hết chúng ta càng cảm thấy thiệt thòi khi con  
người Việt Nam chưa có được tác phong lao  
động và kỷ luật lao động do đại công nghiệp  
sản sinh ra. Chính thói quen tùy tiện, nông  
Hầu hết các cơ sở kinh doanh đều thiếu  
sự minh bạch. Mọi số liệu, chứng từ đều có  
thể bị chế biến, giả mạo do vậy các báo cáo  
chỉ mang tính hình thức, đối phó. Sự không  
minh bạch bao trùm tất cả từ chi phí sản xuất,  
lợi nhuận, thuế, giá cả và các thông số về chất  
lượng hàng hóa. Sự thiếu minh bạch mang lại  
những nguồn lợi lớn cho các doanh nghiệp  
từ trốn thuế nhưng ngày càng làm cho người  
tiêu dùng hoài nghi, gây tác hại lâu dài cho  
các doanh nghiệp. Đáng lo ngại hơn là tình  
trạng này lại tồn tại trong khá nhiều các doanh  
nghiệp nhà nước.  
Không coi trọng ngưꢀi tiêu dùng  
Đây có lẽ là điều tệ hại nhất trong văn hóa cạn, hẹp hòi, ích kỷ đã tạo ra một thứ văn  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
128  
hóa kinh doanh không mong muốn mà hàng  
ngày, hàng giờ chúng ta phải chứng kiến, phải  
chịu đựng. Chúng ta thấy các công ty nước  
ngoài, mà đặc biệt là các công ty Châu Âu,  
Mỹ, Nhật Bản kinh doanh ở Việt Nam họ bài  
bản bao nhiêu thì càng lo lắng cho các công  
ty Việt Nam bấy nhiêu. Trong khi các doanh  
nghiệp nước ngoài nỗ lực tìm kiếm cơ hội đầu  
tư và lợi ích kinh doanh dài hạn tại Việt Nam  
thì nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam lại  
đang tìm kiếm lợi nhuận từ các khoản đầu tư  
mang tính đầu cơ như kinh doanh bất động  
sản, chứng khoán…mà quên đi các lĩnh vực  
kinh doanh cốt lõi.  
chí dùng cả quyền lực để bóp méo lực lượng  
thị trường như phân phối quota xuất nhập  
khẩu…là những hiện tượng đang gây bức xúc  
trong toàn xã hội. Những cái lợi từ việc thân  
quen đem lại là một cám dỗ lớn hơn rất nhiều  
so với cái cực nhọc đầu tư để đổi mới công  
nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đa phần  
các nhà kinh doanh hiển nhiên thừa nhận mối  
quan hệ với cơ quan công quyền tốt hay xấu  
có tính chất quyết định tới sự thành bại. Cám  
dỗ về đặc quyền, đặc lợi, dựa dẫm đang là lực  
cản rất lớn để hình thành văn hóa kinh doanh  
văn minh, hiện đại ở nước ta.  
Ba là, trình độ phát triển kinh tế thị trường  
còn thấp, môi trường cạnh tranh thiếu lành  
mạnh, minh bạch. Đó là chất xúc tác cho sự  
phát triển một thứ văn hóa trong kinh doanh  
theo kiểu “chèn ép” nhằm mục đích gạt bỏ,  
bóp chết lẫn nhau thay vì liên kết, hợp tác với  
nhau. Không ít doanh nghiệp không những  
không cởi mở, liên kết với nhau, mà còn chơi  
xấu, cạnh tranh không lành mạnh với nhau.  
Hệ quả là không những không nâng cao được  
sức cạnh tranh mà còn yếu đi vì sự tranh mua,  
tranh bán, thậm chí hạ uy tín của nhau.  
Hai là, quản lý kinh tế của nhà nước ta  
còn quá yếu kém. Một bộ máy nhà nước vốn  
chỉ quen với chỉ huy chiến tranh và phát triển  
kinh tế trong điều kiện kế hoạch hóa đã tỏ ra  
lúng túng trong quản lý một nền kinh tế vận  
hành theo cơ chế thị trường. Sự yếu kém trong  
quản lý của nhà nước ta có nguyên nhân từ  
những bất cập của cơ chế quản lý thiếu đồng  
bộ và chưa hoàn thiện cộng với trình độ của  
cán bộ quản lý không đáp ứng được yêu cầu.  
Từ đó đẻ ra tệ nạn tham nhũng tràn lan với  
mức độ nghiêm trọng, góp phần tạo ra một  
thứ văn hóa kinh doanh không dựa vào năng  
lực cạnh tranh công nghệ, sản phẩm mà lại  
dựa vào “quan hệ”, “chạy chọt”. Ở nước ta,  
đặc tính coi trọng quan hệ cá nhân, xu hướng  
cá nhân hóa các mối quan hệ kinh doanh, ỷ lại  
vào sự bảo hộ của Nhà nước vẫn tồn tại khá  
phổ biến. Nhiều doanh nghiệp tập trung thời  
gian và tiền bạc cho một hoặc một số nhân vật  
quan trọng, cho các mối quan hệ cá nhân giữa  
người kinh doanh mà cụ thể hơn là người bán  
hoặc mua với người có thẩm quyền quyết định  
của bên đối tác mua hoặc bán. Nhiều doanh  
nghiệp thành công nhờ vào mối quan hệ rộng  
hơn là nhờ vào năng lực. Xu hướng dựa vào  
quan hệ rộng như là một chủ bài, mạnh hơn  
cả năng lực, xu hướng nhờ vả, chạy chọt  
Bốn là, hệ thống luật pháp kinh doanh  
còn thiếu và không đồng bộ, thực thi luật  
pháp không nghiêm. Luật pháp chưa đủ sức  
tạo ra một sân chơi bình đẳng và chưa có khả  
năng dẫn dắt cuộc chơi của doanh nghiệp theo  
hướng lành mạnh. Trên thực tế, khi pháp luật  
còn thiếu và yếu thì tất yếu các doanh nghiệp  
sẽ bổ sung vào đó một thứ “luật rừng” để ứng  
xử với nhau.  
Năm là, bản thân các doanh nghiệp nhà  
nước không làm gương mà trái lại còn đi đầu  
về lối văn hóa kinh doanh theo chiều tiêu cực.  
Các doanh nghiệp nhà nước được nhà nước  
nuôi dưỡng và dung túng đã không thực hành  
được vai trò sư phạm kinh doanh, không thể  
hiện được vai trò chủ đạo, dẫn đầu về năng  
hiện đang tồn tại ở mức đáng kể. Lợi ích quá suất, chất lượng mà còn nêu những tấm gương  
nhiều từ quan hệ cá nhân, tranh giành đất đai, xấu về đạo đức kinh doanh, lối làm ăn ỷ lại,  
dùng quan hệ để thắng thầu bất chính, thậm dựa dẫm, chèn ép và thiếu minh bạch.  
ts. nguyễn Hồng cử  
129  
Phải thừa nhận rằng một số doanh nghiệp tố khách quan và nó đang tạo ra một thứ văn  
nước ta mặc dù không nhiều đã nêu tấm gương hóa kinh doanh mà chúng ta không mong  
sáng về xây dựng văn hóa kinh doanh văn muốn. Có thể lúc đầu nó tồn tại như những  
minh hiện đại: biết đầu tư, cải tiến công nghệ, hạt sạn trong văn hóa kinh doanh nhưng nếu  
không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, chúng ta không chú ý ngăn chặn tất chúng sẽ  
làm ăn đúng pháp luật, có chiến lược kinh trở thành những tảng đá cản trở sự phát triển  
doanh bài bản, tôn trọng người tiêu dùng, coi của đất nước.  
văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần của  
Đảng ta luôn khẳng định, văn hóa là nhu  
doanh nghiệp, là nguồn lực để doanh nghiệp  
cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần xã hội,  
phát triển bền vững, không ngừng xây dựng  
thể hiện trình độ phát triển chung của một đất  
mối quan hệ nhân văn trong doanh nghiệp.  
nước, một thời đại. Đặc biệt trong thời kỳ hội  
Song phần đông các doanh nghiệp vẫn chưa  
nhập hiện nay, văn hóa luôn là động lực cho  
nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của  
phát triển bền vững đất nước. Nhận thức về  
một thứ văn hóa kinh doanh lạc hậu, tiêu cực  
việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.  
Đất nước ta đang chuyển đổi mạnh mẽ đang tồn tại khá phổ biến ở nước ta hiện nay  
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội và đặc biệt là những nguyên nhân sinh ra nó  
chủ nghĩa, từng bước hội nhập với khu vực có ý nghĩa quan trọng. Để khắc phục thứ văn  
và thế giới. Các giai tầng xã hội, các tầng lớp hóa kinh doanh lạc hậu và tiêu cực nói trên,  
dân cư đã và đang có sự thay đổi về thứ tự ưu chúng ta cần phải thực hiện hàng loạt những  
tiên của các bậc thang giá trị. Song đáng chú biện pháp mạnh mẽ như khắc phục dần tâm  
ý là ở một bộ phận không nhỏ dân cư, nhất là lý, phong cách sản xuất nhỏ, nâng cao trình  
trong lớp trẻ, giới kinh doanh đang chuyển từ độ dân trí, trình độ sản xuất kinh doanh, hoàn  
cực đoan này sang cực đoan khác. Đó là, từ thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã  
lý tưởng sang thực dụng; từ tinh thần sang vật hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống luật pháp,  
chất; từ đức sang tài (tiền tài); từ tập thể sang nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế của nhà  
cá nhân; từ khoe nghèo, giấu giàu sang phô nước, đấu tranh quyết liệt chống tham nhũng  
trương thói phù hoa xa xỉ kiểu trọc phú… Sự và làm trong sạch bộ máy công quyền, phục  
chuyển biến ấy chịu sự chi phối của nhiều yếu hồi luật chơi minh bạch trên thương trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Giáo trình Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, NXB Chính trị quốc gia, 2012.  
2. Văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam trong thꢀi kỳ hội nhập. PGS.TS. Đinh Công Tuấn Viện Nghiên cứu  
châu Âu  
3. Những bất cập của văn hóa kinh doanh Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Dương Thị Liễu, Nguyễn Vân  
Hà, Tạp chí hoạt động khoa học số 11. 2009.  
4. Văn hóa kinh doanh Việt Nam trên đưꢀng phát triển và hội nhập, Nguyễn Hoàng Ánh, Tạp chí hoạt  
động khoa học số 550, tháng 3 năm 2005.  
pdf 5 trang Thùy Anh 10720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hạt sạn hay tảng đá trong văn hóa kinh doanh Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhat_san_hay_tang_da_trong_van_hoa_kinh_doanh_viet_nam_hien_n.pdf