Nghệ nhân và không gian tưởng tượng trong diễn xướng sử thi Ê Đê

Nghệ nhân và không gian tưởng tượng  
trong diễn xướng sử thi Ê Đê  
Kiều Trung Sơn1, Y Kô Niê2  
1 Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
2 Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk.  
Nhận ngày 15 tháng 11 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 6 tháng 12 năm 2017.  
Tóm tắt: Sự thể hiện câu chuyện sử thi cần tới khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng của nghệ  
nhân. Khả năng này biến một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, nhiều sự kiện, tồn tại trong trí nhớ  
của nghệ nhân trở nên sinh động trong một không gian tưởng tượng, trước khi có thể bộc lộ cho  
người nghe. Cách sáng tạo như vậy giống như một thứ năng lượng, giúp cho nghệ nhân có thể hát  
kể sử thi hàng đêm, thậm chí nhiều ngày đêm. Nghệ nhân diễn xướng nội dung sử thi không phải  
chỉ từ trí nhớ, mà từ trong tiềm thức của họ. Tất cả được trí tưởng tượng kích hoạt, diễn xướng tùy  
theo bối cảnh không gian, thời gian và người nghe. Nhờ có không gian tưởng tượng, người hát kể  
có thể sáng tạo và ngẫu hứng để gây ấn tượng, tạo sự hấp dẫn từ câu chuyện sử thi tới đối tượng  
thưởng thức.  
Từ khóa: Sử thi Ê Đê, nghệ nhân diễn xướng, không gian tưởng tượng.  
Phân loại ngành: Văn hóa học  
Abstract: The performance of epics requires for the performers’ creativity and imagination. This  
ability turns a long story with many characters and events existing in the artist's memory to become  
vivid in an imaginary space before they are revealed to the listeners. Such creativity is like a force  
allowing artists to sing epics every night, even for several consecutive days. Artists perform epic  
content not only from memory but also from their sub-consciousness. All are activated by imagination,  
depending on the context of space, time and audience. Thanks to the imaginary space, the narrator can  
create and improvise to impress and create the appeal of the epic story to the audience.  
Keywords: Ede epics, performers, imaginary space.  
Subject classification: Cultural studies  
87  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
1. Mở đầu  
sử thi, nghệ nhân có thể chủ động hát kể  
trong thời gian co giãn, tùy theo nhu cầu  
Cách đây gần một thế kỷ, sử thi Ê Đê đã của người thưởng thức.  
được thế giới biết tới nhờ L. Sabatier3 với  
sự kiện lần đầu tiên ông công bố tác phẩm  
2. Năng lực tưởng tượng của nghệ nhân  
hát kể  
Truyền thuyết về Đăm Săn năm 1927 tại  
Pháp. Sử thi Ê Đê thứ hai Đăm Di, cũng do  
một người Pháp, D. Antomarchi, sưu tầm  
và giới thiệu trong Tập san trường Viễn  
Đông bác cổ năm 1955. Gần đây nhất, sau  
Dự án điều tra, sưu tầm, biên dịch và xuất  
bản kho tàng sử thi Tây Nguyên do Viện  
Nghiên cứu Văn hóa thực hiện, đã xuất  
bản 14 tác phẩm sử thi Ê Đê4. Tất cả cho  
thấy, người Ê Đê sở hữu một kho tàng sử  
thi rất đồ sộ.  
Trước sự hấp dẫn của sử thi Ê Đê, có  
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, như G.  
Condominas, Chu Xuân Diên, Ngọc Anh,  
Võ Quang Nhơn, Nguyễn Văn Hoàn,  
Nguyễn Hữu Thấu, Phan Đăng Nhật. Dù đó  
là nghiên cứu văn học hay nghiên cứu văn  
hóa, hầu hết các nghiên cứu về sử thi Ê Đê  
dựa vào phương pháp phân tích văn học,  
trên nội dung và hình thức văn bản. Tác giả  
bài viết này dựa trên quan điểm khác, đó là  
coi sử thi như một tác phẩm nghệ thuật diễn  
xướng, trong đó, người diễn xướng có vai  
trò quyết định. Với quan điểm như vậy,  
không thể sử dụng phương pháp phân tích  
văn học dựa trên văn bản, mà cần sử dụng  
phương pháp phân tích nghệ thuật dựa trên  
hoạt động diễn xướng của nghệ nhân. Việc  
phân tích nghệ thuật dựa trên hoạt động  
diễn xướng có thể tiếp cận từ rất nhiều khía  
cạnh khác nhau. Tác giả bài viết này đề cập  
tới khía cạnh sáng tạo ngẫu hứng của nghệ  
nhân trong nghệ thuật diễn xướng; qua đó  
để hiểu lý do tại sao với cùng một nội dung  
Nghệ nhân dân gian được đánh giá như báu  
vật nhân văn sống, vì họ nắm giữ những giá  
trị độc đáo của văn hóa truyền thống, và có  
vai trò rất lớn trong việc trao truyền những  
giá trị độc đáo đó cho thế hệ kế tiếp. Không  
ai có thể đảm nhận vai trò đó ngoài các  
nghệ nhân. Người Ê Đê gọi nghệ nhân diễn  
xướng sử thi là pô khan (pô: thầy, người  
thạo việc), gọi sử thi là klei khan (klei: lời,  
bài). Có thể thấy, sử thi tồn tại dưới dạng  
truyền miệng, được truyền tải đến người  
nghe thông qua hình thức hát, kể, diễn  
xướng của nghệ nhân. Quan sát và nghe  
nghệ nhân hát kể sử thi, ta sẽ nhận thấy họ  
như là nghệ sỹ đa năng: người sáng tạo tác  
phẩm, người đạo diễn các tình huống, diễn  
viên tài năng (có thể diễn được nhiều giọng  
khác nhau, đồng thời cũng là người bình  
luận tính cách hay diễn biến câu chuyện...).  
Đỗ Hồng Kỳ nhận định: “Nghệ nhân được  
gọi là pô khan phải có đủ các khả năng sau:  
1. Thuộc hoàn chỉnh nhiều cốt truyện khan,  
không lẫn lộn sự kiện, hành động, biến cố  
của cốt truyện này với sự kiện, hành động,  
biến cố của cốt truyện khác; 2. Ngoài  
những lời duê (lối nói vần) có sẵn được  
dùng làm khuôn mẫu, người hát kể khan  
còn phải biết vận dụng thêm những câu duê  
mới để làm phong phú hơn, hay hơn điều  
đang nói, nhưng chúng không được xa rời  
đối tượng cần thể hiện; 3. Người hát kể phải  
88  
Kiều Trung Sơn, Y Kô Niê  
có giọng hát truyền cảm, biểu đạt đúng các  
sắc thái của truyện kể” [6].  
Chính vì thế mà người kể phải dùng lối hát  
để khỏi bị phân tâm và gián đoạn câu  
chuyện. Đây là một không gian rộng, phong  
phú, giàu trí tưởng tượng cho người diễn  
xướng thành một bản trường ca, được kết  
cấu từ những tình tiết câu chuyện với mô  
típ gần giống nhau nhưng vẫn được cộng  
đồng công nhận.  
Không gian hiện thực là sự tương hữu  
giữa tưởng tượng và hiện thực, theo nghĩa  
hẹp so với không gian tưởng tượng, bao  
gồm vật chất và con người ví dụ như gian  
khách nhà dài (sang gah), bếp lửa (kpur),  
ghế dài (kpan), trống (hgơr), cộng đồng  
làng (yang buôn), sự quan hệ tổng thể  
người với người, không giới hạn lứa tuổi và  
giới tính. Những yếu tố con người, vật chất  
tưởng tượng và hiện thực đó tạo ra những  
âm thanh, hình ảnh gần gũi, thân thiện, thực  
hư trong tâm trí của người hát kể và  
người nghe.  
Để có được khả năng tạo không gian  
tưởng tượng như vậy, người diễn xướng sử  
thi Ê Đê ngoài năng khiếu bẩm sinh, còn  
được trao truyền trong dòng tộc. Bởi từ bé  
họ đã được đắm mình trong lời kể của ông,  
cha ở các lễ hội, lúc lên rẫy… Ngoài ra, họ  
còn học, ghi nhớ những tác phẩm sử thi  
khác từ những người diễn xướng giỏi trong  
buôn, trong vùng. Không những thế, trong  
quá trình diễn xướng sử thi, người diễn  
xướng còn sáng tạo thêm những đoạn,  
chương cho phù hợp với dân tộc, với địa  
phương, nhất là phù hợp với phong tục tập  
quán của cộng đồng mình. Chính vì vậy,  
những nghệ nhân hát kể khan Ê Đê thường  
Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với nhận  
định trên, nhưng cần bổ sung thêm một  
năng lực rất đặc trưng của nghệ nhân kể  
khan Ê Đê, đó là khả năng sáng tạo và trí  
tưởng tượng. Khả năng này là cơ sở, là  
phương thức cho cả một câu chuyện dài tồn  
tại trong trí nhớ của nghệ nhân, có thể bộc  
lộ ra một cách sinh động trước người nghe.  
Khi diễn xướng, nghệ nhân như sống trong  
không gian riêng của họ, một không gian  
tưởng tượng. Chính không gian này mở ra  
câu chuyện sử thi, dẫn dắt câu chuyện sử  
thi. Câu chuyện qua không gian tưởng  
tượng, từ lời diễn xướng của nghệ nhân,  
luôn tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.  
Theo quan niệm của người Ê Đê, không  
gian diễn xướng sử thi được chia thành hai  
loại: không gian riêng và không gian chung.  
Không gian riêng là “không gian tưởng  
tượng” dành cho người hát kể có thể sáng  
tạo, và ngẫu hứng trong câu chuyện của  
mình để gây ấn tượng, tạo sự hấp dẫn cho  
người nghe. Không gian chung là “không  
gian hiện thực” dành cho người nghe, với  
sự tham dự của tất cả mọi người cùng một  
sở thích, hâm mộ, để được thưởng thức, học  
hỏi và làm theo.  
Không gian tưởng tượng là không gian  
ảo thuộc về người kể chuyện, bao gồm các  
nhân tố thiên nhiên (như trời đất, sông suối,  
rừng núi, cỏ cây, vật chất), con người, các  
vị thần, những loài vật và cây cối vô hình  
không có trong thực tại… Lúc hát, người kể  
nhập hồn vào thế giới hư ảo, hát kể lại cho được mọi người yêu mến, quý phục, cộng  
đồng xem họ là người được thần linh  
(Yang) ban cho những khả năng này.  
người nghe những gì mình thấy được. Tất  
cả mọi người tôn trọng không gian này.  
89  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
3. Thiên nhiên và cộng đồng trong không trĩu cành, đàn trâu nhiều như những hòn đá  
gian tưởng tượng  
lô nhô. Con voi rống như sấm, dân làng  
đông đúc như những hạt mưa”. Đối với  
người Ê Đê, đây là một buôn làng lý tưởng  
có trong sử thi, ai nghe cũng đều mơ ước  
về nó.  
Không gian tưởng tượng của người diễn  
xướng về thiên nhiên, vạn vật trong sử thi  
đều rất đẹp. Cái đẹp trong sử thi được biểu  
hiện qua muôn vàn những sự vật, hiện  
tượng tồn tại xung quanh ta. Có những cái  
đẹp của thế giới tự nhiên do tạo hóa sinh ra  
(như sông, núi, biển, trời, trăng, sao,…).  
Trong sử thi thường nhắc nhiều về những  
cánh rừng bạt ngàn, rõ nét nhất là cảnh  
buôn làng giàu có của các tù trưởng, những  
người hùng nổi tiếng khắp vùng như Đăm  
Săn, Khing Ju… Trong trí tưởng tượng của  
người kể, những cánh rừng đi săn bắn, nơi  
làm rẫy và bến nước đều ở hướng đông.  
Đây là hướng mỗi buổi sáng thức dậy và đi  
lên rẫy đều nhìn thấy mặt trời ló trên đỉnh  
núi, họ quan niệm đây là sự sống, sự sinh  
sôi, nẩy nở khi tiếp nhận ánh sáng của nữ  
thần mặt trời mỗi ngày. Ánh mặt trời là sự  
báo ứng của những điều tốt lành, là sự hy  
vọng trở thành hiện thực. Ví dụ như trong  
sử thi Khing Ju có đoạn kể: “Đến sáng hôm  
sau, khi mặt trời lên khỏi ngọn núi, Prong  
Mưng Dăng lấy nước trong bầu rửa mặt.  
Sau đó, vít cần rượu và tiếp tục uống. Càng  
uống nước trong ché càng đầy, có lúc nước  
tràn ra ngoài”. Đây là điều tốt lành báo ứng  
cho Prong Mưng Dăng dắt bà đỡ đẻ về gấp  
cho em gái mình H’Ling kịp sinh con, trong  
khi Prong Mưng Dăng đang mải mê tỏ tình  
với H’Bia Ling Pang.  
Trong mỗi buôn làng đều có giai tầng xã  
hội, từ những người có chức sắc cho đến  
người hùng mạnh đầy quyền lực đều có  
những ngôi nhà sàn dài hơn và khang trang  
hơn hẳn những người trung bình. Những  
ngôi nhà rộng dài luôn thể hiện sự hùng  
mạnh của cả dòng họ, con đàn cháu đống,  
của cải hơn người và uy quyền trong cộng  
đồng. Với bất cứ sử thi nào, khi một nhân  
vật đi tìm ai và hỏi người nào đó trong làng  
thì sẽ có câu trả lời khéo léo. Đó là: “Nhìn  
cột nhà sàn nó dài hơn nhà khác, có nhiều  
cái bành voi để ngoài hiên, cầu thang rộng  
bằng trải ba chiếc chiếu. Cầu thang rộng  
đến nỗi những chàng trai xuống một lúc  
năm, các cô gái thì xuống được ba người,  
con heo, con chó chạy đầy dưới sân”. Câu  
trả lời này làm cho người nghe tưởng tượng  
về ngôi nhà đó đẹp, dài, rộng hơn hẳn  
những ngôi nhà trong buôn mình. Riêng nội  
thất trong nhà, người kể luôn tạo ra những  
lời kể bằng ngôn từ tượng hình. Ví dụ: “Cột  
nhà trong chạm trổ rất đẹp, sàn nhà láng  
bóng. Gian trong cột bằng chỉ đỏ, gian  
ngoài cột bằng chỉ vàng”. Những hình ảnh  
gần như có thực với không gian hiện thực.  
Ví dụ: “Từ trong bành voi, Mtao Grư đạp  
lên đầu voi nhảy xuống sàn hiên, từ sàn  
hiên nhảy qua ngạch cửa, từ ghế Jhưng (ghế  
chủ nhà), nhảy đến chỗ ngồi đánh Jhar  
(chiêng lớn tiếng ngân vang), từ chỗ đánh  
Jhar đến chỗ đánh chiêng (ghế kpan), từ  
chỗ đánh chiêng nhảy đến chỗ đánh hgơr  
(trống cái)”. Hình ảnh này làm người nghe  
Nghệ nhân khi kể về một buôn làng giàu  
đẹp và sang trọng không nơi nào sánh bằng  
thì kể gần như giống nhau. Ví dụ: “đến gần  
rìa buôn trên ngọn đồi thoai thoải, thấy bến  
nước đẹp được chắn bằng tảng đá lớn dựa  
vào vách núi. Đàn bò nhiều như quả cà chín  
90  
Kiều Trung Sơn, Y Kô Niê  
hình dung ra những hành động nhẹ nhàng, Ví dụ: “Đêm ngủ họ mơ, ngày ngủ họ thấy  
nhanh nhẹn của Mtao Grư đi vào qua các vị loáng thoáng nghe tiếng lộc cộc, Aê Du  
cầm gậy bằng cây mây, Aê Diê cầm gậy  
bằng cây song”. Vị thần Aê Du, Aê Diê là  
hai vị thần tối cao ngự ở trên trời, cai quản  
loài người và ban cho sự no đủ. Thần Aê  
Du tạo ra con gái xinh đẹp, giỏi giang và  
cai quản sinh mạng của một đời người từ  
khi ra đời cho đến lúc chết. Thần Aê Diê  
tạo ra con trai nhanh nhẹn, khỏe mạnh, giỏi  
săn bắn, làm nhà, phát rẫy, cai quản cuộc  
sống chàng trai cho đến chết. Trong lời nói  
vần hoặc trong các bài dân ca luôn nhắc về  
hai vị thần này. Ví dụ: “Thần Aê Du sinh ra  
con gái xinh đẹp, thần Aê Diê sinh ra con  
trai khỏe mạnh”. Trong sử thi Đăm Săn, vị  
thần Aê Du, Aê Diê giúp đỡ và tác động  
mạnh đến cuộc hôn nhân để cho H’Ni,  
H’Bhi và Đăm Săn trở thành vợ chồng tài  
sắc không ai sánh bằng, vị thần xuất hiện và  
chỉ bảo thông qua giấc mơ. Ví dụ có đoạn  
kể: “Ơ các cháu, các cháu như con bê non,  
con nghé nhỏ, ung nhọt mới nổi dưới da,  
con cái mồ côi nghèo khó. Bây giờ ta cho  
hai cháu lấy Đăm Săn, sau này các cháu sẽ  
trở thành giàu có”.  
Đặc biệt, sử thi Ê Đê ít nhắc đến các vị  
thần trên các tầng trời và dưới đất (như:  
thần mây, thần gió, thần sông, thần nước và  
thần cây cối…). Riêng ở sử thi “Anh em  
Klu, Kla” có ngụ ý lấy danh các vị thần như  
Mtao Angin (tù trưởng gió). Còn phái đẹp  
mang tên các vị thần như H’Bia Grăm, tức  
là nữ thần Sấm sét; H’Bia Kmla là nữ thần  
tia chớp; H’Bia Angin là nữ thần gió bão…  
Người diễn xướng ghép tên các nhân vật  
trên với hiện tượng gió, sấm sét, tia chớp để  
cho gần gũi với người nghe, nhưng trong trí  
tưởng tượng của người nghe đều biết rõ các  
nhân vật đó là thần linh vì những hành động  
trí đặt chiêng, chỗ để của những vật dụng  
(như jhưng, kpan, thứ tự từ gian ngoài đi  
vào gian trong). Qua tình tiết của câu  
chuyện, người nghe đã hình dung đây là  
một nhà giàu có nhất trong buôn làng.  
Đối với người nghèo khổ (sống riêng lẻ,  
sống tự do ngoài buôn, không có cổng,  
không có hàng rào chắn vững chắc như ở  
buôn Mtao), trong sử thi, nhân vật nghèo  
khổ thường nhắc nhiều lần là bà Sun  
(Aduôn Sun). Có những đoạn mô tả ngôi  
nhà rách rưới, nghèo nàn qua lời thoại giữa  
bà Sun và nhân vật chính. Ví dụ: “Bà chỉ  
sống một mình với lũ chuột hôi hám, nhà bà  
rách rưới, cây cột xiêu vẹo, cây xà cong  
queo như nhà của con chó nằm”. Lời nói  
thật thà, chất phác, cam chịu cảnh nghèo  
nàn nhưng giàu tình cảm và sự mến khách  
của những người nghèo khổ. Họ cho biết  
hoàn cảnh của mình, nếu khách là người  
giản dị thì ghé vào, nếu khách là người  
phân biệt đối xử thì bỏ đi, vì họ là những  
người nghèo sống rải rác ở ngoài, là tầng  
lớp thấp nhất trong xã hội của người  
Ê Đê.  
4. Các vị thần, con người và lễ hội trong  
không gian tưởng tượng  
Trong sử thi Ê Đê các vị thần xuất hiện  
không đậm nét, nhân vật thần linh chỉ giúp  
đỡ và can thiệp những vấn đề quan trọng,  
nhưng đa phần mang tính chất thần thoại  
nhiều hơn. Hai vị thần linh gây ấn tượng  
mạnh mẽ, tác động về hình ảnh đẹp trong trí  
tưởng tượng của người diễn xướng và  
người nghe là hai vị thần Aê Du, Aê Diê.  
91  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
tạo ra có uy lực đúng với hiện tượng của hình ảnh như vậy trong hoa văn truyền  
trời đất.  
thống của người Ê Đê. Ví dụ có đoạn kể:  
Bên cạnh cái đẹp của thiên nhiên và “Cái váy phía trên có thêu hình con rắn hổ  
phong cảnh, trong sử thi còn liên quan đến mang, phía dưới thêu hình con rắn cạp  
cái đẹp của con người. Ngoại hình của cơ nong, thêu hình con kỳ nhông uốn lượn  
thể cũng là một phần để đánh giá cái đẹp xung quanh, nó đáng giá một con trâu. Váy  
chuẩn. Người Ê Đê thường ví vẻ đẹp của của người Kur, người Lào cũng không đẹp  
người con gái như những loài hoa quen bằng”. Người kể muốn tôn vinh một người  
thuộc có ở khắp nơi, ví người con trai như con gái giỏi giang, khéo léo và tài hoa, để  
các loài cây thân thẳng, gốc vững, cứng khi nghe qua đoạn mô tả này, các cô gái  
chắc. Trong khi mai mối H’Bia Yâo với hiện đang ngồi nghe kể đều có sự khát khao  
Khing Ju, người kể đã mô tả cô gái này như trong tương lai, mình cũng có thể thêu, dệt  
sau: “Mặt H’Bia Yâo trắng như hoa ktang được những cái váy đẹp như thế.  
(thân cây màu vàng dùng làm cột cúng  
Tuy trang phục đơn giản, đồ trang sức  
trong nhà), cằm sáng như hoa plei (thân cây còn thô sơ, với điều kiện chế tác hạn chế,  
cứng và thẳng thường dùng làm cột nhà), trong trí tưởng tượng của người kể, con  
thân cô ta đẹp hơn mọi người trong vùng. người thời kỳ bấy giờ đã có trình độ thẩm  
Đôi chân vàng như chân con chim ktrâo mỹ, óc tưởng tượng cao, đã quan tâm nhiều  
(chim cu đất), móng chân tay như móng tới vấn đề làm đẹp cho cơ thể. Đó là những  
diều hâu, môi miệng đầy đặn xinh xắn hơn cái đẹp mà người kể đã tạo ra những hình  
người”. Cái đẹp của con trai trưởng thành ảnh độc đáo, sinh động cho người nghe.  
được người kể phác họa trong đoạn sử thi Với tư cách là chủ thể ngôn ngữ thẩm mỹ,  
Khing Ju như sau: “Hãy nhìn cặp chân nó người kể luôn đi tìm cái đẹp, khám phá cái  
chắc khỏe như gốc cây sung, xương đùi như đẹp, và cao hơn là, sáng tạo cái đẹp trong  
rễ cây kniêng (thường lấy vỏ để ăn trầu), sử thi. Người kể luôn quan sát và đánh giá  
các ngón chân cứng cáp như lông nhím, mặt các sự vật, hiện tượng xung quanh mình  
sáng như trăng sao trên trời”.  
theo tiêu chí đẹp hay không đẹp. Cứ thế,  
Ngoài ra, qua cách mô tả về ứng xử và nhu cầu cái đẹp trong tâm trí người kể là vô  
dáng vóc của con người, người kể còn chú tận, làm cho người nghe khát khao vươn tới  
trọng đến sự lịch thiệp, trang nhã trong cái đẹp khôn cùng.  
trang phục, để tạo sự quý phái, uy quyền  
Trong sử thi, phần nghi lễ (cúng thần  
trong cộng đồng. Trang phục này không linh) không được kể chi tiết, mà chủ yếu  
mặc vào ngày thường, chỉ được mặc vào mô tả nhiều nhất là cảnh lễ hội (ăn năm,  
dịp lễ hội và đón tiếp khách đến nhà. Trong uống tháng). Tuy nhiên, trong tục lệ đi săn  
lời thoại của bà Sun với H’Bia Ling Pang bắn, người Ê Đê vẫn tổ chức việc cầu khấn  
có kể: “Nếu khách người Yuăn, cháu hãy thần linh, cầu xin các vị thần phù hộ cho sự  
bỏ váy cũ mặc váy mới, bỏ bông tai bằng may mắn, suôn sẻ, khi phạm phải những  
gỗ đeo bông tai bằng ngà”. Cách mô tả điều kiêng cữ.  
những nét hoa văn rất trừu tượng và phong  
Phần hội trong sử thi là Hội ăn năm,  
phú, thực tế không ai có thể thêu, dệt những uống tháng, bắt đầu bằng những tiếng  
92  
Kiều Trung Sơn, Y Kô Niê  
chiêng. Ví dụ: “đánh cồng thật vang, tiếng trưởng giàu có, muốn thể hiện sức mạnh  
cồng lan ra ngoài. Đánh chiêng mung, của mình thì phải đi săn lùng những người  
chiêng mai, chiêng pha vàng, pha bạc. Đánh  
ở dưới sợ đụng ngạch cửa, đánh ở trên sợ  
đụng cây xà dọc. Tiếng chiêng làm khỉ,  
vượn quên bám cành cây, ma quỷ quên việc  
làm hại người, chuột, sóc quên ăn lúa, bắp.  
Tiếng chiêng làm con hoẵng ngừng chạy,  
con hươu vểnh tai lắng nghe quên cả ăn  
cỏ”. Người kể mô tả cảnh ăn uống linh  
đình, bảy con trâu đuợc thui trong một  
ngày, bảy con bò đuợc giết trong một đêm.  
Đốt gà hết một rọ, giết heo hết một chuồng.  
Chiêng không rời khỏi xà dọc, nhà Đăm  
Săn ăn năm, uống tháng không biết ngày  
đêm… Trong sử thi, cấu trúc thể hiện phần  
hội này như một khuôn mẫu, nhưng nó  
không giống nhau trong cách diễn đạt của  
mỗi nghệ nhân, nghệ nhân giỏi thì diễn  
xướng ngẫu hứng tuỳ theo vốn từ nối vần  
của mình, để khơi gợi trí tưởng tượng khác  
nhau cho người nghe, tạo một không gian  
rộng lan tỏa từ trong ra ngoài, vang xa khắp  
cả núi rừng, sông suối, đến muông thú cũng  
phải lắng nghe.  
phụ nữ đẹp, giỏi hơn người để chiếm đoạt,  
dù phải trả giá bằng chính mạng sống của  
mình. Những người phụ nữ xinh đẹp giỏi  
giang thường là vợ của những kẻ có sức  
mạnh, một nhân vật đặc biệt trong vùng  
được dân làng quý mến tôn sùng. Trong sử  
thi Đăm Săn có đoạn kể: “Ở một ngày, nghỉ  
một đêm, tới cuối buổi sáng, tin đồn đến  
thần đại bàng, đến làng tây, buôn đông, rồi  
đến tai Mtao Anur, rằng Đăm Săn có vợ là  
H’Ni, H’Bhi vô cùng xinh đẹp, không có cô  
gái nào trên xứ này xinh đẹp bằng”. Đây là  
một cấu trúc tình tiết theo khuôn mẫu trong  
sử thi, mà người kể đặt vấn đề nguyên nhân  
gây ra chiến tranh giữa hai thế lực hùng  
mạnh Đăm Săn và Mtao Anur. Mtao Anur  
cũng đã biết chắc Đăm Săn là chồng của hai  
phụ nữ kia, là người hùng của một xứ,  
nhưng vì lòng háo sắc nên cố ý gây chuyện  
và quyết tâm chiếm đoạt. Ví dụ có đoạn kể:  
“Nào chúng ta đi đến đó! Sừng tê giác ta  
phải giành, ngà voi ta phải nhổ, vợ người  
giàu có ta phải cướp. Ta đi cướp vợ thằng  
Đăm Săn!”. Nguyên nhân gây ra cuộc chiến  
tranh trong sử thi hầu như gần giống nhau,  
vì người kể không có vốn từ để diễn tả  
nguyên nhân này khác nguyên nhân kia,  
toàn bộ nội dung của phần này người kể  
dùng ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối  
thoại không dùng lời nói vần. Mục đích của  
người kể chủ yếu tạo sự phẫn nộ, tức giận  
cho người nghe để lên án những điều trái  
với luân thường đạo lý, trái với luật tục mà  
Mtao đang phạm phải. Tình tiết câu chuyện  
Mtao Anur đến cướp H’Ni rất đơn giản,  
dùng lời dụ dỗ để cho H’Ni ra khỏi buồng  
kín không được. Bỏ về và quay lại giả vờ  
quên túi đựng thuốc lá, gọi H’Ni đưa hộ, lợi  
5. Cuộc chiến sinh tồn trong không gian  
tưởng tượng  
Trong sử thi, cuộc chiến đấu quyết tử không  
phải tranh giành đất đai, hay chiếm hữu nô  
lệ, mà là một cuộc chiến giữa cá nhân với  
nhau, chủ yếu là cuộc chiến tranh giành phụ  
nữ và để phô trương sức mạnh quyền lực  
của mình. Quyền lực ở đây là chiếm đoạt  
phụ nữ (càng nhiều vợ đẹp, vợ giỏi giang  
càng được nổi tiếng một vùng). Những hình  
thù trên trang phục, hình thù càng lạ mắt thì  
sự giàu có càng được tôn vinh. Một tù  
93  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
đao không mỏi tay”. Có một đặc điểm khá  
thú vị nữa mà chúng tôi nhận ra khi tiếp xúc  
với các nghệ nhân diễn xướng sử thi, đó là,  
đa số họ không biết chữ. Mặc dù không biết  
chữ, nhưng họ có thể nhớ được rất nhiều  
bài sử thi, thậm chí có người nhớ tới vài  
chục tác phẩm, mà mỗi tác phẩm có thể kể  
trong 1-2 đêm, hoặc 4-5 đêm còn tùy theo  
trí tưởng tượng, trạng thái thăng hoa của  
người kể. Hát được lâu và dài như vậy là vì  
họ có giọng hát khoẻ, vang, biết nhiều làn  
điệu của thể loại hát nói (lời nói vần - klei  
duê) để vận dụng cho phù hợp với các hoàn  
cảnh, các nhân vật trong tác phẩm, biết cách  
diễn bằng động tác, bằng nét mặt. Ngoài ra,  
người diễn xướng sử thi thường là những  
người có bề dày tri thức dân gian để có thể  
diễn giải một cách tinh tế những nội dung  
và sắc thái của sử thi đó.  
dụng thời cơ kéo H’Ni lên bành voi, hắn đã  
cướp được vợ Đăm Săn.  
Cuộc chiến này gần như là một cuộc đấu  
kiếm, người nào thua trận thì buộc phải mất  
mạng, được cả cộng đồng chứng kiến và  
chấp nhận phục tùng kẻ chiến thắng. Trận  
đấu tay đôi này là một không gian tưởng  
tượng hấp dẫn cho người kể, dùng ngôn  
ngữ ngẫu hứng, nhưng vẫn theo khuôn mẫu  
chung của cốt truyện. Tính nhân đạo trong  
cuộc chiến là không xông vào nhà đánh  
nhau, không hỗn chiến, mà chờ dưới sân  
gọi đích danh kẻ thù xuống cầu thang và kể  
tội. Trước khi giao chiến, Đăm Săn gọi  
Mtao Anur: “Sao ông còn muốn H’Ni về  
làm vợ. Nó đã vướng khung dệt ở đùi, đã  
vướng cây dập chỉ ở tay. Lúc H’Ni chưa  
vướng khung dệt sao ông không đến hỏi, để  
có người nấu cơm, dệt khố áo cho ông?”.  
Cuộc chiến không gây sự căng thẳng cho  
người nghe; nó tạo ra sự hài hước, khiến  
người nghe buồn cười hơn hồi hộp, như  
trong trận đấu kiếm giữa Đăm Săn và Mtao  
Anur. Khi bước xuống cầu thang, Mtao  
Anur hùng dũng tuyên bố: “Cháu là người  
tài giỏi! Nhưng bác không sợ, cháu đừng  
dọa bác!”. Sau đó, người kể diễn tả điệu bộ  
vụng về của Mtao Anur: “Mtao Anur múa  
bên phải, nhảy bên trái làm mọi người ngó  
theo. Ông ta nhảy như con diều hâu, múa  
như con đại bàng, đôi chân nặng trịch như  
có ai cột đá, đôi tay rã rời như không cầm  
nổi cái khiên, bàn tay run như không cầm  
nổi cái kiếm. Cái khiên như sắp rơi xuống  
đất, thanh kiếm như sắp tụt khỏi tay”.  
Tương phản với hành động của Mtao Anur  
có đoạn kể: “Đăm Săn múa khiên đao…  
tiếng khiên vù vù như tiếng sấm rền, làm  
cây trên núi phải đổ, cây sung dọc bờ suối  
phải ngã… múa khiên không biết mệt, múa  
6. Kết luận  
Sự sáng tạo nào của con người cũng cần tới  
trí tưởng tượng. Sự sáng tạo trong diễn  
xướng sử thi cũng xuất phát từ trí tưởng  
tượng của nghệ nhân, hình thành một không  
gian sử thi tưởng tượng trong đầu họ. Cách  
sáng tạo đó giống như một thứ năng lượng  
giúp cho nghệ nhân có thể hát kể sử thi  
hàng đêm, hoặc thậm chí nhiều ngày đêm.  
Nội dung sử thi trong đầu nghệ nhân không  
giống hệt như nội dung tác phẩm sử thi mà  
chúng ta đang đọc từ một cuốn sách. Nghệ  
nhân thể hiện nội dung sử thi không phải  
chỉ từ trí nhớ (rất khó có thể nhớ tới hàng  
chục ngàn từ, mô tả vô vàn tình tiết, sự  
kiện), mà từ trong tiềm thức được trí tưởng  
tượng kích hoạt, hình thành một không gian  
sử thi tưởng tượng trong đầu. Trong diễn  
xướng sử thi Ê Đê, không gian tưởng tượng  
94  
Kiều Trung Sơn, Y Kô Niê  
và không gian hiện thực là hai không gian kể, hình ảnh về con người, phong cảnh,  
riêng biệt, nhưng hòa quyện với nhau bởi muông thú và buôn làng càng hiện ra với  
giọng điệu diễn cảm của người hát kể và sự nhiều sắc thái thì câu chuyện càng hấp dẫn,  
tập trung của những người nghe, đôi khi càng có thể kéo dài để đáp ứng nhu cầu của  
chìm đắm trong không gian tưởng tượng, người nghe.  
sau đó hứng khởi trở lại với không gian  
hiện thực. Đối với người hát kể, họ hóa  
thân vào không gian tưởng tượng theo tình Chú thích  
tiết trong cấu trúc của từng trường đoạn câu  
3 Léopold Sabatier, người Pháp, đã từng làm công sứ  
Đắk Lắk từ những năm thuộc thập kỷ 20 của thế kỷ  
XX. Theo Phan Đăng Nhật, Sabatier là người có  
công sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Tây  
Nguyên, cụ thể là dân tộc Ê Đê. Ông đã có công sưu  
tầm, dịch và công bố sử thi Đăm Săn và in hai  
lần, lần đầu ở Paris, năm 1927, lần sau ở Hà Nội,  
năm 1933.  
chuyện, tạo sự cảm hứng để thể hiện tính  
cách từng nhân vật, diễn tả quang cảnh theo  
câu nối vần dễ nghe và dễ nhớ, thậm chí có  
hai hoặc ba người kể phụ để tăng sự hấp  
dẫn và hài hước trong đoạn đối thoại giữa  
các nhân vật (những đoạn không dùng lối  
hát). Đối với người tham dự không kể lứa  
tuổi, giới tính, khi ngồi nghe họ luôn tập  
trung thả hồn vào sự tưởng tượng và sự  
hiểu biết của riêng mình trong từng câu từ,  
từng tình tiết có khi lặp đi lặp lại để nhấn  
mạnh. Không ai nhắc nhở ai, tất cả mọi  
người bị cuốn hút gần như mê hoặc bởi một  
giọng hát kể đều đều, có lúc trầm lúc bổng.  
Hai không gian này là sự kết nối giữa tiềm  
thức và thực tại, để tạo ra một không gian  
diễn xướng cho người nghe dễ liên hệ trong  
đời sống thực tế, chủ yếu để phân biệt thiện  
và ác, lời khuyên răn dạy bảo tạo nên sức  
mạnh tập thể, gắn kết cộng đồng để bảo vệ  
buôn làng và môi trường xung quanh. Một  
nghệ nhân kể sử thi giỏi là một nghệ nhân  
giàu về tri thức dân gian, có trí tưởng tượng  
phong phú trên cấu trúc câu chuyện đã có  
sẵn, và có vốn từ đa dạng để nối vần các  
cụm từ hoặc nối các câu. Cùng một tác  
phẩm sử thi, nhưng mỗi nghệ nhân hát kể  
khác nhau bởi không gian tưởng tượng  
trong diễn xướng của họ khác nhau, và  
cũng bởi không gian tưởng tượng đó tương  
tác với những không gian hiện thực khác  
nhau (bối cảnh diễn xướng khác nhau).  
Trong không gian tưởng tượng của người  
4
Theo Danh mục 107 tác phẩm của Bộ Kho tàng sử  
thi Tây Nguyên do Nxb Khoa học xã hội công bố  
(2004 - 2011).  
Tài liệu tham khảo  
[1] Đào Tử Chí (1959), Bài ca chàng Đăm Săn,  
Nxb Văn hóa, Hà Nội.  
[2] Chu Xuân Diên (1960), “Tìm hiểu giá trị bài ca  
chàng Đăm Săn”, Tập san Nghiên cứu Văn  
học, số 3.  
[3] Tô Đông Hải (1998), “Có một hình thái diễn  
xướng sử thi “sống”ở Tây Nguyên”, Sử thi Tây  
Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Hữu Thấu, Hà  
Công Tài (1988), Đăm Săn - Sử thi Ê Đê, Nxb  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[5] Đỗ Hồng Kỳ (2001), “Phương thức tự sự chủ  
yếu của sử thi Đăm Săn”, Tạp chí Văn hóa  
dân gian, số 5.  
[6] Đỗ Hồng Kỳ (2008), Văn học dân gian Ê Đê,  
M’nông, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[7] Phan Đăng Nhật (1991), Sử thi Ê Đê, Nxb  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[8] Kiều Trung Sơn (2012), “Nhìn lại khái niệm diễn  
xướng”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 5 (143).  
[9] V.E. Guxep (1998), Mỹ học Folklore, Nxb Đà  
Nẵng, Đà Nẵng.  
[10] Y Điêng, Y Yung (1963), Trường ca Tây  
Nguyên, Nxb Văn học, Hà Nội.  
95  
pdf 9 trang Thùy Anh 13060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ nhân và không gian tưởng tượng trong diễn xướng sử thi Ê Đê", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghe_nhan_va_khong_gian_tuong_tuong_trong_dien_xuong_su_thi.pdf