Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XI
Nho giáo Việt Nam
từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XI
Nguyễn Thị Như1
1 Học viện Quản lý giáo dục.
Email: [email protected]
Nhận ngày 25 tháng 11 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 14 tháng 12 năm 2017.
Tóm tắt: Nho giáo đã tham gia một phần quan trọng vào việc xây dựng nên diện mạo tinh thần của
dân tộc, vào văn hóa dân tộc Việt Nam. Vì vậy, trong công cuộc cách mạng văn hóa hiện nay, cần
phải nghiên cứu Nho giáo để thấy tôn giáo này đã ảnh hưởng đến văn hóa của chúng ta như thế nào.
Nho giáo, bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, cản trở nghiêm trọng bước tiến của xã hội, còn có
nhiều yếu tố tích cực tác động đến đời sống dân tộc. Vì vậy, để đánh giá đúng đắn những ảnh hưởng
của Nho giáo, chúng ta cần đặt nó vào bối cảnh lịch sử cụ thể để nghiên cứu.
Từ khóa: Nho giáo, Bắc thuộc, nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê.
Phân loại ngành: Triết học
Abstract: Confucianism has played an important role in the development of the spiritual value of
Vietnam and its national culture. As a result, in the current cultural revolution, it is necessary to
study the doctrine to see how it has affected the Vietnamese culture. In addition to the negative
impacts that severely hindered the progress of Vietnam’s society, Confucianism does contain many
factors that impacted the nation positively. Therefore, so as to properly assess the effects of
Confucianism, we need to put it into a specific historical context to study.
Keywords: Confucianism, Northern domination, Ngo dynasty, Dinh dynasty, Early Le dynasty.
Subject classification: Philosophy
1. Mở đầu
cần phân tích những điều kiện xã hội, trong
đó Nho giáo đã nảy sinh, phát triển và suy
Nho giáo có ảnh hưởng khác nhau ở các tàn. Không có một Nho giáo chung chung
thời đại khác nhau và đối với các tầng lớp cho các thời đại, một Nho giáo nhất thành
khác nhau. Khi tìm hiểu Nho giáo, chúng ta bất biến, thích ứng ở khắp mọi nơi, mọi lúc.
51
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
Chỉ có trên cơ sở nghiên cứu những điều cho ý thức hệ phong kiến thống trị. Tuy
kiện xã hội cụ thể, chúng ta mới nắm được nhiên, theo Nguyễn Kim Sơn, trong thái độ
thực chất nội dung Nho giáo qua các thời của triều đình phong kiến Trung Hoa đối
kỳ lịch sử. Bài viết phân tích ảnh hưởng của với việc truyền bá Nho giáo vào xã hội Việt
Nho giáo ở thời kỳ Bắc thuộc và thời kỳ Nam lại xuất hiện một nghịch lý, mâu
Ngô, Đinh, Tiền Lê.
thuẫn. Họ vừa đẩy mạnh giáo hóa, thúc đẩy
ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo tới các
vùng quận huyện biên viễn, lại vừa kìm
hãm, hạn chế sự phát triển của văn hóa Nho
giáo ở các khu vực này [5, tr.433-450]. Nho
giáo (với tư tưởng tam cương, ngũ thường,
tư tưởng thiên mệnh hết sức khắc nghiệt
được coi là hệ tư tưởng thống trị của giai
cấp phong kiến phương Bắc) được sử dụng
như một công cụ chủ yếu để thống trị, nô
dịch nhân dân ta. Nó đóng vai trò thiết yếu
trong quá trình hợp thức hóa chế độ Bắc
thuộc và biến nước ta thành quận, huyện
của Trung Quốc, khiến văn hóa nước ta trở
nên phụ thuộc và là một bộ phận của văn
hóa Hán. Chính vì thế, những viên quan cai
trị (như Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định,
Mã Viện, Sỹ Nhiếp, Đỗ Tuệ Độ, Cao
Biền…) là những người tích cực đưa Nho
giáo và những phong tục xuất từ Nho giáo
vào Việt Nam dưới mọi hình thức, từ truyền
bá điển lễ hôn nhân gia đình, thiết lập pháp
chế, đến cổ động tín ngưỡng, mở trường
dạy học… Tuy nhiên, việc truyền bá Nho
giáo, Nho học theo đúng nghĩa của những
từ này lại bị hạn chế. Nền giáo dục Nho học
có được triển khai cũng chỉ vì giai cấp
thống trị nước ngoài muốn đào tạo cho bộ
máy cai trị của họ một số người làm tay sai,
chứ không nhằm mục đích giáo hóa cho
toàn bộ những người dân Việt bản xứ. Tuy
kinh điển Nho giáo có được đem giảng dạy
ở các trường, nhưng theo học các trường
này là con em quan lại địa chủ Hán tộc và
một số con em tầng lớp trên của xã hội Việt
mà lực lượng ngoại xâm có thể dựa vào để
2. Nho giáo thời Bắc thuộc
Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà
chiếm được Âu Lạc; sáp nhập đất đai Âu Lạc
vào quốc gia phong kiến Nam Việt; chia Âu
Lạc làm hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu
Chân (Bắc Trung bộ); cử quan lại, quân lính
sang cai trị và đóng đồn. Khi đất đai Âu Lạc
bị tổ chức thành quận huyện, chính quyền
phong kiến họ Triệu cũng thi hành một chính
sách đồng hóa ráo riết đối với người Việt.
Tuy nhiên, việc tổ chức chính quyền của họ
Triệu với chính sách dung dưỡng để thống trị
khiến xã hội Âu Lạc không gây ra sự biến đổi
đáng kể, không làm cho ý thức hệ phong kiến
xâm nhập nhiều vào xã hội thuộc địa.
Đến năm 111 trước Công nguyên, nước
Nam Việt của Triệu Đà bị nhà Hán thôn
tính, vùng đất Âu Lạc bị đổi thành châu
Giao Chỉ, bao gồm dưới đó 7 quận. Triều
đình phong kiến nhà Hán đã áp dụng một
chính sách thống trị mới tại đây nhằm ra
sức khai thác kinh tế, củng cố chính quyền
và đồng hóa nhân dân Việt theo văn hóa
Trung Hoa.
Để phục vụ cho công cuộc đồng hóa,
giai cấp thống trị mới (thay thế giai cấp
thống trị trước đó) “buộc phải làm cho tư
tưởng của mình có hình thức phổ biến, phải
nêu nó lên thành những tư tưởng duy nhất
hợp lý, duy nhất có giá trị một cách phổ
biến” [7, tr.368-369]. Từ đó, văn tự Trung
Hoa cùng với Nho giáo được truyền bá
mạnh mẽ vào xã hội Lạc Việt, làm cơ sở
52
Nguyễn Thị Như
cai trị. Việc bổ nhiệm, sử dụng quan lại nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược
người gốc Giao Chỉ tại Trung Châu, cũng phương Bắc, bảo vệ sự sống còn của dân
như tại chính Giao Chỉ, có sự phân biệt đối tộc ta trong suốt thời kỳ Bắc thuộc. Thêm
xử so với người Trung Quốc, điều đó cũng vào đó, trước khi Nho giáo được du nhập
tạo ra lực cản cho sự phát triển Nho học tại vào Việt Nam, nước ta đã có một nền văn
khu vực này. Thậm chí, những trí thức hóa tương đối phát triển, với ngôn ngữ,
người Việt có tâm huyết, hoài bão, thực phong tục, tập quán, lối sống riêng, được
lòng muốn dâng hiến trí tuệ và tài năng của bảo tồn trong suốt quá trình dựng nước và
mình cho nước cho dân, thì lại bị triều đình giữ nước. Vì vậy, Nho giáo nói riêng, các
trung ương gờm sợ. Số người này bị đánh hệ tư tưởng triết học, tôn giáo nói chung từ
trượt trong các kỳ thi, nhất là kỳ thi tiến sĩ bên ngoài truyền vào không phải dễ dàng
lấy người sung vào các cơ quan chủ chốt. chiếm được chỗ đứng trong đời sống tinh
Những người đỗ rồi, vẫn không được phát thần của dân tộc Việt Nam. Nho giáo đã
triển, thi thố hết tài năng (thậm chí bị vùi thất bại trong việc thực hiện chính sách
dập như trường hợp của Khương Công “đồng hóa” văn hóa bản địa mà chính
Phụ). Năm 845, nhà Đường còn đặt ra hạn quyền đô hộ giao cho.
ngạch “sĩ tử An Nam thi khoa Tiến sĩ
Ở một khía cạnh khác, Nho giáo có
không được quá 8 người, thi khoa Minh những tác động tích cực đến sự phát triển
kinh không được quá 10 người” [6]; điều đó của xã hội Việt Nam ngay từ thời Bắc thuộc.
cũng khiến cho ý chí phấn đấu và hứng thú Theo Trần Nghĩa: “Nho học đã có mặt ở
học tập của sĩ tử nơi đây giảm sút. Đưa ra nước Việt Nam từ những năm đầu Công
quy định đó bởi nhà Đường sợ rằng nếu lấy nguyên và từ bấy đến nay, nếu có thể nói
đỗ nhiều người nước ngoài thì có nguy cơ được như vậy, chưa bao giờ vắng bóng trên
họ coi thường dân tộc Trung Hoa. Triều đất nước con Lạc cháu Hồng” [3]. Trong
đình phong kiến Trung Hoa muốn Nho giáo một chừng mực nhất định, Nho giáo, Hán
hưng thịnh ở Việt Nam, nhưng đó phải là học ít nhiều đã thâm nhập được vào tầng lớp
thứ Nho giáo trong tầm kiểm soát, hợp với trên của xã hội Việt Nam từ đầu thời Bắc
chính thống Trung Hoa, nhằm kìm hãm sự thuộc, để rồi tạo ra những chuyển biến căn
phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, và bản của ý thức dân tộc trong các giai đoạn
đương nhiên không thể chấp nhận sự phát sau. Sự thâm nhập đó trước hết được thực
triển ngang bằng hay lấn át sự rực rỡ của hiện thông qua việc học chữ Hán. Trong
văn hiến Hoa Hạ. Như vậy là, Nho giáo vào quan hệ với một nước bá quyền, nhu cầu học
Việt Nam xuất phát từ lợi ích của giai cấp tập ngôn ngữ của họ để giao tiếp là lẽ đương
thống trị ngoại tộc; nó tượng trưng cho sự nhiên. Vì vậy, đã xuất hiện những người
kỳ thị và áp bức dân tộc, cho chính sách nô Việt thuộc tầng lớp trên của xã hội chủ động
dịch nặng nề về tư tưởng, văn hóa đối với học chữ Hán. Học chữ Hán tức là học Nho
nhân dân ta. Do đó, khi du nhập vào nước giáo. Cho nên, ở họ, Nho giáo đã có bước
ta, Nho giáo không thể không vấp phải sự phát triển nhất định.
phản kháng mãnh liệt của nhân dân. Chống
Nhiều người biết chữ Hán (qua đó mà
Nho giáo, chống Hán hóa đã trở thành một tiếp cận đến Nho giáo, ngày càng đông đảo)
bộ phận, một mục tiêu quan trọng trong sự chính là nhờ hệ thống Phật giáo. Không thể
53
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
phủ nhận rằng trong 10 thế kỷ đầu Công lực tự cường, củng cố thêm tinh thần độc
nguyên, Phật giáo có phần chiếm ưu thế lập dân tộc của mình. Thêm vào đó, ngay từ
hơn Nho giáo trong việc thâm nhập vào đời đầu Công nguyên, nhân dân và sĩ tộc Trung
sống xã hội của người Việt. Nhưng những Quốc di cư sang Giao Chỉ ngày càng đông
trí thức Phật giáo lại chủ yếu thông qua chữ đảo. Khi di cư sang nước ta, họ cũng mang
Hán mà đi sâu vào giáo lý nhà Phật. Vì thế theo nhiều yếu tố của văn hóa Hán tộc,
hình thành một tầng lớp trí thức Nho - Phật. trong đó có Nho giáo. Một số gia tộc Trung
Những trí thức ấy không chỉ tinh thông Phật Quốc sống ở Giao Châu trong một thời gian
giáo mà còn có hiểu biết sâu về Nho giáo. dài, dần dần Việt hóa. Họ cũng trở thành
Tầng lớp trí thức Nho - Phật này càng trở những đại địa chủ có thế lực ở địa phương.
nên đông đảo và có ảnh hưởng lớn trong xã Dù trước đây dòng dõi của họ có hiển quý
hội từ thế kỷ VI, VII trở đi. Họ nghiên cứu thế nào chăng nữa, nhưng đến nay họ cũng
văn hóa Trung Quốc, viết văn và làm thơ bị xem là “hàn môn”, địa vị thấp kém,
bằng chữ Hán. Kinh Phật có khi còn được không thể sánh với sĩ tộc Bắc phương. Điều
chú dịch, lý giải theo quan điểm kinh điển đó đã đẩy họ đến gần hơn với những người
Nho gia và bằng lịch sử văn hóa Trung Việt trong các cuộc nổi dậy chống chính
Quốc. Chính vì thế mà những trí thức Phật quyền thống trị, trở thành “ứng viên có ưu
giáo càng am hiểu sâu sắc Nho giáo. Phật thế nhất để những cuộc nổi dậy có tiếng
giáo đã thông qua những nhà trí thức biết vang, hoặc đi đến thành công” [12, tr.41].
đọc chữ Hán để phổ biến kinh sách của nó. Như vậy, cả hai thành phần người Hán
Và do đó, họ không chỉ truyền đạo Phật, mà được Việt hóa và người Việt được Hán hóa
còn trở thành người truyền bá Nho học. đã gần gũi với nhau, kết hợp thành liên
Chính họ là tầng lớp trí thức có vai trò lớn minh chính trị trong đấu tranh chống chính
trong chính quyền và xã hội Việt sau này.
quyền đô hộ. Họ chính là những đại diện
Sự thâm nhập của Nho giáo vào xã hội của tầng lớp người Việt ưu tú, là nòng cốt
Việt Nam còn xuất phát từ chính mưu đồ của giai cấp phong kiến Việt Nam đang
cát cứ của các quan cai trị. Để phục vụ cho từng bước trưởng thành. Tư tưởng của họ
mưu đồ chính trị của mình, chính quyền phản ánh xu hướng phát triển của xã hội
thực dân tìm cách đưa Nho giáo dần dần Việt lúc ấy và sẽ chi phối kiến trúc thượng
“chen chân” vào đời sống của người dân, tầng ý thức, tư tưởng của quốc gia Đại Việt
mà trước hết là vào tầng lớp quan lại hào độc lập sau này, khi mà giai cấp phong kiến
trưởng người Việt trong bộ máy chính Việt Nam đã thực sự vươn lên địa vị làm
quyền cai trị. Tuy nhiên, quyền hành chính chủ xã hội. Giữa họ, sự giao lưu, du nhập
trị của tầng lớp hào trưởng địa phương văn hóa Nho giáo không còn diễn ra một
không ngừng bị thu hẹp, lợi ích kinh tế bị cách cưỡng bức mà đã trở thành nhu cầu tự
cắt xén. Điều đó đã gây ra lòng căm phẫn nhiên. Với sự tiếp thu Nho giáo, tầng lớp
trong họ. Họ chỉ chờ cơ hội là lãnh đạo ưu tú người Việt ấy đã nâng ý thức cộng
nhân dân nổi dậy chống ách đô hộ ngoại đồng, ý thức dân tộc, ý thức độc lập tự chủ
bang. Họ tuy Hán hóa nhưng mang trong lên một tầm lý luận mới cao hơn. Ý thức
mình ý thức dân tộc, độc lập mạnh mẽ; họ này ngày càng trở thành động lực, thành
dùng chính những tri thức Nho học để tự chất keo liên kết các thành viên trong cộng
54
Nguyễn Thị Như
đồng Việt đấu tranh không mệt mỏi vì độc trị” của Nho giáo. Đây chính là sự thử
lập và chủ quyền dân tộc. Ý thức cộng đồng
dần dần phát triển thành tinh thần yêu nước
nồng nàn. Sự tôn trọng thủ lĩnh dần phát
triển thành lòng trung thành với vị quân
vương đại diện cho lợi ích của dân tộc. Ý
thức độc lập, tự chủ đã được triển khai
thành các đường lối chiến lược đấu tranh và
những dự án xây dựng đất nước ngang tầm
với kẻ thù phương Bắc. Thêm vào đó, do sự
thống trị cưỡng bức của nhà Hán và các
điều kiện xã hội dần được xác lập ở Việt
Nam gần giống với xã hội Trung Quốc thời
Hán, nên ở mức độ nhất định, Nho giáo đã
có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa và tư
tưởng (đặc biệt là tư tưởng chính trị - xã
hội) của người Việt. Việc tiếp thu các giá trị
trong Nho giáo phù hợp với dân tộc đã trở
thành một nhu cầu thực tế của đất nước.
Những bước phát triển đó cho thấy,
người Việt lúc này không chỉ chống sự xâm
lược, đồng hóa của kẻ thù, mà còn biết tận
dụng những thành tựu tư duy văn hóa của
kẻ đi xâm lược, biến nó thành vũ khí lý
luận, tinh thần chống lại chính kẻ thù đó.
Triều đại Lý Bí được xây dựng theo tinh
thần của Nho giáo, từ tư tưởng của Chu
Công, Khổng Tử. Lý Bí tự xưng Nam Việt
Đế (có nghĩa là ngang hàng với đế vương
phương Bắc), tổ chức một triều đình riêng
với hai ban văn võ, lấy niên hiệu “Thiên
Đức” (có nghĩa là đức chính của triều Lý có
nguồn gốc tự trời, chịu mệnh ở trời). Đây là
một việc làm rất có ý nghĩa, là sự phủ định
ngang nhiên quyền làm “bá chủ thiên hạ”
của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà,
cương vực; và là sự khẳng định dứt khoát
rằng dân tộc Việt Nam có quyền tự chủ đối
với vận mệnh của mình. Trong mô hình
triều đại của Nam Việt Đế Lý Bí, ta thấy có
bóng dáng của tư tưởng “thiên mệnh”, “đức
nghiệm đầu tiên về việc dùng lý thuyết
chính trị của Nho giáo để cai trị đất nước.
Đến thời thuộc Đường, sự phát triển của
nền văn hóa, giáo dục ở thuộc địa phương
Nam đã được chính quyền đô hộ đẩy lên
một bước mới. Những quan lại bị đày sang
Giao Châu lúc này đều là những trí thức
nho sĩ, các cựu quan chức, nói cách khác,
họ đều là những kẻ “có chữ”. Nhà Đường tổ
chức hành chính chặt chẽ hơn, mở rộng
phạm vi thống trị xuống đến dưới cấp
huyện, thậm chí, một mặt nào đó, cũng đã
nắm đến cấp xã. Và trong ba thế kỷ ngoại
thuộc đó (thế kỷ VII - IX), triều đình phong
kiến Trung Hoa dưới thời Đường đã áp
dụng lối tuyển lựa quan lại bằng cách thi cử
thay cho lối tuyển cử của đời Hán. Do
chính sách khuyến khích của triều đình
phong kiến nhà Đường, trường học thậm
chí đã được đưa đến tận một số xã, thôn.
Bên cạnh đó, nhà Đường muốn lợi dụng
việc học hành thi cử để nắm lấy trí thức
trong thiên hạ, hướng họ về một phía phục
vụ vương triều. Trường Quốc Tử Giám ở
kinh đô Trường An đã được mở rộng. Một
số người Việt cũng đến đây thụ nghiệp.
Nhiều người đã có điều kiện leo lên đến
những tước vị lớn trong triều đình trung
ương Trung Quốc. Như trên đã nói, đến
năm 845, nhà Đường đưa ra quy định giới
hạn sĩ tử An Nam vào thi khoa Tiến sĩ
không được quá 8 người, khoa Minh kinh
không được quá 10 người. Nhưng dù có ra
giới hạn thì cũng chỉ làm giảm chứ không
chấm dứt được hy vọng của những người
mong mỏi tiến thân bằng con đường khoa
cử. Điều đó đã khiến cho trình độ Hán học
của người Việt đạt đến mức độ phát triển
tương đối cao, không thua kém người
55
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
được dấu vết của những tư tưởng bản địa
truyền thống).
Trung Quốc - Người Việt có đầy đủ khả
năng để tham gia vào các cuộc tranh luận
về học thuật, tư tưởng của Trung Quốc
đương thời.
Như vậy, thời Bắc thuộc, tuy Nho giáo
chưa xâm nhập được vào mọi tầng lớp xã
hội, nhưng từ thế kỷ VI trở đi (nửa cuối thời
kỳ Bắc thuộc), Nho giáo đã từng bước đi
vào đời sống tư tưởng người Việt trên
phương diện một nhãn quan chính trị - xã
hội, cung cấp cho tầng lớp trên của xã hội
Việt những tri thức và kinh nghiệm hữu ích
về lịch sử, về cách thức tổ chức xã hội, nhà
nước. Với tư cách là lớp người ưu tú của xã
hội, có quyền bính, có thân thế, họ là lực
lượng mà quần chúng nhân dân phải dựa
vào nếu muốn nổi dậy chống chính quyền
đô hộ đi đến thành công. Tư tưởng của họ
tuy chưa chiếm địa vị phổ biến trong đời
sống tinh thần người Việt đương thời,
nhưng lại đúng với trào lưu hiện hành, phản
ánh xu thế phát triển của xã hội Việt Nam,
đó là xây dựng một quốc gia phong kiến
độc lập theo khuôn mẫu Trung Hoa với tư
tưởng cốt lõi Nho giáo chứ không phải
quay về với chế độ Lạc hầu, Lạc tướng xưa
kia. Như vậy là, vượt ra ngoài mong muốn
của kẻ đi xâm lược, như một công cụ vô
thức của lịch sử, Nho giáo đã tạo ra một số
điều kiện vật chất và tinh thần cho sự
chuyển biến xã hội, văn hóa Việt Nam. Dân
tộc Việt Nam nổi lên chống lại sự xâm lược
của phong kiến phương Bắc, tiến tới khôi
phục lại nền độc lập của mình bằng cách
vận dụng chính các tri thức văn hóa và
thể chế chính trị Nho giáo mà người
Trung Quốc đã mang đến để áp đặt hòng
khuất phục người Việt Nam.
Cuối thời thuộc Đường, những người
thuộc tầng lớp trên của xã hội Việt (bao gồm
những trí thức là người Hán đã Việt hóa và
rất nhiều thủ lĩnh địa phương) đã Hán hóa ở
mức độ nhất định. Mai Thúc Loan, Phùng
Hưng, Dương Thanh… đều đã sinh sống
dưới một khuôn khổ chính trị theo chiều
hướng Nho giáo từ lâu. Cho nên hành động
của họ không khỏi bị chi phối bởi lý thuyết
về chính trị của Nho giáo. Khi nhà Đường
suy sụp, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng châu
Hồng, đã nổi dậy phất cờ tự chủ, giành
quyền chính trị trong xứ, xưng là Tiết độ sứ.
Họ Khúc thực hiện việc cải tổ khu vực hành
chính; chia toàn xứ thành các lộ, phủ, châu,
giáp, xã; đặt quan cai trị để kiểm soát tất cả
các nơi trong xứ; sửa lại chế độ điền tô, thuế
má; tha bỏ lực dịch… Chính quyền đó là
mầm mống của nhà nước phong kiến độc lập
sau này, được tổ chức theo khuôn mẫu của
Nho giáo. Liên quan đến vấn đề này, Chu
Đình Xương trong cuốn Nho giáo tại Việt
Nam đã có những kiến giải hợp lý. Theo tác
giả, đến giai đoạn này, trong xã hội Việt,
việc học chữ Hán và qua đó tiếp nhận văn
hóa Trung Hoa, tiếp nhận Nho giáo đã mang
tính rộng rãi chứ không phải chỉ riêng của
tầng lớp thống trị. Ông lý giải: “Nếu chính
quyền trung ương không sử dụng thành thạo
chữ Hán, nếu thôn xã không có người biết
chữ Hán thì làm sao nhà nước Khúc Hạo thi
hành được những biện pháp trên!” [5,
tr.549]. Thậm chí, ngay từ trước thời Khúc
Thừa Dụ, nội dung và hình thức của các tổ
chức nhà nước qua các thời kỳ “độc lập”
ngắn ngủi do Triệu Quang Phục, Mai Thúc
Loan, Phùng Hưng lập nên đã chứng tỏ điều
đó (tuy rằng cái khuôn mẫu Nho giáo vẫn
chưa được áp dụng triệt để và chưa lấn át
3. Nho giáo thời Ngô, Đinh, Tiền Lê
Năm 930, quân Nam Hán sang đánh chiếm
nước ta, chính quyền tự trị của họ Khúc
không chống cự nổi, đất nước lại bị đặt dưới
56
Nguyễn Thị Như
ách thống trị của ngoại bang. Chiến thắng to “Nhà Tiền Ngô nổi lên được, không những
lớn của Ngô Quyền năm 938 (giết được con là chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt
chúa Nam Hán) đã mở đầu cho thời kỳ độc trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục;
lập lâu dài của dân tộc. Nhưng sự độc lập có thể thấy được quy mô của đế vương” [2,
về chính trị không đồng nghĩa với sự thoát tr.194]. Ngô Xương Văn từng nói: “Đức của
ly ảnh hưởng của văn hóa Hán. Bởi triều tiên vương ta thấm khắp lòng dân, phàm
đình phong kiến Trung Quốc tuy có suy yếu những chính lệnh ban ra không ai là không
nhưng vẫn đủ lực lượng đe dọa nước ta. vui lòng nghe theo; không may mất đi, Bình
Bản thân các triều đại Việt buổi đầu độc lập Vương tự làm việc bất nghĩa, cướp ngôi của
cũng nhận thấy thế yếu của mình trong anh em ta, tội không gì to bằng” [2, tr.196].
tương quan với chính quyền Trung Hoa. Ông đánh úp Dương Tam Kha, khôi phục lại
Điều kiện lịch sử - địa lý của hai xứ Việt - cơ nghiệp, nhưng ông cũng nhận thấy: “Bình
Trung cũng như áp lực chính trị quân sự đã Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết” [2,
khiến văn hóa Hán, trong đó có Nho giáo, tr.196]. Những lời nói đó chứng tỏ ông là
vẫn ảnh hưởng vào phương Nam ngay cả người có kiến thức Nho học. Việc truất bỏ
trong thời độc lập.
Dương Tam Kha để lên ngôi vua chính là
Bên cạnh đó, nước Việt thoát thai từ cả hành động chính danh của một vị hoàng đế
ngàn năm Bắc thuộc, nên các thủ lĩnh trong nối lại chính thống. Việc tha lỗi cho Dương
nước vẫn thừa hưởng trong tay cơ chế xã Tam Kha là thể hiện lòng nhân. Xương
hội mà chính quyền đô hộ đã dày công xác Ngập cậy phận đích trưởng, chuyên quyền
lập. Trong khi tổ chức chính quyền độc lập, làm oai. Nhưng Xương Văn vẫn dung thứ
các triều đại Việt vẫn hướng theo khuôn cho hành động đó. Như vậy, ở một mức độ
mẫu phương Bắc. Ngô Quyền, Đinh Bộ nhất định có thể coi đấy là khí khái của một
Lĩnh, Lê Hoàn là ba thế hệ kế tiếp nhau bậc vương giả mang trong mình tư tưởng
chối bỏ quyền uy Hán tộc, muốn xây dựng Nho giáo.
một nền văn hóa độc lập của riêng mình,
nhưng họ lại vẫn bị ràng buộc vào áp lực Đế, để con mình xưng vương. Triều đình có
văn hóa từ phương Bắc đưa xuống. quan văn giữ ngôi cao (Nguyễn Bặc), có
Tiếp sau nhà Ngô, Đinh Bộ Lĩnh xưng
Ngô Quyền chứng tỏ ông chịu ảnh hưởng chức trưởng ngành tư pháp coi toàn cõi (Lưu
nhiều của văn hóa Hán. Ông bỏ danh hiệu Cơ), có tướng cầm quân (Lê Hoàn), có hệ
Tiết độ sứ của quá khứ lệ thuộc còn đeo thống tôn giáo giúp sức trong việc tăng
đẳng họ Khúc, họ Dương để xưng Vương cường tính tập trung của triều đình phong
(năm 939). Một thủ lĩnh tập trung quyền kiến. Cả một hệ thống phong kiến theo
bính trong tay khi đã xưng vương hiệu thì khuôn mẫu Trung Quốc được hình thành
phải chấp nhận sự ràng buộc của danh xưng, trên lãnh thổ Đại Việt. Tư tưởng chủ đạo của
có nghĩa phải là một ông vua theo quan niệm việc tổ chức các chính quyền ấy chính là
Nho giáo. Ông còn “đặt trăm quan, chế định Hán Nho.
triều nghi, phẩm phục” [2, tr.193]. Ngô
Thời Lê Hoàn, những hoạt động nhằm
Quyền lập ra một nhà nước phong kiến độc xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền,
lập với tính chất một nhà nước phong kiến củng cố ngôi chí tôn được đẩy mạnh hơn so
trung ương tập quyền. Ngô Sĩ Liên nhận xét: với thời Đinh. Lê Hoàn nâng các con mình
57
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
lên một bậc Đại vương. Việc Lê Hoàn chia chính trị nhân sinh, đã có câu trả lời hướng
đất cho những người con trai thể hiện rõ vai đến các giải pháp cụ thể: “Quốc tộ như đằng
trò của một ông vua phân phong đất cai trị. lạc/Nam thiên lý thái bình/Vô vi cư điện
Lê Hoàn lấy niên hiệu Thiên Phúc (936-944) các/Xứ xứ tức đao binh” [9, tr.204].
giống của nhà Hậu Tấn ngắn ngủi (936-946).
Để đúng với địa vị Thiên tử, Lê Hoàn tổ
chức mừng sinh nhật theo kiểu các vua
Đường đề ra; cày ruộng tịch điền để mở
mùa cho dân chúng. Chính quyền mới được
xây dựng không chỉ phỏng theo khuôn mẫu
Trung Hoa mà còn sử dụng cả quan lại là
những người được đào tạo từ khuôn mẫu đó.
Thái sư Hồng Hiến đương thời vốn là người
Bắc triều, thông kinh sử, được vua tin dùng
như tâm phúc. Quan lại trong triều được
trọng dụng nếu không phải là người Trung
Quốc thì cũng đều là những người có trình
độ Hán hóa nhất định. Họ ủng hộ việc Lê
Hoàn công nhận nguyên tắc vương quyền
gia trưởng của Nho giáo vào năm 1004.
Những người này cũng giúp triều đình
phong kiến học được cách tổ chức chính
quyền theo kiểu tập trung. Những hoạt động
đó cho thấy, lúc này, sự tiếp nhận văn hóa
Trung Hoa không còn tính cách cưỡng ép
mà đã trở thành tự nguyện và tự nhiên.
Những biểu hiện ảnh hưởng của Nho giáo
dưới thời Lê Hoàn khiến Ngô Thì Sĩ phải
ngạc nhiên vì đời Lê Hoàn “không thấy có
nhắc gì tới học hiệu và khoa cử” thế mà “lá
thư xin tập vị lời nói uyển chuyển và đắc
thể… ca khúc tiễn sứ thần tình ý lanh lẹ đầy
đủ tình tứ, văn nhân cũng không thể hơn
được” [4, tr.97]. Những hiểu biết văn chương,
nghĩa lý điển cố tinh tường trong các bài thơ
của sư Đỗ Pháp Thuận, sư Khuông Việt là
bằng chứng cho thấy Hán học, Nho giáo vẫn
được duy trì trong xã hội. Chẳng hạn như, Đỗ
Pháp Thuận tuy là tổ sư của một môn phái
Phật giáo, nhưng khi được vua Lê Đại Hành
hỏi về vận nước, một câu hỏi thuộc lĩnh vực
Quan niệm về “vô vi” trong câu trả lời
của ông có nhận thức luận của Phật giáo làm
nền tảng, có triết lý của Đạo giáo làm cơ sở
và hướng tới hành vi của Nho giáo làm cứu
cánh [10]. Cái vô vi mà Nho giáo hướng tới
đó chính là biểu hiện của đường lối đức trị.
Thánh nhân lấy đức thịnh mà cảm hóa dân
nên vô vi mà vẫn bình trị. Đạo làm vua mà
biết người, đạo làm tôi mà biết việc thì dù
không cần ra lệnh mà muôn việc vẫn thành.
Trị nước bằng đức thì vô vi mà thiên hạ theo
về [1, tr.566].
Cuối đời Lê, Lê Long Đĩnh cũng nhận
thấy rõ trào lưu chính đang ngự trị ở Hoa
Lư. Đó là trào lưu xây dựng triều đại theo
khuôn mẫu phương Bắc. Vì vậy, ngay sau
khi lên ngôi, Lê Long Đĩnh đã “sửa đổi
quan chế và triều phục cho các quan văn võ,
tăng đạo đều theo đúng như nhà Tống” [2,
tr.245], tổ chức cai trị bám sâu vào địa
phương hơn, đặt thêm quân địa phương
“sương quân” như của nhà Tống. Long
Đĩnh nâng thần thổ địa đất Đằng Châu, nơi
thực ấp của mình lên chức thành hoàng.
Như vậy, lần đầu tiên một ông vua phong
tước cho thần theo đúng quyền hành của
một vị Thiên tử. Chính những đổi thay theo
mô hình Tống trong triều Lê đã giúp cho ý
thức về quân quyền ngày càng tăng tiến ở
các triều đại về sau.
Tuy nhiên, do phải giằng co với những
yếu tố bản địa truyền thống, nên Nho giáo
không dễ dàng khẳng định vị thế của mình
trên bình diện xã hội trong buổi đầu độc lập;
sự phát triển của Nho giáo ở thế kỷ thứ X có
những diễn tiến phức tạp.
58
Nguyễn Thị Như
Sau khi giành được độc lập, đất nước phẩm Những bài dã sử Việt, “Hạng Lang”
phát triển theo xu hướng tập quyền. Quan là chuyển âm Hán Việt của từ “Chàng
niệm vương quyền gia trưởng kiểu Nho Lớn”, Hạng Lang mới chính là con trưởng
giáo được coi là khuôn mẫu cần tuân thủ. của họ Đinh tính theo dòng chính. Vì vậy,
Nhưng lúc này, nguyên tắc phụ quyền của Đinh Tiên Hoàng đã truyền ngôi đúng với
Nho giáo chưa lấn đoạt được nguyên tắc nguyên tắc của Nho giáo. Nguyên tắc ấy,
mẫu quyền truyền thống. Phải rất khó khăn, qua thời Lê sang đến thời Lý mới thực sự
nguyên tắc này mới dần dần được khẳng thắng thế.
định. Ngô Quyền khi bệnh nặng, giao cho
Việc Nho giáo khó xác lập vị thế chính
Dương Tam Kha giúp đỡ con mình. Điều thống trong thời kỳ này còn xuất phát từ
đó thể hiện vai trò của Dương Tam Kha. chỗ ý thức thời đại cũng chưa sẵn sàng cho
Vai trò của người cậu trong một gia đình những khuôn mẫu của nó. Khi tổ chức
mẫu hệ là vai trò người nuôi nấng kẻ nối chính quyền phong kiến, Đinh Bộ Lĩnh đã
dõi dòng họ, vai trò điều khiển, quyết định. thực hiện nhiều biện pháp củng cố quyền
Dù bằng binh lực đánh dẹp 12 sứ quân, lực tích cực nhằm tăng cường tính tập
Đinh Bộ Lĩnh cũng phải lấy mẹ Ngô Nhật trung, xóa bỏ yếu tố phân li. Họ Đinh đã
Khánh để bảo đảm vai trò tiếp nối nhà Ngô. thu phục các cựu sứ quân hay dòng dõi của
Rồi Lê Hoàn lấy vợ Đinh Bộ Lĩnh, trước đó họ (bằng cách đưa họ vào trong bộ máy
lại được bà Dương hậu này sai lấy áo long chính quyền; lấy danh vị, chức tước triều
cổn cho mặc và mời lên ngôi hoàng đế. Các đình mua chuộc, xoa dịu để đổi lấy sự thần
vua Đinh, Lê đều lập nhiều hoàng hậu phục; cho Phạm Phòng Át làm quan thân
ngang nhau. Tuy nhiên, thực tế lịch sử vệ, gả con cho Trần Thăng, em Trần Lãm,
không để cho khuynh hướng truyền thống liên kết thông gia chặt chẽ với người thuộc
giữ ưu thế. Nguyên tắc phụ quyền, cho dù dòng chính thống của họ Ngô, phong Lê
khó khăn, vẫn dần dần được khẳng định. Lương làm chức Trấn quốc bộc xạ…). Tuy
Thời Ngô, sau khi Ngô Quyền mất, người nhiên, các thành phần chính quyền từ nhiều
anh vợ (có sách chép là em) Dương Tam nguồn gốc đó là một duyên cớ quan trọng
Kha toàn quyền lựa chọn người kế nghiệp, khiến cho khó có một triều đại bền vững.
đó là người con thứ Ngô Xương Văn. Chính vì khó có thể tin được sự thần phục
Nhưng do nếp sinh hoạt ở Đô hộ phủ An của các cựu sứ quân hay của dòng dõi họ,
Nam đã chịu ảnh hưởng nhất định bởi quan cho nên Đinh Tiên Hoàng, thay vì sử dụng
niệm phụ quyền gia trưởng trong Nho giáo biện pháp nhân trị của Nho giáo, đã “đặt
Trung Hoa, cho nên người con trưởng Ngô vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong
Xương Ngập không chịu thiệt thòi, đã xảy cũi” [2, tr.205] để trị tội kẻ phản đối. Đó là
ra tranh giành, hiềm khích. Sang thời Đinh, biện pháp mạnh trên cái thế thống nhất
Đinh Tiên Hoàng truyền ngôi cho người mỏng manh.
con nhỏ tuổi Hạng Lang. Các sử thần đời
Bên cạnh đó, nhà Đinh còn áp dụng
sau chê ông bỏ trưởng lập thứ, gây mầm rối những biện pháp thu phục dân chúng nhờ
loạn. Nhưng thực chất, tính chất trưởng thứ vào tôn giáo. Trong tổ chức tôn giáo lúc ấy,
đã thể hiện rất rành rẽ trong quyết định của Phật giáo có vị thế nổi bật hơn cả. Ngay từ
ông. Theo Tạ Chí Đại Trường trong tác thời Bắc thuộc, ý thức Phật giáo đã ngày
59
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
càng thắng thế trong xã hội, ảnh hưởng sâu Tăng quan trụ trì tại các tự viện của nhà
đậm đến sinh hoạt tư tưởng và thế giới quan nước đều được cấp ruộng. Tự viện là điền
của người Việt. Nhiều cuộc tranh luận, trang của tập đoàn phong kiến Phật giáo.
đụng độ giữa Nho giáo và Phật giáo đã diễn Điều đó là một trong những lý do khiến
ra. Nho giáo, tuy được giới cầm quyền bảo cho nhiều người học Nho quay sang làm
hộ nhưng vẫn không bước lên được địa vị tăng. Chẳng hạn như, Khuông Việt “lúc bé
độc tôn. Từ đó trở đi, Nho học Việt Nam đã học đạo Nho, lớn lên đi tu” [9, tr.208]. Sự
phải náu mình vào đạo Thiền để khả dĩ tồn nhập nhòa giữa Nho giáo và Phật giáo
tại và chờ cơ hội phát triển. Bởi thực tế lịch khiến cho cả hai đều không giữ được tính
sử ấy, giai cấp phong kiến Việt Nam buổi chất thuần túy của học thuyết mình.
đầu độc lập không thể không đề cao và sử
Cuối đời Tiền Lê, để tập trung quyền
dụng Phật giáo một cách tích cực. Không hành cho bản thân, Lê Long Đĩnh muốn
phải ngẫu nhiên mà tổ chức tôn giáo vào nhanh chóng đưa Nho giáo lên địa vị chủ
lúc đương thời (năm 971) đi đôi với tổ chức đạo trong đời sống tư tưởng của xã hội.
chính quyền trung ương. Đại Việt sử ký Hành động của vua (róc mía trên đầu nhà
toàn thư chép: “Tân Mùi, năm thứ 2 (971) sư Quách Ngang, cố tình lỡ tay làm chảy
(Tống, Khai Bảo năm thứ 4). Mới định ra máu rồi cười), là sự đàn áp một lực lượng,
giai phẩm cho các quan văn võ và tăng đạo. một tập thể, một ý thức hệ. Sự đàn áp đó
Cho Nguyễn Bặc làm Định Quốc công, Lưu được gây ra bởi ý thức Nho giáo chủ trương
Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập quyền độc tôn về ngôi vị Hoàng đế. Nhưng
đạo tướng quân; cho tăng thống Ngô Chân Long Đĩnh đã gặp phải sự chống đối mạnh
Lưu hiệu là Khuông Việt đại sư, cho mẽ trong tiến trình củng cố địa vị chuyên
Trương Ma Ni làm Tăng đạo sĩ, Đặng chế của mình. Năm 1009, kinh Đại Tạng
Huyền Quang làm Sùng chân uy nghi” [2, được mang về càng làm vững chắc thêm vai
tr.208]. Như vậy là, sức mạnh thần quyền trò xã hội của tầng lớp tăng đạo Hoa hóa,
đã được cụ thể hóa trong hệ thống thế tục khiến cho câu chuyện vua róc mía trên đầu
để phục vụ cho hệ thống thế tục ấy.
nhà sư sau này chỉ có ý nghĩa là hành động
Tăng sĩ được quý trọng không những vì tàn ác của một cá nhân điên loạn cầm
vai trò quan trọng về mặt tôn giáo, mà còn quyền. Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra một vị
vì tính chất đại diện thời đại của họ. Nhà Hoàng đế với những hành động khắc bạc,
sư không chỉ am tường giáo lý nhà Phật, tàn bạo. Thiền sư Vạn Hạnh bỏ nhà Lê, lao
mà còn am hiểu cả Nho giáo. Họ được các tâm khổ trí mưu đồ cho sự nghiệp của Lý
triều đại phong kiến trọng dụng để giúp Công Uẩn hẳn có lý do chính đáng. Những
việc nước, trở thành những người cố vấn toan tính của Lê Long Đĩnh muốn tập trung
trong chính quyền nhà nước do tinh thông quyền hành cho bản thân, dòng họ mình, lại
cả Nho - Phật - Đạo. Tuy nhờ đó mà Nho dẫn đến kết quả thụ hưởng cho kẻ khác.
giáo có thêm cơ hội mở rộng tầm ảnh Mưu toan muốn nhanh chóng đưa khuôn
hưởng, nhưng cũng chính vì thế mà tính mẫu Nho giáo lên địa vị chủ đạo để thay thế
cách duy lý của Nho giáo mờ nhạt đi. cho thế lực còn rất mạnh mẽ của Phật giáo
Đồng thời với đó, thân phận tăng đồ lại đã thất bại. Và vì vậy, đạo Phật sẽ vẫn còn
gắn liền với quyền lợi chức vụ, ruộng đất. thịnh vượng cho đến vài ba thế kỷ về sau.
60
Nguyễn Thị Như
hình. Người Việt tiếp nhận Nho giáo trên
tinh thần thực tiễn, hướng về phía những
vấn đề mà thực tiễn đất nước yêu cầu và
nhân dân mong muốn. Tóm lại, từ thời Bắc
thuộc cho đến đầu thế kỷ XI, Nho giáo chưa
có lúc nào có thể vươn lên địa vị chủ đạo,
chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của dân
tộc Việt Nam. Tuy nhiên, nó đã tạo nên một
dòng chảy liên tục trong văn hóa, tư tưởng
người Việt đương thời, đồng thời tạo những
tiền đề cần thiết để tiếp tục phát triển mạnh
mẽ hơn trong các giai đoạn lịch sử về sau.
Như vậy, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, vai
trò của Nho giáo trong xã hội tuy chưa nổi
bật, nhưng vẫn được duy trì ở một mức độ
nhất định và là tiền đề cho sự khởi sắc của
nó ở giai đoạn lịch sử tiếp theo.
4. Kết luận
Nho giáo tuy có mặt tại Việt Nam ngay từ
thời Bắc thuộc, nhưng trong xã hội Việt lại
khác nhau ở mỗi giai đoạn lịch sử. Nửa đầu
thời kỳ Bắc thuộc, do việc truyền bá Nho
giáo xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống
trị ngoại tộc và do những mâu thuẫn trong
chính sách truyền bá Nho giáo của chính
quyền đô hộ, nên Nho giáo đã vấp phải sự
chống đối của người dân bản địa. Từ thế kỷ
VI trở đi (nửa cuối thời kỳ Bắc thuộc), Nho
giáo tuy chưa xâm nhập được vào mọi tầng
lớp xã hội, nhưng đã từng bước đi vào đời
sống tư tưởng người Việt trên phương diện
một nhãn quan chính trị - xã hội, cung cấp
cho tầng lớp trên của xã hội Việt những tri
thức và kinh nghiệm hữu ích về lịch sử, về
cách thức tổ chức xã hội, nhà nước. Nho
giáo đã cung cấp kiến thức cho những
người Việt yêu nước đấu tranh cho độc lập
dân tộc, cho quyền tự chủ của quốc gia.
Tuy Nho giáo không dạy người Việt Nam
yêu nước, nhưng những mệnh đề, khái niệm
của Nho giáo khi được cấu trúc lại trên lập
trường yêu nước Việt Nam lại tỏ ra có tác
dụng tích cực đối với công cuộc cứu nước
của dân tộc. Sang thời Ngô, Đinh, Tiền Lê,
vai trò của Nho giáo trong xã hội tuy chưa
nổi bật, nhưng vẫn được duy trì ở một mức
độ nhất định và là tiền đề cho sự khởi sắc
của nó ở giai đoạn lịch sử tiếp theo. Thời kỳ
này rất ít người có chí học cao, học xa với
mục đích tham gia vào những cuộc tranh
luận về học thuật, bàn về những vấn đề siêu
Tài liệu tham khảo
[1] Chu Hy (1998), Tứ thư tập chú, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
[2] Ngô Sĩ Liên (2004), Đại Việt sử ký toàn thư,
t.1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[3] Trần Nghĩa (2005), “Thử bàn về thời điểm du
nhập cùng tính chất, vai trò của Nho học Việt
Nam thời Bắc thuộc”, Tạp chí Hán Nôm, số 1.
[4] Ngô Thì Sĩ (1960), Việt sử tiêu án, Nxb Sài
Gòn, Sài Gòn.
[5] Nguyễn Kim Sơn (2015), “Đề cương nghiên
cứu đặc điểm việc tiếp nhận Nho giáo của
người Việt Nam, từ khởi nguồn tới đầu thế kỷ
XX”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Nho học
Đông Á: truyền thống và hiện đại, tháng
3/2015, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - Quỹ
Sunwah, Tập đoàn Sunwah, Hà Nội.
[6] Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Nxb Viện
Đại học Huế, Huế.
[7] Lê Sỹ Thắng (chủ biên) (1994), Nho giáo tại
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[8] Tạ Chí Đại Trường (2014), Những bài dã sử
Việt, Nxb Tri thức, Hà Nội.
[9] Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý - Trần, t.1,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
1/nguyen-hung-vy.
nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/
nam.pdf
61
Bạn đang xem tài liệu "Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XI", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nho_giao_viet_nam_tu_thoi_bac_thuoc_den_dau_the_ky_xi.pdf

