Quan hệ thương mại giữa nhật bản với Philippin từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA NHẬT BẢN VỚI PHILIPPIN
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NHỮNG NĂM 30 CỦA THẾ KỶ XX
Trần Thị Kiều Oanh
Khoa Nhật Bản học, Đại học Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
TÓM TẮT
Cuối thế kỷ XIX sau “cải cách Minh Trị” thành công, Nhật Bản ra sức phát triển thƣơng nghiệp, để hỗ trợ
cho phát triển công nghiệp và lƣu thông hàng hóa. Philippin vốn là một nƣớc gần Nhật Bản về địa lý và có
quan hệ với Nhật Bản từ lâu, lại là nƣớc có tiềm năng về nông lâm thủy sản nên đã nhanh chóng tạo mối
quan hệ giao thƣơng trở lại. Tuy phải chịu chính sách “một cổ hai tròng”, thuộc địa của Tây Ban Nha và
sau đó là Mỹ, nhƣng mối quan hệ giao thƣơng giữa Nhật Bản và Philippin từ cuối thế kỷ XIX đến những
năm 30 của thế kỷ XX cũng diễn ra tƣơng đối sôi động và có nhiều điểm sáng, tạo tiền đề và sợi dây kết
nối cho mối quan hệ hai bên cũng nhƣ trong khu vực trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo.
Từ khóa: Nhật Bản, Philippin, thƣơng mại, quan hệ thƣơng mại, xuất nhập khẩu.
1. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA NHẬT BẢN VÀ
PHILIPPIN
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Philippin là đảo quốc thuộc khu vực Đông Nam Á. Diện tích 300,000 km2. Hai hòn đảo lớn nhất là Luzon
và Mindanao chiếm hơn 2/3 diện tích của Philippin, nằm ở hai đầu Bắc và Nam, xen giữa là nhiều đảo
nhỏ. Hệ thống núi và cao nguyên phức tạp. Đồng bằng nhỏ hẹp, nằm giữa các dãy núi hoặc ven biển.
Rừng chiếm diện tích một nửa quần đảo. Đất nông nghiệp chiếm khoảng 20% diện tích, nhƣng có lƣợng
nƣớc tự nhiên dồi dào, điều kiện thổ nhƣỡng và thời tiết tƣơng đối thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
Philippin có tài nguyên khoáng sản phong phú: vàng có trữ lƣợng đứng thứ hai trên thế giới, đồng, sắt,
mangan, croom,...
1.2. Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Năm 1571 Tây Ban Nha chiếm Manila, và những năm sau đó họ thiết lập quyền kiểm soát ở Philipin.
Trong hơn 4 thế kỷ xây dựng và duy trì ách thống trị, thực dân Tây Ban Nha thiết lập và phát triển Manila
nhƣ một trung tâm thƣơng mại, cảng biển quốc tế và chế độ đồn điền ở khắp Philippin. Các loại cây công
nghiệp nhƣ cao su, mía, thuốc lá, gai,... để cung cấp cho chính quốc và xuất khẩu. Bên cạnh đó, thực dân
Tây Ban Nha cũng đẩy mạnh khai thác khoáng sản. Cùng với quá trình thực dân hóa của mình, Tây Ban
Nha cũng tăng cƣờng truyền giáo tại Philippin. Dƣới chế độ thực dân Tây Ban Nha đa số ngƣời dân
Philippin đã theo đạo Thiên Chúa.
Năm 1898, Mỹ đã thay thế Tây Ban Nha, xây dựng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của mình trên đất nƣớc
này. Dựa trên chính sách “hợp để trị” của Tây Ban Nha trƣớc đó, Mỹ đã cho thành lập nhà nƣớc “Cộng
hòa Philippin” theo hình thức “tam quyền phân lập” mà trên thực tế là dƣới sự điều khiển của một viên
toàn quyền Mỹ. Mỹ đã dùng sức mạnh quân sự, kinh tế của mình để điều khiển nhà nƣớc Philippin, mục
đích chính cũng là khai thác thuộc địa và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa, xây dựng vùng đệm để
1186
tiến xuất các quốc gia Đông Nam Á khác. Mỹ đã xây dựng một chế độ tự do quan thuế ở Philippin, tạo
điều kiện cho phát triển thƣơng mại, nhƣng Mỹ với vai trò mẫu quốc vẫn đƣợc ƣu tiên nhất.
Với địa hình đảo quốc, bờ biển dài, nhiều eo biển nhỏ, Philippin phát triển ngành đánh bắt thủy hải sản.
2. PHÂN TÍCH QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA NHẬT BẢN VÀ PHILIPPIN
Các nƣớc Đông Nam Á nói chung và Philippin nói riêng đƣợc coi là nơi nhiều tiềm năng về thƣơng mại,
nhân công và khai thác tài nguyên. So với các nƣớc Đông Nam Á còn lại, Philippin có vị trí địa lý gần với
Nhật Bản hơn nên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên phát triển quan hệ.
Về đối ngoại, sau thời gian “tỏa quốc”, Nhật Bản mở rộng quan hệ đối ngoại, đặc biệt là về quan hệ
thƣơng mại, nhằm giải quyết vấn đề nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và thị trƣờng tiêu thụ
sản phẩm. Nhật Bản tiến hành đầu tƣ ở Philippin trên nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết những nhu cầu cấp
thiết này.
2.1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu
Biểu đồ: Giá trị xuất nhập khẩu của Philippin với Nhật Bản [7, p.127]
----giá trị nhập khẩu từ Nhật Bản
_ giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản
Quan hệ thƣơng mại giữa Nhật Bản với Philippin trong giai đoạn này là quan hệ mang tính song phƣơng,
hai chiều. Qua biểu đồ cho thấy giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu tăng từ đầu thế kỷ và đạt mốc trên dƣới
20,000,000 yên vào năm 1920. Trong nƣớc, giai đoạn này nền kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng. Tại
hội nghị Versailles (Paris) tháng 1/1919, Nhật tham dự với tƣ cách là một trong năm cƣờng quốc [4,
p.185].
Do ảnh hƣởng của tình hình kinh tế thế giới khủng hoảng 1918-1923, quan hệ thƣơng mại giữa hai bên có
những biến đổi về kim ngạch xuất nhập khẩu, tuy nhiên không đáng kể và trên thực tế Nhật đã tranh thủ
đƣợc thời cơ đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng sợi, dệt vào Philippin. Từ những năm 1924, bƣớc vào giai
đoạn ổn định trở lại, giá trị xuất nhập khẩu tăng trở lại. Trong giai đoạn từ những năm 1920 đến 1940, tỷ
trọng thƣơng mại cho thấy cán cân có sự chênh lệch, tổng kim ngạch xuất khẩu luôn thấp hơn tổng kim
ngạch nhập khẩu, trong giai đoạn này hai nƣớc cũng chịu ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế năm 1929-
1933, tuy nhiên sau đó nền kinh tế đƣợc phục hồi trở lại. Điều này cho thấy chính sách thông thoáng về
1187
thƣơng mại của chính quyền thuộc địa Mỹ và nhu cầu về nguyên liệu cao của Nhật Bản trong quá trình
công nghiệp hóa của mình. Và ngƣợc lại, Philipin cũng trở thành một thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa tƣơng
đối lớn của Nhật.
Trong cán cân thƣơng mại giữa hai bên, Nhật Bản luôn là bạn hàng lớn của Philippin, chỉ đứng sau Mỹ.
Kim ngạch thƣơng mại trong năm 1939, nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 24,740,000 yên, xuất khẩu sang Nhật
Bản đạt 49,120,000 yên. Kim ngạch xuất khẩu vƣợt gấp đôi kim ngạch nhập khẩu [8, p.145].
2.2. Về dân số thƣơng mại Nhật Bản tại Philippin
Bảng 1: Dân số thƣơng mại Nhật Bản tại Philippin [7, p.128] (đơn vị: số ngƣời)
Năm
Tổng số
ngƣời
Thƣơng nhân Nhân viên công
nói chung
ty, ngân hàng
1907
1908
1909
1910
1915
1920
1925
1930
1935
1940
76
80
67
9
9
71
96
89
7
156
538
668
761
1152
2173
2531
138
340
162
179
300
517
556
18
145
496
565
838
1649
1945
Năm 1903, Mỹ cho xây dựng đƣờng Benguet nối từ Manila đến Baguio, một khu vực nghỉ dƣỡng tránh
nóng cho ngƣời Mỹ. Để hoàn thành con đƣờng này, ngƣời Mỹ đã sử dụng nhân công ngƣời địa phƣơng,
ngoài ra còn tuyển dụng nhân công Trung Quốc và Nhật Bản. Sau khi hoàn thành con đƣờng, nhiều ngƣời
Nhật do không nhận đƣợc kinh phí hỗ trợ đi lại nên đã ở lại sinh sống tại Philippin, họ đến sống tại Davao
và hoạt động trong ngành nông nghiệp, chủ yếu trồng cây gai, ngoài ra một số ngƣời hoạt động trong
thƣơng nghiệp với qui mô nhỏ, họ đã góp phần tạo nền tảng cho ngƣời Nhật nói chung và thƣơng nhân
Nhật đến Philippin những năm sau đó. Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp sản xuất tơ sợi của
mình, Nhật Bản cần có nguồn nguyên liệu khổng lồ mà nguồn cung trong nƣớc không đủ. Công ty Nhật
Bản đầu tiên trong ngành sản xuất và kinh doanh cây gai thành lập ở Philippin là Oota Kougyou (太田興
業), công ty này hoạt động cả về lĩnh vực nông nghiệp lẫn thƣơng nghiệp. Ngoài ra còn có các công ty
nhƣ Furukawa Takushoku (古河拓殖), Dainichi Boueki (大日貿易),... Trong đó, bên cạnh đầu tƣ cho
trồng trọt, các công ty còn xây dựng kho bãi tạo thành một vòng khép kín cho sản phẩm gai, từ trồng trọt,
chế biến thô, lƣu kho, xuất khẩu,... điều này cho thấy sự chuyên nghiệp hóa cao của các công ty, xí nghiệp
Nhật Bản. Trong những năm 1917, 1918, 1924-1939 số lƣợng ngƣời Nhật đến Philippin, đặc biệt là trực
tiếp đến Dabao tăng đáng kể để trồng gai. Nhƣ vậy, có thể nhận định rằng nguồn nguyên liệu thô sản xuất
tại Philippin, sau đó xuất sang Nhật, ngƣợc lại sẽ nhập khẩu từ Nhật vải, sợi và các sản phẩm may mặc.
1188
Số lƣợng ngƣời Nhật đến Philippin làm ăn sinh sống chiếm số lƣợng đông ở khu vực Đông Nam Á trong
giai đoạn bài nghiên cứu, luôn chiến tỷ lệ từ 30 -50%. Trong đó, đáng kể nhất là sự gia tăng thƣơng nhân
đến Philippin giai đoạn kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất. Dân số thuộc lĩnh vực thƣơng mại (không
bao gồm gái mại dâm) vào năm 1918 là 1.540 ngƣời, trong đó có 324 ngƣời thuộc nhóm công ty và nhân
viên ngân hàng, và 283 thuộc nhóm nhân viên cửa hàng và nhân viên bán hàng; chiếm 34 phần trăm là các
thƣơng nhân nói chung, họ hoạt động xuất nhập khẩu, cũng nhƣ bán buôn bán lẻ [7, p.127]. Con số này
cũng tỷ lệ thuận với giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Nhật Bản và Philippin tăng mạnh trong khoảng
thời gian từ 1918-1920. Giai đoạn trong và sau chiến tranh thế giới thứ I là giai đoạn thuận lợi để Nhật
Bản xây dựng vị thế của mình trong khu vực, cũng nhƣ xuất tiến thƣơng mại trong khi các nƣớc tƣ bản
phƣơng Tây đang bận tham chiến. Thành phần cƣ dân thƣơng mại Nhật Bản tại Philippin cũng khá ổn
định về mặt cƣ trú, khác với Malaya, khi có biến động về tình hình kinh tế thì những cƣ dân này chấp
nhận rủi ro và ở lại đối mặt với khó khăn. Điều này một phần đƣợc lý giải do mặt hàng thƣơng mại giữa
hai bên không bị ảnh hƣởng nhiều từ thƣơng mại thế giới nhƣ cao su ở Malaya, nên nó có tính ổn định
hơn.
Số nhân viên công ty, ngân hàng theo thời gian tăng dần, điều này có nghĩa là hoạt động thƣơng mại của
ngƣời Nhật tại Philippin tăng nhanh, đặc biệt là các công ty - doanh nghiệp của Nhật Bản làm ăn có hiệu
quả. Đồng thời chứng minh sự lớn mạnh của nền kinh tế Nhật Bản.
Ngƣời Nhật tại Philippin chủ yếu định cƣ tại Manila và Dabao. Theo số liệu thống kê năm 1935, tại Dabao
có 13,984 ngƣời Nhật sinh sống, chiếm số lƣợng ngƣời Nhật đông nhất trong số những vùng, khu vực
khác trong chính sách “hƣớng Nam” của Nhật [8, p.217]. Theo số liệu thống kê của bộ nông thƣơng
Philippin, năm 1937 tỷ lệ ngƣời Nhật đầu tƣ vào nông nghiệp ở Dabao chiếm 20,74%, đứng vị trí số 1 về
đầu tƣ nƣớc ngoài ở khu vực này. Theo thống kê năm 1938, tổng lƣợng kim ngạch do mặt hàng đay đem
lại trên toàn Philippin là 1,150,000, trong đó riêng Dabao chiếm hơn 50% [8, p.202].
2.3. Về hàng hóa và giao lƣu hàng hóa
Hoạt động thƣơng mại của ngƣời Nhật ở Philippin tƣơng đối đa dạng ngành nghề từ dịch vụ giải trí, nhà
hàng, nông lâm thủy hải sản, khoáng sản, báo chí, thuốc, quán nƣớc, tiệm chụp hình, tạp hóa... Trong đó,
đặc biệt là mặt hàng bông sợi, vải, than đá nhập khẩu từ Nhật chiếm tỷ trọng lớn. Ngoài ra, còn có các mặt
hàng nhƣ: thủy tinh, giấy,...
Philippin vốn là nƣớc nông ngƣ nghiệp, nên các mặt hàng xuất khẩu của Philippin có nguồn gốc nông ngƣ
nghiệp chiếm chủ yếu nhƣ: đƣờng, gai, dầu dừa, dừa khô, thuốc lá, thủy hải sản,...
Các công ty thƣơng nghiệp của Nhật trong giai đoạn này nhƣ là: Mitsui bussan (三井物産)、Oosaka
Boueki (大阪貿易)、Hijima Mokusai (比島木材)、Daidou Boueki (大同貿易),... Về ngân hàng có chi
nhánh của ngân hàng Đài Loan (台湾銀行). Về cảng biển có công ty Ishihara Shougyou (石原産業),
Sumitomo Shoukai (住友商会),...
Từ năm 1910 đến năm 1920, Philippin đã nhập than đá và các mặt hàng vải vóc, bông với giá trị tổng mặt
hàng khoảng 10,000,000 yên. Ngƣợc lại, Philippin cũng đã xuất khẩu sang Nhật Bản trong cùng giai đoạn
các mặt hàng nhƣ dầu gai, sợi đay và đƣờng cũng thu về giá trị tƣơng đƣơng. [7, p.130 tác giả biên soạn
lại].
Hoạt động thƣơng mại của Nhật Bản tại Philippin sôi nổi vào đầu những năm 20, tuy nhiên các mặt hàng
xuất nhập khẩu với tỷ lệ và giá trị có sự thay đổi. Than đá, từ vị trí đứng đầu trong danh mục hàng nhập
khẩu từ Nhật Bản trong nhiều năm, thì giá trị nhập khẩu của nó giảm nhanh chóng. Bông, vải sợi, các sản
phẩm từ vải sợi luôn chiếm giá trị cao trong hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản. Các mặt hàng xuất khẩu
1189
sang Nhật Bản, ngoài những mặt hàng trƣớc đó, có sự mở rộng thêm với các mặt hàng nhƣ lá thuốc lá,
nhƣng sau đó bị chững lại do chịu ảnh hƣởng của biến động kinh tế hai bên, cũng nhƣ kinh tế thế giới.
Tuy nhên, hoạt động này sôi nổi trở lại vào những năm 30, do quan hệ thƣơng mại giữa hai bên ngày càng
đƣợc mở rộng và phát triển.
Để thực hiện mục tiêu “phú quốc cƣờng binh”, Nhật Bản không những ƣu tiên phát triển về công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng mà còn đầu tƣ cho công nghiệp sản xuất vũ khí, quân trang, quân dụng. Từ năm
1934, Nhật Bản bắt đầu nhập khẩu kim loại từ Philippin với sản lƣợng tăng lên theo từng năm. Việc Nhật
Bản tăng cƣờng nhập khẩu kim loại từ đầu thập niên 30 cho thấy cơ cấu ngành công nghiệp Nhật Bản có
sự chuyển biến nhanh chóng, từ phát triển công nghiệp nhẹ, Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn phát triển
công nghiệp nặng, bao gồm cả công nghiệp sản xuất vũ khí, quân dụng.
Bảng 2: Số lƣợng quặng sắt nhập khẩu từ Philippin [9, p.26]4 (đơn vị 1,000 tấn)
Năm
Số lƣợng
7
Tỷ lệ phần trăm so với tổng lƣợng nhập khẩu của Nhật
1934
1935
1946
1937
1938
1939
0,3%
8,0%
291
570
14,2%
9,7%
321
562
17,5%
26,8%
1,328
3. KẾT LUẬN
Quan hệ thƣơng mại giữa Nhật Bản và Philippin trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến những năm 30 của
thế kỷ là 20 diễn ra tƣơng đối mạnh mẽ và có tính chất hai chiều, tƣơng đối phát triển so với một số nƣớc
Đông Nam Á còn lại. Philipppin về một mức độ nào đó trở thành một nƣớc cung cấp nguồn nguyên liệu
cho Nhật Bản trong quá trình phát triển công nghiệp hóa và cũng trở thành một thị trƣờng tích cực tiêu thụ
hàng hóa của Nhật Bản. Philippin cũng là trở thành một môi trƣờng thích hợp cho chính sách di dân của
Nhật trong giai đoạn này.
Về kinh tế, việc quan hệ giao thƣơng giữa hai bên diễn ra theo hƣớng phát triển và lâu dài đã đem lại cho
Philippin một nguồn thu ngoại tệ đáng kể. Tạo tiền đề cho Philippin có cơ hội học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm về nhiều lĩnh vực ngành nghề, đặc biệt là kinh nghiệm kinh doanh của ngƣời Nhật. Bên cạnh đó
còn kích thích sản xuất phát triển, tạo sự cạnh tranh và góp phần ra đời một số ngành nghề mới, giai cấp
mới trong xã hội.
Giai đoạn này Nhật Bản đƣợc xem là một tấm gƣơng sáng trong “đổi mới”, giữ vững chủ quyền đất nƣớc
trƣớc thực dân và phát triển mạnh trong kinh tế đã trở thành tấm gƣơng sáng cho nhiều nƣớc noi theo.
Nhờ hoạt động đa dạng, bao gồm cả ngành báo chí, và thông qua con đƣờng thƣơng mại nhiều kiến thức
mới, tƣ tƣởng tiến bộ cũng nhanh chóng đến đƣợc với Philippin.
4 Tác giả biên tập lại
1190
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lƣơng Ninh (chủ biên) 2018, Đông Nam Á lịch sử từ nguyên thủy đến ngày nay, NXB Chính trị
quốc gia sự thật
[2] Nguyễn Tiến Lực 2013, Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời cận đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà
Nội
[3] Phan Huy Xu, Mai Phú Thanh 2005, Địa lý Đông Nam Á: những vấn đề kinh tế -xã hội, NXB Giáo
dục (tái bản lần thứ 7)
[4] Vĩnh Sính (1991), Nhật Bản Cận Đại, NXB Lao Động
[5] Vũ Dƣơng Ninh (chủ biên, 1991), Các nước Asean, NXB Thông tin lý luận - Ban KHXH thành ủy
Tp.HCM
[6] Vũ Dƣơng Ninh và Nguyễn Văn Hồng (2006), Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục
[7] Hiroshi Hashiya (1993), “Mô hình quá trình xâm nhập kinh tế của ngƣời Nhật ở Philippin thời tiền
chiến”, Người Nhật ở thuộc địa Đông Nam Á, Đại học Cornell, quyển 3, (Hiroshi Hashiya 1993,
“The pattern of Japanese Economic Penetration of Prewar Philippines”, The Japanese in colonial
Southeast Asia, Cornell University, volume III,).
[8] Tanno Isao (2017), Chiến lược và căn bản của quá trình xuất tiến Đông Nam á của các xí nghiệp
Nhật Bản, NXB Doubunkan (丹野勲2017、日本企業の東南アジア進出のルーツと戦略、同文
館出版)
[9] Adachi Hiroaki (2002), Nhật Bản và Đông Nam Á giai đoạn trƣớc chiến tranh - Nhìn từ quan điểm
khai thác tài nguyên, NXB Yoshikawa Kobunkan (安達宏明 (2002)、戦前期日本とアジアー資
料獲得の視点からー、吉川弘分館)
1191
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ thương mại giữa nhật bản với Philippin từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_he_thuong_mai_giua_nhat_ban_voi_philippin_tu_cuoi_the_k.pdf

