Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh cách mạng cộng nghiệp 4.0

CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH  
MẠNG CỘNG NGHIỆP 4.0  
ThS. Phạm Thị Tuyết Nhung  
Tóm tắt  
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) là nền tảng để nền kinh tế  
chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế  
tri thức; làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây  
chuyền sản xuất. Đồng thời nền công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung -  
cầu lao động. Các nhà kinh tế và khoa học cảnh báo, trong cuộc cách mạng này, thị  
trường lao động sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như  
cơ cấu lao động.  
Đối với Việt Nam, từ trước đến nay, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào các ngành sử  
dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên, trình độ của người lao động  
còn lạc hậu. Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi đối diện với cuộc CMCN  
4.0. Thực tế đã chỉ ra, tuy Việt Nam đang ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, thời  
kỳ mà dân số trong độ tuổi lao động cao nhất chiếm tỷ lệ hơn 76%, nhưng nguồn  
nhân lực của nước ta, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao lại thiếu hụt về số lượng,  
hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu.  
Cần thẳng thắn nhìn nhận, công tác đào tạo nhân lực nói chung, đào tạo nghề  
nói riêng những năm qua đã có những chuyển biến rõ nét nhưng vẫn chưa được như  
kỳ vọng, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. Đối với các nước có trình độ sản  
xuất phát triển, đang trong guồng quay của cách mạng công nghiệp 4.0 thì chất lượng  
lao động không còn là vấn đề lớn nhưng với nước ta hiện nay, muốn ứng dụng công  
nghiệp 4.0 đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bắt đầu ngay từ khâu đào  
tạo nghề.  
Từ khóa: nguồn nhân lực chất lượng cao, tác động cách mạng cộng nghiệp 4.0  
1.Đặt vấn đề  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) ảnh hưởng lớn đối với các  
mặt của đời sống xã hội, trong đó bao gồm cả vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Nhận  
diện về CMCN 4.0, tận dụng những thời cơ, thách thức của cuộc cách mạng này đối  
với việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ xây dựng, bảo vệ tổ quốc giai đoạn hiện  
nay là vấn đề cấp thiết, cần phải được quan tâm đặc biệt.  
117  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Nhất sử dụng năng lượng nước và hơi  
nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 sử dụng điện  
năng để tạo ra sản xuất đại trà. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 sử dụng các  
thiết bị điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Giờ đây, nhân loại  
đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, được xây dựng trên cuộc cách  
mạng công nghiệp thứ 3, đó là cuộc cách mạng kỹ thuật số đã được xuất hiện từ giữa  
thế kỷ trước, là sự hợp nhất các công nghệ làm mờ đi ranh giới giữa các các lĩnh vực  
vật lý, kỹ thuật số và sinh học.  
Chúng ta đang ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đã  
bắt đầu vào thời điểm chuyển giao sang thế kỷ này và được xây dựng dựa trên cuộc  
cách mạng số, đặc trưng bởi Internet ngày càng phổ biến và di động, bởi các cảm biến  
nhỏ và mạnh hơn với giá thành rẻ hơn, bởi trí tuệ nhân tạo. Các công nghệ số với phần  
cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nên ngày càng phức tạp hơn,  
được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu.  
Một số chuyên gia gọi đây là cách mạng công nghiệp thế hệ 4.0. Đó là xu hướng  
kết hợp giữa các hệ thống thực và ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và các hệ thống kết  
nối Internet (IoS). Nói một cách ngắn gọn thì viễn cảnh các nhà máy thông minh trong  
đó các máy móc được kết nối Internet và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể tự  
hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định có vẻ sẽ không còn xa xôi  
nữa. Và đây chính là lúc công việc của chúng ta trong tương lai sẽ thay đổi.  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 không chỉ là về các máy móc, hệ thống  
thông minh và được kết nối, mà còn có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Đồng thời là các  
làn sóng của những đột phá xa hơn trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen  
cho tới công nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử. Cuộc cách  
mạng công nghiệp lần thứ 4 là sự dung hợp của các công nghệ này và sự tương tác của  
chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học, làm cho cuộc cách mạng công nghiệp  
lần thứ 4 về cơ bản khác với các cuộc cách mạng trước đó. Trong cuộc cách mạng này,  
các công nghệ mới nổi và sự đổi mới trên diện rộng được khuếch tán nhanh hơn và  
rộng rãi hơn so với những lần trước.  
2. Nội dung  
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam  
Dân số: Việt Nam có quy mô dân số trên 96 triệu người, đứng thứ 15 thế giới,  
thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). Dân  
số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Dân cư Việt Nam phần đông  
118  
vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 65,6 % - năm 2019). Trình độ học vấn của dân  
cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khá nhanh (năm 2018 đạt 73,5 tuổi).  
Lao động: Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 54 triệu người; hàng  
năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Thể lực và  
tầm vóc của nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao, tuy nhiên  
so với các nước trong khu vực (Nhật Bản, Thái Lan, Xinh-ga-po, Trung Quốc,..) nói  
chung thấp hơn cả về chiều cao trung bình, sức bền, sức dẻo dai. Lao động Việt Nam  
được đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên ý thức kỷ luật, năng lực làm  
việc theo nhóm,… còn nhiều hạn chế.  
Đào tạo: Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh. Điều  
này có thể được xem như là một thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực.  
Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2018, số sinh viên đại học và cao đẳng trên 2 triệu  
người, số tốt nghiệp gần 500 ngàn người; số học sinh các trường trung cấp chuyên  
nghiệp là gần 450 ngàn người. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề,  
lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương,… chưa đồng nhất, chưa thực sự  
phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã  
hội.  
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực  
lượng lao động từ 15 tuổi trở lên gần 18%, trong đó ở thành thị gần 34%; tỷ lệ nhân  
lực được đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo  
ngày càng tăng (năm 2010 là 5,7%, năm 2012 là 6,4%, năm 2018 là 7,5% ).  
Sử dụng nhân lực: Lực lượng lao động đã được thu hút vào làm việc trong nền  
kinh tế là khá cao. Trong năm 2018 nền kinh tế đã tạo ra gần 1,6 triệu việc làm mới; tỷ  
lệ thất nghiệp là 2,16% (trong đó thành thị là 3,11%, nông thôn là 1,66%), tỷ lệ thiếu  
việc làm là 1,32% (trong đó thành thị là 0,73%, nông thôn là 1,63%).  
Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng suất lao  
động đo bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành chia cho tổng số  
người làm việc bình quân trong 01 năm. Năng suất lao động của Việt Nam có sự cải  
thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất  
lao động cao trong khu vực ASEAN. Năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện  
hành năm 2018 đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD  
so với năm 2017.  
Đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khá đã được  
thu hút và phát huy hiệu quả lao động cao ở một số ngành, lĩnh vực như bưu chính  
viễn thông, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, công nghiệp năng  
119  
lượng, y tế, giáo dục,… và xuất khẩu lao động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày  
càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước tiếp  
cận trình độ quốc tế.  
2.2. Thách thức – Cơ hội đối với nguồn nhân lực Việt Nam:  
Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Mỗi một lĩnh vực, một  
bộ phận lại chịu sự tác động riêng của quá trình này. Là bộ phận không thể thiếu của  
một quốc gia nguồn nhân lực cũng sẽ có cơ hội phát triển cũng như thách thức khó  
khăn trong quá trình phát triển.  
2.2.1 Thách thức  
Di chuyển lao động sẽ tạo nên môi trường hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và gay  
gắt. Thách thức lớn nhất là tính cạnh tranh trong thị trường nhân lực sẽ rất cao, trong  
khi mức độ sẵn sàng của giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam còn chậm. Cạnh tranh  
giữa nước ta với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng  
cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng giáo dục nghề nghiệp phải được cải thiện đáng  
kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới nhằm tăng cường khả  
năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.  
Trong năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số sẽ làm cho  
lợi thế lực lượng lao động trẻ mất dần đi theo thời gian. Một vấn đề khác là nền kinh tế  
sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy  
giảm mạnh và lợi thế cạnh tranh.  
Khả năng hòa nhập của học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp trong môi trường lao  
động mới. Để đạt được điều này có hai yếu tố quyết định mà học sinh, sinh viên ít  
được đào tạo trong trường đó là Tiếng Anh và tác phong công nghiệp. Khả năng thích  
ứng với thay đổi, kỹ năng thực hành và ý thức, tác phong làm việc cũng là những thách  
thức không nhỏ đối với lao động Việt Nam.  
Cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao sẽ diễn ra mạnh mẽ trên bình diện thế  
giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi  
hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường  
quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định. Theo các  
chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng; thái độ và tâm  
lý để sẵn sàng di chuyển sang làm việc tại các nước ASEAN của lao động Việt Nam là  
chưa cao.  
Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp. Sự không đồng đều về chất lượng  
nhân lực trong nước và so với các nước trong khu vực trong điều kiện yêu cầu cao về  
120  
kỹ năng nghề và đổi mới nhanh chóng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Khoa học,  
công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực  
cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có giải pháp đủ mạnh để khuyến  
khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới và ứng dụng  
khoa học, công nghệ.  
Chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế  
trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải  
quyết việc làm cho người lao động. Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo  
để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm. Chuyển dịch cơ cấu  
lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng  
cao; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung 51,6%, trong đó qua  
đào tạo từ 3 tháng trở lên (có bằng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%.  
Thị trường lao động trong nước và thế giới đòi hỏi người lao động phải đạt được  
chuẩn nghề nghiệp, nhưng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đang xây dựng  
và bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới.  
Việc quản lý lao động: quản lý lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc còn  
lỏng lẻo; vấn đề tiếp cận với thông tin thị trường lao động ngoài nước còn hạn chế.  
Vận hành hệ thống thông tin thị trường lao động Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập.  
121  
2.2.2 Cơ hội  
Cơ hội để phát triển giáo dục nghề nghiệp: tạo ra nhiều cơ hội trong việc hợp tác  
lẫn nhau giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ hội học tập, bồi dưỡng, trao đổi nâng  
cao trình độ cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp; sẽ có thêm  
nhiều nguồn lực đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.v.v…  
Người học có nhiều cơ hội hơn trong học tập, tiếp cận với các chương trình đào  
tạo tiên tiến của nước ngoài và dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm việc làm sau quá trình  
học tập, bởi thị trường lao động không chỉ là thị trường trong nước mà còn cả thị  
trường rộng lớn của khu vực ASEAN. Văn bằng, chứng chỉ sau quá trình đào tạo của  
người học cũng được công nhận ở các nước trong khu vực, tạo điều kiện để dễ dàng  
được công nhận bởi các nước khác trên thế giới.  
Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động  
trẻ.  
Việt Nam sẽ trở thành điểm đến của dòng chảy đầu tư quốc tế, giúp tăng những  
dự án đầu tư mang tính tiên phong về công nghệ hoặc quy mô lớn giúp thu hẹp khoảng  
cách về năng suất lao động, tăng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cùng với nâng cao  
trình độ quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho  
người lao động…  
Thu hút được lao động chất lượng cao từ các nước đến làm việc, bù đắp sự thiếu  
hụt lao động chất lượng cao.  
Năng suất lao động của Việt Nam sẽ tăng lên giúp cho nền kinh tế giảm khoảng  
cách so với nền kinh tế khác trong khu vực và trên thế giới.  
4. Những vấn đề cần quan tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực Việt  
Nam đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0  
Các nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng phải đối diện  
với nhiều thách thức mới trong vấn đề đào tạo, phát triển chất lượng nguồn nhân lực.  
Những vấn đề cần quan tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng  
yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0 cụ thể là:  
Thứ nhất, cách mạng công nghiệp 4.0 làm chuyển dịch cơ cấu lao động trong  
các ngành kinh tế. Với cách mạng công nghiệp 4.0, những ngành nghề truyền thống sử  
dụng nhiều lao động sẽ dần mất đi, đồng thời xuất hiện những ngành nghề mới. Cách  
mạng công nghiệp 4.0 đã cho ra đời các hệ thống tự động hóa và robot thông minh.  
Các hệ thống này sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế gây áp  
122  
lực lớn đối với thị trường lao động. Các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt với  
tình trạng dư thừa lao động và gia tăng tình trạng thất nghiệp.  
Hiện nay, nguồn lao động của Việt Nam tương đối dồi dào nhưng chủ yếu là lao  
động tay nghề thấp, vì vậy dễ dàng bị thay thế bởi máy móc. Những công việc mang  
tính chất rập khuôn, lặp lại đơn giản mà đa phần lao động chưa qua đào tạo Việt Nam  
đang đảm nhận sẽ dần được thay thế bởi máy móc trong tương lai.  
Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế, có đến 86% số lao động trong các  
ngành dệt may và giày dép của Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm trong vòng 15  
năm tới. Bên cạnh việc mất dần những ngành nghề truyền thống sử dụng nhiều lao  
động, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, gắn với  
đặc trưng của cuộc cách mạng này như: ngành điện tử, viễn thông, số hóa, kỹ thuật  
viên máy tính, an ninh mạng, in 3D… Trong tương lai, những lao động bị mất việc  
làm do sự phát triển của robot và công nghệ tự động hóa sẽ dịch chuyển sang những  
ngành mới này. Tuy nhiên, không phải dễ dàng khi chuyển đổi ngành nghề, nhất là  
những ngành mới đòi hỏi nhiều tri thức.  
Thứ hai, thị trường lao động phân hóa mạnh mẽ: Trong cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0, lao động giá rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh của các quốc gia trên thế  
giới. Hàng loạt nghề nghiệp cũ mất đi, thị trường lao động quốc tế sẽ phân hóa mạnh  
giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao. Cùng với đó,  
sự ra đời của trí tuệ nhân tạo (robot thông minh) cũng làm giảm nhu cầu sử dụng lao  
động kỹ năng thấp. Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đe dọa việc  
làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung cũng  
sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới – kỹ năng sáng  
tạo. Với sự phát triển công nghệ nhanh chóng trong tương lai, nhu cầu về lao động có  
trình độ và kỹ năng cao là một yêu cầu tất yếu. Từ việc nâng cao yêu cầu về chất lượng  
nguồn nhân lực, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 còn làm thay đổi yêu cầu và phương  
pháp đào tạo nguồn nhân lực. Đào tạo nguồn nhân lực L chất lượng cao chuẩn bị cho  
cách mạng công nghiệp 4.0 đã trở thành vấn đề cấp bách mà nhiều quốc gia trên thế  
giới quan tâm.  
Thứ ba, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp thiết: cách  
mạng công nghiệp 4.0 yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao, trong khi  
đó, nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay lại thiếu hụt cả về số lượng  
và kỹ năng tay nghề. cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng số nhưng nhân lực  
chất lượng cao trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, tự động hóa…  
của Việt Nam đang quá ít. Theo tính toán của các chuyên gia, nhu cầu nhân lực công  
nghệ thông tin tăng thêm 47% mỗi năm, trong khi đó số sinh viên ngành công nghệ  
123  
thông tin ra trường lại chỉ tăng 8%/năm. Trong số nhân lực ấy, không phải tất cả đều  
có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Một nghiên cứu mới đây  
cho thấy, có tới 72% số sinh viên ngành công nghệ thông tin không có kinh nghiệm  
thực hành, 42% số sinh viên thiếu kỹ năng làm việc nhóm.  
Tại một số diễn đàn, hội thảo về cách mạng công nghiệp 4.0 và nguồn nhân lực  
mới nhất, không ít doanh nghiệp phàn nàn đang gặp khó khăn trong khâu tuyển dụng  
hoặc lao động được tuyển vào không đáp ứng được yêu cầu công việc mà phải qua đào  
tạo, tập huấn tại doanh nghiệp. Thống kê mới nhất cho thấy, trong các trường đại học ở  
Việt Nam, chỉ có một số ít trường có nhóm giảng viên được trang bị kiến thức giảng  
dạy bằng phương pháp STEM (tức là trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng  
cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Điều  
đáng nói, trong đó không phải trường nào cũng đào tạo được đầy đủ và đúng quy trình  
để có được nguồn nhân lực đã được chuẩn hóa.  
Thứ tư, cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực: Trước hết, cạnh tranh sẽ xảy ra  
trong một số lĩnh vực công nghệ đang bắt đầu được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn,  
tạo áp lực tuyển dụng, phát triển nguồn nhân lực liên quan. Ngay tại nước ta, nhân lực  
trong các ngành về trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, xe ôtô tự lái, Robotic… đang  
được "săn lùng" ráo riết và trả mức lương “khủng”. Chi phí tiền lương cho nhóm lao  
động này có thể tăng 50 - 100%/năm trong một vài năm. Số lượng nhân sự đông hiện  
không còn là một lợi thế cạnh tranh nữa. Với công nghệ, các công ty có thể phối hợp  
và triển khai những công việc mà trước đây chỉ các công ty lớn mới có thể làm được,  
chủ yếu tập trung vào ứng dụng công nghệ theo các mô hình kinh doanh mới để tạo  
năng lực cạnh tranh khác biệt.  
Các chuyên gia cho rằng, kỷ nguyên số sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta  
sống, làm việc và sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, khi máy móc dần thay thế  
con người. Nước ta cũng không nằm ngoài xu thế đó, nhất là khi lực lượng lao động  
rất dồi dào nhưng lại thiếu năng lực và kỹ năng. Thực tế hiện nay, tỷ lệ lao động phổ  
thông không có chuyên môn kỹ thuật chiếm số lượng lớn. Chưa kể lực lượng lao động  
thiếu các kỹ năng cần thiết như làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, kỹ năng tin học,  
ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp chưa cao, thiếu ý thức trách nhiệm và chậm thích nghi  
với môi trường mới, năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lao động  
có trình độ cao còn nhiều yếu kém.  
Để biến những thách thức thành cơ hội, người lao động sẽ cần những kỹ năng  
mới để có thể tìm được cơ hội việc làm. Những kỹ năng cần thiết cho nguồn nhân lực  
để sẵn sàng tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là kỹ năng giải quyết vấn đề  
phức tạp, tư duy phản biện, sáng tạo, quản lý nguồn lực con người, phối hợp với đồng  
124  
nghiệp, trí tuệ cảm xúc, đánh giá và đưa ra quyết định, định hướng dịch vụ, đàm phán,  
linh hoạt trong nhận thức. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, các nhóm lao động đều bị tác  
động, đặc biệt là các nhóm lao động yếu thế như tuổi cao, trình độ kỹ năng thấp…  
Điều này dẫn tới việc làm có thể mất đi nhưng cũng có thể mở ra cơ hội khi nhiều lĩnh  
vực mới được mở ra. Vì vậy, ngay từ bây giờ, lực lượng trẻ chuẩn bị tham gia thị  
trường lao động, ngoài kiến thức trên nhà trường, cần trang bị những kỹ năng cần thiết  
để đón đầu xu thế và cơ hội việc làm tốt nhất trong tương lai.  
5. Mội số giải pháp cần tập trung  
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân  
lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc  
cách mạng công nghiệp 4.0”. Đây là một chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nhạy bén,  
sáng tạo và tư duy đột phá của Đảng ta. Tuy nhiên, để thực hiện tốt nội dung này đòi  
hỏi phải có một chiến lược tổng thể và lâu dài, với hệ thống các giải pháp mang tính  
đồng bộ, thiết thực và khả thi, trong đó có thể tập trung nghiên cứu và thực hiện tốt  
một số nội dung chủ yếu sau:  
Thứ nhất, tập trung xây dựng và hoàn thiện chiến lược tổng thể, hệ thống cơ  
chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực đạt chất lượng cao. Cần xác định rõ đây  
là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị, trong đó cần sớm thống nhất  
nhận thức trong các đoàn thể chính trị - xã hội, trước hết là lực lượng nòng cốt đang  
trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và hoạch định chiến lược, chính sách, tác  
động của thời cơ và thách thức đối với nước ta từ cách mạng công nghiệp 4.0.  
Hệ thống cơ chế, chính sách có vai trò rất quan trọng, tác động trực tiếp hoặc  
gián tiếp, tạo động lực thúc đẩy hoặc lực cản kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế -  
xã hội nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng. Trên thực tế,  
những năm qua, nước ta đã có nhiều cơ chế, chính sách mới có tác động tích cực đến  
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,  
các chính sách đó đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập, hiệu quả mang lại chưa tương  
xứng. Để tiếp tục phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có hiệu quả, đòi hỏi cần  
phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách  
nhằm tạo hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực chất  
lượng cao ở nước ta trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  
Việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực cho sự phát triển  
chất lượng chất lượng cao phải được thực hiện đồng bộ trên nhiều phương diện như  
giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường làm việc, chính sách việc làm,  
thu nhập, an sinh xã hội, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, chính sách phát  
125  
triển thị trường lao động, các điều kiện nhà ở, sinh sống, định cư... Nhà nước cần tiếp  
tục đổi mới thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý từ Trung ương đến địa phương nhằm  
tạo môi trường thuận lợi phát triển chất lượng, khuyến khích phát triển thị trường chất  
lượng chất lượng cao; thị trường và sản phẩm khoa học - công nghệ theo hướng hội  
nhập, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển các ngành, nghề kinh doanh mới ở  
Việt Nam đang bắt đầu nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  
Cần có chính sách thỏa đáng để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn  
lực mới, nhất là trong những ngành mũi nhọn về công nghệ của quốc gia; nâng cao  
chất lượng hoạt động của các vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao; có  
chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo  
trong các cơ sở đào tạo về công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát  
triển và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, tăng cường sự hợp tác hiệu quả giữa Nhà  
nước, doanh nghiệp và các trường đại học thúc đẩy sự phát triển một số ngành chọn  
lọc, đặc biệt là công nghệ thông tin.  
Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa quá trình đào tạo với bồi dưỡng và sử dụng chất  
lượng chất lượng cao: Đảng ta khẳng định: “Xây dựng chiến lược phát triển chất lượng  
cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó  
tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại chất lượng trong các nhà trường”. Điều này  
đặt ra yêu cầu rất cao đối với chất lượng chất lượng cao. Vì vậy, các cơ sở đào tạo phải  
luôn coi trọng quản lý tốt chất lượng “sản phẩm đầu ra” thông qua các hình thức đánh  
giá năng lực thực hành của học viên trong quá trình đào tạo, phúc tra kết quả đào tạo,  
kết quả tốt nghiệp… thay cho cách quản lý “sản phẩm đầu vào” như hiện nay.  
Các cơ sở đào tạo cũng cần trang bị cho học viên, nghiên cứu sinh các kỹ năng  
cần thiết như: giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngoài, sử dụng công nghệ thông tin,  
sự sáng tạo, thích nghi, nắm bắt được xu thế phát triển của xã hội… nhằm đảm bảo sự  
gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng, đáp ứng yêu cầu đang đặt ra. Việc lựa chọn  
nguồn đi đào tạo, bồi dưỡng không chỉ đặt lên hàng đầu tiêu chí về nhận thức mà còn  
phải rất coi trọng đến các vấn đề ngoại ngữ, tin học, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề  
nghiệp, năng lực lãnh đạo, quản lý.  
Đặc biệt, các cơ sở đào tạo cần phải dân chủ, công khai các tiêu chí, hướng đi  
học và sử dụng cán bộ để làm tăng tính tích cực, chủ động cho cả người học và đơn vị  
sử dụng. Trong sử dụng nhân lực, không quá phụ thuộc vào vấn đề bằng cấp mà coi  
trọng đến hiệu quả công việc. Để đạt được, cần thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện đội  
ngũ này trong các hoạt động thực tiễn, sau đó mới bố trí, sử dụng theo đúng năng lực,  
trình độ nhằm phát huy vai trò, thế mạnh của họ theo chuyên ngành đào tạo, khắc phục  
được tình trạng lãng phí hoặc chảy máu “chất xám” ở một số nơi hiện nay.  
126  
Thứ ba, tận dụng hiệu quả các cơ hội, nỗ lực đổi mới hệ thống giáo dục Việt  
Nam: Cụ thể là cần tiếp tục gia cố những yếu tố nền móng, đổi mới tư duy về phát  
triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia. Mục tiêu là đào tạo đội  
ngũ lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, cụ thể là chuyển  
từ biệt lập, tự phát về số lượng sang chất lượng, có kết nối giữa đào tạo và sử dụng lao  
động, từ cách đào tạo làm cho người học thụ động sang chủ động sáng tạo, không ngại  
đương đầu với khó khăn, thách thức.  
Nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý tạo môi trường thuận  
lợi phát triển chất lượng, khuyến khích phát triển thị trường chất lượng chất lượng cao;  
thị trường sản phẩm khoa học công nghệ phải phản ánh đầy đủ quan hệ cung - cầu, qua  
đó, làm căn cứ hoạch định chiến lược và chính sách. Bên cạnh đó, cần có chính sách  
hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong các  
trường đại học đào tạo về công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa các vườn ươm khởi nghiệp  
với trường đại học và doanh nghiệp...  
Các cơ sở giáo dục đại học cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp, các  
trường đại học quốc tế để xây dựng các phòng thí nghiệm theo hình thức hợp tác công  
– tư; Xây dựng mô hình giáo dục 4.0 theo kịp xu hướng công nghệ hiện đại trong nền  
kinh tế 4.0.  
6. Kết luận  
Thực tế cho thấy, nhiều năm nay, chúng ta vẫn loay hoay với “vòng luẩn quẩn”:  
thừa thì vẫn thừa, mà thiếu vẫn thiếu, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đứng  
trước thềm cách mạng công nghiệp 4.0. Với cách mạng công nghiệp 4.0, các chuyên  
gia cho rằng, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc bồi dưỡng và đào tạo lại để  
đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ trình độ vận hành, làm chủ công nghệ mới. Ngoài ra,  
Việt Nam sẽ phải chịu áp lực lớn hơn với việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao,  
đối mặt với nguy cơ dịch “chảy máu” chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao sang  
nước ngoài. Do vậy, việc triển khai các giải pháp trên sẽ góp phần phát triển và nâng  
cao chất lượng nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các Văn kiện Hội nghị lần thứ năm  
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà  
Nội, 2017;  
Báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, dân số Việt Nam năm 2018  
Báo cáo sơ bộ Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2019 –Tổng Cục Thống kê năm 2019  
127  
Đối thoại chính sách cao cấp về phát triển NNL trong kỷ nguyên số... tại Hội nghị các  
quan chức cao cấp APEC lần thứ hai (SOM-2) tổ chức tại Hà Nội, ngày  
15/5/2017.  
Đường Vinh Sường: “Giáo dục đào tạo với phát triển NNL chất lượng cao ở nước ta  
hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 4/12/2014;  
Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 của Tổng cục Thống kê  
Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2019 của Tổng  
cục Thống kê.  
Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 về việc tăng  
cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0  
Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng  
Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr. 54;  
tuoi-lao-dong-chiem-ty-le-hon-76-329313.html  
Viet-Nam-nam-2018-va-trien-vong-nam.aspx  
Viet-Nam-trong-tien-trinh-hoi-nhap/326416.vgp  
128  
pdf 12 trang Thùy Anh 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh cách mạng cộng nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_nguon_nhan_luc_viet_nam_trong_boi_canh_cach_mang.pdf