Bình đẳng giới trong phân công lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc

Kinh tế & Chính sách  
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN  
KINH TẾ HỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC  
Phạm Thị Huế1, Nguyễn Văn Thanh2  
1Trường Đại học Lâm Nghiệp  
2Học viện Phụ nữ Việt Nam  
TÓM TẮT  
Ngày nay, bình đẳng giới là vấn đề mang tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại. Muốn thực hiện được  
bình đẳng giới thì trước hết phải thực hiện được bình đẳng giới trong hộ gia đình, trong đó, bình đẳng giới trong  
phân công lao động và phát triển kinh tế hộ có ý nghĩa quyết định. Bài viết đã mô tả đặc điểm chung của hộ dân  
tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, đồng thời phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu trên các khía cạnh: Đóng góp  
kinh tế của phụ nữ và đàn ông; Quyền sở hữu đất đai trong sản xuất nông nghiệp; Quyền quản lý tài chính và  
quyết định đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã có những đánh giá, nhận xét phù hợp thực tiễn để phản  
ánh rõ nét thực trạng, đồng thời đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trên địa bàn nghiên  
cứu. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, kế thừa, tổng hợp  
thông tin từ các báo cáo, đề tài trong nước và nước ngoài; Phương pháp quan sát thực địa, Phương pháp chuyên  
gia và một số phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộ dân tộc thiểu số đã có sự biến đổi  
theo hướng tích cực trong mối quan hệ giữa các thành viên, tuy nhiên vẫn còn mang nhiều định kiến giới. Chính  
điều này đã làm giảm giá trị lao động của phụ nữ và cản trở quá trình thực hiện bình đẳng giới.  
Từ khóa: Bình đẳng giới, dân tộc thiểu số, kinh tế hộ, La Hủ, phân công lao động, phân công lao động hộ  
gia đình.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam.  
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực  
Trong thời đại ngày nay, bình đẳng giới đã  
trở thành một trong những vấn đề của phát  
triển mang tính toàn cầu. Nói đến bình đẳng  
giới (BĐG), về cơ bản là nói đến sự bình đẳng  
về vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với  
nam giới. Muốn thực hiện được BĐG trên các  
lĩnh vực khác thì trước hết phải thực hiện được  
BĐG trong hộ gia đình, vì gia đình là “tế bào”  
của xã hội. Để có BĐG trong hộ gia đình thì  
thực hiện BĐG trong phân công lao động hộ và  
phát triển kinh tế hộ lại có ý nghĩa quyết định.  
BĐG trong hộ gia đình không những là chìa  
khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm  
ấm của gia đình, mà còn tạo điều kiện cho sự  
phát triển toàn diện của cả nam và nữ về mặt  
xã hội, cải thiện dần địa vị của mỗi giới, đặc  
biệt là địa vị của người phụ nữ trong gia đình  
và xã hội.  
Miền núi phía Bắc (MNPB) là địa bàn cư tụ  
của nhiều dân tộc thiểu số (DTTS), với sự đa  
dạng về bản sắc văn hóa tộc người. Do trình độ  
phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa còn thấp  
kém, bất BĐG trong gia đình DTTS MNPB  
còn khá phổ biến và nặng nề hơn so với nhiều  
vùng khác trong cả nước. Chính vì vậy, để làm  
rõ bức tranh này, thông qua bài viết, nhóm tác  
giả đã phản ánh thực trạng bình đẳng giới  
trong phân công lao động và phát triển kinh tế  
hộ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc  
trạng bình đẳng giới trong phân công lao động  
và phát triển kinh tế hộ dân tộc thiểu số vùng  
miền núi phía Bắc, từ đó hàm ý một số chính  
sách thúc đẩy bình đẳng giới trong phân công  
lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc  
thiểu số vùng miền núi phía Bắc. Để thực hiện  
mục tiêu nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã sử  
dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:  
Phương pháp thu thập số liệu: Phương pháp  
kế thừa được sử dụng để thu thập tài liệu, công  
trình có liên quan đến đề tài, báo cáo của các  
nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn ở Việt  
Nam và của các tổ chức quốc tế. Các thông tin  
phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu nằm rải  
rác trong một số báo cáo, công trình nghiên  
cứu có liên quan. Vì vậy, nhóm tác giả đã kế  
thừa và tổng hợp các thông tin cần thiết để  
phản ánh rõ nét hơn thực trạng bình đẳng giới  
trong phân công lao động và phát triển kinh tế  
hộ trên địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra, nhóm tác  
giả đã thu thập một số tài liệu khác có liên  
quan đến vấn đề nghiên cứu như: Các văn bản  
pháp luật; tài liệu dự án; các báo cáo thống  
kê… Nhóm tác giả cũng đã sử dụng phương  
pháp quan sát thực địa để mô tả một số đặc  
điểm của hộ dân tộc thiểu số, mô tả thực trạng  
vấn đề nghiên cứu và phương pháp chuyên gia  
để phỏng vấn một số chuyên gia trong lĩnh vực  
130  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
bình đẳng giới.  
khăn, cha mẹ mải lo kiếm cái ăn, cái mặc. Vào  
ngày mùa, người dân đi làm nương rẫy từ sáng  
tới tối hoặc mất vài ngày mới về, nếu cho con  
đi học thì phải bỏ việc ở nương rẫy, nên họ  
thường mang theo con lên rẫy. Việc các cháu  
nhỏ không đi nhà trẻ, mẫu giáo, không những  
làm cho người phụ nữ mất nhiều thời gian  
chăm sóc con cái, mà còn ảnh hưởng lớn đến  
tương lai của trẻ em gái, vì trẻ em gái thường  
phải ở nhà trông em nên không có thời gian  
học bài.  
Phương pháp xử lý số liệu: Phương pháp  
thống kê kinh tế được sử dụng để xử lý các số  
liệu thu thập được như tính số trung bình, tính  
tỷ lệ %... Bên cạnh đó, nhóm tác giả sử dụng  
phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích  
thực trạng vấn đề nghiên cứu, đưa ra đánh giá,  
nhận xét phù hợp.  
2. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HỘ DÂN  
TỘC THIỂU SỐ VÙNG NÚI PHÍA BẮC  
2.1. Về phân công lao động hộ  
Hiện nay ở cả 4 dân tộc (Thái, Tày,  
H’Mông, La Hủ) ở khu vực miền núi phía Bắc  
đều tồn tại hai hình thức hộ gia đình phổ biến  
là: hộ gia đình nhỏ hai thế hệ gồm bố mẹ và  
con cái chưa đến tuổi thành niên và hộ gia đình  
lớn gồm hai ba cặp vợ chồng cùng sinh sống.  
Không giống như người H’Mông, hầu như  
người Tày, Thái, La Hủ không sống theo hộ  
gia đình lớn, nhiều đời cùng chung sống trong  
một mái nhà, mà hộ gia đình nhỏ phụ quyền là  
loại hình chủ yếu, bao gồm vợ chồng và con  
cái, tuy nhiên cũng có những hộ gia đình gồm  
3 thế hệ. Dù là hai hay nhiều thế thệ cùng  
chung sống, thì hộ gia đình có quy mô lớn với  
số lượng thành viên đông là đặc trưng trước  
hết cho cư dân nông thôn và các dân tộc thiểu  
số. Hơn nữa, ở những dân tộc phụ hệ như Thái,  
Tày, H’Mông, La Hủ, do xuất phát từ tư tưởng  
trọng nam khinh nữ, nên các hộ gia đình càng  
nhiều con hơn.  
Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê  
năm 2013, tỷ suất sinh của vùng miền núi phía  
Bắc là cao nhất nước 2,56 con/phụ nữ (cả nước  
là 2,09 con/phụ nữ), cho nên số người bình  
quân trong một hộ gia đình nông thôn của  
MNPB cũng cao nhất nước (4,1 người/hộ), có  
25,9% hộ có từ 5 - 6 người, 7% hộ có từ 7  
người. Trong khi đó, các dịch vụ an sinh xã hội  
của vùng chưa phát triển nhiều so với các vùng  
khác trong cả nước. Chẳng hạn, hệ thống  
trường học, nhà trẻ, mẫu giáo là một yếu tố  
góp phần làm giảm gánh nặng công việc cho  
phụ nữ, thì hiện nay nhiều thôn, bản cách xa  
trung tâm xã chưa có lớp mẫu giáo, do đó  
nhiều trẻ em trong độ tuổi mầm non không  
được đến lớp. Hơn nữa việc thu hút các cháu đi  
học mẫu giáo cũng rất khó khăn vì học sinh  
còn nhỏ, nhiều hộ gia đình cuộc sống còn khó  
Với những đặc điểm này có thể thấy, khối  
lượng công việc liên quan tới hoạt động tái sản  
xuất, mà người phụ nữ DTTS miền núi phía  
Bắc phải đảm nhận là rất lớn, tốn nhiều thời  
gian và sức lực.  
2.2. Về phát triển kinh tế hộ  
Miền núi phía Bắc là vùng có tỷ lệ hộ dân  
hoạt động ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ  
phi nông, lâm nghiệp, thủy sản rất thấp, trong  
đó vùng Tây Bắc là thấp nhất cả nước (18,4%)  
(Tổng cục thống kê, 2012).  
Lao động sản xuất của hộ DTTS miền núi  
phía Bắc có điểm khác biệt so với các vùng  
khác trong cả nước là chủ yếu diễn ra trong  
lĩnh vực nông nghiệp, ngoài ra còn có một số  
hoạt động sinh kế bổ trợ như: làm nghề thủ  
công, săn bắn hái lượm, buôn bán nhỏ, làm  
thuê.  
Xét theo tập quán sinh sống và canh tác của  
các DTTS, có thể chia thành một số nhóm: dân  
tộc Tày, Nùng, Thái... chủ yếu cư trú ở vùng  
đồi núi thấp, thung lũng, khe dọc; dân tộc Dao,  
H’Mông, Khơ Mú, La Ha, La Hủ, Mảng chủ  
yếu cư trú ở vùng lưng chừng núi (vùng giữa)  
và núi cao (vùng cao). Những dân tộc sinh  
sống vùng thấp, vùng thung lũng sớm biết  
trồng lúa nước, biết áp dụng các biện pháp  
thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai,  
làm cọn lấy nước tưới ruộng, biết kết hợp làm  
nương trồng lúa, ngô, hoa màu; sống quần cư  
đông đúc thành bản làng có khi tới hàng trăm  
nóc nhà. Những dân tộc có tập quán sinh sống  
ở lưng chừng núi hoặc núi cao có tập quán làm  
nương, làm ruộng (bậc thang), trồng ngô, lúa,  
lúa mạch, cây ăn quả... thường sống phân tán,  
rải rác, ít xen kẽ với các dân tộc khác, sống  
thành từng bản có vài chục nóc nhà hoặc chỉ  
trên dưới chục nóc nhà. Trong đó có một số  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
131  
Kinh tế & Chính sách  
nhóm dân tộc còn tồn tại cách thức canh tác lạc  
hậu: du canh du cư, phát rừng, đốt nương làm  
rẫy, chọc lỗ, tra hạt, chăn nuôi theo phương  
thức thả rông như một bộ phận dân tộc Cống,  
La Ha, La Hủ, Xinh Mun... sinh sống ở những  
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.  
So với các vùng DTTS khác trong cả nước,  
thì miền núi phía Bắc chỉ tồn tại loại hình gia  
đình phụ hệ, nên tính phụ quyền được phản  
ánh rõ nét, trong hộ gia đình, người nam giới  
(người chồng) có vai trò chi phối và quyết định  
mọi vấn đề, điều khiển mọi công việc từ sản  
xuất, sinh hoạt đến cúng bái, quan hệ với bên  
ngoài, tham gia giải quyết những vấn đề chung  
của thôn bản... vị thế vai trò và tiếng nói, cũng  
như quyền quyết định của nữ giới rất thấp kém,  
khiến họ về cơ bản phụ thuộc vào nam giới.  
Hộ gia đình các DTTS miền núi phía Bắc đều  
coi trọng con trai hơn con gái, con trai vừa là  
người thờ tổ tiên, lưu truyền huyết thống, vừa  
là người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng  
bố mẹ lúc về già. Tài sản bố mẹ thường chia  
đều cho các con trai, con gái không được  
hưởng trừ khi cha mẹ cho làm của hồi môn.  
Quan niệm cần có con trai của dân tộc Tày,  
Thái, La Hủ, không quá nặng nề giống như dân  
tộc H’Mông. Với các dân tộc này, nhà nào  
không có con trai, thì sẽ lấy rể ở đời cho con  
gái, con rể ở đời không phải đổi họ, nhưng các  
con phải theo họ mẹ và được hưởng gia sản,  
thờ cúng tổ tiên nhà mẹ. Chính luật tục này, đã  
cản trở phụ nữ DTTS được tiếp cận nguồn lực  
sản xuất, hưởng thụ lợi ích của hộ và là một  
trong những nguyên nhân dẫn tới bất BĐG  
trong hoạt động sản xuất ở miền núi phía Bắc  
hiện nay.  
“Việc nặng” gồm những việc phát nương,  
cày cuốc, làm rẫy, cày bừa, phun thuốc sâu,  
làm nhà, mua bán, chăn nuôi... Những việc  
được coi là “nhẹ” bao gồm việc tỉa trồng, cày  
cấy, chăm sóc mùa vụ sau khi xuống giống,  
nấu nướng, chăm sóc con cái và các thành viên  
trong gia đình hàng ngày và khi ốm đau, lấy  
củi, trong khi đó người già và trẻ nhỏ phụ việc  
nương rãy, cắt cỏ ngựa, kiếm củi, chăn lợn,  
chăn trâu như ở người H’Mông và Mảng ở Lai  
Châu (Khúc Thị Thanh Vân và Nguyễn Trung  
Dũng, 2008).  
Lao động giới không những được quy định  
bởi tính chất “nặng - nhẹ”, mà còn khác biệt về  
không gian. “Việc đàn ông” không chỉ là  
những việc đòi hỏi nhiều sức lao động, mà còn  
bao gồm những trách nhiệm liên quan tới giao  
tiếp xã hội “bên ngoài.” Ở tất cả các nhóm dân  
tộc, đàn ông thường là đối tượng tham gia các  
cuộc họp ở xóm ấp, các hội thảo khuyến nông.  
Trong gia đình, đàn ông cũng thường là người  
lo toan mọi giấy tờ thủ tục liên quan đến tài  
sản gia đình và pháp luật. Lao động nữ gắn liền  
với khuôn viên gia đình. Ngoài một số ít ngoại  
lệ phụ nữ tham gia hoạt động của các tổ nhóm  
hay Hội phụ nữ, hầu hết phụ nữ DTTS ở nhà lo  
cơm nước và chăm sóc các thành viên trong hộ  
gia đình.  
Hạn chế về không gian của phụ nữ có thể  
được hình dung qua kết luận của Rambo và  
cộng sự (2001) từ một khảo sát của người  
Kinh, Tày, Thái, H’Mông ở vùng núi phía Bắc  
như sau: Vai trò vốn có của nữ giới tại phần  
lớn các xã hội vùng cao ở Việt Nam bị giới hạn  
và gần như bị gói gọn trong phạm vi gia đình.  
Người phụ nữ khi là con gái trong gia đình thì  
họ tuân theo sự chỉ bảo của bố mẹ và cố gắng  
giúp đỡ và chăm sóc bố mẹ. Khi họ ở vào vị trí  
người vợ, họ có bổn phận tương tự đối với  
người chồng và chăm sóc bố mẹ chồng như đối  
với bố mẹ mình. Với tư cách người mẹ chồng,  
người phụ nữ có thể đợi chờ sự tôn trọng tương  
tự của con dâu. Danh tiếng xã hội của người  
phụ nữ trước hết dựa trên thành công mà họ có  
được khi đảm đương những vai trò này, đặc  
biệt là mức độ chăm lo của họ dành cho gia  
đình mình… Tuy vậy, người phụ nữ, thậm chí  
có nghề nghiệp, vẫn có vị trí lệ thuộc vào nam  
giới. Họ có quyền tự chủ và quyền lực ít hơn,  
3. THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA  
HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG MIỀN  
NÚI PHÍA BẮC  
3.1. Bình đẳng giới trong phân công lao  
động hộ  
Lao động trong các DTTS vẫn được phân  
công theo “việc đàn ông” và “việc đàn bà.” Sự  
phân công lao động này xuất phát từ quan niệm  
nam giới là “phái mạnh” phải đảm nhận những  
“việc nặng”, cần “tính toán” và “kỹ thuật,” còn  
phụ nữ thuộc “phái yếu” nên phụ trách những  
“việc nhẹ” và “công việc không tên” (Hoàng  
Xuân Thành và cộng sự, 2009: 70).  
132  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
nhưng lại phải chịu trách nhiệm lớn hơn nhiều  
trong việc nuôi dưỡng gia đình. Người ta mong  
đợi người phụ nữ thường xuyên làm công việc  
nội trợ cũng như làm việc cả ngày trên đồng  
ruộng và trong rừng.  
Một mặt người phụ nữ phải lao động nhiều  
giờ không còn thời gian để chăm sóc bản thân  
thường ngày cũng như lúc ốm đau. Mặt khác,  
việc phụ nữ dành hầu hết thời gian chăm sóc  
các thành viên gia đình cũng có nghĩa họ  
không có điều kiện tham gia các hoạt động  
trong xã hội. Chính vì vậy mà phụ nữ không có  
điều kiện để tiếp cận với các cơ hội phát triển  
và học hỏi và trao đổi kiến thức tăng gia sản  
xuất hay tiếp cận những nguồn lực kinh tế có  
thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của  
bản thân và gia đình (Oxfarm, 2011).  
Một số số liệu thể hiện mức độ tham gia  
hoạt động tái sản xuất của vợ và chồng trong  
hộ gia đình DTTS miền núi phía Bắc Việt Nam  
như trong bảng 1.  
Bảng 1. Mức độ tham gia của vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất  
Người làm chính  
Loại việc  
Vợ  
Chồng  
Cả hai  
Người khác  
Tỷ lệ (%)  
66,6  
67,3  
76,0  
73,2  
40,3  
28,6  
81,5  
42,2  
60,3  
7,8  
Tỷ lệ (%)  
7,1  
Tỷ lệ (%)  
16,2  
Tỷ lệ (%)  
10,1  
7,0  
Nấu ăn  
Giặt giũ  
Đi chợ  
5,4  
5,2  
14,1  
4,8  
14,7  
4,6  
12,5  
4,5  
69,3  
20,3  
15,5  
12,0  
52,1  
52,0  
11,4  
40,3  
28,5  
3,3  
0,7  
2,8  
4,7  
2,5  
5,0  
6,7  
5,0  
Giữ tiền  
Chăm sóc và dạy con học  
Chăm sóc người già  
Lấy nước  
Giã gạo  
Thu lượm chất đốt  
Sửa chữa đồ dùng  
17,9  
Nguồn: Nguyễn Lệ Thu (2017)  
Qua bảng 1 cho thấy, người vợ làm phần  
lớn các công việc chăm sóc hộ gia đình như:  
nấu ăn, giặt giũ, đi chợ, lấy nước… Người  
chồng phần lớn chỉ tham gia chăm sóc hộ gia  
đình trong việc sửa chữa đồ dùng. Điều này  
cho thấy, thời gian và sức lực của người vợ  
dành cho hoạt động tái sản xuất là rất lớn. Có  
thể khẳng định các công việc tái sản xuất chủ  
yếu do người vợ thực hiện.  
Theo báo cáo của UBND tỉnh Cao Bằng,  
phụ nữ làm việc trung bình 13 giờ/ngày so với  
nam giới là 9 giờ/ngày. Một nghiên cứu ở các  
tỉnh phía Bắc cũng có kết luận tương tự  
(Rambo và cộng sự, 2001). Thảo luận nhóm ở  
người Dao và H’Mông ở Chợ Đồn, Bắc Kạn  
cũng cho thấy nam giới ở hai dân tộc này  
“nhàn nhã” hơn phụ nữ. Nam giới có nhiều  
thời gian nghỉ ngơi hơn, và có nhiều hình thức  
giải trí cộng đồng hơn so với phụ nữ (Hoàng  
Bá Thịnh, 2008).  
3.2. Bình đẳng giới trong phát triển kinh  
tế hộ  
3.2.1. Đóng góp kinh tế của phụ nữ và đàn ông  
Sự phân biệt “việc đàn ông” và “việc đàn  
bà” trên thực tế cũng làm giảm giá trị lao động  
của phụ nữ. Mặc dù phụ nữ ở cả nhóm dân tộc  
phụ hệ và mẫu hệ đều lao động vất vả hơn nam  
giới cả về khối lượng công việc cũng như thời  
gian. Phụ nữ không những chia sẻ gánh nặng  
trong lao động sản xuất với người chồng trên  
đồng ruộng, nương rẫy, mà còn đảm đương  
toàn bộ trách nhiệm nội trợ sau một ngày làm  
việc vất vả.  
Giá trị lao động của nam và nữ giới thường  
được đánh giá theo giá trị kinh tế do lao động  
của họ đem lại. Ở nhiều khu vực khác trên thế  
giới, như châu Phi, việc nam giới phụ trách  
những vụ mùa mang tính thương mại với giá  
trị kinh tế cao, trong khi phụ nữ thu vén những  
nguồn tự cấp tự túc để sử dụng trong gia đình  
khiến cho lao động nam giới được coi trọng  
hơn. Cùng với việc thay đổi cơ cấu nông  
nghiệp sang sản xuất hàng hóa và xu hướng đô  
thị hóa tại nhiều vùng nông thôn, nữ lao động  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
133  
Kinh tế & Chính sách  
ở nông thôn Việt Nam cũng đang vấp phải vấn  
đề tương tự. Trong khi đó ở nhiều nơi việc đàn  
ông tham gia vào những hoạt động phi nông  
nghiệp cũng đã dồn những gánh nặng công  
việc trong nông nghiệp cho phụ nữ. Đối với  
các cộng đồng DTTS, đóng góp lao động của  
phụ nữ qua những hoạt động sản xuất mang  
tính chất “tự cấp tự túc” như trồng cây ăn trái,  
hái lượm lá cây, củ và thuốc sử dụng cho gia  
đình... thường được xem là “không đáng kể.”  
Số liệu thể hiện sự tham gia của vợ và  
chồng trong hoạt động sản xuất như bảng 2.  
Bảng 2. Vai trò của vợ và chồng trong hoạt động sản xuất  
Người thực hiện  
Vợ  
Chồng  
Cả hai  
Người khác  
TT  
Loại hình công việc  
Tỷ lệ %  
5,2  
Tỷ lệ %  
58,8  
15,7  
19,2  
61,2  
17,5  
7,3  
63,2  
15,3  
35,4  
6,5  
Tỷ lệ %  
30,2  
45,5  
28,7  
17,7  
41,8  
68,7  
30,2  
50,2  
19,4  
13,1  
11,6  
31,7  
Tỷ lệ %  
5,8  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Cầy bừa  
Gieo trồng, cấy  
Chăm sóc, làm vườn  
Phun thuốc sâu  
Thu hoạch  
Bảo quản sản phẩm  
Làm chuồng nuôi gia súc  
Chăm sóc gia súc, gia cầm  
Buôn bán, dịch vụ  
35,4  
46,6  
10,3  
33,6  
20,1  
4,5  
27,2  
40,5  
60,6  
3,4  
3,4  
5,5  
10,8  
7,1  
3,9  
2,1  
7,3  
4,7  
19,8  
9,8  
10 Nghề dệt, đan lát  
11 Nghè rèn, mộc  
12 Làm thuê (bốc vác, phụ xây)  
75,2  
37,7  
17,7  
12,9  
Nguồn: Nguyễn Lệ Thu (2017)  
Một nghiên cứu về vai trò kinh tế của phụ  
nữ một số DTTS phía bắc đưa ra kết luận sau:  
Xét về lĩnh vực phân công lao động, dù mang  
lại thu nhập nhiều hay ít cho hộ so với người  
chồng, thì vai trò của phụ nữ là rất lớn. Một  
cách tổng thể, có thể thấy rằng các hoạt động  
kinh tế của phụ nữ đóng góp vào thu nhập của  
các hộ hiện nay là tương đương với nam giới  
(Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2005).  
sang sở hữu cá thể có thể chuyển nhượng mua  
bán tạo ra sự khác biệt trong sở hữu và sử dụng  
đất. Đây cũng là lý do tạo ra khoảng cách ngày  
càng tăng trong các cộng đồng DTTS (Ngân  
hàng Thế giới, 2009).  
Trước những thay đổi nhanh chóng này, phụ  
nữ các DTTS là nhóm người dễ bị tổn thương  
nhất. Ngoài những khó khăn chung, bản thân  
người phụ nữ DTTS còn gặp nhiều khó khăn  
do quy định khắt khe về sở hữu tài sản đối với  
con gái và phụ nữ trong xã hội truyền thống.  
Đối với các cộng đồng phụ hệ như miền núi  
phía Bắc, tất cả các tài sản là do đàn ông sở  
hữu và quản lý và định đoạt (Fischer và  
Beuchelt, 2005).  
Phụ nữ H’Mông chỉ có thể sống nhờ đất nhà  
chồng và chỉ được coi là lao động phụ trong  
gia đình mặc dù họ phải làm việc vất vả trong  
thời gian dài hơn so với nam giới.  
Ở Cao Bằng thì con gái người Tày và Nùng  
không bao giờ được quyền thừa kế tài sản (nhà,  
đất) do bố mẹ để lại (Đỗ Thị Bình, 1999).  
Mặc dù nhận thức về khả năng tăng quyền  
lợi cho người phụ nữ có thay đổi, việc cấp sổ  
đỏ hai tên chưa vẫn thực sự cải thiện khả năng  
3.2.2. Quyền sở hữu đất đai trong sản xuất  
nông nghiệp  
Trong khi nông nghiệp đang mất dần ưu  
thế, so với các ngành công nghiệp và dịch vụ,  
như một mũi nhọn trong tăng trưởng kinh tế thì  
đối với các cộng đồng DTTS, đất đai vẫn là  
nguồn sống chính. Người DTTS, đặc biệt các  
cộng đồng ở Tây Nguyên đang gặp nhiều trở  
ngại do nạn phá rừng, thiên tai và làn sóng  
người nhập cư đang nhanh chóng làm mai một  
nguồn đất đai của họ. Theo Phân tích xã hội  
Quốc gia của Ngân hàng Thế giới, vấn đề đất  
đai đáng lo ngại nhất là thay đổi về quyền sở  
hữu và sử dụng đất từ quản lý cộng đồng sang  
quản lý thị trường. Nguồn tài nguyên vốn được  
cộng đồng quản lý và chia sẻ nay đã chuyển  
134  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
tiếp cận của phụ nữ với vốn vay, chiến lược đa  
dạng hóa sinh kế hay tăng sản lượng của đất  
đai. Ở đây, khó khăn lớn nhất là những phong  
tục tập quán địa phương đặt phụ nữ ở vị trí  
thấp kém hơn nam giới và bản thân việc phụ  
nữ chấp nhận và tuân theo sắp đặt của xã hội  
cản trở sự tiếp cận đất đai của họ.  
nam giới. Trong một số cộng đồng như người  
H’Mông, ở Đăk So, hay Tà Phỉn, người đàn  
ông H’Mông vẫn là người ra quyết định từ chi  
tiêu lặt vặt, mua sắm cho tới những quyết đinh  
lớn hơn như đầu tư sản xuất, bán nông sản và  
việc đầu tư giáo dục (Nguyễn Thị Thanh Tâm,  
2005).  
Một báo cáo của người Mường tại Phú Thọ  
của tác giả Lương Thị Thu Hằng cũng đưa ra  
kết luận: Quyền hưởng dụng đất của phụ nữ bị  
hạn chế bởi chế độ phụ hệ truyền thống. Bên  
cạnh đó họ còn bị hạn chế bởi những bất hợp  
lý chưa tính đến trong quá trình thực hiện  
chính sách đất đai tại địa phương.  
Đàn ông người Cơ Tu, Tày, và Nùng cũng  
có quyền quyết định cuối cùng bởi vì nam giới  
được coi là có hiểu biết hơn do họ có nhiều cơ  
hội hơn phụ nữ trong việc tiếp cận những hoạt  
động sản xuất có áp dụng kỹ thuật mới (Đỗ Thị  
Bình và Hoàng Thị Sen, 2005).  
4. KẾT LUẬN  
Quá trình tư hữu hóa đất (cấp sổ đỏ cho các  
hộ) và chính sách đưa tên của vợ và chồng vào  
giấy chứng nhận sử dụng đất có ảnh hưởng rất  
ít tới phụ nữ của các nhóm dân tộc thiểu số.  
Khả năng phụ nữ H’Mông có thể khai hoang  
đất và sử dụng quyền sở hữu đất rất hạn chế do  
thói quen, tập quán của chế độ phụ hệ, do sự  
phụ thuộc của họ vào nam giới cũng như do vị  
thế thấp của họ trong xã hội.  
Loạt nghiên cứu gần đây của CASI về tiếp  
cận nguồn lực đất đai ở Chợ Đồn, Bắc Kạn  
cũng cho thấy chưa có sự thay đổi nhiều trong  
sở hữu đất đai của phụ nữ dân tộc Dao và  
H’Mông. Là chủ hộ, nam giới không những  
nắm giữ tài sản đất đai của gia đình, mà còn tiếp  
tục kiểm soát việc tiếp cận vốn vay và tham dự  
các lớp tập huấn (Hoàng Bá Thịnh, 2007).  
Trong hộ DTTS hiện nay đã có sự biến đổi  
theo hướng tích cực trong mối quan hệ giữa  
các thành viên, đặc biệt trong phân công lao  
động. Tuy nhiên, về cơ bản vẫn còn mang  
nhiều định kiến giới, phân công lao động vẫn  
tuân theo quan điểm truyền thống “việc đàn  
ông”, “việc đàn bà”. Sự phân biệt “việc đàn  
ông” và “việc đàn bà” trên thực tế đã làm giảm  
giá trị lao động của phụ nữ. Chính điều này đã  
cản trở họ trong việc tiếp cận, kiểm soát các  
nguồn lực để phát triển, hạn chế quyền quyết  
định trong lao động hộ, quyền tham gia các  
hoạt động phát triển kinh tế hộ, cản trở quá  
trình thực hiện BĐG trong hộ đồng bào DTTS.  
Để thúc đẩy BĐG trong hộ DTTS MNPB  
đòi hỏi phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai  
trò lao động của người phụ nữ ở các địa  
phương này, cần phải vận động tuyên truyền  
mạnh mẽ hơn nữa để mọi người thay đổi cách  
nhìn thiên lệch về vai trò của phụ nữ đặc biệt là  
phụ nữ DTTS trong thời đại ngày nay. Cần đặc  
biệt chú ý tới việc tạo điều kiện, cơ hội cho  
phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội, tự  
học hỏi, tự đào tạo để nâng cao kiến thức, văn  
hoá và khắc phục mặc cảm tự ti, xóa bỏ định  
kiến, để tiến tới chủ động và tích cực phấn đấu  
nâng cao sự công bằng giới trong các lĩnh vực  
của đời sống gia đình và xã hội.  
3.2.3. Quyền quản lý tài chính và quyết định  
đầu tư sản xuất  
Trong khi một số dân tộc như người Tày,  
Nùng và Cơ Tu giao quản lý tài chính cho phụ  
nữ vì việc này thường được xem như việc đàn  
bà do tính tỉ mỉ và kim chỉ của họ, thì ở người  
Hmong nam giới lại là người quản lý tài chính  
của hộ. Hơn nữa, người có trách nhiệm quản lý  
tài chính không có nghĩa là có quyền quyết  
định đối với việc chi tiêu. Nghiên cứu của  
CASI ở Yên Bái cho thấy phụ nữ Thái chỉ có  
quyền với những khoản chi tiêu nhỏ. Những  
quyết định lớn hơn như vay vốn, bán trâu bò,  
cho con đi học, mua xe, làm nhà, trồng chè và  
những quyết định sản xuất quan trọng khác đều  
không thể thiếu tiếng nói của người đàn ông.  
Những quyết định liên quan đến việc đầu tư và  
sử dụng đất đai và tài sản của hộ thuộc quyền  
Bên cạnh đó, chính sách về phát triển kinh  
tế hàng hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa nông nghiệp nông thôn cần được chú  
trọng vì điều này sẽ đem lại cho họ nhiều cơ  
hội làm công ăn lương, cơ hội tăng thu nhập  
của hộ và cơ hội cho việc học tập của trẻ em,  
đặc biệt là trẻ em gái cũng được tăng lên.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
135  
Kinh tế & Chính sách  
Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, Tỉnh Lai Châu.  
7. Luật Bình đẳng giới (2016).  
Ngoài ra, để thúc đẩy BĐG cũng cần đẩy  
mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa.  
Gia đình là thể chế xã hội đầu tiên có thể làm  
thay đổi tập quán phân công lao động theo  
giới, tạo điều kiện thực hiện BĐG một cách  
hiệu quả. Khi nam giới sẵn sàng chia sẻ việc  
nhà thì phụ nữ có cơ hội tham gia vào thị  
trường lao động, phát huy khả năng và sở thích  
của mình, trực tiếp tạo thu nhập, từ đó phụ nữ  
có khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn  
lực, có tiếng nói trong gia đình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. C. Mác, Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, tập 21,  
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
2. Đỗ Thị Bình (1999), Nghiên cứu về giới tại các cộng  
đồng người Tày, Nùng tỉnh Cao Bằng.  
3. Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và  
vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, NXB  
Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
8. Lương Thị Thu Hằng, Vị thế của người phụ nữ và  
nam giới trong hưởng dụng đất hiện nay: nghiên cứu ở  
thôn Mật, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.  
9. Nguyễn Hữu Minh (2008), Khía cạnh giới trong  
phân công lao động gia đình, Tạp chí Xã hội học, tr.44-  
56.  
10. Nguyễn Lệ Thu (2017), Bình đẳng giới trong lao  
động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía bắc Việt  
Nam hiện nay  
11. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005), Thu nhập việc  
làm và địa vị của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá  
trình phát triển kinh tế thị trường – những phân tích qua  
lăng kính giới, Hội Phụ nữ Hà Lan và Viện Gia đình và  
Giới, Hà Nội.  
12. Ngân hàng Thế giới (2009), Phân tích xã hội  
quốc gia dân tộc và phát triển ở Việt Nam, Hà Nội.  
13. Oxfarm (2011), Hiện trạng bất bình đẳng giới  
trong cộng đồng dân tộc thiểu số.  
14. Rambo và cộng sự (2001), Vùng núi phía Bắc  
Việt Nam: Một số vấn đề môi trường và kinh tế - xã hội,  
NXB Chính Trị Quốc Gia.  
15. Tổng cục Thống kê (2012), Điều tra mức sống,  
Hà Nội.  
4. Fischer, I và Beuchelt, T. (2005), Make natural  
resources last by changing women’s access to assets –  
experiences from northern Vietnam.  
16. Tổng cục Thống kê (2013), Điều tra biến động  
dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2013,  
Hà Nội.  
5. Hoàng Xuân Thành và cộng sự (2009), Theo dõi  
nghèo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng đồng  
cư dân nông thôn Việt Nam.  
17. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ  
nữ và gia đình, NXB Phụ nữ, Hà Nội.  
6. Khúc Thị Thanh Vân và Nguyễn Trung Dũng  
(2008), Báo cáo thực địa nghiên cứu trường hợp tại  
bản Thà Giàng Chải, xã Tả Ngảo và Bản Pá Bon, xã  
EQUAL GENDER IN LABOR DISTRIBUTION AND ECONOMIC  
DEVELOPMENT OF ETHNIC MINORITY HOUSEHOLD AREAS  
IN THE NORTHERN MOUNTAINOUS REGION  
Pham Thi Hue1, Nguyen Van Thanh2  
1Vietnam National University of Forestry  
2Vietnam Women’s Academy  
SUMMARY  
Today, gender equality is an international issue and a concern for all humanity. To achieve gender equality, it is  
firstly necessary to achieve gender equality in the family, in which, gender equality in the division of labor and  
household economic development are decisive. The paper describes the general characteristics of ethnic  
minority households in the Northern Uplands, while reflecting the current situation of research issues in the  
following aspects: Economic contributions of women and men; Land ownership in agricultural production;  
Financial management rights and production investment decisions. In addition, the authors have made practical  
assessments and comments to clearly reflect the situation, and gave some policy implications to promote  
gender equality in the study area. The research method used is mainly the method of collecting secondary data,  
inheriting and synthesizing information from domestic and foreign reports and topics; Field observation  
method, expert method and some data processing methods. The research results show that in ethnic minority  
families, there has been a positive change in the relationships among members, but there are still many gender  
stereotypes. This has reduced the labor value of women and hindered the implementation of gender equality.  
Keywords: Ethnic minority, gender equality, household economy, household labor division, La Hu, labor  
division.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 28/5/2020  
: 11/6/2020  
: 15/6/2020  
136  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020  
pdf 7 trang Thùy Anh 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bình đẳng giới trong phân công lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbinh_dang_gioi_trong_phan_cong_lao_dong_va_phat_trien_kinh_t.pdf