Bình đẳng giới trong phân công lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc
Kinh tế & Chính sách
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Phạm Thị Huế1, Nguyễn Văn Thanh2
1Trường Đại học Lâm Nghiệp
2Học viện Phụ nữ Việt Nam
TÓM TẮT
Ngày nay, bình đẳng giới là vấn đề mang tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại. Muốn thực hiện được
bình đẳng giới thì trước hết phải thực hiện được bình đẳng giới trong hộ gia đình, trong đó, bình đẳng giới trong
phân công lao động và phát triển kinh tế hộ có ý nghĩa quyết định. Bài viết đã mô tả đặc điểm chung của hộ dân
tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, đồng thời phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu trên các khía cạnh: Đóng góp
kinh tế của phụ nữ và đàn ông; Quyền sở hữu đất đai trong sản xuất nông nghiệp; Quyền quản lý tài chính và
quyết định đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã có những đánh giá, nhận xét phù hợp thực tiễn để phản
ánh rõ nét thực trạng, đồng thời đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trên địa bàn nghiên
cứu. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, kế thừa, tổng hợp
thông tin từ các báo cáo, đề tài trong nước và nước ngoài; Phương pháp quan sát thực địa, Phương pháp chuyên
gia và một số phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộ dân tộc thiểu số đã có sự biến đổi
theo hướng tích cực trong mối quan hệ giữa các thành viên, tuy nhiên vẫn còn mang nhiều định kiến giới. Chính
điều này đã làm giảm giá trị lao động của phụ nữ và cản trở quá trình thực hiện bình đẳng giới.
Từ khóa: Bình đẳng giới, dân tộc thiểu số, kinh tế hộ, La Hủ, phân công lao động, phân công lao động hộ
gia đình.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam.
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực
Trong thời đại ngày nay, bình đẳng giới đã
trở thành một trong những vấn đề của phát
triển mang tính toàn cầu. Nói đến bình đẳng
giới (BĐG), về cơ bản là nói đến sự bình đẳng
về vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với
nam giới. Muốn thực hiện được BĐG trên các
lĩnh vực khác thì trước hết phải thực hiện được
BĐG trong hộ gia đình, vì gia đình là “tế bào”
của xã hội. Để có BĐG trong hộ gia đình thì
thực hiện BĐG trong phân công lao động hộ và
phát triển kinh tế hộ lại có ý nghĩa quyết định.
BĐG trong hộ gia đình không những là chìa
khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm
ấm của gia đình, mà còn tạo điều kiện cho sự
phát triển toàn diện của cả nam và nữ về mặt
xã hội, cải thiện dần địa vị của mỗi giới, đặc
biệt là địa vị của người phụ nữ trong gia đình
và xã hội.
Miền núi phía Bắc (MNPB) là địa bàn cư tụ
của nhiều dân tộc thiểu số (DTTS), với sự đa
dạng về bản sắc văn hóa tộc người. Do trình độ
phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa còn thấp
kém, bất BĐG trong gia đình DTTS MNPB
còn khá phổ biến và nặng nề hơn so với nhiều
vùng khác trong cả nước. Chính vì vậy, để làm
rõ bức tranh này, thông qua bài viết, nhóm tác
giả đã phản ánh thực trạng bình đẳng giới
trong phân công lao động và phát triển kinh tế
hộ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc
trạng bình đẳng giới trong phân công lao động
và phát triển kinh tế hộ dân tộc thiểu số vùng
miền núi phía Bắc, từ đó hàm ý một số chính
sách thúc đẩy bình đẳng giới trong phân công
lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc
thiểu số vùng miền núi phía Bắc. Để thực hiện
mục tiêu nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập số liệu: Phương pháp
kế thừa được sử dụng để thu thập tài liệu, công
trình có liên quan đến đề tài, báo cáo của các
nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn ở Việt
Nam và của các tổ chức quốc tế. Các thông tin
phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu nằm rải
rác trong một số báo cáo, công trình nghiên
cứu có liên quan. Vì vậy, nhóm tác giả đã kế
thừa và tổng hợp các thông tin cần thiết để
phản ánh rõ nét hơn thực trạng bình đẳng giới
trong phân công lao động và phát triển kinh tế
hộ trên địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra, nhóm tác
giả đã thu thập một số tài liệu khác có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như: Các văn bản
pháp luật; tài liệu dự án; các báo cáo thống
kê… Nhóm tác giả cũng đã sử dụng phương
pháp quan sát thực địa để mô tả một số đặc
điểm của hộ dân tộc thiểu số, mô tả thực trạng
vấn đề nghiên cứu và phương pháp chuyên gia
để phỏng vấn một số chuyên gia trong lĩnh vực
130
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
Kinh tế & Chính sách
bình đẳng giới.
khăn, cha mẹ mải lo kiếm cái ăn, cái mặc. Vào
ngày mùa, người dân đi làm nương rẫy từ sáng
tới tối hoặc mất vài ngày mới về, nếu cho con
đi học thì phải bỏ việc ở nương rẫy, nên họ
thường mang theo con lên rẫy. Việc các cháu
nhỏ không đi nhà trẻ, mẫu giáo, không những
làm cho người phụ nữ mất nhiều thời gian
chăm sóc con cái, mà còn ảnh hưởng lớn đến
tương lai của trẻ em gái, vì trẻ em gái thường
phải ở nhà trông em nên không có thời gian
học bài.
Phương pháp xử lý số liệu: Phương pháp
thống kê kinh tế được sử dụng để xử lý các số
liệu thu thập được như tính số trung bình, tính
tỷ lệ %... Bên cạnh đó, nhóm tác giả sử dụng
phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích
thực trạng vấn đề nghiên cứu, đưa ra đánh giá,
nhận xét phù hợp.
2. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HỘ DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG NÚI PHÍA BẮC
2.1. Về phân công lao động hộ
Hiện nay ở cả 4 dân tộc (Thái, Tày,
H’Mông, La Hủ) ở khu vực miền núi phía Bắc
đều tồn tại hai hình thức hộ gia đình phổ biến
là: hộ gia đình nhỏ hai thế hệ gồm bố mẹ và
con cái chưa đến tuổi thành niên và hộ gia đình
lớn gồm hai ba cặp vợ chồng cùng sinh sống.
Không giống như người H’Mông, hầu như
người Tày, Thái, La Hủ không sống theo hộ
gia đình lớn, nhiều đời cùng chung sống trong
một mái nhà, mà hộ gia đình nhỏ phụ quyền là
loại hình chủ yếu, bao gồm vợ chồng và con
cái, tuy nhiên cũng có những hộ gia đình gồm
3 thế hệ. Dù là hai hay nhiều thế thệ cùng
chung sống, thì hộ gia đình có quy mô lớn với
số lượng thành viên đông là đặc trưng trước
hết cho cư dân nông thôn và các dân tộc thiểu
số. Hơn nữa, ở những dân tộc phụ hệ như Thái,
Tày, H’Mông, La Hủ, do xuất phát từ tư tưởng
trọng nam khinh nữ, nên các hộ gia đình càng
nhiều con hơn.
Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê
năm 2013, tỷ suất sinh của vùng miền núi phía
Bắc là cao nhất nước 2,56 con/phụ nữ (cả nước
là 2,09 con/phụ nữ), cho nên số người bình
quân trong một hộ gia đình nông thôn của
MNPB cũng cao nhất nước (4,1 người/hộ), có
25,9% hộ có từ 5 - 6 người, 7% hộ có từ 7
người. Trong khi đó, các dịch vụ an sinh xã hội
của vùng chưa phát triển nhiều so với các vùng
khác trong cả nước. Chẳng hạn, hệ thống
trường học, nhà trẻ, mẫu giáo là một yếu tố
góp phần làm giảm gánh nặng công việc cho
phụ nữ, thì hiện nay nhiều thôn, bản cách xa
trung tâm xã chưa có lớp mẫu giáo, do đó
nhiều trẻ em trong độ tuổi mầm non không
được đến lớp. Hơn nữa việc thu hút các cháu đi
học mẫu giáo cũng rất khó khăn vì học sinh
còn nhỏ, nhiều hộ gia đình cuộc sống còn khó
Với những đặc điểm này có thể thấy, khối
lượng công việc liên quan tới hoạt động tái sản
xuất, mà người phụ nữ DTTS miền núi phía
Bắc phải đảm nhận là rất lớn, tốn nhiều thời
gian và sức lực.
2.2. Về phát triển kinh tế hộ
Miền núi phía Bắc là vùng có tỷ lệ hộ dân
hoạt động ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ
phi nông, lâm nghiệp, thủy sản rất thấp, trong
đó vùng Tây Bắc là thấp nhất cả nước (18,4%)
(Tổng cục thống kê, 2012).
Lao động sản xuất của hộ DTTS miền núi
phía Bắc có điểm khác biệt so với các vùng
khác trong cả nước là chủ yếu diễn ra trong
lĩnh vực nông nghiệp, ngoài ra còn có một số
hoạt động sinh kế bổ trợ như: làm nghề thủ
công, săn bắn hái lượm, buôn bán nhỏ, làm
thuê.
Xét theo tập quán sinh sống và canh tác của
các DTTS, có thể chia thành một số nhóm: dân
tộc Tày, Nùng, Thái... chủ yếu cư trú ở vùng
đồi núi thấp, thung lũng, khe dọc; dân tộc Dao,
H’Mông, Khơ Mú, La Ha, La Hủ, Mảng chủ
yếu cư trú ở vùng lưng chừng núi (vùng giữa)
và núi cao (vùng cao). Những dân tộc sinh
sống vùng thấp, vùng thung lũng sớm biết
trồng lúa nước, biết áp dụng các biện pháp
thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai,
làm cọn lấy nước tưới ruộng, biết kết hợp làm
nương trồng lúa, ngô, hoa màu; sống quần cư
đông đúc thành bản làng có khi tới hàng trăm
nóc nhà. Những dân tộc có tập quán sinh sống
ở lưng chừng núi hoặc núi cao có tập quán làm
nương, làm ruộng (bậc thang), trồng ngô, lúa,
lúa mạch, cây ăn quả... thường sống phân tán,
rải rác, ít xen kẽ với các dân tộc khác, sống
thành từng bản có vài chục nóc nhà hoặc chỉ
trên dưới chục nóc nhà. Trong đó có một số
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
131
Kinh tế & Chính sách
nhóm dân tộc còn tồn tại cách thức canh tác lạc
hậu: du canh du cư, phát rừng, đốt nương làm
rẫy, chọc lỗ, tra hạt, chăn nuôi theo phương
thức thả rông như một bộ phận dân tộc Cống,
La Ha, La Hủ, Xinh Mun... sinh sống ở những
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
So với các vùng DTTS khác trong cả nước,
thì miền núi phía Bắc chỉ tồn tại loại hình gia
đình phụ hệ, nên tính phụ quyền được phản
ánh rõ nét, trong hộ gia đình, người nam giới
(người chồng) có vai trò chi phối và quyết định
mọi vấn đề, điều khiển mọi công việc từ sản
xuất, sinh hoạt đến cúng bái, quan hệ với bên
ngoài, tham gia giải quyết những vấn đề chung
của thôn bản... vị thế vai trò và tiếng nói, cũng
như quyền quyết định của nữ giới rất thấp kém,
khiến họ về cơ bản phụ thuộc vào nam giới.
Hộ gia đình các DTTS miền núi phía Bắc đều
coi trọng con trai hơn con gái, con trai vừa là
người thờ tổ tiên, lưu truyền huyết thống, vừa
là người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng
bố mẹ lúc về già. Tài sản bố mẹ thường chia
đều cho các con trai, con gái không được
hưởng trừ khi cha mẹ cho làm của hồi môn.
Quan niệm cần có con trai của dân tộc Tày,
Thái, La Hủ, không quá nặng nề giống như dân
tộc H’Mông. Với các dân tộc này, nhà nào
không có con trai, thì sẽ lấy rể ở đời cho con
gái, con rể ở đời không phải đổi họ, nhưng các
con phải theo họ mẹ và được hưởng gia sản,
thờ cúng tổ tiên nhà mẹ. Chính luật tục này, đã
cản trở phụ nữ DTTS được tiếp cận nguồn lực
sản xuất, hưởng thụ lợi ích của hộ và là một
trong những nguyên nhân dẫn tới bất BĐG
trong hoạt động sản xuất ở miền núi phía Bắc
hiện nay.
“Việc nặng” gồm những việc phát nương,
cày cuốc, làm rẫy, cày bừa, phun thuốc sâu,
làm nhà, mua bán, chăn nuôi... Những việc
được coi là “nhẹ” bao gồm việc tỉa trồng, cày
cấy, chăm sóc mùa vụ sau khi xuống giống,
nấu nướng, chăm sóc con cái và các thành viên
trong gia đình hàng ngày và khi ốm đau, lấy
củi, trong khi đó người già và trẻ nhỏ phụ việc
nương rãy, cắt cỏ ngựa, kiếm củi, chăn lợn,
chăn trâu như ở người H’Mông và Mảng ở Lai
Châu (Khúc Thị Thanh Vân và Nguyễn Trung
Dũng, 2008).
Lao động giới không những được quy định
bởi tính chất “nặng - nhẹ”, mà còn khác biệt về
không gian. “Việc đàn ông” không chỉ là
những việc đòi hỏi nhiều sức lao động, mà còn
bao gồm những trách nhiệm liên quan tới giao
tiếp xã hội “bên ngoài.” Ở tất cả các nhóm dân
tộc, đàn ông thường là đối tượng tham gia các
cuộc họp ở xóm ấp, các hội thảo khuyến nông.
Trong gia đình, đàn ông cũng thường là người
lo toan mọi giấy tờ thủ tục liên quan đến tài
sản gia đình và pháp luật. Lao động nữ gắn liền
với khuôn viên gia đình. Ngoài một số ít ngoại
lệ phụ nữ tham gia hoạt động của các tổ nhóm
hay Hội phụ nữ, hầu hết phụ nữ DTTS ở nhà lo
cơm nước và chăm sóc các thành viên trong hộ
gia đình.
Hạn chế về không gian của phụ nữ có thể
được hình dung qua kết luận của Rambo và
cộng sự (2001) từ một khảo sát của người
Kinh, Tày, Thái, H’Mông ở vùng núi phía Bắc
như sau: Vai trò vốn có của nữ giới tại phần
lớn các xã hội vùng cao ở Việt Nam bị giới hạn
và gần như bị gói gọn trong phạm vi gia đình.
Người phụ nữ khi là con gái trong gia đình thì
họ tuân theo sự chỉ bảo của bố mẹ và cố gắng
giúp đỡ và chăm sóc bố mẹ. Khi họ ở vào vị trí
người vợ, họ có bổn phận tương tự đối với
người chồng và chăm sóc bố mẹ chồng như đối
với bố mẹ mình. Với tư cách người mẹ chồng,
người phụ nữ có thể đợi chờ sự tôn trọng tương
tự của con dâu. Danh tiếng xã hội của người
phụ nữ trước hết dựa trên thành công mà họ có
được khi đảm đương những vai trò này, đặc
biệt là mức độ chăm lo của họ dành cho gia
đình mình… Tuy vậy, người phụ nữ, thậm chí
có nghề nghiệp, vẫn có vị trí lệ thuộc vào nam
giới. Họ có quyền tự chủ và quyền lực ít hơn,
3. THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA
HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG MIỀN
NÚI PHÍA BẮC
3.1. Bình đẳng giới trong phân công lao
động hộ
Lao động trong các DTTS vẫn được phân
công theo “việc đàn ông” và “việc đàn bà.” Sự
phân công lao động này xuất phát từ quan niệm
nam giới là “phái mạnh” phải đảm nhận những
“việc nặng”, cần “tính toán” và “kỹ thuật,” còn
phụ nữ thuộc “phái yếu” nên phụ trách những
“việc nhẹ” và “công việc không tên” (Hoàng
Xuân Thành và cộng sự, 2009: 70).
132
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
Kinh tế & Chính sách
nhưng lại phải chịu trách nhiệm lớn hơn nhiều
trong việc nuôi dưỡng gia đình. Người ta mong
đợi người phụ nữ thường xuyên làm công việc
nội trợ cũng như làm việc cả ngày trên đồng
ruộng và trong rừng.
Một mặt người phụ nữ phải lao động nhiều
giờ không còn thời gian để chăm sóc bản thân
thường ngày cũng như lúc ốm đau. Mặt khác,
việc phụ nữ dành hầu hết thời gian chăm sóc
các thành viên gia đình cũng có nghĩa họ
không có điều kiện tham gia các hoạt động
trong xã hội. Chính vì vậy mà phụ nữ không có
điều kiện để tiếp cận với các cơ hội phát triển
và học hỏi và trao đổi kiến thức tăng gia sản
xuất hay tiếp cận những nguồn lực kinh tế có
thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của
bản thân và gia đình (Oxfarm, 2011).
Một số số liệu thể hiện mức độ tham gia
hoạt động tái sản xuất của vợ và chồng trong
hộ gia đình DTTS miền núi phía Bắc Việt Nam
như trong bảng 1.
Bảng 1. Mức độ tham gia của vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất
Người làm chính
Loại việc
Vợ
Chồng
Cả hai
Người khác
Tỷ lệ (%)
66,6
67,3
76,0
73,2
40,3
28,6
81,5
42,2
60,3
7,8
Tỷ lệ (%)
7,1
Tỷ lệ (%)
16,2
Tỷ lệ (%)
10,1
7,0
Nấu ăn
Giặt giũ
Đi chợ
5,4
5,2
14,1
4,8
14,7
4,6
12,5
4,5
69,3
20,3
15,5
12,0
52,1
52,0
11,4
40,3
28,5
3,3
0,7
2,8
4,7
2,5
5,0
6,7
5,0
Giữ tiền
Chăm sóc và dạy con học
Chăm sóc người già
Lấy nước
Giã gạo
Thu lượm chất đốt
Sửa chữa đồ dùng
17,9
Nguồn: Nguyễn Lệ Thu (2017)
Qua bảng 1 cho thấy, người vợ làm phần
lớn các công việc chăm sóc hộ gia đình như:
nấu ăn, giặt giũ, đi chợ, lấy nước… Người
chồng phần lớn chỉ tham gia chăm sóc hộ gia
đình trong việc sửa chữa đồ dùng. Điều này
cho thấy, thời gian và sức lực của người vợ
dành cho hoạt động tái sản xuất là rất lớn. Có
thể khẳng định các công việc tái sản xuất chủ
yếu do người vợ thực hiện.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Cao Bằng,
phụ nữ làm việc trung bình 13 giờ/ngày so với
nam giới là 9 giờ/ngày. Một nghiên cứu ở các
tỉnh phía Bắc cũng có kết luận tương tự
(Rambo và cộng sự, 2001). Thảo luận nhóm ở
người Dao và H’Mông ở Chợ Đồn, Bắc Kạn
cũng cho thấy nam giới ở hai dân tộc này
“nhàn nhã” hơn phụ nữ. Nam giới có nhiều
thời gian nghỉ ngơi hơn, và có nhiều hình thức
giải trí cộng đồng hơn so với phụ nữ (Hoàng
Bá Thịnh, 2008).
3.2. Bình đẳng giới trong phát triển kinh
tế hộ
3.2.1. Đóng góp kinh tế của phụ nữ và đàn ông
Sự phân biệt “việc đàn ông” và “việc đàn
bà” trên thực tế cũng làm giảm giá trị lao động
của phụ nữ. Mặc dù phụ nữ ở cả nhóm dân tộc
phụ hệ và mẫu hệ đều lao động vất vả hơn nam
giới cả về khối lượng công việc cũng như thời
gian. Phụ nữ không những chia sẻ gánh nặng
trong lao động sản xuất với người chồng trên
đồng ruộng, nương rẫy, mà còn đảm đương
toàn bộ trách nhiệm nội trợ sau một ngày làm
việc vất vả.
Giá trị lao động của nam và nữ giới thường
được đánh giá theo giá trị kinh tế do lao động
của họ đem lại. Ở nhiều khu vực khác trên thế
giới, như châu Phi, việc nam giới phụ trách
những vụ mùa mang tính thương mại với giá
trị kinh tế cao, trong khi phụ nữ thu vén những
nguồn tự cấp tự túc để sử dụng trong gia đình
khiến cho lao động nam giới được coi trọng
hơn. Cùng với việc thay đổi cơ cấu nông
nghiệp sang sản xuất hàng hóa và xu hướng đô
thị hóa tại nhiều vùng nông thôn, nữ lao động
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
133
Kinh tế & Chính sách
ở nông thôn Việt Nam cũng đang vấp phải vấn
đề tương tự. Trong khi đó ở nhiều nơi việc đàn
ông tham gia vào những hoạt động phi nông
nghiệp cũng đã dồn những gánh nặng công
việc trong nông nghiệp cho phụ nữ. Đối với
các cộng đồng DTTS, đóng góp lao động của
phụ nữ qua những hoạt động sản xuất mang
tính chất “tự cấp tự túc” như trồng cây ăn trái,
hái lượm lá cây, củ và thuốc sử dụng cho gia
đình... thường được xem là “không đáng kể.”
Số liệu thể hiện sự tham gia của vợ và
chồng trong hoạt động sản xuất như bảng 2.
Bảng 2. Vai trò của vợ và chồng trong hoạt động sản xuất
Người thực hiện
Vợ
Chồng
Cả hai
Người khác
TT
Loại hình công việc
Tỷ lệ %
5,2
Tỷ lệ %
58,8
15,7
19,2
61,2
17,5
7,3
63,2
15,3
35,4
6,5
Tỷ lệ %
30,2
45,5
28,7
17,7
41,8
68,7
30,2
50,2
19,4
13,1
11,6
31,7
Tỷ lệ %
5,8
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Cầy bừa
Gieo trồng, cấy
Chăm sóc, làm vườn
Phun thuốc sâu
Thu hoạch
Bảo quản sản phẩm
Làm chuồng nuôi gia súc
Chăm sóc gia súc, gia cầm
Buôn bán, dịch vụ
35,4
46,6
10,3
33,6
20,1
4,5
27,2
40,5
60,6
3,4
3,4
5,5
10,8
7,1
3,9
2,1
7,3
4,7
19,8
9,8
10 Nghề dệt, đan lát
11 Nghè rèn, mộc
12 Làm thuê (bốc vác, phụ xây)
75,2
37,7
17,7
12,9
Nguồn: Nguyễn Lệ Thu (2017)
Một nghiên cứu về vai trò kinh tế của phụ
nữ một số DTTS phía bắc đưa ra kết luận sau:
Xét về lĩnh vực phân công lao động, dù mang
lại thu nhập nhiều hay ít cho hộ so với người
chồng, thì vai trò của phụ nữ là rất lớn. Một
cách tổng thể, có thể thấy rằng các hoạt động
kinh tế của phụ nữ đóng góp vào thu nhập của
các hộ hiện nay là tương đương với nam giới
(Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2005).
sang sở hữu cá thể có thể chuyển nhượng mua
bán tạo ra sự khác biệt trong sở hữu và sử dụng
đất. Đây cũng là lý do tạo ra khoảng cách ngày
càng tăng trong các cộng đồng DTTS (Ngân
hàng Thế giới, 2009).
Trước những thay đổi nhanh chóng này, phụ
nữ các DTTS là nhóm người dễ bị tổn thương
nhất. Ngoài những khó khăn chung, bản thân
người phụ nữ DTTS còn gặp nhiều khó khăn
do quy định khắt khe về sở hữu tài sản đối với
con gái và phụ nữ trong xã hội truyền thống.
Đối với các cộng đồng phụ hệ như miền núi
phía Bắc, tất cả các tài sản là do đàn ông sở
hữu và quản lý và định đoạt (Fischer và
Beuchelt, 2005).
Phụ nữ H’Mông chỉ có thể sống nhờ đất nhà
chồng và chỉ được coi là lao động phụ trong
gia đình mặc dù họ phải làm việc vất vả trong
thời gian dài hơn so với nam giới.
Ở Cao Bằng thì con gái người Tày và Nùng
không bao giờ được quyền thừa kế tài sản (nhà,
đất) do bố mẹ để lại (Đỗ Thị Bình, 1999).
Mặc dù nhận thức về khả năng tăng quyền
lợi cho người phụ nữ có thay đổi, việc cấp sổ
đỏ hai tên chưa vẫn thực sự cải thiện khả năng
3.2.2. Quyền sở hữu đất đai trong sản xuất
nông nghiệp
Trong khi nông nghiệp đang mất dần ưu
thế, so với các ngành công nghiệp và dịch vụ,
như một mũi nhọn trong tăng trưởng kinh tế thì
đối với các cộng đồng DTTS, đất đai vẫn là
nguồn sống chính. Người DTTS, đặc biệt các
cộng đồng ở Tây Nguyên đang gặp nhiều trở
ngại do nạn phá rừng, thiên tai và làn sóng
người nhập cư đang nhanh chóng làm mai một
nguồn đất đai của họ. Theo Phân tích xã hội
Quốc gia của Ngân hàng Thế giới, vấn đề đất
đai đáng lo ngại nhất là thay đổi về quyền sở
hữu và sử dụng đất từ quản lý cộng đồng sang
quản lý thị trường. Nguồn tài nguyên vốn được
cộng đồng quản lý và chia sẻ nay đã chuyển
134
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
Kinh tế & Chính sách
tiếp cận của phụ nữ với vốn vay, chiến lược đa
dạng hóa sinh kế hay tăng sản lượng của đất
đai. Ở đây, khó khăn lớn nhất là những phong
tục tập quán địa phương đặt phụ nữ ở vị trí
thấp kém hơn nam giới và bản thân việc phụ
nữ chấp nhận và tuân theo sắp đặt của xã hội
cản trở sự tiếp cận đất đai của họ.
nam giới. Trong một số cộng đồng như người
H’Mông, ở Đăk So, hay Tà Phỉn, người đàn
ông H’Mông vẫn là người ra quyết định từ chi
tiêu lặt vặt, mua sắm cho tới những quyết đinh
lớn hơn như đầu tư sản xuất, bán nông sản và
việc đầu tư giáo dục (Nguyễn Thị Thanh Tâm,
2005).
Một báo cáo của người Mường tại Phú Thọ
của tác giả Lương Thị Thu Hằng cũng đưa ra
kết luận: Quyền hưởng dụng đất của phụ nữ bị
hạn chế bởi chế độ phụ hệ truyền thống. Bên
cạnh đó họ còn bị hạn chế bởi những bất hợp
lý chưa tính đến trong quá trình thực hiện
chính sách đất đai tại địa phương.
Đàn ông người Cơ Tu, Tày, và Nùng cũng
có quyền quyết định cuối cùng bởi vì nam giới
được coi là có hiểu biết hơn do họ có nhiều cơ
hội hơn phụ nữ trong việc tiếp cận những hoạt
động sản xuất có áp dụng kỹ thuật mới (Đỗ Thị
Bình và Hoàng Thị Sen, 2005).
4. KẾT LUẬN
Quá trình tư hữu hóa đất (cấp sổ đỏ cho các
hộ) và chính sách đưa tên của vợ và chồng vào
giấy chứng nhận sử dụng đất có ảnh hưởng rất
ít tới phụ nữ của các nhóm dân tộc thiểu số.
Khả năng phụ nữ H’Mông có thể khai hoang
đất và sử dụng quyền sở hữu đất rất hạn chế do
thói quen, tập quán của chế độ phụ hệ, do sự
phụ thuộc của họ vào nam giới cũng như do vị
thế thấp của họ trong xã hội.
Loạt nghiên cứu gần đây của CASI về tiếp
cận nguồn lực đất đai ở Chợ Đồn, Bắc Kạn
cũng cho thấy chưa có sự thay đổi nhiều trong
sở hữu đất đai của phụ nữ dân tộc Dao và
H’Mông. Là chủ hộ, nam giới không những
nắm giữ tài sản đất đai của gia đình, mà còn tiếp
tục kiểm soát việc tiếp cận vốn vay và tham dự
các lớp tập huấn (Hoàng Bá Thịnh, 2007).
Trong hộ DTTS hiện nay đã có sự biến đổi
theo hướng tích cực trong mối quan hệ giữa
các thành viên, đặc biệt trong phân công lao
động. Tuy nhiên, về cơ bản vẫn còn mang
nhiều định kiến giới, phân công lao động vẫn
tuân theo quan điểm truyền thống “việc đàn
ông”, “việc đàn bà”. Sự phân biệt “việc đàn
ông” và “việc đàn bà” trên thực tế đã làm giảm
giá trị lao động của phụ nữ. Chính điều này đã
cản trở họ trong việc tiếp cận, kiểm soát các
nguồn lực để phát triển, hạn chế quyền quyết
định trong lao động hộ, quyền tham gia các
hoạt động phát triển kinh tế hộ, cản trở quá
trình thực hiện BĐG trong hộ đồng bào DTTS.
Để thúc đẩy BĐG trong hộ DTTS MNPB
đòi hỏi phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai
trò lao động của người phụ nữ ở các địa
phương này, cần phải vận động tuyên truyền
mạnh mẽ hơn nữa để mọi người thay đổi cách
nhìn thiên lệch về vai trò của phụ nữ đặc biệt là
phụ nữ DTTS trong thời đại ngày nay. Cần đặc
biệt chú ý tới việc tạo điều kiện, cơ hội cho
phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội, tự
học hỏi, tự đào tạo để nâng cao kiến thức, văn
hoá và khắc phục mặc cảm tự ti, xóa bỏ định
kiến, để tiến tới chủ động và tích cực phấn đấu
nâng cao sự công bằng giới trong các lĩnh vực
của đời sống gia đình và xã hội.
3.2.3. Quyền quản lý tài chính và quyết định
đầu tư sản xuất
Trong khi một số dân tộc như người Tày,
Nùng và Cơ Tu giao quản lý tài chính cho phụ
nữ vì việc này thường được xem như việc đàn
bà do tính tỉ mỉ và kim chỉ của họ, thì ở người
Hmong nam giới lại là người quản lý tài chính
của hộ. Hơn nữa, người có trách nhiệm quản lý
tài chính không có nghĩa là có quyền quyết
định đối với việc chi tiêu. Nghiên cứu của
CASI ở Yên Bái cho thấy phụ nữ Thái chỉ có
quyền với những khoản chi tiêu nhỏ. Những
quyết định lớn hơn như vay vốn, bán trâu bò,
cho con đi học, mua xe, làm nhà, trồng chè và
những quyết định sản xuất quan trọng khác đều
không thể thiếu tiếng nói của người đàn ông.
Những quyết định liên quan đến việc đầu tư và
sử dụng đất đai và tài sản của hộ thuộc quyền
Bên cạnh đó, chính sách về phát triển kinh
tế hàng hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn cần được chú
trọng vì điều này sẽ đem lại cho họ nhiều cơ
hội làm công ăn lương, cơ hội tăng thu nhập
của hộ và cơ hội cho việc học tập của trẻ em,
đặc biệt là trẻ em gái cũng được tăng lên.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
135
Kinh tế & Chính sách
Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, Tỉnh Lai Châu.
7. Luật Bình đẳng giới (2016).
Ngoài ra, để thúc đẩy BĐG cũng cần đẩy
mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa.
Gia đình là thể chế xã hội đầu tiên có thể làm
thay đổi tập quán phân công lao động theo
giới, tạo điều kiện thực hiện BĐG một cách
hiệu quả. Khi nam giới sẵn sàng chia sẻ việc
nhà thì phụ nữ có cơ hội tham gia vào thị
trường lao động, phát huy khả năng và sở thích
của mình, trực tiếp tạo thu nhập, từ đó phụ nữ
có khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn
lực, có tiếng nói trong gia đình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C. Mác, Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, tập 21,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Đỗ Thị Bình (1999), Nghiên cứu về giới tại các cộng
đồng người Tày, Nùng tỉnh Cao Bằng.
3. Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và
vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Lương Thị Thu Hằng, Vị thế của người phụ nữ và
nam giới trong hưởng dụng đất hiện nay: nghiên cứu ở
thôn Mật, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
9. Nguyễn Hữu Minh (2008), Khía cạnh giới trong
phân công lao động gia đình, Tạp chí Xã hội học, tr.44-
56.
10. Nguyễn Lệ Thu (2017), Bình đẳng giới trong lao
động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía bắc Việt
Nam hiện nay
11. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005), Thu nhập việc
làm và địa vị của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá
trình phát triển kinh tế thị trường – những phân tích qua
lăng kính giới, Hội Phụ nữ Hà Lan và Viện Gia đình và
Giới, Hà Nội.
12. Ngân hàng Thế giới (2009), Phân tích xã hội
quốc gia dân tộc và phát triển ở Việt Nam, Hà Nội.
13. Oxfarm (2011), Hiện trạng bất bình đẳng giới
trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
14. Rambo và cộng sự (2001), Vùng núi phía Bắc
Việt Nam: Một số vấn đề môi trường và kinh tế - xã hội,
NXB Chính Trị Quốc Gia.
15. Tổng cục Thống kê (2012), Điều tra mức sống,
Hà Nội.
4. Fischer, I và Beuchelt, T. (2005), Make natural
resources last by changing women’s access to assets –
experiences from northern Vietnam.
16. Tổng cục Thống kê (2013), Điều tra biến động
dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2013,
Hà Nội.
5. Hoàng Xuân Thành và cộng sự (2009), Theo dõi
nghèo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng đồng
cư dân nông thôn Việt Nam.
17. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ
nữ và gia đình, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
6. Khúc Thị Thanh Vân và Nguyễn Trung Dũng
(2008), Báo cáo thực địa nghiên cứu trường hợp tại
bản Thà Giàng Chải, xã Tả Ngảo và Bản Pá Bon, xã
EQUAL GENDER IN LABOR DISTRIBUTION AND ECONOMIC
DEVELOPMENT OF ETHNIC MINORITY HOUSEHOLD AREAS
IN THE NORTHERN MOUNTAINOUS REGION
Pham Thi Hue1, Nguyen Van Thanh2
1Vietnam National University of Forestry
2Vietnam Women’s Academy
SUMMARY
Today, gender equality is an international issue and a concern for all humanity. To achieve gender equality, it is
firstly necessary to achieve gender equality in the family, in which, gender equality in the division of labor and
household economic development are decisive. The paper describes the general characteristics of ethnic
minority households in the Northern Uplands, while reflecting the current situation of research issues in the
following aspects: Economic contributions of women and men; Land ownership in agricultural production;
Financial management rights and production investment decisions. In addition, the authors have made practical
assessments and comments to clearly reflect the situation, and gave some policy implications to promote
gender equality in the study area. The research method used is mainly the method of collecting secondary data,
inheriting and synthesizing information from domestic and foreign reports and topics; Field observation
method, expert method and some data processing methods. The research results show that in ethnic minority
families, there has been a positive change in the relationships among members, but there are still many gender
stereotypes. This has reduced the labor value of women and hindered the implementation of gender equality.
Keywords: Ethnic minority, gender equality, household economy, household labor division, La Hu, labor
division.
Ngày nhận bài
Ngày phản biện
Ngày quyết định đăng
: 28/5/2020
: 11/6/2020
: 15/6/2020
136
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Bình đẳng giới trong phân công lao động và phát triển kinh tế hộ người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
binh_dang_gioi_trong_phan_cong_lao_dong_va_phat_trien_kinh_t.pdf

