Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ theo mô hình nhà lưới tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
93
Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ theo
mô hình nhà lưới tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Analyzing economic efficiency of apple farmers in the envelop house
model in Ninh Phuoc district, Ninh Thuan province
Đặng Tường Anh Thư1*, Nguyễn Thị Trà1, Nguyễn Hữu Lộc1, Phạm Trung Hậu1, Trần Hoài Nam1
1Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
Mô hình nhà lưới trong canh tác táo là phương pháp bảo vệ
hiệu quả trước sự tấn công của sâu bệnh và đang được áp dụng rộng
rãi trong những năm gần đây. Trong nghiên cứu này, phương pháp
màng bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) được sử
dụng nhằm phân tích hiệu quả kĩ thuật, hiệu quả phân phối nguồn
lực, hiệu quả chi phí và hiệu quả quy mô của nông hộ sản xuất táo
tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Số liệu được thu thập từ
240 hộ trồng táo trên địa bàn huyện Ninh Phước. Kết quả nghiên
cứu cho thấy nông hộ sản xuất táo theo mô hình nhà lưới có hiệu
quả kỹ thuật (0.962) rất cao nhưng hiệu quả phân phối nguồn lực
(0.741) và hiệu quả sử dụng chi phí (0.713) ở mức trung bình. Mặt
khác, khi áp dụng mô hình nhà lưới thì nông hộ trồng táo tăng hiệu
quả tài chính gấp 1.87 lần so với hộ không áp dụng và giảm chi phí
sản xuất cũng như giảm lượng lãng phí các yếu tố đầu vào trong
quá trình sản xuất.
Ngày nhận: 25/03/2021
Ngày nhận lại: 14/05/2021
Duyệt đăng: 03/06/2021
Từ khóa:
canh tác táo; hiệu quả kinh tế;
huyện Ninh Phước; mô hình
nhà lưới
ABSTRACT
In recent years, the envelope house model is a development
and the protection method is of the attacking insect. The research
used Data Envelopment Analysis (DEA) method to evaluate the
technical efficiency, resource allocative efficiency, cost efficiency,
and scale efficiency of apple production in Ninh Phuoc district,
Ninh Thuan province. Data were collected by interviewing 240
farmers apple in the Ninh Phuoc district. The results of the research
showed that the farmer’s apple had a relatively high level of
technical efficiency (0.962), an average level of resource allocative
efficiency (0.741), and cost efficiency (0.713). The results also
showed that the applied farmers model has increased the
productive efficiency 1.87 times of the not applied farmers model
and decreased input factors in production.
Keywords:
apple production; econimic
efficiency; Ninh Phuoc district;
envelop house model
1. Đặt vấn đề
Ninh Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ có lượng mưa bình quân nhiều
năm khoảng 1,100mm. Trong giai đoạn từ năm 2008 - 2018, những thay đổi về nhiệt độ, lượng
94
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
mưa, mực nước ngầm đã gây ra tình trạng khô hạn ở khu vực với mức độ rất nghiêm trọng (71.1%)
gây thiệt hại đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông hộ (N. H. Tran & Le, 2019). Tuy nhiên,
đây cũng là một lợi thế để tỉnh Ninh Thuận phát triển một số cây trồng đặc thù như nho, táo, măng
tây, hành và tỏi. Từ lâu cây táo đã gắn bó với người nông dân nơi đây do đặc tính dễ trồng, dễ
chăm sóc nên loại cây này phát triển thuận lợi với diện tích khoảng 1,100ha và được trồng chủ yếu
tại huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm với nhiều giống
táo mới có năng suất và chất lượng cao (Sở NN & PTNT tỉnh Ninh Thuận, 2020). Trong sản xuất
nông nghiệp, hiệu quả kinh tế là nhân tố quan trọng trong phát triển sản xuất, đặc biệt là ở các
nước đang phát triển nơi mà nguồn lực của người dân còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, những nước
này có thể hưởng lợi từ việc nghiên cứu hiệu quả, từ đó có thể nâng cao năng suất bằng việc nâng
cao hiệu quả mà không cần tăng thêm nguồn lực hay phát triển công nghệ mới (Ali & Byerlee,
1991).
Mặt khác, khó khăn lớn nhất hiện nay trong canh tác táo là việc kiểm soát dịch bệnh vì táo
rất dễ bị sâu bệnh, chim, côn trùng tấn công nhất là ruồi vàng, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả trong canh tác táo của nông hộ. Những năm gần đây, nông dân trong tỉnh đã sử dụng
nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm phòng trừ sự tấn công của ruồi vàng, trong đó phương pháp bao
lưới cho vườn táo là phương pháp hiệu quả mà nhiều nông hộ đang áp dụng. Vì vậy, mục tiêu của
nghiên cứu này là phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ theo mô hình nhà lưới
tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, từ đó gợi ý một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất táo.
2. Cơ sở lý thuyết
Theo Farrell (1957), hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE) là thước đo kết quả tổng
hợp của nhà sản xuất và bằng với tích số của hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE) và hiệu
quả phân phối (Alocative Efficiency - AE) hay EE = TE x AE. Trong đó, hiệu quả kỹ thuật (TE)
là khả năng sản xuất ra một mức đầu ra cho trước từ một tập hợp đầu vào nhỏ nhất, hay khả năng
tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ
nhất định. Hiệu quả phân phối (AE) là khả năng lựa chọn được một lượng đầu vào tối ưu mà ở đó
giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó.
Hình 1 minh họa phương pháp để đo lường TE, AE và EE. Cụ thể, khi một đơn vị sản xuất
tại điểm P, giá trị ước lượng của TE, AE và EE tương ứng tại điểm này được tính toán như công
thức sau: TE = 0Q/0P; AE = 0R/0Q; EE = TE*AE = 0R/0P.
Hình 1. Minh hoạ cách tính TE và AE
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
95
Có nhiều nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp của các tác giả trong
và ngoài nước như cây khóm (N. Q. Nguyen & Mai, 2015), cây cam (T. T. T. Nguyen et al., 2020),
cây ô liu (Fernández-Uclés et al., 2020), cây lúa (T. T. Nguyen, Huynh, Vo, & Tran, 2018), cây
sen (T. V. Nguyen & Pham, 2014), cây xoài (Emmanuel & John, 2017), cây dâu và cây cà chua
(Jung & Yang, 2016), cây táo, cây lê và cây nho (Lee, Yun, Kim, & Yang, 2015), dưa hấu (Doan
& Do, 2016), cây ca cao (Danso-Abbeam, Baiyegunhi, & Ojo, 2020), cây táo (Ma, Renwick, Yuan,
& Ratna, 2018), cà chua bi (Yang, Zhu, & Wang, 2020), cây cam sành (D. T. A. Tran, Quan, &
Thach, 2017). Các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp màng bao dữ liệu (DEA - Data
Envelopment Analysis) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối theo phương pháp phi
tham số và các yếu tố đầu vào để đo lường hiệu quả kinh tế là giống, phân bón, thuốc BVTV, công
lao động và đầu ra sản xuất là năng suất cây trồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn số liệu
Theo nghiên cứu của Tabachnick và Fidell (1996) khi sử dụng các phương pháp hồi quy,
kích thước mẫu cần thiết được tính theo công thức: n ≥ 50 + 8p. Trong đó: n là kích thước mẫu tối
thiểu cần thiết, p là số lượng biến độc lập trong mô hình. Do đó, 05 biến độc lập trong mô hình
nghiên cứu được đề xuất thì cỡ mẫu cần điều tra là n ≥ 50 + 8*5 = 90 quan sát. Vậy với cỡ mẫu
240 quan sát, dữ liệu đã đảm bảo thực hiện kiểm định mô hình nghiên cứu. Số liệu sơ cấp được
thu thập bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và tiến hành phỏng vấn trực tiếp các nông hộ
trồng táo (gồm có 101 hộ có áp dụng mô hình nhà lưới và 139 hộ không áp dụng mô hình nhà
lưới) tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Đây là một trong bốn địa phương có diện tích trồng
táo lớn nhất tỉnh. Ngoài ra, kết hợp với các thông tin thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm
các tài liệu, các báo cáo, các nghiên cứu trong và ngoài nước được thu thập để phục vụ cho nghiên
cứu. Các thông tin đã thu thập được tổng hợp, tính toán và phân tích bằng phần mềm Excel và
DEA 4.1.
3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Nhằm đo lường hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ thì phương pháp màng bao
dữ liệu hay còn gọi là phương pháp DEA sẽ được sử dụng trong nghiên cứu. Phương pháp DEA
được vận dụng bởi vì DEA dựa vào kỹ thuật chương trình tuyến tính toán học để ước lượng cận
biên sản xuất chứ không yêu cầu phải xác định một dạng hàm cụ thể và có thể thực hiện trong
phạm vi cỡ mẫu nhỏ (Coelli, Rao, O’Donnell, & Battese, 2005). Mặt khác, các chỉ tiêu hiệu quả
chi phí (Cost Efficiency - CE) và hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE) sẽ được tính toán
theo mô hình kinh tế lượng của Rios và Shively (2005). Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả chi phí
được thể hiện như sau:
96
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
Hiệu quả kĩ thuật (1)
Hiệu quả chi phí (2)
푡
푚푖푛 ꢀ 푛=1 ꢀ 푤푛0푥푛
∑
푚푎푥 ꢀ푦
′
푘
푥 →푥
푦,휆 ,…,휆
1
푗,휆
퐾
퐾
Ràng buộc: 푘=1 ꢀ 푦푘휆푘 ≥ 푦
∑
Ràng buộc:
∑ ꢀ 푦푘휆푘 ≥ 푦
퐾
푘=1
∑ ꢀ 푥푛푘휆푘 ≤ 푥푛 với 1 ≤ 푛 ≤ 푡
퐾
∑ ꢀ 휆푘 = 1
푘=1
퐾
푘=1
휆푘 ≥ 0
∑ ꢀ 푥푛푘휆푘 ≤ 푥푛0 푣ớ푖 푛 > 푡
푘=1
Trong đó
퐾
y là giá trị sản lượng táo tối ưu
yk là giá trị sản lượng táo của
∑ ꢀ 휆푘 = 1 và 휆푘 ≥ 0
푘=1
hộ thứ k
푥푛푘 là chi phí đầu vào thứ n sử
Trong đó
0
(
푤푛 là chi phí của yếu tố đầu vào thứ n n
dụng tại hộ k
)
= 1 … . t của hộ sản xuất táo
푥푛0 yếu tố chi phí đầu vào thứ n
sử dụng tại hộ đang kiểm định
hiệu quả kỹ thuật
k là trọng số gán cho hộ thứ k để thành
lập vectơ yếu tố đầu vào
xn là chi phí đầu vào tối ưu n (n=1….,t)
yk là giá trị sản lượng của hộ thứ k
k là trọng số gán cho hộ thứ k
(k=1…K)
푥푛푘 là chi phí đầu vào cho hộ thứ k
푥푛0 là chi phí đầu vào cố định của hộ đang
kiểm định về hiệu quả chi phí
Trong đó:
Yj : Năng suất táo (kg/1,000m2/vụ)
X1 : Lượng phân vô cơ (kg/1,000m2/vụ)
X2 : Lượng phân hữu cơ (kg/1,000m2/vụ)
X3 : Lượng thuốc bvtv (lít/1,000m2/vụ)
X4 : Lượng nước tưới (m3/1,000m2/vụ)
X5 : Công lao động (ngày công lao động/1,000m2/vụ)
Chỉ số hiệu quả kỹ thuật (TE) chính là tỷ số giữa năng suất sản xuất táo thực tế của nông
hộ (y0) trên năng suất sản xuất táo tối đa (y). Những hộ sản xuất táo được xem là hiệu quả về mặt
kỹ thuật là những hộ có chỉ số TE bằng 1, và những hộ gia đình sản xuất táo không có hiệu quả về
mặt kỹ thuật là những hộ có chỉ số TE nhỏ hơn 1. Chỉ số hiệu quả về chi phí được tính bằng tỷ số
giữa mức chi phí tối ưu (푤푛0 푥푛) và chi phí quan sát của hộ sản xuất táo thứ k (푤푛0 푥푛푘).
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Hiệu quả tài chính trong sản xuất táo của nông hộ tại huyện Ninh Phước
4.1.1. Một số đặc điểm về nhân khẩu học và xã hội học của hộ điều tra
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
97
Bảng 1 thể hiện các giá trị thống kê mô tả, sự khác biệt trung bình giữa hai nhóm hộ áp
dụng và không áp dụng mô hình bao lưới. Phần lớn chủ hộ là nam giới với hộ áp dụng (75.2%) và
nhóm không áp dụng (60.4%). Điều này là hợp lý vì sản xuất nông nghiệp đòi hỏi sức mạnh thể
chất nhiều hơn. Thêm vào đó, nhóm hộ áp dụng mô hình có độ tuổi trong khoảng 50 - 60 tuổi
(84.2%). Nhưng nhóm hộ không áp dụng mô hình từ 40 - 50 tuổi (61.1%). Cả hai nhóm hộ ở độ
tuổi này vẫn còn đảm bảo sức khỏe để tham gia sản xuất.
Mặt khác, trình độ học vấn của cả hai nhóm hộ chủ yếu là trung học cơ sở với nhóm hộ áp
dụng (54.5%) và nhóm hộ không áp dụng (48.9%), đồng thời, kinh nghiệm của nông hộ từ 5-10
năm của nhóm áp dụng (44.6%), nhóm không áp dụng (43.9%). Điều này là một thuận lợi cho các
nông hộ trong việc tiếp thu kiến thức và kĩ thuật trong sản xuất. Diện tích sản xuất táo trung bình
ở hai nhóm hộ có qui mô từ 1,000m2 - 5,000m2 với nhóm hộ áp dụng (75.3%) và hộ không áp
dụng (71.9%).
Bảng 1
Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn
Nhóm hộ áp dụng
mô hình nhà lưới
Nhóm hộ không áp dụng
mô hình nhà lưới
Chỉ tiêu
Tần số
Tỷ lệ
Tần số
(Hộ)
Tỷ lệ
(Hộ)
(%)
(%)
1. Giới tính chủ hộ
Nam
76
25
75.2
24.8
84
55
60.4
39.6
Nữ
2. Tuổi chủ hộ
<= 30 tuổi
3
3.0
7
5.0
30 tuổi - 40 tuổi
40 tuổi - 50 tuổi
50 tuổi - 60 tuổi
> 60 tuổi
20
29
33
16
25
53
37
17
19.8
28.7
32.7
15.8
18.0
38.1
26.6
12.2
3. Trình độ học vấn
Mù chữ
1
3
1.0
19.8
54.5
21.8
2.9
2.2
28.1
48.9
19.4
1.4
Tiểu học
20
55
22
3
39
68
27
2
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Cao đẳng - Đại học
4. Kinh nghiệm
<= 05 năm
22
45
25
8
39
61
27
10
21.8
44.6
24.8
7.9
28.1
43.9
19.4
7.2
05 năm - 10 năm
10 năm - 15 năm
15 năm - 20 năm
98
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
Nhóm hộ áp dụng
mô hình nhà lưới
Nhóm hộ không áp dụng
mô hình nhà lưới
Chỉ tiêu
Tần số
Tỷ lệ
(%)
0.9
Tần số
(Hộ)
2
Tỷ lệ
(%)
1.4
(Hộ)
> 20 năm
1
5. Qui mô sản xuất
<= 1,000m2
1,000m2 - 5,000m2
5,000m2 - 10,000m2
> 10,000m2
10
76
8
9.9
75.3
7.9
27
100
11
1
19.4
71.9
7.9
7
6.9
0.8
Nguồn: Số liệu điều tra (2020)
4.1.2. So sánh hiệu quả tài chính trong sản xuất táo giữa hai nhóm hộ
Từ kết quả tại Bảng 2 cho thấy, chi phí sản xuất táo của nông hộ trung bình là 18,704 triệu
đồng/1,000m2/vụ trong đó nhóm hộ áp dụng mô hình có chí phí sản xuất nhỏ hơn các hộ không áp
dụng mô hình. Theo đó, hiệu quả tài chính của nông hộ trong sản xuất táo có áp dụng mô hình (lợi
nhuận/chi phí là 1.87 lần và thu nhập/chi phí là 2.13 lần) cao hơn so với nông hộ không áp dụng
mô hình (lợi nhuận/chi phí là 0.66 lần và thu nhập/chi phí là 0.93 lần). Điều này phần nào lý giải
tầm quan trọng của mô hình nhà lưới trong sản xuất táo hiện nay.
Bảng 2
So sánh hiệu quả trong sản xuất táo giữa hai nhóm hộ
Nhóm hộ áp dụng
mô hình nhà lưới
Nhóm hộ không áp
Chỉ tiêu
ĐVT
dụng mô hình nhà lưới
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1. Chi phí sản xuất
Chi phí vật chất
Chi phí phân bón
Chi phí thuốc BVTV
Chi phí nước
17,841
11,797
6,117
740
19,283
12,280
7,072
2,364
1,754
465
1,680
2,540
720
Chi phí khấu hao
Chi phí khác
625
Chi phí lao động
Chi phí lao động nhà
Chi phí lao động thuê
2. Kết quả sản xuất
Doanh thu
6,044
4,644
1,400
7,003
5,203
1,800
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
1,000đ/1,000m2
51,218
33,377
38,021
31,945
12,662
17,865
Lợi nhuận
Thu nhập
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
99
Nhóm hộ áp dụng
mô hình nhà lưới
Nhóm hộ không áp
Chỉ tiêu
ĐVT
dụng mô hình nhà lưới
3. Hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận/chi phí
Thu nhập/chi phí
Doanh thu/chi phí
Lần
Lần
Lần
1.87
2.13
2.87
0.66
0.93
1.65
Nguồn: Số liệu điều tra (2020)
4.2. Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ tại huyện Ninh Phước
Kết quả tại Bảng 3 mô tả hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả chi phí (hiệu
quả kinh tế) của hai nhóm hộ. Các chỉ số của nhóm hộ áp dụng mô hình nhà lưới đều cao hơn so
với nhóm hộ không áp dụng mô hình nhà lưới, với hiệu quả kỹ thuật đạt từ 0.7 trở lên là 101 hộ
(áp dụng mô hình) trong đó 67 hộ có hiệu quả kỹ thuật trên 0.9, hiệu quả kỹ thuật trung bình của
nhóm hộ áp dụng mô hình là rất cao 0.96 so với mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của nhóm hộ
không áp dụng mô hình là 0.67 (trong đó 39 hộ đạt hiệu quả kỹ thuật từ 0.7 trở lên nhưng không
có hộ nào đạt hiệu quả kỹ thuật trên 0.9). Tuy nhiên, việc kết hợp các yếu tố đầu vào chưa hợp lý
nên hiệu quả phân phối không cao ở hai nhóm hộ, hiệu quả phân phối trung bình là 0.71 (nhóm hộ
áp dụng mô hình) và 0.51 (nhóm hộ không áp dụng mô hình), số hộ đạt hiệu quả phân phối nguồn
lực từ 0.8 trở lên rất ít. Mặt khác, kết quả tính toán còn cho thấy không có hộ nào đạt hiệu quả sử
dụng chi phí trong khoảng từ 0.9 đến 1 nhưng nhóm hộ áp dụng mô hình nhà lưới (0.71) vẫn tốt
hơn so với nhóm hộ không áp dụng mô hình nhà lưới (0.34).
Bảng 3
So sánh hiệu quả sản xuất táo giữa hộ áp dụng và không áp dụng
Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả phân phối
Hiệu quả chi phí
Giá trị hiệu
quả
Hộ áp
dụng
Hộ không Hộ áp dụng Hộ không Hộ áp dụng Hộ không
áp dụng
19
áp dụng
áp dụng
<=0.5
0.5 - 0.6
0.6 - 0.7
0.7 - 0.8
0.8 - 0.9
0.9 - 1
0
0
0
0
7
63
52
13
4
0
0
12
37
42
0
39
9
41
52
8
65
14
20
67
0.962
25
72
20
0
23
14
2
0
0
0
0
Trung bình
0.674
0.741
0.516
0.713
0.348
Nguồn: Kết quả phân tích DEA (2020)
Kết quả phân tích DEA về lượng yếu tố đầu vào bị lãng phí trong sản xuất táo giữa hai
nhóm hộ được thể hiện tại Bảng 4, dựa vào kết quả này thì hai nhóm hộ có thể giảm các yếu tố
đầu vào để đạt được mức năng suất hiện tại. Nhóm hộ không áp dụng mô hình nhà lưới lãng phí
hơn nhóm hộ áp dụng mô hình nhà lưới, đặc biệt là lãng phí trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
gấp 05 lần (160 - 360 lít/1,000m2) và công lao động gấp 03 lần (02 - 06 ngày/1,000m2). Điều này
là do trong mô hình nhà lưới sẽ hạn chế tối đa sự tấn công của sâu bệnh, chim, côn trùng nên lượng
yếu tố đầu vào được kiểm soát tốt hơn nên lượng thuốc BVTV được sử dụng khá ít.
100
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
Bảng 4
Lượng lãng phí các yếu tố đầu vào của hộ áp dụng và hộ không áp dụng
Thực tế
Lãng phí
Đầu vào
Hộ
Hộ
Hộ không
áp dụng
Hộ không
áp dụng
áp dụng
áp dụng
Phân vô cơ (kg/1,000m2)
Phân hữu cơ (kg/1,000m2)
Thuốc bvtv (lít/1,000m2)
Lượng nước tưới (m3/1,000m2)
Công lao động (ngày/1,000m2)
Nguồn: Kết quả phân tích DEA (2020)
231
1,220
1.20
33.6
36
291
1,641
2.30
35.1
43
16
160
0.15
4
43
360
0.8
7
2
6
Kết quả phân tích tại Bảng 5 cho thấy sự khác biệt về hiệu quả theo quy mô giữa hộ áp
dụng và hộ không áp dụng mô hình nhà lưới. Do mô hình nhà lưới trong canh tác táo của nông hộ
mới được áp dụng trong thời gian gần đây nên số hộ đang trong khu vực tăng theo quy mô sản
xuất (61.39%) cao hơn nhiều so với hộ không áp dụng (25.9%). Điều này cho thấy, nếu hộ áp dụng
đầu tư sản xuất táo theo mô hình nhà lưới có thể đạt được năng suất táo tối đa và tỷ lệ hộ phải giảm
quy mô sản xuất cũng ít hơn. Mặt khác, đa số hộ canh tác táo không áp dụng mô hình đang trong
khu vực giảm theo quy mô (quy mô nhỏ hơn mức tối ưu) chiếm đến 46.04% và nhóm hộ đạt tối
ưu về quy mô (không đổi theo quy mô) giữa hai nhóm hộ là tương đương nhau với 25.74% (hộ áp
dụng), 28.06% (hộ không áp dụng).
Bảng 5
Hiệu quả quy mô của hộ áp dụng và hộ không áp dụng
Hộ áp dụng
Số hộ Tỷ lệ (%)
Hộ không áp dụng
Hiệu quả theo quy mô sản xuất -
Số hộ
36
Tỷ lệ (%)
25.90
Hiệu quả tăng theo quy mô (IRS)
Hiệu quả giảm theo quy mô (DRS)
Hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS)
Nguồn: Kết quả phân tích DEA (2020)
62
13
26
61.39
12.87
25.74
64
46.04
39
28.06
4.3. Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất táo của nông hộ
Từ kết quả nghiên cứu thì để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ thì
một số khuyến nghị được đề xuất như sau:
Tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông nhằm đánh giá hiệu quả mô hình nhà lưới mang lại,
giúp nông hộ hiểu rõ về lợi ích mô hình, tiếp thu và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ dễ
dàng, cũng là cơ sở để nhân rộng mô hình nhà lưới.
Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính từ địa phương. Địa phương nên hỗ trợ một phần hoặc
toàn bộ kinh phí cho nông hộ làm nhà lưới, vì nông hộ còn hạn chế trong vấn đề tài chính nên đầu
tư nhà lưới không đủ chuẩn. Mặt khác, khuyến khích các doanh nghiệp cùng tham gia vào mô hình
này để giúp cho nông hộ không phải lo làm nhà lưới riêng lẻ mà do chính các doanh nghiệp đầu
tư trước cho nông dân.
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102 101
5. Kết luận
Mô hình nhà lưới trong canh tác táo là phương pháp bảo vệ hiệu quả trước sự tấn công của
sâu bệnh. Bài báo đã phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo theo mô hình nhà lưới của nông
hộ tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi áp dụng mô hình
nhà lưới thì nông hộ trồng táo tăng hiệu quả tài chính gấp 1.87 lần so với hộ không áp dụng và
giảm chi phí sản xuất cũng như giảm lượng lãng phí các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Mặt khác, phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA) cho thấy hiệu quả kinh tế trong canh
tác táo theo mô hình nhà lưới là tương đối cao với hiệu quả kỹ thuật là 0.962, hiệu quả phân phối
nguồn lực là 0.741 và hiệu quả sử dụng chi phí là 0.713 so với hộ không áp dụng chỉ đạt hiệu quả
kỹ thuật là 0.674, hiệu quả phân phối nguồn lực là 0.516 và hiệu quả sử dụng chi phí là 0.348. Mặc
dù hiệu quả kinh tế vẫn chưa đạt được kết quả tối ưu trong cả hai nhóm hộ nhưng kết quả đã chỉ
ra sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa nhóm hộ áp dụng và không áp dụng mô hình nhà lưới
trong sản xuất táo tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Tài liệu tham khảo
Ali, M., & Byerlee, D. (1991). Technical efficiency of rice farmars in irrigated, rainfed low-land
anh upland environments: A frontier production function analysis. Philippine Journal of
Crop Science, 18(2), 59-69.
Coelli, T. J., Rao, D. S. P., O’Donnell, C. J., & Battese G. E. (2005). An introduction to efficiency
and productivity analysis (2nd ed.). Dordrecht, Netherlands: Kluwer Academic Publishers.
Danso-Abbeam, G., Baiyegunhi, L. J., & Ojo, T. O. (2020). Gender differentials in technical
efficiency of Ghanaian cocoa farms. Heliyon, 6(5), Article e04012.
Doan, N. H., & Do, X. V. (2016). Phân tích hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực của
hộ trồng dưa hấu tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2014 [Technical, allocative
and cost efficiencies of watermelon farming households in Phong Dien district, Can Tho
City in 2014]. Tạp chı Khoa học Trưꢀng Đại học Cần Thơ, 42(D), 9-14.
́
Emmanuel, W. I., & John, A. M. (2017). Estimating economic efficiency of mango production in
Ghana. ADRRI Journal of Agriculture and Food Sciences, 3(7), 29-46.
Farrell, M. J. (1957). The measurement of productive efficiency. Journal of the Royal Statistical
Society: Series A (General), 120(3), 253-281.
Fernández-Uclés, D., Elfkih, S., Mozas-Moral, A., Bernal-Jurado, E., Medina-Viruel, M. J., &
Abdallah, S. B. (2020). Economic efficiency in the Tunisian olive oil
sector. Agriculture, 10(9), Article 391.
Jung, D. E., & Yang, S. R. (2016). An analysis of economic efficiency of fruits and vegetables
farms: The case of strawberries and tomatoes farms. Korean Journal of Organic
Agriculture, 24(3), 385-412.
Lee, C., Yun, S. J., Kim, G., & Yang, S. R. (2015). An analysis of economic efficiency of fruits
farms: The case of apples, pears, and grapes farms. Korean Journal of Organic
Agriculture, 23(4), 615-641.
Ma, W., Renwick, A., Yuan, P., & Ratna, N. (2018). Agricultural cooperative membership and
technical efficiency of apple farmers in China: An analysis accounting for selectivity bias.
Food Policy, 81, 122-132. doi:10.1016/j.foodpol.2018.10.009
102
Đặng Tường Anh Thư và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 93-102
Nguyen, N. Q., & Mai, N. V. (2015). Đánh giá hiệu quả sản xuất khóm của nông hộ ở huyện Tân
Phước, tỉnh Tiền Giang [Evaluate the productive efficiency of pineapples growing
households in Tan Phuoc District, Tien Giang Province]. Tạp chı Khoa hoc Trưꢀng Đại học
́
Cần Thơ, 36(D), 1-9.
Nguyen, T. T. T., Le, H. H., Ho, H. T. M., Dogot, T., Burny, P., Bui, N. T., & Lebailly, P. (2020).
Efficiency analysis of the progress of orange farms in Tuyen Quang province, Vietnam
towards
sustainable
development.
Sustainability,
12(8),
Article
3170.
doi:10.3390/su12083170
Nguyen, T. T., Huynh, K. V., Vo, T. H., & Tran, H. M. (2018). Phân tích hiệu quả kinh tế mô hình
lúa - tôm tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang [Economic efficiency analysis of rice-shrimp
farming in An Bien district, Kien Giang province]. Tạp chı Khoa học Trưꢀng Đại học Cần
́
Thơ, 54(9D), 149-156. doi:10.22144/ctu.jvn.2018.191
Nguyen, T. V., & Pham, T. L. (2014). Phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng sen trên địa
bàn tỉnh Đồng Tháp [Analyzing economic efficiency of the lotus farms in Dong Thap
Province]. Tạp chı Khoa học Trưꢀng Đại học Cần Thơ, 30(D), 120-128.
́
Rios, A. R., & Shively, G. E. (2005). Farm size and nonparametric efficiency measurements for
coffee farms in Vietnam. Paper presented at the American Agricultural Economics
Association Annual meeting, Providence, Rhode Island.
Sở NN & PTNT tỉnh Ninh Thuận. (2020). Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện 9 tháng đầu năm
2019, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện 3 tháng cuối năm 2019 của Ngành nông
nghiệp [Report on the situation and performance results of the first 9 months of 2019, key
tasks and solutions for the last 3 months of 2019 of the Agriculture sector]. Retrieved
February
10,
2021,
from
9.2019_14h35p04)_signed.pdf
Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S. (1996). Using multivariate statistics (3rd ed.). New York, NY:
HarperCollins.
Tran, D. T. A., Quan, N. M., & Thach, K. K. (2017). Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ sản
xuất cam sảnh ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. [Technical efficiency of king mandarin
production in Cai Be dictrict, Tien Giang province]. Tạp chí Khoa học Trưꢀng Đại học Cần
Thơ, 48(D), 112-119. doi:10.22144/ctu.jvn.2017.636
Tran, N. H., & Le, T. T. H. (2019). Tác động của hạn hán đến khả năng sản xuất tỏi của nông hộ
tại huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận [The impact of drought in adaptability of farmer’s
garlic cultivation in Ninh Hai district, Ninh Thuan province]. Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Lâm Nghiệp, 6, 170-176.
Yang, Q., Zhu, Y., & Wang, J. (2020). Adoption of drip fertigation system and technical efficiency
of cherry tomato farmers in Southern China. Journal of Cleaner Production, 275, Article
123980. doi:10.1016/j/clepro.2020.123980
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất táo của nông hộ theo mô hình nhà lưới tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_hieu_qua_kinh_te_trong_san_xuat_tao_cua_nong_ho_th.pdf

