Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
186  
XÂY DỰNG Vꢀ PHÁT TRIỂN VĂN HꢁA DOANH NGHIỆP  
VIỆT NAM TRONG THꢂI KỲ ĐỔI MỚI Vꢀ  
HꢃI NHꢄP KINH TẾ QUỐC TẾ  
TrầN Thị PhươNg hUỳNh  
Hꢀc viện chính trị khu vực 4  
TꢀM TꢁT  
Quꢂ trꢃnh đổi mꢄi vꢅ hꢆi nhꢇp kinh tꢈ quꢉc tꢈ đặt cꢂc doanh nghiꢊp Viꢊt Nam  
trưꢄc nhꢋng cơ hꢆi vꢅ đồng thꢌi phꢍi đꢉi đầu vꢄi nhꢋng thꢂch thức rꢎt lꢄn, đặc  
biꢊt nghiêm trọng lꢅ sꢏ cạnh tranh ngꢅy cꢅng quyꢈt liꢊt cꢐa cꢂc doanh nghiꢊp nưꢄc  
ngoꢅi. Vꢃ vꢇy, cꢂc doanh nghiꢊp Viꢊt Nam cần cꢑ sꢏ chuẩn bꢒ tꢉt vꢓ mọi nguồn lꢏc  
vꢅ cần đưa ra cꢂc giꢍi phꢂp để xây dꢏng vꢅ phꢂt triển văn hꢑa kinh doanh cꢐa mꢃnh  
mꢆt cꢂch đꢔng đắn để thích ứng vꢄi quꢂ trꢃnh hꢆi nhꢇp kinh tꢈ quꢉc tꢈ.  
Tꢀ khꢁa: Đꢂi mꢃi, nguꢄn lꢅc, cơ hꢆi, thꢇch thꢈc, hꢆi nhꢉp  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
ăn hóa doanh nghiệp là toàn bộ  
nghiệp, tinh thần phấn đấu vì sự phát triển  
của công ty/doanh nghiệp.  
hoạt động sáng tạo của tập thể  
cán bộ, công nhân viên của doanh  
nghiệp nhằm tạo ra các giá trị, các sản phẩm  
vật chất, tinh thần ngày càng hoàn thiện theo  
hướng chân, thiện, mỹ, góp phần phát triển  
doanh nghiệp mạnh mẽ và bền vững.  
- Tinh thần đoàn kết, hợp tác gắn kết mọi  
thành viên với dây chuyền, với phân xưởng,  
công ty.  
V
- Tinh thần ham học tập, cầu tiến bộ để làm  
chủ công nghệ hiện đại.  
- Tinh thần lao động, chăm chỉ, sáng tạo  
với lương tâm nghề nghiệp cao.  
Có thể nói rằng, văn hóa doanh nghiệp  
tạo nên phong cách và “bản sắc” của doanh  
nghiệp, như là “bộ gen” của doanh nghiệp.  
Ngoài ra, văn hóa doanh nghiệp tạo ra môi  
trường làm việc thân thiện, hiệu quả; tạo ra  
sự thống nhất, sự đồng tâm của mọi thành  
viên trong doanh nghiệp, làm cho năng lực  
và sự sáng tạo của cá nhân được phát huy.  
Bên cạnh đó, xây dựng và phát triển văn hóa  
doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao khả năng  
cạnh tranh của doanh nghiệp.  
- Có lòng nhân ái, khoan dung trọng nghĩa  
tình, đạo lý, tôn trọng kỷ luật, kỷ cương.  
- Có phong cách sống công nghiệp…  
1. Những cơ hội chủ yếu do hội nhập  
kinh tế quốc tế mang lại cho các doanh  
nghiệp Việt Nam:  
Thế giới ngày nay đang dần trở thành một  
“làng toàn cầu”, trong đó hàng tỷ người thuộc  
các quốc gia, các dân tộc khác nhau đang vừa  
hợp tác, vừa cạnh tranh trong cuộc đua quyết  
liệt để phát triển, để khai thác những thành  
quả lớn lao chưa từng có về khoa học công  
nghệ nhằm làm cho cuộc sống của con người  
ngày càng tốt đẹp, hạnh phúc hơn. Trong cuộc  
Tinh túy nhất trong văn hóa của một  
doanh nghiệp là phẩm chất văn hóa cao của  
mọi thành viên trong doanh nghiệp. Những  
phẩm chất chủ yếu đó là:  
- Lòng yêu nghề, yêu công ty/doanh  
TrầN Thị PhươNg hUỳNh  
187  
tranh đua đó, thắng lợi trước hết thuộc về  
những nước có môi trường kinh doanh thuận  
lợi, có những tài năng về khoa học, công nghệ  
và kinh doanh được phát huy tối đa…  
Một số ngành, doanh nghiệp đã bắt đầu  
vươn lên cạnh tranh với hàng nhập khẩu và  
trên thị trường xuất khẩu, người tiêu dùng  
được tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ với  
chủng loại đa dạng và chất lượng tốt hơn.  
Đến nay, hàng hóa Việt Nam đã được biết  
đến ở nhiều khu vực thị trường thế giới, trong  
đó có nhiều mặt hàng đã cạnh tranh được với  
sản phẩm cùng loại của các nước như: thủy  
sản, cà phê, gạo, hạt điều, hàng may mặc,  
da dày, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ. Xuất  
khẩu duy trì đà tăng trưởng cao: năm 2005,  
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước là 32,4 tỷ  
USD (trong đó khu vực kinh tế trong nước là  
42,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài  
57,2%); năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu  
cả nước là 114,5 tỷ USD (trong đó khu vực  
Nước ta đang nhanh chóng tiến bước trên  
con đường hội nhập quốc tế, tham gia vào  
“ngôi làng toàn cầu”, bao thời cơ, thách thức  
mới đang đến với chúng ta. Thời cơ rất lớn  
để tham gia thị trường toàn cầu, khai thác tốt  
nhất những lợi thế vốn có và tạo thêm những  
lợi thế mới cho nước ta, đưa các sản phẩm của  
người Việt Nam ra cạnh tranh và giành lấy vị  
trí cao hơn trong chuỗi giá trị sản xuất toàn  
cầu. Thời cơ rất lớn để tiếp cận những thành  
quả khoa học, công nghệ, những nguồn vốn,  
những kỹ năng quản trị kinh doanh của các  
nước tiên tiến, thu hút về nước ta, kết hợp với  
các nguồn lực có sẵn trong nước và sử dụng  
chúng một cách thông minh để tạo nên chính kinh tế trong nước là 36,9% và khu vực có  
sách mới cho nền kinh tế. Thời cơ rất lớn để  
chúng ta tự điều chỉnh, hoàn thiện mình về  
các mặt thể chế, môi trường kinh doanh, xây  
dựng và nâng cao năng lực của toàn thể đội  
ngũ người Việt Nam đang tham gia các khâu  
khác nhau trong cả guồng máy kinh tế lớn của  
đất nước, nhằm làm cho guồng máy đó vận  
hành với năng suất ngày càng cao, chất lượng  
ngày càng tốt, sức cạnh tranh ngày càng mạnh  
hơn trong thị trường khu vực, thế giới.  
vốn đầu tư nước ngoài 63,1%); sơ bộ năm  
2013 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 132  
tỷ USD (trong đó khu vực kinh tế trong nước  
là 33,2% và khu vực có vốn đầu tư nước  
ngoài 66,8%)2. Đến 9 tháng đầu năm 2014,  
tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 109,9 tỷ USD,  
tăng 14,4%; trong đó kim ngạch xuất khẩu  
nhóm hàng nông lâm thủy sản đạt 16,8 tỷ  
USD, tăng 15,1%; nhóm hàng công nghiệp  
chế biến đạt 79,6 tỷ USD, tăng 15,2% so với  
cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng của  
các doanh nghiệp trong nước tăng 13% (cùng  
kỳ năm 2012 giảm 1,1%; năm 2013 tăng 3%),  
của các doanh nghiệp FDI (tính cả dầu thô)  
tăng 15,1% (cùng kỳ năm 2012 tăng 34%;  
năm 2013 tăng 22,4%)3. Nhiều mặt hàng đã  
Chúng ta thấy rằng, hội nhập kinh tế quốc  
tế đã thay đổi nhận thức của các doanh nghiệp,  
khắc phục được tâm lý thụ động, dựa vào bao  
cấp, trông chờ vào bảo hộ, phát huy tinh thần  
chủ động, sáng tạo, chấp nhận cạnh tranh để  
phát triển. Sức ép cạnh tranh đã thúc đẩy đổi  
mới công nghệ, phương thức kinh doanh, xây  
dựng chiến lược phát triển mang tính dài hạn. khẳng định được chỗ đứng vững chắc ngay  
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta  
cả trên các thị trường ASEAN, APEC, OPEC  
ngày càng cải thiện1.  
và Trung Quốc, khả năng cạnh tranh của Việt am còn  
thấp, Trung Quốc thứ 44, Thái Lan: 32, Singapo: 6 và  
Malaixia: 29.  
1. Mặc dù mức độ cải thiện khả năng cạnh tranh còn  
hạn chế nhưng Việt Nam đã có tiến bộ nhất định về  
khả năng cạnh tranh. Theo xếp loại của Diễn đàn kinh  
tế thế giới, năm 2003, Việt Nam đã có cải thiện lớn  
về thứ bậc năng lực cạnh tranh, đứng thứ 60 trong số  
102 quốc gia được xếp hạng. Tuy nhiên, so với các  
nước trong khu vực, đặc biệt là các nước ASEAN- 6  
2. Tổng cực Thống kê, Niên giám thống kê 2013, Nxb  
Thống kê, HN, 2014, tr527- 530.  
3. Báo cáo tình hình kinh tꢁ xã hội năm 2014 vꢂ nhiệm  
vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày  
tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014.  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
188  
và đặc biệt là các thị trường khó tính như Hoa nghiệp cho thấy tình hình doanh nghiệp có  
Kỳ, Nhật Bản và EU4.  
dấu hiệu tốt lên khi số doanh nghiệp thành  
lập mới trong năm 2013 tăng trở lại so với  
năm 2012.  
Trong những năm gần đây, mặc dù bối  
cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động  
bất lợi, một số mặt hàng của ta vẫn bám trụ  
được ở các thị trường truyền thống và tăng  
kim ngạch tại thị trường mới, đặc biệt là thị  
trường Hoa Kỳ với tổng kim ngạch là 5,92 tỷ  
USD (năm 2005) và lên đến 23,84 tỷ USD  
(sơ bộ năm 2013)5. Bên cạnh những mặt hàng  
truyền thống, đã xuất hiện các mặt hàng có  
lợi thế cạnh tranh trong tương lai như công  
nghệ phần mềm, hàng điện tử. Trên thị trường  
trong nước, nhiều mặt hàng của ta đã được  
người tiêu dùng chấp nhận, từng bước thay  
thế hàng nhập ngoại như vật liệu xây dựng,  
Về cơ cấu theo ngành, nghề kinh doanh  
chính trong năm 2013, một số ngành có dấu  
hiệu hồi phục khi có số doanh nghiệp đăng  
ký thành lập mới tăng, cụ thể là: Nghệ thuật,  
vui chơi và giải trí thành lập mới tăng 27,8%  
so với năm 2012; Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa  
ô tô xe máy tăng 23,9%; Vận tải kho bãi tăng  
6,7%; Công nghiệp chế biến chế tạo tăng  
7,3%.  
Một số ngành có thế mạnh của các năm  
hàng điện tử, chất tẩy rửa và một số mặt hàng trước thì năm nay gặp nhiều khó khăn như:  
tiêu dùng khác. Các ngành nghề dịch vụ cũng  
phát triển mạnh và thậm chí một số doanh  
nghiệp đã có khả năng vươn ra hoạt động có  
hiệu quả ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các  
lĩnh vực dịch vụ xây dựng, thương mại, vận  
tải biển, đường bộ, chế biến gỗ, khai thác và  
chế biến hải sản.  
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thành  
lập mới giảm 14,4%; Tài chính, ngân hàng và  
bảo hiểm giảm 5,4%; Xây dựng giảm 3,7%;  
Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc  
thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác  
giảm 2,8% (Hình 1).  
hình 1: Tình hình doanh nghiệp thành lập  
mới theo ngành, nghề kinh doanh chính năm  
2013.  
Trong năm 2013, cả nước có 76.955 doanh  
nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn  
đăng ký 398.681 tỷ đồng, tăng 10,1% về số  
doanh nghiệp và giảm 14,7% về số vốn đăng  
ký so với cùng kỳ năm trước. Đến 9 tháng  
đầu năm 2014 có 53,2 nghìn doanh nghiệp  
đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký  
tăng 13,9%, vốn bình quân 1 doanh nghiệp  
là 6 tỷ đồng, tăng 24,6%, tạo việc làm cho  
hơn 795 nghìn lao động và có gần 11,9 nghìn  
doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 5,1% so  
với cùng kỳ năm 20136.  
Trong năm 2014, cả nước có 74842 doanh  
nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn  
đăng ký là 432,2 nghìn tỷ đồng, giảm 2,7% về  
số doanh nghiệp và tăng 8,4% về số vốn đăng  
ký so với năm trước. Số vốn đăng ký bình  
quân một doanh nghiệp thành lập mới trong  
năm đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm  
2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm  
của các doanh nghiệp thành lập mới trong  
năm qua là 1091 nghìn người, tăng 2,8% so  
với năm trước. Như vậy, mặc dù vẫn chưa  
thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng  
xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp  
thành lập mới trong năm 2014 đã tăng hơn  
so với năm 2013. Trong 12 tháng, cả nước có  
Qua theo dõi số liệu doanh nghiệp trong  
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh  
4. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2013, NXb  
Thống kê, HN, 2014, tr531.  
5. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2013, NXb  
Thống kê, HN, 2014, tr 533  
6. Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kꢁ  
hoꢃch vꢂ Đầu tư  
TrầN Thị PhươNg hUỳNh  
189  
15419 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, cấp; chưa có tầm nhìn chiến lược; chưa có  
tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 20137.  
quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác;  
làm việc chưa có tính chất chuyên nghiệp;  
chưa thích ứng với tập quán kinh doanh quốc  
tế… Sở dĩ chúng ta chưa có văn hóa doanh  
nghiệp hoàn thiện là vì chúng ta vẫn còn tách  
rời văn hóa doanh nghiệp với văn hóa xã hội/  
văn hóa dân tộc; xã hội chưa thực sự quan tâm  
tới việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc  
xây dựng văn hóa của họ; bản thân ban lãnh  
đạo các doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng  
văn hóa doanh nghiệp, chưa tuyên truyền sâu  
rộng về văn hóa doanh nghiệp; thể chế, chính  
sách, văn hóa công chức còn tác động tiêu  
cực đến doanh nghiệp…  
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mới mà  
hội nhập kinh tế quốc tế mang lại thì quá trình  
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam cũng  
tạo ra những khó khăn, thách thức rất lớn đối  
với doanh nghiệp.  
2. Những khó khăn, thách thức:  
Bên cạnh những thuận lợi có được thì các  
doanh nghiệp Việt Nam cũng đứng trước  
những thách thức rất lớn khi cuộc cạnh tranh  
ngày càng trở nên gay gắt trên cả sân khách  
lẫn sân nhà, khi những luật chơi cùng những  
hàng rào kỹ thuật ngày càng khắc nghiệt và  
phức tạp, khi chúng ta từ điểm xuất phát thấp,  
với năng lực còn nhiều hạn chế, phải lao vào  
nhập cuộc, vừa chơi vừa học, vừa tự điều  
chỉnh để thích ứng và phát triển trong một thế  
giới đang chuyển động cực nhanh.  
Mặt khác, do đặc điểm tâm lý truyền thống  
của người Việt Nam và phải trải qua thời kỳ  
bao cấp, nên tư duy, thói quen, tác phong  
làm việc của người lao động hầu như chưa  
thay đổi nhiều, tính nhạy bén, tính thích ứng  
của doanh nghiệp nhà nước với hội nhập còn  
chậm. Ngoài ra, các vấn đề như: cơ sở vật  
chất - kỹ thuật, nguồn lực doanh nghiệp qua  
đào tạo, các vấn đề về vốn, khả năng quản  
lý… còn hạn chế nên số mặt hàng, sản phẩm,  
dịch vụ có lợi thế cạnh tranh hơi nhiều. Kỹ  
năng, trình độ hiểu biết pháp luật quốc tế của  
cán bộ, người lao động còn yếu dễ dẫn tới  
thiệt thòi trong buôn bán quốc tế…  
Hiện tại, văn hóa doanh nghiệp ở nước ta  
còn có những hạn chế nhất định: đó là nền  
văn hóa doanh nghiệp được xây dựng trên  
nền tảng dân trí thấp, bị ảnh hưởng bởi các  
khuynh hướng cực đoan của nền kinh tế bao  
7. http://www.tapchitaichinh.vn/Bao-cao-va-thong-ke  
tai-chinh/Tinh-hinh-hoat-dong-cua-doanh-nghiep-  
nam-2014/57068.tctc  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
190  
Chính vì phải đối mặt với rất nhiều khó 45,5% so với năm 2012; Y tế và hoạt động trợ  
khăn, thách thức với sức ép cạnh tranh gay  
gắt từ hội nhập kinh tế quốc tế cho nên doanh  
nghiệp ngừng hoạt động:  
giúp xã hội tăng 55,6; Tài chính, ngân hàng  
và bảo hiểm tăng 58,6%; Giáo dục và đào tạo  
tăng 77,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí  
tăng 82,9%.  
hình 2: Tình hình doanh nghiệp ngừng  
hoạt động theo ngành nghề kinh doanh chính  
năm 2013  
Các vùng kinh tế quan trọng, tập trung  
nhiều doanh nghiệp vẫn đang có tỷ lệ doanh  
nghiệp khó khăn phải dừng hoạt động ở mức  
cao trong khi một số vùng kinh tế tập trung  
ít doanh nghiệp thì lại đang có dấu hiệu hồi  
phục nhất định khi số lượng doanh nghiệp  
dừng hoạt động có xu hướng giảm.  
Về số doanh nghiệp dừng hoạt động trong  
năm 2013, cả nước có 60.737 doanh nghiệp  
giải thể và ngừng hoạt động (trong đó, số  
doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể là  
9.818 doanh nghiệp, số doanh nghiệp gặp  
khó khăn và rơi vào trạng thái tạm ngừng  
hoạt động là 50.919 doanh nghiệp) tăng 11,9  
% so với cùng kỳ năm trước. Về ngành, nghề  
và các lĩnh vực kinh doanh, ngành Hoạt động  
dịch vụ phục vụ cá nhân đã có tình hình khả  
quan hơn khi số doanh nghiệp phải giải thể  
hoặc tạm ngừng hoạt động giảm 10,4% so với  
cùng kỳ năm trước.  
Các vùng kinh tế trọng điểm như Đồng  
bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ vẫn còn  
nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp gặp khó  
khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động tăng  
so với cùng kỳ năm trước, cụ thể là các tỉnh:  
Hưng Yên dừng hoạt động tăng 67,4% so với  
cùng kỳ năm 2012; Quảng Ninh tăng 32,9%;  
Hải Phòng tăng 31,1%; Đồng Nai tăng 29,3%;  
Hồ Chí Minh tăng 12%.  
Bên cạnh đó, một số ngành vẫn còn gặp  
khó khăn khi có số lượng doanh nghiệp phải  
giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động tăng như:  
Sản xuất phân phối, điện, nước, gas tăng  
Một số vùng có số lượng doanh nghiệp gặp  
khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động  
giảm so với cùng kỳ năm trước như: Trung  
TrầN Thị PhươNg hUỳNh  
191  
du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và ngành có xu hướng tốt lên khi có số doanh  
Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, cụ thể nghiệp đăng ký thành lập mới tăng và số  
là các tỉnh: Yên Bái dừng hoạt động giảm doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động  
35,4% so với cùng kỳ năm 2012; Lâm Đồng giảm so với năm 2013 là lĩnh vực hoạt động  
giảm 41,8%; Lạng Sơn giảm 49,1%; Tuyên làm thuê các công việc trong các hộ gia đình,  
Quang giảm 52,6%; Bình Thuận giảm 55%.  
sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu  
dùng của hộ gia đình và các hoạt động dịch  
vụ khác9. Đây là dấu hiệu tích cực và là cơ sở  
cho việc phục hồi phát triển nền kinh tế trong  
thời gian tới.  
Về số doanh nghiệp gặp khó khăn rơi vào  
tình trạng ngừng hoạt động nay quay trở lại  
hoạt động trong năm 2013 là 14.402 doanh  
nghiệp8.  
Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức mới  
là nhiệm vụ hết sức nặng nề của người Việt  
Nam ta trong thời gian tới, đặc biệt là trong  
những năm đầu hội nhập, khi mà thách thức  
ập đến rất nhanh, còn thời cơ thì không tới  
nhanh như vậy; khi mà thách thức thì phải tự  
mình vượt qua, còn thời cơ thì có bao người  
đua tranh quyết liệt để giành lấy. Muốn hội  
nhập thành công, chúng ta phải có cả ý chí,  
tư duy và kiến thức phù hợp, phải thúc đẩy  
kinh tế phát triển không những với tốc độ cao,  
mà chất lượng, hiệu quả tốt, tính cạnh tranh  
mạnh, và hơn hết, phải phát triển con người  
toàn diện: “con người văn hóa”, “con người  
kinh tế” Việt Nam.  
Trong năm 2014, cả nước có 67.823  
doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải  
thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có  
thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã  
số doanh nghiệp hoặc không đăng ký, bao  
gồm 9501 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ  
tục giải thể, giảm 3,2% so với năm trước,  
số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là  
những doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10  
tỷ đồng; 58.322 doanh nghiệp khó khăn phải  
ngừng hoạt động, tăng 14,5% so với năm  
trước. Trong đó, 11723 doanh nghiệp đăng  
ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 46.599  
doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã  
số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.  
Như vậy, nhiệm vụ của chúng ta trong mấy  
năm tới nặng gấp nhiều lần, trọng trách của  
doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam - đội  
quân xung kích trong phát triển kinh tế và hội  
nhập quốc tế - cũng tăng gấp bội.  
Xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh, từ năm  
2013 đến nay đã sàng lọc những doanh nghiệp  
thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để  
tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn  
tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở  
rộng quy mô hoạt động. Cụ thể, trong năm  
2014, có 22,8 nghìn lượt doanh nghiệp thay  
đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng  
thêm là 595,7 nghìn tỷ đồng. Như vậy, tổng  
số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm  
vào nền kinh tế trong năm 2014 là 1027,9  
nghìn tỷ đồng, bao gồm 595,7 nghìn tỷ đồng  
của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và  
432,2 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp thay  
đổi tăng vốn.  
Doanh nghiệp, doanh nhân là những đơn  
vị, những người trực tiếp đương đầu với thách  
thức, khai thác thời cơ. Thành công của doanh  
nghiệp, doanh nhân góp phần to lớn quyết  
định thành công của đất nước trong hội nhập.  
Ngoài lĩnh vực kinh tế, doanh nghiệp, danh  
nhân còn đóng góp quan trọng trong việc giải  
quyết những vấn đề xã hội như tạo việc làm,  
xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, phát triển  
mạng lưới an sinh xã hội, hạn chế những ảnh  
hưởng tiêu cực có thể nảy sinh đối với một số  
Tuy nhiên, đối với tình hình đăng ký  
doanh nghiệp phân theo lĩnh vực hoạt động,  
9. http://www.tapchitaichinh.vn/Bao-cao-va-thong-ke-  
-tai-chinh/Tinh-hinh-hoat-dong-cua-doanh-nghiep-  
nam-2014/57068.tctc  
8. Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kꢁ  
hoꢃch vꢂ Đầu tư  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
192  
đối tượng trong tiến trình hội nhập.  
ta không biết chút gì về triển lãm, hội chợ;  
hoặc để thiết kế một lôgô mà nhân viên lại  
không có kiến thức về mỹ thuật, không nắm  
bắt được chuẩn chung về mỹ thuật.  
Nếu nhận thức văn hóa doanh nghiệp là  
những vấn đề chủ yếu trên thì nhiệm vụ xây  
dựng văn hóa doanh nghiệp cần bắt đầu từ  
xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh  
Tầm nhìn đóng vai trò định hướng cho  
của doanh nghiệp, đồng thời phải xây dựng việc lựa chọn các chiến lược và các mục tiêu  
chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, của doanh nghiệp. Với áp lực bên ngoài, từ  
rèn luyện các phẩm chất văn hóa trên cho cán các cam kết quốc tế buộc các nhà hoạch định  
bộ, công nhân viên công ty.  
chính sách cũng như các doanh nghiệp phải  
tính với tầm nhìn chí ít là sau 5-10 năm để lên  
các kế hoạch cho hiện tại.  
Chủ doanh nghiệp có vai trò quyết định  
trong văn hóa doanh nghiệp bởi họ là người  
quyết định và trực tiếp lãnh đạo tổ chức thực  
- Thích ứng với tập quán kinh doanh quốc  
hiện quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng tꢁ.  
này, đồng thời, chủ doanh nghiệp phải là tấm  
gương văn hóa để mọi thành viên noi theo.  
Khi hội nhập, văn hóa doanh nghiệp sẽ  
thay đổi và trở thành mọi thách thức, mọi  
nhân viên thuộc doanh nghiệp sẽ phải thay  
đổi để thích nghi với các quy trình kinh doanh  
mới, để chuẩn hóa. Ở một cấp độ cao hơn,  
còn có thể xảy ra “xung đột văn hóa” trong  
nội bộ doanh nghiệp. Khi tham gia WTO và  
kinh doanh trong “thế giới phẳng”, các doanh  
nghiệp phải vượt qua chính mình, phải hiểu  
biết và thành thạo “luật chơi” mới, biết liên  
kết với đối tác đáng tin cậy trên toàn cầu.  
Trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam  
nhìn chung vẫn còn rất “bỡ ngỡ” với các tiêu  
chuẩn của hội nhập.  
3. giải pháp  
Thứ nhất: Nâng tầm văn hóa doanh  
nghiệp Việt Nam dần đꢃt tới chuẩn văn hóa  
kinh doanh quốc tꢁ. Gồm công việc chủ yꢁu  
sau:  
- Trang bị đầy đủ tri thức và có tầm nhìn  
chiến lược.  
Một khi Việt Nam gia nhập WTO, các  
doanh nghiệp Việt Nam phải trang bị đầy đủ  
tri thức cần thiết và phải có tầm nhìn xa, rộng  
thì mới đủ sức cạnh tranh với thế giới. Trong  
một môi trường cạnh tranh gay gắt khi hội  
nhập, công nghệ và phương pháp thực hiện  
công việc là rất nhanh, đa dạng và phức tạp;  
sản phẩm, ngoài việc mang bản sắc văn hóa  
dân tộc, phải thể hiện tính văn minh hiện đại.  
Do đó, doanh nghiệp cần tìm ra những cách  
thức hiệu quả nhất để dần đáp ứng được các  
yêu cầu này. Doanh nghiệp phải trở thành một  
tổ chức học tập, trong đó các thành viên phải  
coi việc học tập là một mục tiêu quan trọng  
hàng đầu, kiến thức, thông tin cần được chia  
sẽ rộng rãi. Doanh nghiệp phải có kiến thức  
văn hóa bên cạnh kiến thức chuyên môn, như  
hiểu biết về thẩm mỹ, nghệ thuật, văn hóa,  
khảo cổ, giao tiếp, âm nhạc, báo chí, triển  
lãm… Một doanh nhân không thể được xem  
là có văn hóa trong thời hiện đại khi mà anh  
Văn hóa doanh nghiệp của người Việt  
Nam cần phải thay đổi theo hướng sẵn sàng  
liên kết, hợp tác trên cơ sở đôi bên cùng có  
lợi thay vì chỉ nghĩ đến quyền lợi của chính  
bản thân mình. Tinh thần hợp tác, cùng làm  
ăn, cùng có lợi, cùng làm giàu phải được xem  
trọng và đặt chữ tín lên hàng đầu để thay đổi  
một hình ảnh dân tộc Việt Nam chỉ thích làm  
ăn riêng lẻ, nghỉ đến quyền lợi cá nhân thay  
vì quyền lợi của cả cộng đồng.  
- Chia sẻ quyền hꢃn vꢂ trách nhiệm - khắc  
phục tính gia trưởng của doanh nghiệp Việt  
Nam.  
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện  
nay, những quyết định tốt nhất để giúp cho  
doanh nghiệp có thể thích ứng nhanh chóng  
TrầN Thị PhươNg hUỳNh  
193  
không phải là được đưa ra từ ban lãnh đạo cấp nhiều biện pháp để chấn chỉnh, tăng cường  
cao mà là từ nơi có sẵn thông tin. Điều đó có kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt  
nghĩa là lãnh đạo cấp cao phải khuyến khích động của bộ máy hành chính nhà nước, nhất  
cấp dưới phải tham gia vào quá trình ra các  
quyết định chiến lược và tiến hành ủy quyền  
mạnh mẽ, triệt để hơn cho các cấp quản lý  
thấp hơn. Vì thế, sự chia sẻ quyền hạn và  
trách nhiệm xuống các cấp quản lý thấp hơn  
trong tổ chức cần phải quan tâm một cách  
thích đáng.  
là trong việc giải quyết công việc của người  
dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng  
quan liêu, nhũng nhiễu, cửa quyền, gây phiền  
hà của một bộ phận cán bộ, công chức, viên  
chức các cơ quan hành chính nhà nước, tổ  
chức sự nghiệp, dịch vụ công trong giải quyết  
các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công  
liên quan đến hoạt động đầu tư, doanh nghiệp  
vẫn còn rất phổ biến, có nơi là nghiêm trọng,  
ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và kinh  
doanh. Vì vậy, cần tiếp tục công việc cải cách  
hành chính theo hướng dân chủ, trong sạch,  
vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại hóa.  
Tiếp tục xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, loại bỏ các  
rào cản đang gây phiền hà cho hoạt động kinh  
doanh (nhất là trong các khâu thủ tục đầu tư,  
xét thầu, xuất nhập cảnh, hải quan, thanh tra,  
kiểm tra hoạt động doanh nghiệp…).  
Về mặt phân cấp chức năng, văn hóa  
doanh nghiệp Việt Nam khác với văn hóa của  
các nước phát triển phương Tây. Tại các nước  
này, mỗi cấp quản lý có quyền quyết định các  
hoạt động thuộc chức năng của mình, kể cả  
phần chi - thu thuộc phạm vi trách nhiệm, ưu  
tiên của sự phân cấp chức năng là làm cho mỗi  
cấp quản lý có thêm trách nhiệm, thêm sự tự  
tin, phát huy mọi sáng kiến, năng động hơn và  
có hiệu suất cao. Sự phân cấp chức năng còn  
giúp cho thủ trưởng có thêm nhiều thời gian  
và năng lực để tập trung giải quyết các vấn đề  
then chốt mang tính vĩ mô của công ty. Điểm  
trì trệ lớn nhất trong văn hóa doanh nghiệp  
Việt Nam chính là tính gia trưởng, quan điểm  
gia đình khi điều hành doanh nghiệp…, và  
từ đó người ở vị trí cao luôn thể hiện sự độc  
đoán. Sự chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm  
xuống các cấp quản lý thấp hơn trong doanh  
nghiệp rất hạn chế. Tính gia trưởng chính là  
“rào cản” khi chúng ta hội nhập.  
Điều chỉnh sắp xếp lại bộ máy và điều  
chỉnh hành vi của công chức đi đôi với việc  
thực thi kỷ luật hành chính thật nghiêm đối  
với những công chức, nhân viên bộ máy công  
quyền sách nhiễu doanh nhân; khắc phục  
tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí,  
thực hiện văn hóa công chức. Bởi lẽ, như  
một doanh nhân từng nói: “Không thể đòi  
hỏi doanh nghiệp trong sꢃch nꢁu bộ máy nhꢂ  
nước tham nhũng, cũng như không thể đòi  
hỏi doanh nghiệp phải có văn hóa trong khi  
viên chức nhꢂ nước ứng xử tư lợi vꢂ thiꢁu văn  
hóa”.  
Thứ hai, nâng tầm văn hóa đội ngũ cán  
bộ, công chức các cơ quan công quyền.  
Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách hành  
chính, song kết quả chưa cao. Nguyên nhân  
là do cán bộ còn yếu tầm so với chức trách,  
còn nhiều hạn chế trong văn hóa lãnh đạo,  
quản lý. Việc nâng tầm văn hóa lãnh đạo và  
quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức trong  
các cơ quan công quyền đi liền với đề cao kỷ  
luật thực thi công vụ là một yêu cầu bức xúc  
nhằm xây dựng chính quyền thực sự là công  
bộc của dân. Thời gian qua, Chính phủ, Thủ  
tướng Chính phủ đã đề ra và chỉ đạo thực hiện  
Muốn thực hiện cải cách hành chính để  
hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, thì  
cái tâm của người công chức phải được đặt  
lên hàng đầu. Các công chức cần tạo thuận  
lợi cho doanh nghiệp, công khai, minh bạch  
những thủ tục cần có. Cần loại bỏ tâm lý  
mình là người có quyền lực và cung cách làm  
việc quan liêu. Phải xây dựng nên những quy  
chuẩn về ứng xử nói chung cho hệ thống các  
cơ quan nhà nước và phải quy chế hóa phong  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
194  
cách ứng xử của công chức. Chúng ta cũng  
Vì vậy, việc nâng cao nhận thức cộng  
không thể chỉ tiến hành những điều chỉnh ở đồng về văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh  
bên trong hệ thống nhà nước mà không đề nghiệp là một vấn đề cấp thiết. Phải làm cho  
cập tới những quan niệm của xã hội. Công doanh nghiệp, doanh nhân nhận thức và nhận  
chức cũng được chuẩn bị, được tuyển dụng dạng đúng vai trò, vị trí của mình trong tiến  
từ xã hội, cái văn hóa khởi đầu họ mang vào trình đổi mới: cần xóa bỏ quan niệm cho rằng  
bộ máy nhà nước chính từ xã hội. Vì thế, phải kinh doanh là xấu, là bóc lột, chỉ coi trọng  
nâng cao văn hóa xã hội đồng thời nâng cao làm quan chức, không coi trọng người làm  
văn hóa công chức, văn hóa công sở mới có kinh doanh. Cần phải coi hoạt động sản xuất  
thể giải quyết được triệt để vấn đề.  
- kinh doanh của doanh nhân (dĩ nhiên phải  
là kinh doanh chân chính, có văn hóa) tạo ra  
nhiều của cải, nhiều lợi nhuận, làm giàu cho  
bản thân và xã hội là hoạt động cần được tôn  
vinh. Không có doanh nghiệp thì cũng không  
thể có nền kinh tế hàng hóa. Nếu có, nhưng  
yếu và thiếu thì cũng không thể hy vọng về  
một nền kinh tế phát triển bền vững. Mọi chủ  
trương, đường lối, biện pháp kinh tế của Nhà  
Thứ ba, tuyên truyền, giáo dục, đꢂo tꢃo,  
nâng cao nhận thức về văn hóa kinh doanh,  
văn hóa doanh nghiệp.  
Nhận thức bao giờ cũng là khởi điểm cho  
mọi hành động. Vì vậy, cần thiết phải bắt đầu  
từ việc nâng cao nhận thức cộng đồng về văn  
hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp.  
Hiện tại các doanh nghiệp nước ta nhìn nước dù có thần kỳ đến đâu cũng sẽ trở thành  
chung còn chưa chú ý tới cần thiết tất yếu của lý thuyết suông, nếu nó không trực tiếp hoặc  
văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp  
trong hoạt động của mình. Những áp lực kinh  
tế, nhất áp lực chạy theo lợi nhuận hiện khiến  
cho các doanh nghiệp chưa chú ý sâu sắc tới  
những vấn đề văn hóa chỉ coi đó là yếu tố  
phụ trợ. Các chính sách và cơ chế quản lý  
kinh doanh hiện nay cũng mới chỉ chủ yếu  
chú ý tới các khía cạnh kinh tế - xã hội và  
môi trường của kinh doanh. Sự thiếu vắng  
hoặc mờ nhạt của khía cạnh văn hóa trong  
các chính sách và cơ chế quản lý kinh doanh  
hiện hành có nguyên nhân cơ bản bắt nguồn  
từ sự thiếu hụt trong nhận thức của các nhà  
hoạch định chính sách. Định hướng xã hội  
nhằm vào việc tạo dựng văn hóa kinh doanh,  
văn hóa doanh nghiệp, tạo nên bầu không  
khí và áp lực dư luận xã hội đối với vấn đề  
gián tiếp tác động tích cực tới doanh nghiệp,  
tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho doanh  
nghiệp, doanh nhân làm ăn thuận lợi.  
Đồng thời, cần tôn vinh các doanh nhân  
giỏi, năng động, sáng tạo, kinh doanh hiệu  
quả, có văn hóa làm giàu chính đáng, làm  
rạng rỡ thương hiệu Việt. Sự tôn vinh thực  
sự đối với họ không chỉ biểu hiện trên lời nói  
mà phải được thực hiện qua các việc làm cụ  
thể, qua các giải pháp của các cơ quan chức  
năng nhằm khắc phục những phiền hà, tận  
tình hướng dẫn, giúp đỡ họ kinh doanh.  
Các phương tiện thông tin đại chúng, các  
sáng tác văn học - nghệ thuật, các chương  
trình giáo dục đào tạo cần quảng bá và giảng  
dạy mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa về các doanh  
này vẫn còn thiếu. Dư luận và tập quán xã nghiệp và doanh nhân văn hóa, cổ vũ cái  
hội do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống đúng, cái tốt, cái đẹp trong văn hóa kinh  
vẫn chưa thật sự coi trọng nghề kinh doanh,  
đây đó vẫn còn tồn tại quan niệm “vi nhân  
bất phú, vi phú bất nhân”. Sự chú ý của các  
tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ ở  
nước ta cho đến nay hầu như còn vắng bóng  
trên lĩnh vực này.  
doanh, văn hóa doanh nghiệp. Cần có sự phối  
kết hợp giữa các tổ chức xã hội - Nhà nước,  
các tổ chức xã hội nhà nước và doanh nghiệp  
với nhau để nghiên cứu, truyền bá văn hóa  
kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp tới đông  
đảo nhân dân. Và đặc biệt, các doanh nghiệp  
TrầN Tꢂị PꢂươNg ꢂUỳNꢂ  
195  
cần trích một tỷ lệ thích đáng từ thu nhập của thống luật pháp và chính sách nghiêm minh,  
được thực thi tốt, hệ thống hành chính hữu  
hiệu, đội ngũ công chức có năng lực chuyên  
môn, tận tâm và trong sạch. Môi trường đó  
phải đảm bảo sự cung ứng các dịch vụ hạ  
tầng, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ  
và các dịch vụ khác với chất lượng tốt, hiệu  
quả cao. Môi trường đó cũng bao hàm một  
xã hội lành mạnh, dân trí cao, ham học hỏi  
và tiến bộ, cởi mở, tôn trọng và hợp tác với  
nhau, cùng nhau làm cho cuộc sống của mỗi  
mình để đầu tư vật chất cho xây dựng văn hóa  
doanh nghiệp.  
Để doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam  
có thể làm tốt sứ mạng của mình, Nhà nước  
và xã hội rất cần hỗ trợ cho họ. Sự hỗ trợ  
quan trọng nhất, cần thiết nhất là tạo một môi  
trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng,  
ổn định, trong đó mọi doanh nghiệp, doanh  
nhân có thể cạnh tranh bình đẳng và được đối  
xử công bằng. Môi trường đó phải bao gồm hệ người ngày thêm văn minh, hạnh phúc.  
TꢀI LIꢁU TꢂAM KꢂꢃO  
1. Báo cáo của Thủ tướng về tình hình KT-XH tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII (Báo cáo tình hình kinh  
tꢁ xã hội năm 2014 vꢂ nhiệm vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội  
khóa XIII, ngày 20/10/2014)  
2. TS. Vũ Trọng Lâm, Nâng cao sức cꢃnh tranh của các doanh nghiệp trong tiꢁn trình hội nhập kinh tꢁ quốc  
tꢁ, Nxb. CTQG, HN, 2006.  
3. Tổng cực Thống kê, Niên giám thống kê 2013, NXb Thống kê, HN, 2014  
4. PGS. TS. Nguyễn Văn Nam, Phát triển kinh tꢁ thị trưꢄng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tꢁ quốc  
tꢁ, Nxb. CTQG, HN, 2006.  
5. PGS.Ts Đào Duy Quát, Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nhân trong quá trình hội nhập, Nxb. CTQG,  
HN, 2007.  
6. TS. Nguyễn Hữu Thắng, Nâng cao năng lực cꢃnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thꢁ hội  
nhập kinh tꢁ quốc tꢁ hiện nay, Nxb. CTQG, HN, 2008.  
pdf 10 trang Thùy Anh 18320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_va_phat_trien_van_hoa_doanh_nghiep_viet_nam_trong_t.pdf