Nghiên cứu mối quan hệ giữa nội dung tự tạo của công ty, sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 50, 2021  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG  
TY, SỰ ĐỒNG CẢM, NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ  
TRỊ THƯƠNG HIỆU  
NGUYỄN TẤN LỢI1, LÊ HOÀNG VIỆT PHƯƠNG1, NGUYỄN THỊ HƯƠNG LY2  
1Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh,  
2Khoa Thương mại Du lịch,Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh,  
Tóm tắt. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và đo lường mối quan hệ giữa nội dung tự tạo của  
công ty, sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu. Mẫu nghiên cứu gồm 350  
khách hàng đang sử dụng mạng xã hội để tương tác với nhau, tác giả đã sử dụng mô hình cấu trúc tuyến  
tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết. Thông qua phân tích, tác giả đã đề xuất mối quan hệ trực tiếp giữa  
nội dung tự tạo của công ty và sự đồng cảm, mối quan hệ trực tiếp giữa sự đồng cảm và giá trị thương hiệu.  
Đồng thời, nghiên cứu này so sánh mối quan hệ gián tiếp giữa sự đồng cảm và giá trị thương hiệu thông  
qua nội dung tự tạo của người dùng. Mô hình được đề xuất cung cấp những hiểu biết có giá trị về vai trò  
của việc sử dụng sự đồng cảm trên phương tiện truyền thông xã hội. Do đó, nhà tiếp thị nên nhận thức được  
tầm quan trọng của việc sử dụng sự đồng cảm trong các bài đăng trên mạng xã hội.  
Từ khóa: Nội dung tự tạo của công ty (FGC), sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng (UGC), giá trị  
thương hiệu  
THE RELATIONSHIP BETWEEN FIRM - GENERATED CONTENT, EMPATHY,  
USER - GENERATED CONTENT AND BRAND EQUITY  
Abstract: This study aims to explore and measure the relationship between firm generated content,  
empathy, user generated content, and brand equity. The research sample consists of 350 customers using  
social networks to interact with each other, the author used linear structure model (SEM) to test the  
hypotheses. Through analysis, the author has proposed a direct relationship between firm generated content  
and empathy, a direct relationship between empathy and brand equity. At the same time, this study  
compared the indirect relationship between empathy and brand equity through user-generated content. The  
proposed model provides valuable insights into the role of using empathy on social media. Hence, marketers  
should be aware of the importance of using empathy in social media posts.  
Keywords: firm generated content (FGC), empathy, user generated content (UGC), brand equity  
1. GIỚI THIỆU  
Sự phát triển của Web 2.0 đã tạo điều kiện cho người dùng tương tác và cộng tác với nhau thông qua đối  
thoại trên phương tiện truyền thông xã hội với tư cách là người tạo ra nội dung (ví dụ: văn bản, âm thanh,  
hình ảnh, video, v.v.). Web 2.0 bao gồm các trang truyền thông, trang mạng xã hội (Instagram, Facebook,  
Twitter, Blog,…); trang Web chia sẻ hình ảnh, video (Youtube,…); các ứng dụng trực tuyến;… Trong đó  
Facebook là địa chỉ phổ biến nhất khi người dùng tương tác trên mạng xã hội. Mạng xã hội đã mang lại  
tiềm năng to lớn để các công ty xích lại gần nhau và do đó, giúp các công ty tăng doanh thu, giảm chi phí  
và hiệu quả. Hiện nay, các trang mạng xã hội đã trở thành phương tiện truyền thông quan trọng trong việc  
làm cầu nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với khách hàng và truyền tải thông tin từ  
khách hàng này đến khách hàng khác. Sự tương tác trên mạng xã hội thường công khai và được phổ biến  
một cách nhanh chóng, rộng rãi thông qua kết nối giữa những người dùng. Hiện nay Internet là một trong  
những công cụ truyền thông mạnh mẽ nhất, tác động đến phạm vi toàn cầu, xã hội và lĩnh vực kinh tế. Tiềm  
năng của Internet đang ngày càng đóng vai trò đặc biệt quan trọng cho các hoạt động thương mại. Theo số  
liệu thống kê từ InternetWorldStats.com (2020) số người sử dụng Internet ở Việt Nam hiện đứng thứ 14  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
78  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
trên Thế giới và đứng thứ 8 khu vực Châu Á với hơn 68.54 triệu người sử dụng tăng hơn 10% so với cùng  
kì năm 2019. Có hơn 70% người dân Việt Nam hiện đang sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để  
giải trí, liên lạc bạn bè, mua và bán hàng hóa. Ngày nay, người tiêu dùng ngày càng cẩn thận hơn với các  
hình thức quảng cáo truyền thống, dẫn đến khoảng cách giữa những gì công ty nói (nhận diện thương hiệu)  
và những gì khách hàng cảm nhận (hình ảnh thương hiệu). Do đó, việc điều hướng giao tiếp trên mạng xã  
hội trong khi vẫn duy trì tính toàn vẹn và sự yên tâm của người dùng đang là nhiệm vụ và mục tiêu quan  
trọng của các công ty.  
Nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét nội dung tự tạo của công ty tác động như thế nào đến sự đồng cảm  
của người dùng Internet, sự đồng cảm lan truyền thông điệp như thế nào bằng cách khám phá hành vi của  
người dùng cũng như vai trò nội dung tự tạo của người dùng trong việc hỗ trợ giá trị thương hiệu. Qua đó,  
nghiên cứu sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu có thể được áp dụng ở những nơi khác, bối cảnh khác và các  
lĩnh vực khác liên quan. Để đạt được kết quả này, một mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên việc xem  
xét một cách có hệ thống, so sánh các nghiên cứu liên quan và phát triển các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả  
chính của mô hình này là khám phá các thang đo và xác định mối quan hệ giữa nội dung tự tạo của công ty  
(FGC), sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng (UGC) và giá trị thương hiệu. Hơn nữa, nghiên cứu  
thực nghiệm, dựa trên khung khái niệm được đề xuất, có thể được nghiên cứu cho các quốc gia hoặc nền  
tảng khác nhau như Facebook, Twitter, Instagram và Youtube. Mô hình được đề xuất cung cấp những hiểu  
biết có giá trị về vai trò của việc sử dụng nội dung tự tạo của công ty, sự đồng cảm trên phương tiện truyền  
thông xã hội để khuyến khích nội dung tự tạo của người dùng, từ đó thúc đẩy giá trị thương hiệu. Do đó,  
nhà tiếp thị, chủ sở hữu của công ty, nên nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng sự đồng cảm  
trong các bài đăng trên mạng xã hội. Kết quả phân tích bằng công cụ phân tích SEM, AMOS, SPSS với số  
lượng mẫu quan sát là 350. Nghiên cứu cũng đề xuất một số kiến nghị thực tiễn và những hướng nghiên  
cứu trong tương lai.  
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Nội dung tự tạo của công ty (FGC – Firm Generated Content):  
Nội dung tự tạo của công ty (FGC) là nội dung được tạo bởi các nhà tiếp thị trên các trang thương hiệu  
thông qua các kênh truyền thông xã hội chính của mình và giúp xây dựng mối quan hệ 1-1 với khách hàng  
thông qua bản chất tương tác của phương tiện này (Kumar và cộng sự, 2018). Ví dụ về FGC trên Facebook  
bao gồm các bài đăng bằng văn bản nhằm quảng cáo hoặc các video do thương hiệu tạo ra về việc ra mắt  
sản phẩm mới. Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét tất cả các nội dung liên quan của FGC là một phần  
trong nội dung của thương hiệu trên mạng xã hội. Khối lượng FGC nắm bắt tần suất các bài đăng thương  
hiệu, nắm bắt giá trị tình cảm của họ có thể là tích cực, tiêu cực, trung tính và sự sống động của FGC thể  
hiện sự phong phú của họ. Người theo dõi có thể được tăng lên bằng cách xuất bản những nội dung hấp dẫn  
vì vậy, điều quan trọng là phải phát hiện những nội dung có phản hồi nhiều nhất  
Mọi người tham gia vào phương tiện truyền thông xã hội được thúc đẩy bởi các loại lợi ích tiềm năng giúp  
họ có được nội dung giải trí và thông tin. FGC cung cấp thông tin và làm phong phú thêm thông tin liên  
quan đến sản phẩm do đó kích thích nhu cầu của họ. Với ý nghĩ này và với mục đích hiểu rõ hơn về FGC  
trong thương hiệu, cần nhấn mạnh rằng các nội dung do công ty tạo ra được coi là tập hợp không chỉ tài  
nguyên vật chất (ví dụ: hình ảnh, sản phẩm), mà còn là trải nghiệm khơi gợi cảm xúc, chẳng hạn như ngạc  
nhiên, phấn khích hoặc dễ chịu. Các yếu tố này được kết hợp vào nhận dạng thương hiệu sản phẩm, đó là  
hình ảnh của sản phẩm trong tâm trí khách hàng.  
2.2. Sự đồng cảm (Empathy)  
Đồng cảm cảm là một khái niệm rộng dùng để chỉ phản ứng nhận thức (khả năng hiểu) và phản ứng cảm  
xúc (chia sẻ cảm xúc) của một cá nhân đối với những trải nghiệm quan sát được của người khác. Theo  
Hoffman(2011), mọi người đều được sinh ra với khả năng cảm nhận sự đồng cảm. Theo Smith (2012), sự  
đồng cảm là hiệu quả được tạo ra khi chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác và cảm thương  
người khác. Đó là một hiện tượng phức tạp, biến ấn tượng của cảm giác thành ý tưởng. Đồng cảm cũng là  
một cấu trúc đa chiều bao gồm thành phần hiệu quả và thành phần nhận thức, đã được chứng minh là có  
liên quan khác biệt đến kết quả hành vi (ví dụ, Lovett & Sheffield, 2007). Tóm lại, sự đồng cảm là một cảm  
xúc xã hội đề cập đến phản ứng nhận thức và cảm xúc của một cá nhân đối với những trải nghiệm quan sát  
được của người khác. Có hai loại đồng cảm chính: Sự đồng cảm về nhận thức và về tình cảm.  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
79  
Sự đồng cảm về nhận thức là một quá trình với những nỗ lực, ý thức của khách hàng đối với sản phẩm,  
thương hiệu. Hình ảnh thương hiệu được nhận thức có thể được coi là một tập hợp các liên kết về bản chất  
nhận thức và tình cảm, được các cá nhân gắn với tên thương hiệu. Liên quan đến hình ảnh thương hiệu, cần  
phải thiết lập rằng hình ảnh cảm nhận được dựa trên nhiều nguồn như trải nghiệm cá nhân, quảng cáo trên  
phương tiện truyền thống hoặc hơn thế nữa gần đây, nội dung được đăng bởi những khách hàng khác trên  
phương tiện truyền thông xã hội, tức là nội dung tự tạo của người dùng.  
Sự đồng cảm về tình cảm là phản ứng cảm xúc của một người đối với trạng thái tình cảm của người khác,  
bao gồm các tính năng hiệu quả, tự động và nhanh chóng. Từ quan điểm của các nghiên cứu về hành vi, sự  
đồng cảm về tình cảm nắm bắt các hiện tượng mà mọi người tự động chia sẻ trải nghiệm với các sản phẩm  
mà họ quan sát, chẳng hạn như kích thích tâm trạng và biểu hiện trên khuôn mặt. Sự đồng cảm về tình cảm  
có thể nhanh chóng xảy ra ngay cả bên ngoài ý thức và nhận thức của chúng ta. Ví dụ, khách hàng sẽ bộc  
lộ cảm xúc khi nghe đến sản phẩm, thương hiệu quen thuộc của mình và có thể phản ứng với các biểu hiện  
trên khuôn mặt, sự hài lòng và sẵn lòng giới thiệu sản phẩm đến với người khác  
2.3. Nội dung tự tạo của người dùng (UGC – User Generated Content)  
Các công ty đang tìm kiếm cách làm điều gì đó mới mẻ, không chỉ quan tâm đến việc sử dụng nội dung  
một cách thụ động mà còn tìm kiếm nội dung thúc đẩy sự thay đổi, ở cả bản thân và thế giới xung quanh.  
Do đó, việc các công ty tự tạo nội dung có thương hiệu và khuyến khích người dùng phổ biến nội dung đó  
trên mạng xã hội ngày càng phổ biến. Đánh giá của khách hàng trên lĩnh vực kỹ thuật số, được gọi là Nội  
dung tự tạo của người dùng (sau đây gọi là UGC), không phải là khái niệm mới. Daugherty và cộng sự  
(2008) định nghĩa: UGC là nội dung truyền thông được phân phối trực tuyến và được sản xuất bởi các  
chuyên gia không trả tiền. Tương tự như vậy, Krumm và cộng sự (2008); Kaplan và Haenlein (2012) chỉ ra  
rằng UGC là viết tắt của nội dung (dữ liệu, thông tin và phương tiện) được các nhà sản xuất phi thông  
thường tạo ra một cách công khai và tự nguyện về một sản phẩm hoặc một thương hiệu. Theo một định  
nghĩa gần đây hơn, Tang và cộng sự (2014) coi UGC là nội dung truyền thông được sử dụng để trao đổi  
thông tin đáng tin cậy và đáng tin cậy giữa những người dùng cuối Internet. Shergill & Chen (2005) đã đề  
cập trong nghiên cứu của họ về trải nghiệm thú vị và vui vẻ trong mua sắm trực tuyến sẽ làm cho người  
mua có một thái độ tích cực. Trước đây, trong bối cảnh truyền thống, môi trường xung quanh và môi trường  
của cơ sở bán lẻ sẽ có thể thu hút người tiêu dùng. Do đó, đối với mua sắm trực tuyến, cách bố trí không  
nên quá cầu kì. Điều này sẽ giúp việc duyệt thông tin do người dùng khác tạo ra thuận tiện hơn và mua sắm  
sẽ thỏa mãn hơn và ít căng thẳng hơn. Thái độ tích cực của người tiêu dùng đối với nội dung do những  
người khác và trải nghiệm duyệt web sẽ nâng cao xác suất mua hàng.  
2.4. Giá trị thương hiệu  
Giá trị thương hiệu là một khái niệm xuất hiện vào đầu thập kỷ 80 và trở nên phổ biến trong lĩnh vực quản  
trị marketing - thương hiệu không chỉ ở những nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển. Có rất  
nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị thương hiệu nhưng nhìn chung giá trị thương hiệu  
đều được phân tích và đánh giá từ góc độ người tiêu dùng. Hầu hết các nhà nghiên cứu và quản trị marketing  
- thương hiệu đều cho rằng giá trị thương hiệu được hình thành từ những nỗ lực của hoạt động marketing  
(Lê Anh Cường và cộng sự, 2003). Do vậy, dù có những cách đánh giá khác nhau nhưng đều dựa trên một  
quan điểm cơ bản, đó là giá trị thương hiệu được xem như một giá trị gia tăng đóng góp vào giá trị của một  
sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá trị này là kết quả của những khoản đầu tư và nỗ lực không ngừng nghỉ trong  
hoạt động marketing đối với thương hiệu. Theo AMA (Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ), thương hiệu là tên, thuật  
ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc bất kỳ đặc điểm nào khác để xác định và hàng hóa hoặc dịch vụ của một  
người bán khác biệt với hàng hóa hoặc dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.  
Một trong những giá trị gần đúng đầu tiên được đưa ra bởi Farquhar (1989), định nghĩa: Giá trị của một  
thương hiệu là phần giá trị tăng thêm cho công ty và khách hàng của sản phẩm được gắn thương hiệu  
đó. Theo Nandan (2005), Giá trị thương hiệu có nguồn gốc từ công ty; hình ảnh thương hiệu đề cập đến  
nhận thức của người tiêu dùng. Giá trị thương hiệu là một tập hợp các tài sản mang tính vô hình gắn liền  
với tên và biểu tượng của một thương hiệu, nó góp phần làm tăng thêm (hoặc giảm) giá trị của một sản  
phẩm hoặc dịch vụ đối với công ty và các khách hàng của công ty (David Aaker,1996).  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
80  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
2.5. Lý thuyết nền  
Thuyết hành động hợp lý (TRA): Khách hàng hình thành ý định mua thì họ sẽ tự do hành động nhưng trong  
thực tế, hành động sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều từ môi trường bên ngoài. Thuyết TRA cho phép dự đoán và  
giải thích xu hướng để thực hiện hành vi bằng thái độ hướng đến hành vi của khách hàng.  
Thuyết hành vi dự định (TPB): Theo mô hình TPB, động cơ hay ý định là nhân tố thúc đẩy cơ bản của hành  
vi tiêu dùng. Xu hướng thực hiện hành vi dựa vào 3 yếu tố bởi ba tiền tố cơ bản là thái độ, chuẩn mực chủ  
quan và kiểm soát hành vi nhận thức. Những người có liên quan ảnh hưởng đến xu hướng hành vi của khách  
hàng và động cơ thúc đẩy khách hàng làm theo những ý kiến đóng góp của họ đưa ra trong suốt quá trình  
mà khách hàng có hành vi mua sắm. Sự tác động từ những người xung quanh đối với khách hàng sẽ có thể  
làm tăng hoặc giảm việc mua hàng của khách hàng.  
Thuyết chấp nhận công nghệ (TAM): Internet ngày càng phát triển, vì vậy sử dụng mô hình TAM vào việc  
giải thích việc sử dụng Internet để tương tác, tiếp cận với khách hàng là hoàn toàn hợp lý.  
3. KHUNG KHÁI NIỆM VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT  
Qua tham khảo và phân tích các mô hình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa FGC đến sự đồng  
cảm, các yếu tố của sự đồng cảm có tác động đến UGC và giá trị thương hiệu. Ngoài ra, nghiên cứu còn  
nhằm khám phá cách mọi người thể hiện sự quan tâm và đồng cảm qua UGC, cách UGC sử dụng sự đồng  
cảm tác động như thế nào và cách UGC, sự đồng cảm chuyển thành giá trị thương hiệu.  
Tác giả cho rằng FGC có thể ảnh hưởng tích cực đến sự đồng cảm của khách hàng vì những lý do sau: Đầu  
tiên, khách hàng được cung cấp thông tin sản phẩm không đầy đủ, sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của khách  
hàng trong việc đưa ra quyết định mua hàng. Do đó, bằng cách đóng vai trò là nhà cung cấp thông tin của  
công ty, tức là, thông báo cho khách hàng về thương hiệu hoặc các sản phẩm ngay lập tức và chính xác,  
FGC có thể cải thiện lòng tin của khách hàng, do đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng và kích thích chi tiêu của  
họ. Thứ hai, khách hàng có cơ hội tương tác với công ty giúp cho việc trao đổi thuận tiện hơn. Khách hàng  
có thể bày tỏ sự đồng cảm của mình bằng nhiều phương thức khác tạo ra đánh giá thương hiệu tích cực hơn  
cho công ty (Kumar và cộng sự, 2019), cuối cùng là kích thích sự mua hàng của khách hàng. Tác giả cho  
rằng ảnh hưởng của FGC đối với sự đồng cảm khách hàng là tích cực. Khách hàng có thể chủ động phản  
hồi với FGC và do đó tạo ra sự quen thuộc hơn và tạo ra nhiều đánh giá tích cực hơn về thương hiệu cho  
công ty (Kumar và cộng sự, 2019). Dựa trên nhận định trên, tác giả đề xuất giả thuyết sau:  
Giả thuyꢀt H1 : Nội dung tự tạo của công ty có tác động cùng chiều đꢀn sự đồng cảm  
Pino và cộng sự (2019) các bài đăng trên Facebook có video được chia sẻ nhiều hơn so với bài đăng không  
có video,mặc dù không thấy ảnh hưởng gì đến số lượt thích và bình luận. Mariani và cộng sự (2018) cho  
rằng việc bao gồm ảnh và video sẽ giúp khách hàng có thể cảm nhận được những gì mà công ty mang lại  
cho khách hàng từ đó thu hút sự tương tác của người dùng trên Facebook về lượt thích, lượt chia sẻ và nhận  
xét. Cuối cùng, Villamediana và cộng sự (2019a) hỗ trợ một phần những kết quả thực nghiệm, vì họ có  
được các bài đăng có video trong Facebook dẫn đến mức độ tương tác tích cực của người dùng cao hơn.  
Knafo, và cộng sự (2020) chỉ ra rằng sự đồng cảm ảnh hưởng tích cực đến hành vi xã hội. Do đó, bằng cách  
tạo ra nội dung khơi dậy động lực đạo đức như sự đồng cảm, người tiêu dùng có nhiều khả năng thực hiện  
hành động - tạo nội dung - chia sẻ, phản hồi và thúc đẩy thay đổi trong cộng đồng của họ. Dựa trên nhận  
định trên, tác giả đề xuất giả thuyết sau:  
Giả thuyꢀt H2 :Sự đồng cảm có tác động cùng chiều đꢀn nội dung tự tạo của người dùng.  
Ramon (2019) nhận thấy một hiệu ứng đáng kể về độ sống động của bài đăng dựa trên lượt tương tác, chia  
sẻ, vì khách hàng không còn quan tâm đến nội dung do thương hiệu tạo ra, họ muốn tham gia vào chuỗi giá  
trị của công ty thông qua nội dung đồng tạo như UGC. UGC cho phép các thương hiệu thỏa mãn “nhu cầu”  
ngày càng khắt khe của khách hàng bằng cách cho phép họ kết nối với những người khác trong không gian  
mạng và trao quyền cho họ bằng cái nhìn sâu sắc của người khác. Xem xét lượt tương tác, chia sẻ bài đăng  
của thương hiệu đó sẽ thúc đẩy giá trị mua hàng (Thornhill và cộng sự, 2017). Do đó, các trang thương  
hiệu, các bài đăng có những lượt chia sẽ, bày tỏ cảm xúc có giá trị tích cực (do người dùng tạo ra), chẳng  
hạn như niềm tự hào, lòng biết ơn, tình yêu, sự ngạc nhiên và niềm vui, sẽ đóng góp tăng giá trị thương  
hiệu. Dựa trên nhận định trên, tác giả đề xuất giả thuyết sau:  
Giả thuyꢀt H3 : Nội dung tự tạo của người dùng có tác động cùng chiều đꢀn giá trị thương hiệu.  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
81  
Oriol Iglesias (2019) cho rằng cảm giác tích cực đối với một thương hiệu cụ thể có thể ngăn cản việc tìm  
kiếm sự thay thế cho các nhãn hiệu. Những khách hàng có ý định chuyển đổi thấp và những người không  
tìm kiếm các nhãn hiệu thay thế có thể được coi là khách hàng trung thành với nhãn hiệu. Markovic và  
cộng sự (2018) xác định lòng trung thành thương hiệu về mặt khách hàng mong muốn giới thiệu thương  
hiệu đối với những người khác, sự ưa thích của khách hàng đối với thương hiệu này hơn thương hiệu khác  
và cảm giác gắn bó của khách hàng với thương hiệu. Trong số các nghiên cứu liên quan đến sự đồng cảm  
đối với giá trị thương hiệu, trong lĩnh vực thương hiệu dịch vụ công ty, Sierra và cộng sự (2017) nhận thấy  
rằng cam kết tình cảm của khách hàng đối với thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu.  
Šerić và cộng sự(2016) nhận thấy rằng cam kết tình cảm có một tác động tích cực đến giá trị thương hiệu  
vì thế có thể kỳ vọng rằng khi khách hàng cảm thấy được sự hài lòng với một thương hiệu cụ thể và phát  
triển sự gắn bó tình cảm mạnh mẽ với thương hiệu, giá trị thương hiệu sẽ tăng. Theo Mô hình Hành động -  
Nhận thức (PAM) về sự đồng cảm, phản ứng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc nhận biết và  
hình thành cảm xúc của người khác. Ngoài ra, đạo đức liên quan đến quảng cáo cũng nhấn mạnh danh tiếng  
của thương hiệu, duy trì nhận thức và nhận dạng của thương hiệu trên thị trường (Amofa và cộng sự, 2016)  
các thương hiệu có thể sử dụng nó trong việc định vị thương hiệu để tạo sự khác biệt với các đối thủ cạnh  
tranh. Dựa trên các lập luận trên, tác giả đặt ra giả thuyết như sau:  
Giả thuyꢀt H4 : Sự đồng cảm có có tác động cùng chiều đꢀn giá trị thương hiệu.  
Vì vậy, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:  
Nội dung tự tạo của  
người dùng  
Giá trị thương  
hiệu  
Nội dung tự tạo  
của công ty  
Sự đồng cảm  
H1  
H2  
H3  
H4  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ giả thuyꢀt nghiên cứu  
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
4.1 Đo lường  
Nghiên cứu sử dụng thang đo lường của các nghiên cứu trước đã kiểm định trong những bối cảnh khác  
nhau. Phỏng vấn sâu 05 chuyên gia trong lĩnh vực liên quan được thực hiện vào tháng 12/2019 nhằm đưa  
ra mô hình nghiên cứu và bảng thang đo hoàn chỉnh, phù hợp nhất với bối cảnh nghiên cứu. Kết quả cho  
thấy, cơ bản chấp thuận nội dung trong bản thảo câu hỏi điều tra. Tuy nhiên, một số câu hỏi chưa rõ ràng  
về nội dung, từ ngữ khó hiểu cũng như những khái niệm lý thuyết còn mới tại Việt Nam. Nhận được sự góp  
ý của các chuyên gia, tác giả đã hiệu chỉnh các thang đo và được trình bày trong bảng 1. Tất cả các thang  
đo cấu trúc được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm từ Hoàn toàn không đồng ý (1) đến Hoàn toàn đồng  
ý (5). Ngoài ra, có 6 câu hỏi liên quan đến độ tuổi, giới tính, thu nhập và nghề nghiệp.  
Bảng 1: Bảng thang đo được mã hóa  
Khái niệm và Biến quan sát  
Nguồn  
Nội dung tự tạo của công ty (FGC)  
FGC1. Tôi tham gia vào các trang mạng xã hội để giải trí và có thêm thông tin về sản Shergill & Chen, 2005  
phẩm mà thương hiệu mang lại  
FGC2. Độ dài các bài đăng trên mạng xã hội ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tương  
tác của tôi.  
Baltas và cộng sự, 2003  
FGC3. Các bài đăng sinh động, có hình ảnh, video sẽ thu hút tôi tương tác hơn.  
FGC4. Các quảng cáo trên mạng xã hội mang lại cho tôi các thông điệp giải trí  
FGC5. Tôi tìm kiếm thông tin trên những trang web có giao diện đẹp, bắt mắt  
FGC6. Tôi tìm kiếm thông tin trên trang web được nhiều người biết đến  
Sự đồng cảm (EM)  
Tafesse, 2015  
Mariani và cộng sự, 2018  
Cheung và cộng sự, 2009  
Awad & Ragowsky, 2008  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
82  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
EM1. Tôi cảm nhận được giá trị mang lại dựa vào quảng cáo hoặc nội dung được Zaki và Ochsner, 2012  
đăng bởi những khách hàng khác trên phương tiện truyền thông xã hội  
EM2. Tôi sẽ bộc lộ cảm xúc khi nghe đến sản phẩm, thương hiệu quen thuộc của Heimbach và Hinz, 2016  
mình và sẵn lòng chia sẻ, giới thiệu sản phẩm đến với người khác.  
EM3. Tôi luôn nhạy cảm với những thông tin trên mạng xã hội  
Tafesse, 2015  
EM4. Tôi cho rằng thông tin được cung cấp từ những kinh nghiệm có thật của người Zaki và Ochsner, 2012  
gửi khi họ đã hoặc đang sử dụng mạng xã hội  
Nội dung tự tạo của người dùng (UGC)  
UGC1. Tôi thường vào mạng xã hội để tìm kiếm thông tin sản phẩm và phản hồi của Smith và cộng sự, 2012  
khách hàng  
UGC2. Tôi thường mua một mặt hàng sau khi đã xem thông tin được chia sẻ về sản Smith và cộng sự, 2012  
phẩm bởi những người dùng khác trên mạng xã hội.  
UGC3. Tôi cho rằng thông tin được chia sẻ từ những kinh nghiệm có thật của người Thornhill và cộng sự, 2017  
gửi  
UGC4. Tôi tin tưởng vào những thông tin được chia sẻ từ những người có quan hệ Cheung và cộng sự, 2009  
gần gũi, quen biết  
UGC5. Những đóng góp của người dùng trên mạng xã hội về một sản phẩm hoặc Hassan và cộng sự, 2015  
một thương hiệu luôn công khai và tự nguyện  
Gía trị thương hiệu (BE)  
BE1. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng sản phẩm/dịch vụ của thương hiệu  
Sierra và cộng sự, 2017  
BE2. Tôi sẽ liên tưởng đến những điểm đặc trưng của thương hiệu khi thương hiệu David Aaker, 1991  
này được đề cập đến.  
BE3. Tôi sẽ giới thiệu thương hiệu của tôi đang sử dụng đến bạn bè và người thân  
BE4. Tôi sẽ tiếp tục sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mà thương hiệu mang lại  
BE5. Tôi có thể nhận ra nhanh chóng sản phẩm giữa các thương hiệu khác  
BE6. Tôi sẽ trung thành với sản phẩm/dịch vụ mà thương hiệu mang lại  
Yang và cộng sự, 2015  
Farquhar, 1989  
David Aaker, 1991  
David Aaker, 1991  
BE7. Sử dụng mạng xã hội để truyền tải thông tin đến người dùng sẽ giúp nâng cao Bruhn và cộng sự, 2012  
giá trị thương hiệu  
Nguồn: Tác giả tổng hợp và điều chỉnh từ nghiên cứu trước  
4.2 Thu thập dữ liệu  
Nghiên cứu sơ bộ thực hiện phỏng vấn trực tiếp 110 người tiêu dùng vào tháng 01/2020 và có 100 quan sát  
hợp lệ. Kết quả tất cả giá trị Cronbach’s Alpha của các khái niệm nằm trong khoảng từ 0.818 đến 0.861 lớn  
hơn 0.8, hệ số tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0.3. Vì vậy, tất cả thang đo đều đạt độ tin cậy tốt và cần  
thiết theo đề xuất của Hair và cộng sự (2006) và được tổng hợp cho nghiên cứu chính thức.  
Nghiên cứu chính thức thực hiện khảo sát thông qua phỏng vấn không trực tiếp bằng công cụ hỗ trợ Google  
forms, tiến hành phát mẫu khảo sát trên Internet, mạng xã hội,… Kết quả sau một thời gian điều tra bằng  
bảng khảo sát các khách hàng đã và đang sử dụng mạng xã hội. Tổng số phiếu điều tra phát ra 370 phiếu  
khảo sát và thu về 350 phiếu khảo sát hợp lệ. Đối tượng điều tra khảo sát là các khách hàng có sử dụng  
mạng xã hội để tìm hiểu, tương tác về thương hiệu/sản phẩm.Sau khi loại những phiếu không phù hợp (chọn  
đáp án ngẫu nhiên, không điền đầy đủ, chỉ điền 1 mức độ cho hầu hết câu hỏi), có 350 bảng hợp lệ được  
phân tích để đánh giá độ tin cậy, tính hợp lệ và tính phù hợp của giả thuyết.  
5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
5.1 Đặc điểm mẫu thống kê  
Kết quả nghiên cứu cho thấy người trả lời có đặc điểm chủ yếu:  
Khu vực sống: Tp. HCM (314 người, chiếm 89.7%); khu vực khác (36 người, chiếm 10.3%).  
Giới tính: nữ (204 người, chiếm 58.3%); nam giới (146 người, chiếm 41.7%).  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
83  
Độ tuổi: từ 18 đến dưới 35 tuổi (162 người, 46.3%); độ tuổi dưới 18 tuổi (83 người, 23.7%); độ tuổi từ 35  
đến 50 tuổi (77 người, 22%); độ tuổi trên 50 tuổi (28 người, 8%).  
Nghề nghiệp: học sinh, sinh viên (126 người, 36.0%), nhân viên văn phòng (100 người, 28.6%); buôn bán  
kinh doanh (65 người, 18.6%); nội trợ (34 người, 9.7%); nghề nghiệp khác (25 người, 7.1%).  
Thu nhập: từ 5 đến dưới 10 triệu đồng/tháng (142 người, 40.6%); dưới 5 triệu đồng ( 126 người, 36%); từ  
10 đến 20 triệu đồng (69 người, 19.7%); trên 20 triệu đồng (13 người, 3.7%)  
5.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Nhân tố “FGC” có 1 biến quan sát là FGC6 có hệ số tương quan biến tổng không đạt chuẩn 0.237<0.3.  
Nên tác giả tiến hành loại biến này ra và thực hiện lại. Kết quả thực hiện lại lần 2 sau khi đã loại bỏ biến FGC6:  
hệ số Cronbach’s Alpha = 0.841 > 0.8 và hệ số tương quan biến tổng của các biến đo lường đạt chuẩn (>0.3)  
nên thang đo đạt độ tin cậy tốt (Hair và cộng sự, 2006). Nhân tố “Sự đồng cảm”, “UGC”, “Giá trị thương  
hiệu” có hệ số Cronbach’s Alpha > 0.8, hệ số tương quan biến tổng của các biến đo lường đều đạt chuẩn  
(> 0.3). Vì vậy các thang đo đạt độ tin cậy tốt (Hair và cộng sự, 2006).  
Bảng 2: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Biến  
Tương quan Biến  
biến tổng  
Tương quan Biến  
biến tổng  
Tương quan Biến  
biến tổng  
Tương quan  
biến tổng  
0.665  
0.696  
0.681  
0.633  
0.486  
0.617  
0.608  
FGC1  
FGC2  
FGC3  
FGC4  
FGC5  
0.736  
0.693  
0.607  
0.613  
0.611  
EM1  
EM2  
EM3  
EM4  
0.656  
0.669  
0.575  
0.573  
UGC1  
0.719  
0.642  
0.574  
0.587  
0.628  
BE1  
BE2  
BE3  
BE4  
BE5  
BE6  
BE7  
BE  
UGC2  
UGC3  
UGC4  
UGC5  
FGC  
0.841  
EM  
0.803  
UGC  
0.831  
0.860  
Nguồn: Số liệu phân tích bằng Spss 20.  
5.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA  
Từ kết quả phân tích Ma trận mẫu trong kết quả EFA lần 1 cho thấy: Factor loading lớn nhất của biến quan  
sát BE5 là 0.430 nhỏ hơn 0.5. Do đó biến này không thỏa mãn tiêu chuẩn trên nên bị loại ra khỏi phân tích  
nhân tố. Loại BE5 ra và thực hiện tiếp phân tích nhân tố khám phá EFA lần 2. Kết quả phân tích cho thấy:  
Hệ số tải yếu tố của mỗi biến quan sát thể hiện các yếu tố đều lớn hơn 0.5, cho thấy tất cả các biến quan sát  
đều thể hiện được mối ảnh hưởng với các yếu tố mà các biến này biểu diễn  
Bảng 3: Kết quả phân tích EFA  
Biến  
Factor  
Biến Factor  
Biến  
Factor  
Biến Factor  
Loading  
Loading  
Loading  
Loading  
FGC1 0.743  
FGC2 0.805  
FGC3 0.741  
FGC4 0.686  
FGC5 0.629  
EM1 0.773  
EM2 0.794  
EM3 0.685  
EM4 0.590  
UGC1 0.846  
UGC2 0.731  
UGC3 0.600  
UGC4 0.616  
UGC5 0.716  
BE1 0.723  
BE2 0.748  
BE3 0.743  
BE4 0.712  
BE6 0.667  
BE7 0.647  
KMO  
Sig  
0.5 0.8811  
0.000 < 0.05  
Tổng phương 51.957% >50%  
sai trích  
Hệ  
số 1.135>1  
Eigenvalues  
Nguồn: Số liệu phân tích bằng Spss 20.0  
Các biến đều đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt được chấp nhận, hệ số KMO là 0.5 0.881 1 cho thấy  
rằng kết quả phân tích yếu tố là đảm bảo độ tin cậy. Bên cạnh đó, kiểm định Bartlett’s Test có giá trị Sig.  
= 0.000 < 0.05 thể hiện rằng kết quả phân tích yếu tố đảm bảo được mức ý nghĩa thống kê. Hệ số  
Eigenvalues =1.135>1 thì các biến quan sát đạt yêu cầu đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi  
nhân tố tạo thành. Hệ số tổng phương sai trích (Rotation Sums of Squared Loadings), Cumulative% là  
51.957% >50%, thể hiện rằng sự biến thiên của các yếu tố được phân tích có thể giải thích được 51.957%  
sự biến thiên của dữ liệu khảo sát ban đầu, đây là mức ý nghĩa ở mức khá (Hair và cộng sự, 2006).  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
84  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
5.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA - Confirmatory Factor Analysis)  
Kết quả phân tích cho thấy chỉ số Chi-  
square = 234.329; CMIN/DF = 1.429 (<  
3); CFI = 0.974 (<1); TLI = 0.970 (<1),  
GFI = 0.939 (<1) và RMSEA= 0.035  
(<0,08). Các chỉ số này đều thỏa mãn  
điều kiện phù hợp tốt, do đó có thể kết  
luận rằng mô hình đo lường phù hợp với  
dữ liệu thị trường (Byrne, 2001).  
Độ tin cậy tổng hợp (CR) có ý nghĩa khi  
có giá trị lớn hơn 0.7 và tổng phương sai  
rút trích (AVE) có ý nghĩa khi có giá trị  
trên 0.5. Thang đo được đánh giá là đáng  
tin cậy khi độ tin cậy tổng hợp CR > 0.7  
và tổng phương sai rút trích AVE > 0.5. Theo bảng kết quả sau đây, hầu hết Trung bình phương sai trích  
(AVE) của các yếu tố đều lớn hơn 0.5 và độ tin cậy tổng hợp (CR) đều lớn hơn 0.7. Suy ra có thể kết luận  
mô hình đo lường đạt yêu cầu về độ tin cậy. (Hair & cộng sự 2006; Nunnally, 1978). Hình 2: Kết quả phân  
tích nhân tố khẳng định CFA chuẩn hóa  
Bảng 4: Tổng hợp hệ số tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích được  
Thành phần  
CR  
BE  
FGC  
0.847  
0.528  
UGC  
0.833  
0.502  
EM  
0.859  
0.504  
0.806  
0.511  
AVE  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
Tính đơn hướng  
Theo Steenkamp & Van Trijp (1998), mức độ phù hợp với mô hình với dữ liệu thị trường cho chúng ta điều  
kiện cần và đủ để cho tập biến quan sát đạt được tính đơn hướng trừ trường hợp sai số của các biến quan  
sát có tương quan với nhau. Từ kết quả thu được, mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường và  
không có tương quan giữa các sai số đo lường nên có thể kết luận nó đạt tính đơn hướng.  
Kiểm định giá trị hội tụ  
Thang đo được xem là đạt giá trị hội tụ khi các trọng số chuẩn hóa của các thang đo lớn hơn 0.5 và có ý  
nghĩa thống kê (Gerbring & Anderson, 1988; Hair & cộng sự, 2006). Sau khi thực hiện CFA bằng AMOS  
kết quả cho thấy tất cả các biến quan sát đều có trọng số có giá trị lớn hơn 0.5, các giá trị P-value đều nhỏ  
hơn 0.05 tức có ý nghĩa thống kê. Từ các kết quả trên có thể kết luận thang đo đạt được giá trị hội tụ.  
Bảng 5: Hệ số chuẩn hóa  
Hệ số chuẩn hóa P-value  
Hệ số chuẩn hóa  
<--- FGC 0.670  
P-value  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
BE3  
BE2  
BE1  
BE4  
BE6  
BE7  
<--- BE  
<--- BE  
<--- BE  
<--- BE  
<--- BE  
<--- BE  
0.747  
0.764  
0.719  
0.678  
0.679  
0.669  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
FGC5  
UGC1  
UGC2  
UGC5  
UGC4  
UGC3  
EM2  
<--- UGC 0.813  
<--- UGC 0.703  
<--- UGC 0.722  
<--- UGC 0.656  
<--- UGC 0.634  
FGC2 <--- FGC 0.778  
FGC3 <--- FGC 0.661  
FGC1 <--- FGC 0.854  
FGC4 <--- FGC 0.645  
<--- EM  
<--- EM  
<--- EM  
<--- EM  
0.777  
0.772  
0.642  
0.659  
EM1  
EM3  
EM4  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
85  
Giá trị phân biệt  
Bảng 6: Hệ số tương quan giữa các khái niệm  
r (estimate)  
0.352  
SE  
CR  
P-value  
BE  
BE  
BE  
< -- > UGC  
< -- > FGC  
0.050  
0.048  
0.051  
0.049  
0.050  
0.046  
12.915 0.000  
0.433  
11.734  
13.946  
12.154  
12.562  
10.555  
0.000  
< -- >  
EM  
0.283  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
UGC < -- > FGC  
0.404  
UGC < -- >  
FGC < -- >  
EM  
EM  
0.376  
0.515  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
Dựa vào kết quả phân tích ta thấy: Hệ số tương quan giữa các khái niệm thành phần r<0.9; P-value đều  
<0.05 nên hệ số tương quan của từng cặp khái niệm khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%. Do đó kết luận  
rằng các khái niệm đạt được giá trị phân biệt (Nguyễn Khánh Duy, 2009).  
5.6 Phân tích và kiểm định mô hình nghiên cứu  
Sau khi phân tích mô hình cấu trúc  
tuyến tính SEM, kết quả phân tích  
cho thấy chỉ số Chi-square=  
271.284; CMIN/DF = 1.634 (< 3);  
CFI = 0.961(<1); TLI = 0.956(<1),  
GFI = 0.930 (<1) và RMSEA=  
0.043(<0.08). Các chỉ số này đều  
thỏa mãn điều kiện phù hợp tốt, do  
đó có thể kết luận rằng mô hình đo  
lường phù hợp với dữ liệu thị  
trường. (Byrne, 2001).  
Hình 3: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM  
Để đánh giá tính bền vững của mô hình lý thuyết, phương pháp phân tích Bootstrap được sử dụng. Đây là  
phương pháp lấy mẫu lặp lại có thay thế từ mẫu ban đầu, trong đó mẫu ban đầu đóng vai trò đám đông  
(Nguyễn Khánh Duy, 2009). Trong nghiên cứu này, tác giả chọn số lần lấy mẫu lặp lại khi chạy kiểm định  
boostrap là 1000. Theo phương pháp kiểm tra Bootstrap, tác giả so sánh giá trị cột CR (Bias/SE- Bias) với  
1,96 (do 1,96 là giá trị phân phối chuẩn ở mức 0.9750, nghĩa là 2.5% một phía, 2 phía sẽ là 5%). Nếu P-  
value < 5% thì kết luận là giả thuyết Bias khác 0 có ý nghĩa thống kê. Do giả thuyết H0: Bias = 0, H1 =  
Bias <> 0. Nếu giá trị CR > 1.96 thì suy ra P-value < 5%, chấp nhận H1, kết luận độ lệch khác 0 có ý nghĩa  
thống kê ở mức tin cậy 95%. Nếu giá trị CR < 1.96 thì suy ra P-value > 5%, bác bỏ H1, chấp nhận H0, kết  
luận độ lệch khác 0 không có ý nghĩa thông kê ở mức tin cậy 95%, và như thế ta kết luận được mô hình  
ước lượng có thể tin cậy được.  
Bảng 7: Phân tích Boostrap  
SE  
SE-SE  
0.002  
0.001  
0.002  
0.002  
Mean  
0.545  
0.404  
0.215  
0.265  
Bias  
SE-Bias  
C.R  
EM  
UGC  
BE  
<---  
<---  
<---  
<---  
FGC  
EM  
0.069  
0.064  
0.092  
0.08  
-0.001 0.002  
-0.001 0.002  
-0.001 0.003  
-0.5  
-0.5  
EM  
-0.33333  
0.333333  
BE  
UGC  
0.001  
0.003  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
Từ kết quả trên, ta nhận thấy được giá trị của CR (trị tuyệt đối) hầu hết rất nhỏ (<1.96), hay nói cách khác  
kết quả ước lượng từ mẫu ban đầu được tính trung bình và giá trị này có xu hướng gần với ước lượng của  
tổng thể, kết quả độ chệch của ước lượng (bias) và sai lệch chuẩn của nó có giá trị nhỏ và ổn định. Do đó,  
ta có thể kết luận các ước lượng trong mô hình SEM sau hiệu chỉnh là tin cậy được.  
Phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
86  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
Sau khi kiểm tra tính tương thích của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thị trường. Các giả thuyết nghiên cứu  
được đưa vào kiểm tra. Trong nghiên cứu này, có 5 giả thuyết được đặt ra và kiểm định bằng mô hình cấu  
trúc tuyến tính SEM. Căn cứ vào kết quả phân tích ở bảng sau đây, giá trị P-values của các mối quan hệ  
đều nhỏ hơn 0.05. Vì vậy, những giả thuyết nghiên cứu này được chấp nhận. Dấu của mối quan hệ đều có  
hệ số hồi quy đều là dấu dương, do đó khẳng định các mối quan hệ này theo hướng tích cực.  
Bảng 8: Hệ số hồi quy chuẩn hóa  
Hệ số hồi quy chưa Hệ số hồi quy  
Giả thuyết  
Mối tương quan  
S.E.  
C.R.  
P
chuẩn hóa  
chuẩn hóa  
H1  
H2  
H3  
H4  
EM  
<---  
<---  
<---  
<---  
FGC  
EM  
0.501  
0.546  
0.060 8.281  
0.072 6.203  
0.059 3.859  
0.065 3.148  
***  
UGC  
BE  
0.444  
0.405  
***  
UGC 0.228  
EM 0.205  
0.264  
***  
BE  
0.217  
0.002  
(Chú thích: *** <0,001)  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
Bảng 9: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu  
Giả thuyết  
P_value Kết quả  
H1. Nội dung tự tạo của công ty có ảnh hưởng tích cực đến sự đồng cảm  
H2. Sự đồng cảm có ảnh hưởng tích cực đến nội dung tự tạo của người dùng  
H3. Nội dung tự tạo của người dùng có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu  
H4. Sự đồng cảm có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu  
***  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
***  
***  
0.002  
Nguồn: Tổng hợp từ kꢀt quả phân tích SEM  
Dựa trên kết quả kiểm định các giả thuyết và mối quan hệ tác động trực tiếp, gián tiếp của các yếu tố trong  
mô hình SEM cho thấy:  
Nội dung tự tạo của công ty: ảnh hưởng trực tiếp và tích cực yếu tố sự đồng cảm với β = 0,546, p < 0,05.  
Bên cạnh đó, thông qua yếu tố sự đồng cảm, thì yếu tố nội dụng tự tạo của công ty cũng tác động gián tiếp  
đến yếu tố nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu với hệ số tác động gián tiếp lần lượt là  
0.221 và 0.177. Qua đây có thể cho thấy tầm quan trọng của nội dung tự tạo của công ty trong việc tác động  
trực tiếp và cũng như gián tiếp đến các yếu tố khác, thông qua đó làm tăng giá trị thương hiệu.  
Sự đồng cảm: Có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến nội dung tự tạo của người dùng, giá trị thương hiệu.  
Theo đó, với nội dung tự tạo của người dùng có hệ số β = 0,405, p < 0,05 và giá trị thương hiệu có hệ số β  
= 0,217, p < 0,05. Bên cạnh đó, sự đồng cảm còn tác động gián tiếp đến giá trị thương hiệu với hệ số tác  
động là 0.107. Vậy tổng tác động của sự đồng cảm tác động đến giá trị thương hiệu là 0.324. Theo đó, đây  
là nhân tố tác động mạnh nhất đến giá trị thương hiệu. Đây là cơ sở quan trọng, để tác giả căn cứ đưa ra  
giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa giá trị thương hiệu của công ty thông qua sự đồng cảm.  
Nội dung tự tạo của người dùng: Có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực yếu tố giá trị thương hiệu với β = 0,264,  
p < 0,05. Qua đây cho thấy tầm quan trọng của người dùng trong việc tham gia, chia sẽ và cũng như đóng  
góp của người dùng nhằm nâng cao giá trị thương hiệu của công ty.  
6. KẾT LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI  
6.1 Đóng góp về mặt lí thuyết:  
Các nghiên cứu về sự đồng cảm, giá trị thương hiệu ở Việt Nam hiện vẫn còn rất mới. Đặc biệt là trong  
lĩnh vực nội dung tự tạo của công ty, nội dung tự tạo của người dùng. Thông qua phân tích liên quan một  
cách có hệ thống, tác giả đề xuất mối quan hệ trực tiếp giữa nội dung tự tạo của công ty và sự đồng cảm,  
mối quan hệ trực tiếp sự đồng cảm và giá trị thương hiệu. Đồng thời, nghiên cứu này so sánh mối quan hệ  
gián tiếp giữa sự đồng cảm và giá trị thương hiệu thông qua nội dung tự tạo của người dùng.  
Bước tiếp theo sau khi xây dựng giả thuyết và mô hình hóa là kiểm định giả thuyết trong bối cảnh Việt  
Nam. Thang đo nội dung tự tạo của công ty, thang đo sự đồng cảm, thang đo nội dung tự tạo của người  
dùng và thang đo giá trị thương hiệu sẽ được tìm hiểu chi tiết trong nghiên cứu tại Việt Nam. Mô hình trong  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
87  
nghiên cứu này là mô hình được áp dụng tại Việt Nam. Mô hình này sẽ tạo tiền đề cho các nghiên cứu khác  
ở Việt Nam nói chung và trên thế giới trong việc nghiên cứu về nội dung tự tạo của công ty, sự đồng cảm,  
nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu.Nghiên cứu này hỗ trợ thêm cho lý thuyết về nội  
dung tự tạo của công ty, sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu. Ngoài ra, mô  
hình của nghiên cứu cung cấp cho các nhà nghiên cứu khác các nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều bối  
cảnh nghiên cứu khác nhau. Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo trong tương lai, công ty sẽ biết  
được tác động trực tiếp của sự đồng cảm hoặc tác động gián tiếp của sự đồng cảm đến giá trị thương hiệu  
thông qua nội dung tự tạo của người dùng. Từ đo, cần phát triển hình thức quảng cáo, kết nối với khách  
hàng thông qua các trang web, mạng xã hội.  
6.2 Đóng góp về ngành Quản trị:  
Các công ty nên sử dụng mạng xã hội để tạo các trang web, fanpage sao cho bắt mắt, sinh động, dùng những  
câu slogan ngắn gọn, ý nghĩa giúp cho khách hàng nhận biết nhanh về sản phẩm/thương hiệu của mình.  
Đồng thời các hoạt động trên website, fanpage phải mạnh mẽ và thường xuyên có các hoạt động quảng cáo,  
xúc tiến và tri ân khách hàng. Cung cấp cho khách hàng những thông tin hữu ích và chính xác về sản phẩm  
hay những dịch vụ mà doanh nghiệp mang lại, từ đó giúp khách hàng dễ dàng chọn lọc những thông tin,  
sản phẩm mà họ cảm thấy phù hợp và tốt nhất. Các công ty cũng cần chú ý đến hình thức và cách trang trí  
của trang web, giao diện trang web nên bắt mắt, trang nhã và các thông tin, các chuyên mục nên được hiển  
thị rõ ràng, dễ tìm thấy để những người truy cập không cảm thấy bất tiện hoặc trang web khó sử dụng, chú  
trọng vào phương thức mua, thanh toán, chăm sóc khách hàng, mô tả đầy đủ chính sách đổi trả, hậu mãi và  
hướng dẫn bảo quản sản phẩm. Thêm vào đó mô hình thanh toán trực tuyến cần đa dạng, tạo sự thuận lợi  
cho việc mua hàng và trải nghiệm dịch vụ của khách hàng thông qua các phương tiện điện tử. Bên cạnh đó,  
cần đưa ra chiến lược chiêu thị đa dạng nhằm phát triển thương hiệu, áp dụng chiến lược đa dạng hóa sản  
phẩm nhằm tăng cường lợi thế cạnh tranh cũng như tận dụng sức mạnh truyền thông qua Facebook, Tiktok  
để xây dựng hình ảnh thương hiệu phát triển lâu dài. Quảng cáo trực tuyến trên các nền tảng, tổ chức các  
chương trình khuyến mãi vào các thời điểm nhất định nhằm tạo và nâng hình ảnh thương hiệu. Nâng cao  
chăm sóc khách hàng thông qua việc trả lời các phản hồi một cách trực tiếp nhằm tạo phản ứng tốt nhất đối  
với các cấp khách hàng.  
6.3 Hạn chế của nghiên cứu  
Tuy đạt được kết quả nhưng đề tài vẫn còn những hạn chế như sau: Thứ nhất, kết quả nghiên cứu có thể bị  
hạn chế theo địa phương vì dữ liệu phân tích khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ rất cao  
(89.7%). Thứ hai, phương pháp chọn mẫu được lựa chọn là phương pháp chọn mẫu phi xác suất và vì vậy  
có những hạn chế tự nhiên khi muốn khái quát hóa dữ liệu. Thứ ba, kích thước mẫu được chọn để nghiên  
cứu vẫn còn nhỏ so với tổng thể nghiên cứu, điều này cũng có thể ảnh hưởng không tốt đến độ tin cậy của  
kết quả nghiên cứu. Với hạn chế nêu trên, mong rằng những tác giả khác sẽ có thể thực hiện những nỗ lực  
nghiên cứu sâu hơn trong tương lai và giải quyết những điểm chưa tốt còn tồn tại trong nghiên cứu này  
nhằm đóng góp vào sự phát triển chung của lĩnh vực tiếp thị, đặc biệt là lĩnh vực tiếp thị trên Internet.  
6.4 Định hướng nghiên cứu tiếp theo  
Trong tương lai, nếu có điều kiện phát triển nghiên cứu này thì cần chú ý đến một số vấn đề sau:  
Thứ nhất gia tăng kích thước mẫu và phạm vi nghiên cứu để thu hồi kết quả mang tính đại diện mẫu, độ  
chính xác cao và có thể đề xuất hàm ý quản trị mang tính thực tế và ứng dụng ngay vào thực tiễn.  
Thứ hai xem xét đưa thêm một số nhân tố khác mà được cho là có tác động đến nội dung tự tạo của công  
ty, sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng, giá trị thương hiệu.  
Thứ ba tác giả cần tìm hiểu và thiết kế thang đo thành phần cho từng biến khảo sát.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Aaker, D. A. (1996). Measuring brand equity across products and markets. California Management Review,  
38(3), 102–120  
2. Aaker, D. A. (1991). Managing brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. Journal of Business  
Research, 29(3), 247–248.  
3. Amofa, F.; Rachel, Y.; Petrovici, D.; Fearne, (2016), A. Towards a framework for understanding Fairtrade  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
88  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
purchase intention in the mainstream environment of supermarkets. Journal of Business Ethics, 136(1), 181–197  
4. Awad, N. F., & Ragowsky, A. (2008). Establishing trust in electronic commerce though online word of mouth:  
An examination across genders. Journal of Management Information Systems, 101-121  
5. Baltas, G. (2003). Determinants of Internet advertising effectiveness: An empirical study. International Journal  
of Market Research, 45(4), 1–9.  
6. Byrne, M. (2001). Data analysis strategies for qualitative research. AORN Journal, 74(6), 904–905.  
7. Bruhn, M., Schoenmueller, V., Schäfer, D.B., 2012. Are social media replacing traditional media in terms of  
brand equity creation? Management Research Review, 35 (9), 770–790.  
8. Cheung, M. Y., Luo, C., Sia, C. L., & Chen, H. (2009). Credibility of electronic word-of-mouth: Informational  
and normative determinants of online consumer recommendations. International journal of electronic commerce,  
9-38.  
9. Daugherty, T., Eastin, M. S., & Bright, L. (2008), Exploring Consumer Motivations for Creating User-Generated  
Content. Journal of Interactive Advertising, 8(2), 16–25.  
10. Farquhar, P. H. (1989), Managing brand equity, Marketing Research, 1(1), 24-33.  
11. Gerbing W.D. & Anderson, J.C (1988), “An update paradigm for scale development incorporating  
unidimensionality and its assessment”, Journal of Marketing Research, 25(2), 186-192  
12. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. L. (2006). Multivariate data  
analysis (6th ed.). Upper Saddle River, NJ: Pearson University Press.  
13. Hair, M. L., & Bond, S. D. (2018). Attribute dismissal and valence effects in preferential decision processing.  
Journal of Behavioral Decision Making, 31(1), 164–178  
14. Hassan, S., Nadzim, S. Z. A., & Shiratuddin, N. 2015. Strategic Use of Social Media for Small Business Based  
on the AIDA Model. Procedia - Social and Behavioral Sciences, 172, 262–269  
15. Heimbach, I., & Hinz, O. (2016). The impact of content sentiment and emotionality on content virality.  
International Journal of Research in Marketing, 33(3), 695–701  
16. Hoffman, E., McCabe, K. and Smith, V. L., 2011. The impact of exchange context on the activation of equity in  
ultimatum games. Experimental Economics, 3, 5-9.  
17. Kaplan, A. M., & Haenlein, M. (2012). Social Media: Back to the Roots and Back to the Future. Journal of  
Systems and Information Technology, 14(2), 101–104.  
18. Krumm, J., Davies, N., & Narayanaswami, C. (2008a), User-generated content. IEEE Pervasive Computing, 7(4),  
10–11.  
19. Kumar, A., Colicev, A., & O’Connor, P. (2018). Modeling the relationship between firm and user generated  
content and the stages of the marketing funnel. International Journal of Research in Marketing, 36(1), 100-116.  
20. Lê Anh Cường và cộng sự (2003), Tạo dựng & Quản trị Thương hiệu - Danh tiꢀng - Lợi nhuận. NXB Lao động  
xã hội.  
21. Lovett, B. J., & Sheffield, R. A. (2007), Affective empathy deficits in aggressive children and adolescents: a  
critical review. Clinical Psychology Review, 27, 1-13.  
22. Mariani, M. M., Mura, M., & Di Felice, M. (2018). The determinants of Facebook social engagement for national  
tourism organizations’ Facebook pages: A quantitative approach. Journal of Destination Marketing &  
Management, 8, 312–325.  
23. Markovic, S., Iglesias, O., Singh, J. J., & Sierra, V. (2018). How does the perceived ethicality of corporate  
services brands influence loyalty and positive word-of-mouth? Analyzing the roles of empathy, affective  
commitment, and perceived quality. Journal of Business Ethics, 148(4), 721–740.  
24. Nandan, S. (2005), An exploration of the brand identity-brand image linkage: A communications perspective.  
Journal of Brand Management, 12(4), 264-278.  
25. Nguyễn Đình Thọ. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học kinh doanh. NXB Lao động xã hội.  
26. Nguyễn Đức Lộc. (2015). Giáo trình Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính. NXB. ĐHQG-HCM  
27. Nguyễn Khánh Duy (2009), Bài giảng thực hành mô hình cấu trúc tuyꢀn tính (SEM) với phần mềm AMOS  
28. Nunnally, J. C. (1978). Psychometric Theory (2nd ed). New York: McGraw-Hill.  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA CÔNG TY, SỰ ĐỒNG CẢM,  
NỘI DUNG TỰ TẠO CỦA NGƯỜI DÙNG VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU  
89  
29. Oriol Iglesias , Stefan Markovic, Josep Rialp (2019), How does sensory brand experience influence brand equity?  
Considering the roles of customer satisfaction, customer affective commitment, and employee empathy. Journal  
of Business Research, 96, 334-354  
30. Pino, G., Peluso, A. M., Del Vecchio, P., Ndou, V., Passiante, G., & Guido, G. (2019). A methodological  
framework to assess social media strategies of event and destination management organizations. Journal of  
Hospitality Marketing & Management, 28(2), 189–216.  
31. Šerić, M., Mikulić, J., & Gil-Saura, I. (2016). Exploring relationships between customerbased brand equity and  
its drivers and consequences in the hotel context. An impactasymmetry assessment. Current Issues in Tourism,  
1–23  
32. Shergill, G. S., & Chen, Z. 2005. Web-Based Shopping : Consumers ’ Attitudes Towards Online Shopping in  
New Zealand. Journal of Electronic Commerce Research, 6(2).  
33. Sierra, V., Iglesias, O., Markovic, S., & Singh, J. J. (2017). Does ethical image build equity in corporate services  
brands? The influence of customer perceived ethicality on affect, perceived quality, and equity. Journal of  
Business Ethics, 144(3), 661–676.  
34. Smith, A.N., Fischer, E., Yongjian, C., 2012. How does brand-related user-generated content differ across  
YouTube, Facebook, and Twitter? Journal of Interactive Marketing, 26 (2), 102–113  
35. Steenkamp, J. E. M., & Baumgartner, H. (1998). Assessing measurement invariance in cross-national consumer  
research. Journal of Consumer Research, 25(1), 78–90.  
36. Tafesse, W. (2015). Content strategies and audience response on Facebook brand pages. Marketing Intelligence  
& Planning, 33(6), 927–943  
37. Tang, T., Fang, E., & Wang, F. 2014, Is neutral really neutral? The effects of neutral usergenerated content on  
product sales. Journal of Marketing, 78(4), 41–58.  
38. Thornhill, M., Xie, K., Lee, Y.J., 2017. Social media advertising in a competitive market: effects of earned and  
owned exposures on brand purchase. Journal of Hospitality and Tourism Technology, 8 (1), 87–100.  
39. Villamediana, J. D., Vila, N., & Küster, I. (2019a). Secrets to design an effective message on Facebook: An  
application to a touristic destination based on big data analysis. Current Issues in Tourism, 22(15), 1841–1861.  
40. Villamediana, J. D., Vila, N., & Küster, I. (2019b). Destination engagement on Facebook: Time and seasonality.  
Annals of Tourism Research, 79, 102747.  
41. Yang, Y., Liu, X., & Li, J. (2015). How customer experience affects the customer-based brand equity for tourism  
destinations. Journal of Travel & Tourism Marketing, 32(1), 97–113.  
42. Zaki, J., Ochsner K.N., 2012. The neuroscience of empathy: progress, pitfalls and promise. Nature Neuroscience,  
15, 675-680  
Ngày nhận bài: 06/05/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 23/07/2021  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 13 trang Thùy Anh 13060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa nội dung tự tạo của công ty, sự đồng cảm, nội dung tự tạo của người dùng và giá trị thương hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_moi_quan_he_giua_noi_dung_tu_tao_cua_cong_ty_su_d.pdf