Ngành dệt may: Phân tích giá thành - Thực trạng giải pháp

NGÀNH DỆT MAY: PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH  
THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP  
Trịnh Bảo Trân, Đoàn Minh Trí, Trương Yến Khương,  
Nguyễn Hoàng Anh, Đoàn Minh Trí, Lê Kim Xuân  
Khoa Tài chính – Thương mại, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: PGS.TS. Tr n Văn Tùng, Ngô Ngọc Nguyên Thảo  
TÓM TẮT  
Giá thành được hiểu là hao phí bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá, kết  
tinh vào gía trị của thành phẩm. Các doanh nghiệp với đặc thù là doanh nghiệp sản xuất luôn  
quan tâm đến giá thành, đây được coi là toàn bộ chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để hình thành  
sản phẩm, nếu giá thành càng lớn chứng tỏ chi phí bỏ ra lớn, ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản  
phẩm, định giá bán của sản phẩm. Vai trò của giá thành càng quan trọng hơn trong nền kinh tế  
có sự hội nhập sâu rộng, vượt ra khỏi lãnh thổ của doanh nghiệp đó. Vậy để tồn tại và phát triển  
trong thời kỳ hội nhập, doanh nghiệp cần tìm ra những phương pháp để quản lý giá thành sao  
cho giá thành càng thấp càng có hiệu quả. Đó cũng chính là mối quan tâm của các doanh  
nghiệp trong ngành may mặc, với đặc thù là doanh nghiệp sản xuất cung cấp các sản phẩm  
thiết yếu cho đời sống, cung cấp sản phẩm ra thị trường quốc tế thì tính chất phức tạp của giá  
thành lại càng lớn. Công cụ phân tích về giá thành ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh  
nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp ngành may mặc nói riêng. Bài viết xin đề cập đến  
giá thành trong ngành may mặc và các phương pháp phân tích giá thành phục vụ cho quá trình  
quản lý của các doanh nghiệp may mặc.  
Từ khoá: Giá thành, phân tích, may mặc…  
1 TỔNG QUAN  
Giá thành sản phẩm là toàn bộ những chi phí tính bằng tiền để sản xuất và tiêu thụ một khối  
lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Hay nói cách khác, giá thành sản phẩm dịch vụ là hao phí  
về lao động sống và lao động vật hóa cho một đơn vị khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ nhất định  
biểu hiện bằng tiền. Có thể nói giá thành là một chỉ tiêu phản ánh toàn diện chất lượng họat động  
của doanh nghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản  
trị v.v. Giá thành sản xuất bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và  
chi phí sản xuất chung, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động mà chi phí được tập hợp và theo dõi  
theo từng thông tư riêng cụ thể là thông tư 200 và thông tư 133, trong đó chi phí nguyên vật liệu trực  
tiếp và chi phí nhân công trực tiếp được tính một lần vào giá trị thành phẩm, riêng chi phi sản xuất  
chung cần phân bổ theo từng kỳ kinh doanh. Để quản lý về giá thành, giá thành được chia làm  
nhiều loại từ giá thành toàn bộ, giá thành kế hoạch hay giá thành định mức. Nhiệm vụ chính của  
giá thành dùng xác định toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến quá trình sản xuất và định giá bán  
1361  
của sản phẩm. Do đó, việc quản lý giá thành sao cho hạ giá thành là nhiệm vụ quan trọng của nhà  
quản trị doanh nghiệp. Việc hạ gía thành làm nâng cao tính cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng  
ngành trong nước và nước ngoài, giúp doanh nghiệp tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm, hạn chế tồn  
kho, tăng tính bền vững và ổn định trên thị trường cũng như góp phần tăng vốn kinh doanh cho  
doanh nghiệp.  
Trong thời kỳ trước của nền kinh tế, việc quản lý gía thành đôi khi không phải là nhiệm vụ cần  
phải quan tâm đặc biệt trong nền kinh tế bao cấp, sự che chở của Nhà nước làm cho các doanh  
nghiệp sản xuất luôn cảm thấy được an toàn, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không cao,  
việc kinh doanh lãi hay lỗ không đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên khi nền kinh tế bao cấp  
chuyển sang hình thái thị trường, bắt đầu hội nhập việc các doanh nghiệp phải tự thân vận động  
và làm quen với tình trạng thua lỗ, rơi vào tình trạng phá sản làm cho các doanh nghiệp cần thiết  
lập lại bộ máy của doanh nghiệp từ cấp cao đến cấp cơ sở, tiến hành phân chia công việc một  
cách rõ ràng thành từng bộ phận từng mảng công việc, từ đó việc quản lý về giá thành càng trở  
nên cần thiết hơn bao giờ hết phục vụ cho phương châm tồn tại của doanh nghiệp “Tối đa hoá lợi  
nhuận và tối thiểu hoá chi phí”. Để có hiệu quả, nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện các phương  
pháp nhằm quản lý đánh giá về giá thành như quan sát, ghi chép, tính toán và phân tính đưa ra  
các nhận định. Đối với công tác phân tích, mục đích chính là đánh giá chung tình hình giá thành  
và thực hiện phân tích về nhiệm vụ hạ giá thành của các sản phẩm. Mỗi doanh nghiệp sản xuất  
khác nhau phương pháp phân tích đánh giá khác nhau, trong bài viết xin đề cập đến các doanh  
nghiệp ngành may mặc.  
Theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam, tính đến năm 2019, tổng số doanh nghiệp dệt may  
cả nước đạt 6,000 doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp gia công hàng may mặc là  
5,101 doanh nghiệp (chiếm 85%); Số lượng doanh nghiệp sản xuất vải, nhuộm là 780 doanh  
nghiệp (chiếm 13%); Số lượng sản xuất chế biến xơ, sợi là 119 doanh nghiệp (chiếm 2%). Một số  
doanh nghiệp có sự phát triển mạnh như Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Công ty May Việt Tiến, Dệt  
may Thành Công; dệt may Phong Phú… Có thể thấy việc tăng trưởng cả về chất lượng và số  
lượng doanh nghiệp ngành may mặc đang tạo ra lợi thế lớn trên cuộc đua với các doanh nghiệp  
cùng ngành ở thị trường nước ngoài dẫn chứng cụ thể dựa theo Tổng cục Thống kê, tổng kim  
ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong năm 2019 đạt 30.4 tỷ USD, tăng 16.6% so với năm 2018.  
Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu đến từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 59.9% tổng giá trị.  
Về thị trường xuất khẩu chủ lực trong năm 2019, Mỹ và EU tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch xuất  
khẩu trong năm lần lượt tăng 13.7% và 10.5%. Trong khi đó, tại Nhật và Hàn Quốc, hàng dệt may  
Việt Nam đang tiến tới vị trí dẫn đầu tại 2 thị trường này với kim ngạch xuất khẩu 2018 lần lượt  
tăng 24.8% và 32.6% Theo số liệu của ITC, Việt Nam đứng thứ 4 về giá trị xuất khẩu hàng dệt may  
nhờ lợi thế nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, Việt Nam đang dần mất lợi thế chi phí nhân công giá rẻ,  
theo đó, chi phí nhân công tại các nhà máy tại Việt Nam chiếm trung bình 26 – 30%, trong khi tại  
Bangladesh chỉ khoảng 20%. Trong năm 2020, dự kiến lương cơ bản sẽ tăng 5 – 8% cũng sẽ góp  
phần tạo gánh nặng cho doanh nghiệp. Dựa trên những nhận định đánh giá và thành quả của  
ngành may mặc Việt Nam tiếp tục hướng đến Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)  
kỳ vọng sẽ kết thúc đàm phán trong năm 2020. Đây là hiệp định với sự tham gia của 6 quốc gia  
1362  
mà  SE N có thỏa thuận thương mại tự do bao gồm  c, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc  
và New Zealand, với tổng đóng góp từ 6 quốc gia này đến tổng xuất nhập khẩu dệt may của Việt  
Nam trong năm 2018 là 57%. Nếu hiệp định được thông qua sẽ không chỉ hỗ trợ đẩy mạnh xuất  
khẩu, mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên phụ liệu giá rẻ (Trung Quốc  
và Hàn Quốc là 2 nước xuất khẩu nguyên vật liệu dệt may nhiều nhất cho Việt Nam). Bên cạnh  
những thành quả đạt được, ngành dệt may luôn đứng trước những thách thức, khó khăn đặc biệt  
là bài toán về chi phí đầu vào liên quan đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp  
và chi phí sản xuất chung. Trước những quy định về các Hiệp định đã ký kết việc tuân thủ theo  
những yêu cầu về nguyên vật liệu bắt đầu từ sợi trở nên khắt khe hơn…  
Vậy các doanh nghiệp ngành Dệt may cần có những phương án kinh doanh trước những yêu cầu  
của các Hiệp định sao cho vừa tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí. Để làm được điều này cần thiết  
phải có những cách quản lý từng mảng kinh doanh từ khâu sản xuất, tiêu thụ và quản lý chi phí  
một cách chặt chẽ. Đặc biệt là khâu sản xuất, tập hợp các yếu tố sản xuất vào kinh doanh làm sao  
đó tối thiểu chi phí với mục đích hạ giá thành và nâng cao tính cạnh tranh. Để thực hiện được yêu  
cầu đó, cần thiết sử dụng các phương pháp phân tích về giá thành, bao gồm: phân tích chung tình  
hình giá thành, phân tích nhiệm vụ hạ giá thành của các sản phẩm, phân tích chi phí 1000 đồng  
doanh thu tiêu thụ và đánh giá từng chỉ tiêu về chi phí sản xuất.  
2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH NGÀNH DỆT MAY  
Giá thành trong các doanh nghiệp may mặc được xác định từ chi phí sản xuất kinh doanh dành  
cho các thành phẩm tức là chưa kể đến các sản phẩm dở dang, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu  
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Vì tính chất phức tạp của ngành dệt  
cần nhiều yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu chính phụ, từ sợi, vải đến lượng lao động lành nghề,  
dây chuyền sản xuất tiên tiến. Do đó việc xác định giá thành cần thiết phải chính xác nhằm phục vụ  
cho nhiều mục đích khác nhau của doanh nghiệp. Do đó, việc áp dụng các phương pháp phân tích  
giá thành là nhu cầu hết sức cần thiết cho quá trình kinh doanh và huy động vốn của doanh  
nghiệp. Trên thực tế các doanh nghiệp có quy mô, niêm yết trên thị trường chứng khoán hoạt động  
mang tính chất phức tạp thường chú trọng đến công tác phân tích sao cho hạ giá thành hơn các  
1363  
doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ. Thời gian phân tích giá thành được tiến hành tuỳ thuộc vào quá  
trình sản xuất của doanh nghiệp, thông thường được thực hiện trước sản xuất và sau sản xuất. Đối  
với trước sản xuất doanh nghiệp thường lập bảng so sánh kế hoạch về giá thành năm nay so với  
thực tế năm trước để làm căn cứ dự toán về giá thành cho năm nay, hoặc tiến hành đánh giá về  
thực tế năm nay so với kế hoạch năm nay để nhận xét đánh giá về tình hình sử dụng giá thành. Cụ  
thể, đối với công ty may VT chuyên sản xuất về áo, quần các loại, quá trình phân tích giá thành  
được thực hiện dựa vào các nội dung như sau:  
Hoàn thành kế hoạch giá thành: Đây là nội dung đầu tiên, đơn giản dùng để xác định sự biến  
động của từng chỉ tiêu liên quan đến giá thành, đối với công ty VT chia làm nhiều bộ phận, mỗi bộ  
phận có chức năng riêng, khi phân tích cần tách riêng từng bộ phận để đánh giá. Số liệu dưới đây  
thể hiện bộ phận sản xuất áo.  
Chỉ tiêu  
Kế hoạch  
977212300  
511433190  
344589122  
1833234612  
Thực tế  
1042334799  
554433190  
378800122  
1975568111  
Chênh  ệch  
65122499  
43000000  
34211000  
Tỷ  ệ (%)  
106.66  
108.41  
Chi phí NVLtrực tiếp  
Chi phí nhân công trực tiếp  
Chi phí sản xuất chung  
Giá thành  
109.93  
107.76  
142333499  
(Nguồn: Tổng hợp từ nhóm tác giả)  
Nhận thấy, sau khi phân tích giá thành ở thực tế cao hơn so với ở kế hoạch đề ra, làm ảnh hưởng  
đến việc hạ giá thành, công tác quản lý các yếu tố đầu vào chưa thật sự tốt, tuy nhiên cần xem xét  
với kết quả đạt được để phân tích sự tăng lên của giá thành là hợp lý hay không?  
Tốc độ tăng trưởng giá thành: Đối với chỉ tiêu này, doanh nghiệp dùng đánh giá tốc độ gia  
tăng về giá thành qua các năm. Số liệu của công ty VT ở bộ phận sản xuất áo qua 2 năm như sau:  
Chỉ tiêu  
Năm 2017  
956019210  
500347980  
351299487  
1807666677  
Năm 2018  
1042334799  
554433190  
378800122  
1975568111  
Chênh  ệch  
86315589  
54085210  
27500635  
167901434  
Tỷ  ệ (%)  
109.03  
110.81  
Chi phí NVLtrực tiếp  
Chi phí nhân công trực tiếp  
Chi phí sản xuất chung  
Giá thành  
107.83  
109.29  
(Nguồn: Tổng hợp từ tác giả)  
Nhận thấy, so với năm trước, năm 2019 tốc độ tăng trưởng giá thành cao với tỷ lệ 109,29%. Việc gia  
tăng giá thành do nhiều nhân tố tác động cả chủ quan lẫn khách quan. Qua phân tích công ty cần  
có những biện pháp tích cực hơn nữa nhằm quản lý về các yếu tố đầu vào có hiệu quả hơn.  
Công ty chỉ dừng lại ở việc phân tích 2 nội dung cơ bản trên, chưa tập trung đi sâu vào phân tích  
các chỉ tiêu bên trong. Đây cũng chính là thực trạng chung của các doanh nghiệp cùng ngành may  
mặc. Các doanh nghiệp luôn mong muốn hạ giá thành nhưng việc phân tích, quản lý giá thành lại  
1364  
chưa thật sự được quan tâm. Nếu phân tích vẫn còn hạn chế ở nội dung, phương pháp, tính hiệu  
quả trong việc phân tích. Do đó, vấn đề chủ yếu nhất khi nghiên cứu các doanh nghiệp về giá  
thành là ở nhận thức, từ những đánh giá ở trên cho thấy rõ điều này. Việc phân tích còn thiếu nhiều  
yếu tố, thiếu đội ngũ phân tích, thiếu nguồn số liệu cung cấp, thiếu thời gian… Do đó muốn quản lý  
tốt hơn về giá thành cần thiết phải thay đổi cách nhìn nhận về vấn đề phân tích, đưa ra các giải  
pháp tích cực hơn  
3 GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT  
Đối với các doanh nghiệp ngành may mặc, có sự phức tạp về quản lý các yếu tố đầu vào do đó cần  
thiết phải chú trọng đến vấn đề quản lý gía thành, phù hợp với điều kiện kinh tế trong và ngoài  
nước, tăng tính cạnh tranh và thu hút đầu tư. Xin đề suất một số ý kiến sau:  
Về phía doanh nghiệp: Cần thay đổi nhận thức của Nhà quản trị doanh nghiệp trong việc quản lý  
giá thành. Quan tâm nhiều hơn đến công tác phân tích, mở rộng các nội dung phân tích như phân  
tích bài toán về hạ gía thành, phân tích về từng yếu tố chi phí, phân tích thêm về bài toán giữa chi  
phí và giá bán nhằm xác định tính hợp lý khi giá thành thay đổi…  
Về phía đội ngũ phân tích: Cần thiết phải có đội ngũ phân tích có tay nghề, kỹ năng có kinh nghiệm  
làm việc và khả năng độc lập cao trong quá trình phân tích và nhận xét. Khi phân tích cần có quy  
trình rõ ràng, cụ thể, nguồn số liệu cung cấp cần chính xác đầy đủ, có sự đa dạng khi sử dụng số  
liệu, đặc biệt là các số liệu trong các báo cáo về kế toán quản trị.  
Về phương pháp phân tích: Cần sử dụng nhiều phương pháp phân tích, không những phương  
pháp so sánh đơn giản mà có thể kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp loại trừ, phương  
pháp liên hệ cân đối, sử dụng các mô hình tương quan, sử dụng các phần mềm phân tích nhằm  
cung cấp số liệu nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả, phục vụ cho mục tiêu của nhà quản trị  
doanh nghiệp.  
4 KẾT LUẬN  
Những đánh giá nhận định trên nhằm cho thấy thực trạng về công tác quản lý giá thành, một chỉ  
tiêu chiếm nhiều sự quan tâm của nhiều đối tượng, đặc biệt là các nhà quản lý doanh nghiệp. Tuy  
nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong cách quản lý về chỉ tiêu này, ảnh hưởng lớn đến việc ra  
quyết định và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần thiết có những phương pháp  
tích cực hơn giúp cho doanh nghiệp tự tin cạnh tranh, tồn tại và phát triển bền vững trong thời kỳ  
Cách mạng 4.0.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Phạm Văn Dược, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM (2008), Phân tích Hoạt động kinh doanh,  
Nhà xuất bản Thống kê.  
[2]  
Nguyễn Năng Phúc (2010), Giáo trình phân tích tài chính, NXB Thống kê, Đại học Kinh tế quốc  
dân.  
1365  
[3]  
[4]  
TS Phạm Thị Vân Anh, Cắt giảm, kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp: yếu tố quyết định  
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, Tạp chí Tài chính (2017).  
CIEM (2017), Hội thảo: cắt giảm chi phí cho Doanh nghiệp, Thực trạng và gỉải pháp  
1366  
pdf 6 trang Thùy Anh 8520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ngành dệt may: Phân tích giá thành - Thực trạng giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnganh_det_may_phan_tich_gia_thanh_thuc_trang_giai_phap.pdf