Một số vấn đề đặt ra cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO HOẠT ĐỘNG  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG BỐI CẢNH  
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 TẠI VIỆT NAM  
y Phạm Nhựt Cường(*)  
Tóm tắt  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động sâu sắc đến các quốc gia trên toàn thế giới, trong  
đó có Việt Nam. Một trong những lĩnh vực chịu sự tác động trực tiếp từ cuộc cách mạng này tại Việt  
Nam chính là hoạt động động đào tạo nguồn nhân lực. Bài viết phân tích một số vấn đề đặt ra cho  
hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam, trên  
cơ sở đó đề xuất một số một số giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động quan trọng này.  
Từ khóa: Hoạt động đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực, cách mạng công nghiệp 4.0.  
1. Đặt vấn đề  
mang tính đột phá của nền khoa học - kỹ thuật  
toàn cầu.  
Trong bối cảnh chung của thế giới, Việt Nam  
đang đối mặt với những vận hội và thách thức do  
cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 (cuộc  
CMCN lần thứ tư) mang lại. Đây được đánh giá  
là cuộc cách mạng có nhiều bước tiến đột phá,  
tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã  
hội toàn cầu.  
2.KháiquátvềcuộcCMCN4.0vàhoạtđộng  
đào tạo nguồn nhân lực trong trong bối cảnh mới  
2.1. Cuộc CMCN 4.0  
Lịch sử loài người là lịch sử phát triển của các  
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con  
người với con người. Những mối quan hệ này liên  
tục vận động và phát triển, tạo ra những bước ngoặt  
vĩ đại trong lịch sử loài người, trong đó có những  
bước ngoặt to lớn về tri thức - được thể hiện đặc  
biệt rõ ràng qua các cuộc CMCN của nhân loại.  
Một trong những vấn đề đặt ra cho các quốc  
gia - bao gồm Việt Nam - chính là làm thế nào để  
phát triển được một nguồn nhân lực chất lượng  
cao, đáp ứng được yêu cầu bức thiết do cuộc  
cách mạng số mang lại, nhất là trong bối cảnh  
cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão  
và góp phần to lớn quyết định sự phát triển hay  
tụt hậu của đất nước.  
Trước khi xuất hiện thuật ngữ “CMCN 4.0”,  
lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự xuất hiện của  
ba cuộc cách mạng trước đó. Những cuộc cách  
mạng này đã đặt nền tảng cho sự phát triển ngày  
càng cao của đời sống vật chất lẫn tinh thần của  
con người cho đến ngày nay.  
Yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp tới chất  
lượng nguồn nhân lực xã hội chính là hoạt động  
đào tạo. Thời điểm hiện tại, hoạt động này đang  
đứng trước những thách thức thực sự trước mục  
tiêu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng  
cao cho cuộc CMCN 4.0.  
Thành tựu chủ yếu của các cuộc CMCN này  
có thể được tóm lược như sau:  
CMCN lần thứ nhất: diễn ra từ giữa thế kỷ  
XVIII đến giữa thế kỷ XIX. Với hạt nhân là công  
nghiệp cơ khí - chế tạo, cuộc cách mạng này đã  
cho ra đời các loại máy móc hơi nước, máy móc cơ  
khí, công nghiệp luyện kim, hệ thống giao thông,  
các tuyến đường sắt,… Cũng trong thời gian này,  
con người đạt tới những đỉnh cao trí tuệ mới trong  
các lĩnh vực như thiên văn, vật lý, hóa học, sinh  
học, y học, văn học nghệ thuật,…  
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chia sẻ  
một số ý kiến về những vấn đề đặt ra cho hoạt  
động đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam trong  
bối cảnh cuộc CMCN 4.0. Trên cơ sở đó, bài  
viết đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn  
thiện hoạt động này trong bối cảnh sự phát triển  
(*) Học viện Hành chính Quốc gia - Phân viện tại Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
CMCN lần thứ hai: diễn ra vào cuối thế kỷ  
97  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc cách mạng này được xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ  
đánh dấu bằng việc phát minh ra máy phát điện  
và các nguồn năng lượng mới như dầu lửa, khí  
đốt. Những phát minh quan trọng này dẫn đến  
sự ra đời của dây chuyền lắp ráp, điện khí hóa,  
công nghiệp hóa mạnh mẽ trong đời sống kinh  
tế - xã hội của loài người. Sự xuất hiện mới của  
các phương tiện giao thông vận tải (ô tô, máy  
bay) và thông tin liên lạc (đài bán dẫn, điện thoại)  
khiến các mối liên hệ giữa các nền kinh tế - văn  
hóa - xã hội trở nên dễ dàng hơn, đồng thời cũng  
diễn biến phức tạp hơn.  
liệu lớn (SMAC),… [4].  
Cuộc CMCN 4.0 được đánh giá là gây ra sự  
tác động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh  
vực nhân sự, sự xuất hiện của robot mang trí tuệ  
nhân tạo gây nhiều áp lực cho lao động là người  
thật khi họ có thể bị thay thế bởi những cỗ máy  
mang nhiều tính năng ưu việt như khả năng ghi  
nhớ, học hỏi, khả năng hoạt động 24/24,… trong  
nhiều lĩnh vực (dệt may, giao thông vận tải, y tế,  
giáo dục, nông nghiệp, thương mại dịch vụ, giải  
trí,…). Đặc điểm này khiến những thế mạnh vốn  
có trước đây về nguồn lao động (như nguồn lao  
động dồi dào, giá rẻ,…) của một số quốc gia - bao  
gồm Việt Nam - sẽ không còn là ưu thế nữa, thậm  
chí trở thành một thách thức cho vấn đề giải quyết  
việc làm.  
CMCN lần thứ ba: diễn ra vào cuối thập  
niên 60, đầu thập niên 70 và cơ bản hoàn thành  
vào những năm cuối thế kỷ XX. Đây là cuộc cách  
mạng tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ  
to lớn, tạo bước ngoặt về hạ tầng điện tử, tin học  
hóa, tự động hóa,… nhờ sự ra đời của những tư  
liệu sản xuất mới như chất bán dẫn, vật liệu tổng  
hợp, cáp quang, công nghệ nano, internet, người  
máy,… Lần đầu tiên, con người sản xuất ra được  
tư liệu sản xuất thông minh có khả năng thay thế  
cho cả lao động trí tuệ của con người [7].  
Trước các vấn đề trên, những hoạt động liên  
quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng  
cao - mà trực tiếp và then chốt là hoạt động đào  
tạo - cần được đặc biệt quan tâm đầu tư. Tuy vậy,  
hoạt động này tại Việt Nam hiện tại vẫn đang đứng  
trước thách thức không hề nhỏ trong bối cảnh cuộc  
CMCN 4.0  
CMCN lần thứ tư (CMCN 4.0): trên nền  
tảng của ba cuộc CMCN trên - mà trực tiếp  
nhất là cuộc CMCN lần thứ ba - cuộc CMCN  
lần thứ tư đã xuất hiện từ thập niên đầu tiên của  
thế kỷ XXI.  
2.2. Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực  
trong bối cảnh CMCN 4.0  
Hoạt động giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực  
trong kỷ nguyên số đang nhận được nhiều sự quan  
tâm của các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Một  
số tài liệu đã phân chia hoạt động giáo dục, đào  
tạo thành 4 giai đoạn, tương ứng với sự xuất hiện  
của các cuộc CMCN. Theo đó, có thể hình dung  
khái quát về các giai đoạn này như sau:  
Khái niệm “nền công nghiệp 4.0” (industry  
4.0) xuất hiện vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover  
(Đức). Năm 2012, chính phủ Đức thông qua bản  
Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao,  
lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “CMCN lần thứ  
tư”. Tháng 01/2016, Diễn đàn kinh tế thế giới lần  
thứ 47 được khai mạc tại Thụy Sĩ với chủ đề “Làm  
chủ cuộc CMCN lần thứ tư”. Từ thời điểm này,  
thuật ngữ cuộc CMCN lần thứ tư hay nền công  
nghiệp 4.0 nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự  
trên toàn thế giới [7].  
Hoạt động giáo dục, đào tạo giai đoạn 1.0:  
được đánh dấu cùng với CMCN 1.0, trong đó cuộc  
CMCN lần thứ nhất dẫn đến nhu cầu và lượng  
người đi học tăng lên, nhà nước chính thức tham  
gia vào công cuộc giáo dục quốc dân (trước đó,  
số lượng người đi học chủ yếu bị giới hạn ở tầng  
lớp tinh hoa, giáo dục thuộc trách nhiệm của các  
tổ chức tôn giáo là chính).  
Cuộc cách mạng lần thứtưcòn gọi là cuộc cách  
mạng số, có khả năng chuyển hóa toàn bộ thế giới  
thực thành thế giới số thông qua những công nghệ  
như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI),  
Hoạt động giáo dục, đào tạo giai đoạn 2.0:  
xuất hiện khi trường đại học ra đời với số lượng  
thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng  
98  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
lớn, gắn với sự phát triển vượt bậc của công nghệ tác với nhau mọi lúc, mọi nơi trong không gian  
mạng với nhiều phương thức khác nhau.  
in ấn và xuất bản; các trường đại học thời kỳ này  
chủ yếu giảng dạy và nghiên cứu, chưa phổ biến  
cho số đông.  
Thứ tư, công nghệ áp dụng trong hoạt động  
đào tạo giai đoạn 4.0 có bước đột phá. Trên nền  
tảng khoa học hiện đại của cuộc CMCN 4.0, từ  
những công nghệ như “giấy - bút”, “máy tính để  
bàn - máy tính xách tay”, “internet - điện thoại di  
động”, công nghệ đào tạo 4.0 đạt đến đỉnh cao với  
nền tảng internet kết nối vạn vật.  
Hoạt động giáo dục, đào tạo giai đoạn 3.0:  
đánh dấu sự xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng  
của công nghệ trong lớp học (xuất hiện nhiều máy  
tính cá nhân, phương tiện giảng dạy tương tác,…);  
lớp học được đa dạng hóa, giáo dục đào tạo trở  
nên phổ cập.  
Thứ năm, trình độ ứng dụng công nghệ số  
hóa của người dạy và người học đạt tới mức độ  
của những “công dân kỹ thuật số”. Đây là đặc  
trưng, đồng thời cũng là yêu cầu bắt buộc để cả  
người dạy lẫn người học có thể truyền thụ, tiếp  
cận được kiến thức trong giai đoạn công nghệ  
phát triển vượt bậc.  
Hoạt động giáo dục, đào tạo giai đoạn 4.0:  
xuất hiện cùng sự ra đời của cuộc CMCN 4.0; nền  
giáo dục - đào tạo lúc này hướng sự tập trung đến  
việc học cá nhân triệt để hơn, tiếp tục nối tiếp các  
ưu điểm của nền giáo dục ở thời điểm cuối thể kỷ  
XX - đầu thế kỷ XXI (thời điểm xuất hiện những  
cải cách giáo dục, chuyển sang “lấy học trò làm  
trung tâm”, các lớp học có sự tương tác nhiều hơn,  
học sinh tích cực chủ động hơn,…) [6].  
Thứ sáu, chương trình đào tạo trong nền công  
nghiệp 4.0 mang tính chất xuyên ngành, trong đó  
ranh giới giữa các chuyên ngành, lĩnh vực không  
còn quá rạch ròi. Đặc trưng này khác với tính phân  
ngành ở các giai đoạn đào tạo trước đó (đơn ngành,  
đa ngành hay liên ngành) [8].  
Cùng với sự phát triển của khoa học công  
nghệ trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, hoạt động  
giáo dục - đào tạo 4.0 cũng mang nhiều đặc điểm  
mới. Những đặc trưng chủ yếu của hoạt động đào  
tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh mới bao gồm:  
Những đặc trưng này phần nào phát họa nên  
những nét cơ bản của hoạt động đào tạo nguồn  
nhân lực trong bối cảnh mới mà trong đó, nền tảng  
công nghệ số đã dẫn đến những thay đổi mang tính  
chất bước ngoặt trên mọi phương diện. Đây cũng  
là yếu tố quan trọng giúp chúng ta định hình được  
những thách thức chủ yếu đối với hoạt động đào  
tạo nguồn nhân lực 4.0 nhằm đáp ứng được yêu  
cầu của kỷ nguyên số.  
Thứ nhất, mục tiêu của hoạt động đào tạo  
nguồn nhân lực 4.0 là tạo ra được những nhà  
canh tân, những người biết sáng tạo, biết tạo lập  
giá trị mới. Đây là một mục tiêu khác biệt khi ở  
những giai đoạn trước đó, hoạt động này hướng  
đến những mục tiêu khác hơn, như tạo ra những  
người lao động lành nghề, những người có khả  
năng được tuyển dụng cao,…  
3. Thách thức đối với hoạt động đào tạo  
nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0  
Thứ hai, sự tương tác trong hoạt động đào  
tạo 4.0 là tương tác nhiều chiều (nhiều người dạy  
- nhiều người học, ở mọi nơi). Phạm vi tương tác  
này được mở rộng rất nhiều so với sự tương tác  
một chiều (người dạy thuyết giảng là chủ yếu) hay  
hai chiều (tương tác giữa người dạy - người học)  
của các giai đoạn trước đó.  
Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong bối  
cảnh cuộc CMCN 4.0 và nhằm phục vụ cho cuộc  
CMCN 4.0 tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều  
vấn đề. Trong đó, các vấn đề cần được đặc biệt  
quan tâm bao gồm:  
Một là, thách thức về mặt nhận thức.  
Sự đúng đắn, đầy đủ trong nhận thức về một  
vấn đề là hết sức quan trọng, quyết định sự thành  
công hay thất bại của vấn đề đó.  
Thứ ba, phạm vi không gian và thời gian của  
hoạt động đào tạo 4.0 không bị giới hạn trong  
phạm vi lớp học. Thông qua nền tảng internet kết  
nối vạn vật, người học và người dạy có thể tương  
Đối với hoạt động đào tạo nguồn nhân lực  
99  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, nhận thức cũng hiện nay trang bị cho người lao động sẽ biến mất,  
đóng vai trò quan trọng như vậy. CMCN 4.0 là 80% các kỹ năng lao động mới sẽ xuất hiện, hay  
một thuật ngữ còn ít nhiều mới lạ khi mới xuất 80% công việc mới sẽ có vào năm 2015 là chưa  
hiện trong một vài năm trở lại đây. Nhận thức đúng từng tồn tại trong giai đoạn hiện nay,…[1]. Những  
nội hàm của cuộc cách mạng này, cùng với đó là con số dự đoán này đặt ra những thách thức thực  
những tác động tích cực lẫn tiêu cực của nó đến sự, đặt ra cho các đơn vị đào tạo nhiều câu hỏi  
hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong xã hội như đào tạo cái gì, đào tạo như thế nào, số lượng  
hiện tại, từ đó định hướng giải pháp phù hợp,… nhân sự cần đào tạo ra sao…  
là vấn đề không hề đơn giản.  
Xác định được các vấn đề cụ thể trong nhu  
Đặc biệt, đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề cầu đào tạo là vô cùng quan trọng, quyết định xem  
chung của toàn xã hội, do đó liên quan tới rất nhiều liệu nguồn nhân lực xã hội có đáp ứng được yêu  
nhóm đối tượng, từ các nhà hoạch định chính cầu thời đại mới đặt ra hay không. Tuy nhiên, đây  
sách, các nhà quản lý,… đến các giảng viên, sinh cũng thực sự là một thách thức khi các thông tin  
viên,… Điều này càng khiến việc tạo một sự nhận có được vẫn chưa thực sự rõ ràng, và sự phát triển  
thức đúng đắn, đầy đủ, phù hợp và đồng thuận về của xu hướng 4.0 là vô cùng nhanh chóng.  
vấn đề đào tạo trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 là  
không hề đơn giản.  
Ba là, thách thức về phương pháp và  
chương trình đào tạo nguồn nhân lực.  
Nếu không được giải quyết triệt để, vấn  
đề này sẽ dẫn tới những hệ lụy như thiếu quyết  
tâm triển khai xu hướng mới, triển khai sai định  
hướng, triển khai kém hiệu quả,… hoạt động đào  
tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới. Dó đó,  
đây là một thách thức thật sự cần được chú trọng  
đầu tư hệ thống giải pháp.  
Cuộc CMCN 4.0 mang đến nhiều thuận lợi  
cho công tác dạy và học với nhiều mô hình hiện  
đại như đào tạo online, lớp học thực tế ảo, số hóa  
bài giảng,… thông qua nhiều công cụ hữu ích giúp  
người dạy và người học có nhiều cơ hội tiếp cận  
tốt hơn trong hoạt động đào tạo.  
Mặc dù vậy, ở thời điểm hiện tại, nhiều đơn  
vị đào tạo vẫn đang sử dụng phương pháp giảng  
dạy truyền thống với khá nhiều hạn chế. Trong  
thời gian ngắn, các hoạt động đào tạo tại Việt Nam  
nhất thời khó có thể bắt kịp các phương pháp quá  
hiện đại một cách triệt để khi chúng vẫn còn khá  
mới mẻ, chưa thực sự phổ biến. Chưa kể, việc áp  
dụng phương pháp mới còn gắn liền với yêu cầu  
về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên,… - những  
vấn đề cũng còn tồn tại những nút thắt cần được  
tháo gỡ trong kỷ nguyên số.  
Hai là, thách thức về xác định nhu cầu đào  
tạo nguồn nhân lực.  
Xác định nhu cầu đào tạo trong bối cảnh  
CMCN 4.0 là hết sức quan trọng bởi những thay  
đổi mà bước ngoặt lịch sử này gây ra cho thị trường  
lao động của toàn xã hội.  
Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 dần thể hiện  
rõ sự hiện hữu, các nhu cầu của thị trường lao  
động đối với nguồn nhân lực xã hội ngày càng  
trở nên phức tạp.  
Bên cạnh đó, chương trình giảng dạy hiện  
nay tại đa số cơ sở đào tạo cũng đặt ra những vấn  
đề cần được quan tâm khi chưa thực sự chuẩn bị  
tốt cho tiến trình phát triển nhanh chóng của cuộc  
CMCN 4.0 sắp tới.  
Để ứng dụng tốt các thiết bị công nghệ cao  
trong kỷ nguyên số, người lao động đòi hỏi phải có  
năng lực và trình độ tương thích. Tuy nhiên, mức  
độ năng lực và trình độ cao như thế nào thì còn  
phải tiếp tục có sự phân tích cụ thể bằng các công  
cụ phù hợp. Bên cạnh đó, cơ cấu các ngành nghề  
trong tương lai gần cũng sẽ có sự thay đổi không  
ngừng. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong  
10 - 20 năm nữa, có tới 70% các kỹ năng lao động  
Bốn là, thách thức về năng lực đội ngũ  
giảng viên.  
Trong bối cảnh mới, vai trò của người thầy  
vẫn vô cùng quan trọng đối với sự tiếp cận thông  
100  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
tin của người học. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra cho hiện các lớp học hiện đại, giúp sinh viên có thể  
trải nghiệm thực tế ảo, hoặc tiếp cận các nguồn  
tài liệu đã được số hóa,…  
đội ngũ giảng viên thực hiện công tác đào tạo ngày  
càng khắt khe hơn.  
Các công nghệ này trong các cơ sở đào tạo,  
bồi dưỡng hiện tại là chưa được đáp ứng, trở thành  
một thách thức đáng kể cho việc hiện đại hóa công  
tác dạy và học thời đại 4.0.  
Bên cạnh kiến thức chuyên môn, giảng viên  
còn phải đáp ứng nhiều yêu cầu khác để thực hiện  
tốt công tác giảng dạy. Một trong những yêu cầu  
cấp thiết chính là khả năng sử dụng công nghệ  
thông tin để trước hết có thể truyền đạt kiến thức  
cho sinh viên trong môi trường hiện đại với nhiều  
công cụ công nghệ cao, sau đó còn có thể giúp  
sinh viên ứng dụng khoa học công nghệ trong  
công việc ở tương lai. Ngoài ra, yêu cầu về ngoại  
ngữ, kỹ năng mềm,… cũng ngày càng cấp thiết  
hơn khi giảng viên phải làm việc trong một môi  
trường ngày càng mở và hội nhập sâu rộng hơn  
bao giờ hết.  
4. Giải pháp hoàn thiện hoạt động đào tạo  
nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0  
Những vấn đề do cuộc CMCN 4.0 đặt ra cho  
hoạt động đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam ở  
giai đoạn hiện tại là không hề nhỏ. Để giải quyết  
những thách thức trên, chúng ta cần một hệ thống  
giải pháp đồng bộ và phù hợp, giúp hoạt động giáo  
dục đáp ứng tốt những yêu cầu do kỷ nguyên số  
đặt ra. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn  
góp một vài ý kiến nhằm hoàn thiện hoạt động đào  
Một yêu cầu khác đặt ra là giảng viên phải  
biết cách gợi mở, giúp sinh viên tư duy, sáng tạo tạo trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.  
và đưa ra được những quan điểm cá nhân. Yêu  
cầu này phần nào đã được đặt ra ở giai đoạn hiện  
tại, nhưng sẽ càng không thể cấp thiết hơn khi đặt  
trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang hình thành  
và phát triển mạnh mẽ như hiện nay.  
Thứ nhất, mạnh dạn đổi mới nhận thức về  
hoạt động đào tạo trong bối cảnh CMCN 4.0.  
CMCN 4.0 là một xu hướng không thể tránh  
khỏi và đang dần khẳng định sự tác động mạnh mẽ  
tại Việt Nam. Để đáp ứng tốt yêu cầu tạo ra một  
nguồn nhân lực chất lượng cho thời đại mới, việc  
xây dựng và hoàn thiện một nền giáo dục - đào  
tạo 4.0 là cần thiết. Làm được điều này, vấn đề  
trước hết là phải đổi mới nhận thức về hoạt động  
đào tạo trong bối cảnh mới.  
Trong bối cảnh nền giáo dục hiện tại, những  
yêu cầu trên cũng là thách thức không nhỏ đặt ra  
cho hệ thống đào tạo tại Việt Nam.  
Năm là, thách thức về nguồn lực vật chất.  
Điều kiện vật chất tại nhiều cơ sở đào tạo hiện  
tại vẫn chưa thực sự đầy đủ. Nhiều cơ sở thậm chí  
vẫn còn tình trạng thiếu phòng học kiên cố, thiếu  
máy móc hỗ trợ cho việc thực hiện các phương  
pháp E-learning (vốn đã được áp dụng khá rộng  
rãi trong thời gian qua), thiếu hệ thống thư viện -  
phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu dạy và học,…  
Việc đổi mới nhận thức trước hết yêu cầu các  
đơn vị thực hiện nhiệm vụ đào tạo phải chấp nhận  
xu hướng giáo dục hiện đại trong giai đoạn CMCN  
4.0, xem đây là một xu hướng tất yếu, từ đó mới  
mạnh dạn thực hiện những cải cách cần thiết.  
Mặt khác, những người làm công tác đào  
tạo, quản lý đào tạo cũng cần nắm rõ bản chất,  
những nội dung cụ thể của cuộc CMCN 4.0,  
những tác động của nó đến hệ thống giáo dục,…  
để kịp thời có những điều chỉnh phù hợp cho  
hoạt động đào tạo tại đơn vị mình và trong toàn  
hệ thống giáo dục.  
Trong kỷ nguyên số, việc áp dụng công nghệ  
thông tin có thể giúp tiết kiệm phần nào nguồn  
lực cho cơ sở vật chất (như kinh phí cho việc xây  
dựng phòng học, thư viện,… để người học tham  
dự trực tiếp) khi có thể ứng dụng các mô hình đào  
tạo hiện đại như lớp học trực tuyến, thư viện số,…  
Tuy vậy, hoạt động dạy và học trong bối cảnh cuộc  
Việc trang bị nhận thức đầy đủ và đúng đắn  
CMCN 4.0 vẫn đặt ra yêu cầu rất lớn về hệ thống này phải được thực hiện từ những người đứng đầu  
máy móc, trang thiết bị công nghệ cao để thực của các đơn vị quản lý, của các đơn vị đào tạo, để  
101  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
từ đó lan tỏa ra trong toàn bộ hệ thống. Hoạt động kỹ năng quan trọng mà chương trình đào tạo  
tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, các chương cần tập trung để phục vụ trực tiếp cho nền công  
trình giao lưu trao đổi kinh nghiệm,… là cần thiết nghiệp 4.0 chính là kỹ năng lập trình. Đây chính  
để giải quyết vấn đề nhận thức nêu trên.  
là kỹ năng mang tính chất nền tảng, giúp người  
lao động tương lai có thể đáp ứng tốt yêu cầu của  
công việc - vốn được thực hiện trên nền tảng số  
hóa. Tính then chốt của kỹ năng này trong hoạt  
động đào tạo nguồn nhân lực cũng đã được khẳng  
định khi nhiều quốc gia trên thế giới đã mạnh  
dạn đầu tư cho việc phát triển kỹ năng trong các  
trường học (chẳng hạn, Nhật Bản đã chính thức  
thông qua chương trình giáo dục lập trình mới cho  
học sinh phổ thông nhằm giúp sớm phát triển tư  
duy và định hướng nghề nghiệp cho học sinh từ  
tháng 6/2016; cũng vào năm này, Chính phủ Hoa  
Kỳ đã công bố đầu tư 4 tỷ USD vào chương trình  
đào tạo ngành khoa học máy tính cho học sinh  
Mỹ với sự hợp tác của Google và nhiều doanh  
nghiệp IT tại quốc gia này,…[2]). Ngoài ra, năng  
lực ngoại ngữ và các kỹ năng mềm giúp người lao  
động chủ động ứng phó với các tình huống mở  
trong tương lai cũng vô cùng quan trọng trong  
thời đại kết nối vạn vật.  
Thứ hai, đầu tư cho việc khảo sát nhu cầu  
đào tạo trong bối cảnh mới.  
Việc xác định đúng nhu cầu về nguồn nhân  
lực trong bối cảnh kỷ nguyên số là vô cùng quan  
trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát  
triển của mỗi đơn vị đào tạo. Thời điểm hiện tại,  
đây thực sự là một thách thức chung của toàn  
hệ thống.  
Trong xác định nhu cầu đào tạo, thay vì xác  
định nhu cầu xã hội đang cần, các đơn vị đào tạo  
cần đi trước một bước - mạnh dạn dự báo những  
nhu cầu mà xã hội sẽ cần trong tương lai theo  
từng giai đoạn để có thể có sự chuẩn bị cần thiết.  
Vấn đề đặt ra ở đây chính là câu hỏi - những  
gì sẽ là nhu cầu mà xã hội sẽ cần trong thị trường  
lao động trong tương lai gần và tương lai xa? - để  
các đơn vị đào tạo có thể đi tắt đón đầu. Câu hỏi  
này được giải đáp thế nào là tùy thuộc vào năng  
lực của từng đơn vị đào tạo nói riêng, năng lực  
dự báo của hệ thống giáo dục tại Việt Nam nói  
chung. Các đơn vị cần mạnh dạn tiến hành các  
cuộc nghiên cứu, tăng cường hợp tác quốc tế, học  
hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển,… để  
xác định nhu cầu đào tạo cho đơn vị mình hiệu  
quả nhất.  
Sự đổi mới về chương trình, giáo trình cần  
gắn liền với sự hoàn thiện về cơ sở vật chất. Hệ  
thống máy móc, trang thiết bị, phòng học hiện tại  
với không gian mở,… giúp người học có thể truy  
cập thông tin mọi lúc mọi nơi, có thể tiếp cận kho  
tài liệu mở một cách trực quan sinh động,… là hết  
sức cần thiết để tối ưu hóa chương trình mới dành  
cho hoạt động đào tạo kỷ nguyên số.  
Đây chính là nhiệm vụ quan trọng cần được  
thực hiện bởi những nhân sự có năng lực của mỗi  
đơn vị đào tạo. Bên cạnh, các đơn vị cũng cần  
thêm sự phối hợp của các chuyên gia để đảm bảo  
chất lượng dự đoán nhu cầu đào tạo trong giai  
đoạn mới.  
Các vấn đề này gắn liền với vấn đề nguồn lực  
tài chính còn khá hạn chế tại các đơn vị đào tạo -  
đặc biệt là các đơn vị công lập. Tuy nhiên, so với  
những lợi ích thu được cho hoạt động đào tạo và  
cho sự phát triển của xã hội trong tương lai, thiết  
nghĩ đây là một sự đầu tư hợp lý và cần được chú  
trọng. Việc xã hội hóa nguồn lực đầu tư cũng nên  
được xem xét nghiêm túc nhằm giúp giải pháp này  
được khả thi và hiệu quả hơn.  
Thứ ba, đầu tư cho hệ thống giáo trình,  
chương trình giảng dạy và cơ sở vật chất.  
Việc đầu tư đổi mới chương trình, giáo trình  
trong bối cảnh mới là vô cùng cần thiết. Nội dung  
chương trình, giáo trình mới được xây dựng cần  
gắn kết chặt chẽ với nhu cầu đào tạo được xác định  
trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.  
Thứ tư, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ  
giảng viên.  
Trong kỷ nguyên số, hoạt động dạy và học  
không còn bị hạn chế trong một phòng học bị giới  
Bên cạnh các kiến thức chuyên ngành, một  
102  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
hạn bởi bốn bức tường nữa, mà thay vào đó là một phát triển trong kỷ nguyên số, nhiều quốc gia đã  
không gian mở - nơi người học có thể truy cập có những động thái, giải pháp cụ thể nhằm đáp  
các nguồn tài liệu một cách đầy đủ, phong phú và ứng tốt yêu cầu do cuộc CMCN này đặt ra. Việc  
trực quan sinh động hơn. Các phương pháp dạy tranh thủ học hỏi những kinh nghiệm do các quốc  
và học cũng đa dạng, hiện đại hơn so với phương gia, các tổ chức quốc tế đã áp dụng là vô cùng  
pháp truyền thống.  
cần thiết, là một cơ hội để hoạt động giáo dục  
tại Việt Nam rút ngắn khoảng cách, thời gian và  
chi phí thực hiện, đồng thời nâng cao hiệu quả  
công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao  
cho kỷ nguyên số.  
Mặc dù vậy, vai trò của người thầy vẫn là  
không thể thay thế đối với công tác đào tạo nguồn  
nhân lực xã hội. Thậm chí, vai trò này còn trở  
nên quan trọng hơn và phức tạp hơn. Từ một  
người truyền đạt kiến thức trực tiếp, giảng viên  
Bên cạnh đó, việc đầu tư nghiêm túc cho hoạt  
lúc này còn trở thành người xúc tác, người định động nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc hoàn  
hướng, gợi mở vấn đề để học viên có thể tự tìm thiện hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho nền  
ra hướng giải đáp, tìm thấy sự hứng thú với hoạt công nghiệp 4.0 cũng cần được thực hiện. Đây sẽ  
động học tập.  
là những cơ sở quan trọng góp phần hoàn thiện  
giải pháp giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động  
quan trọng này trong tương lai.  
Để đáp ứng được xu hướng trên, trong giai  
đoạn mới, giảng viên cần được tiếp cận, bồi  
dưỡng các phương pháp đào tạo hiện đại trong  
nền giáo dục toàn cầu. Năng lực ứng dụng khoa  
học công nghệ hiện đại là yêu cầu cấp thiết để  
giảng viên có thể sử dụng các thiết bị hỗ trợ trong  
lớp học số, và để có thể hướng dẫn người học  
vận dụng thành thạo kỹ năng công nghệ thông  
tin phục vụ nghề nghiệp tương lai. Bên cạnh đó,  
ngoại ngữ và các kỹ năng mềm nhằm khơi gợi  
cảm hứng, xử lý tình huống,… cũng cần được hết  
sức quan tâm. Đặc biệt, đặc tính “xuyên ngành”  
trong công tác đào tạo 4.0 cũng đặt ra yêu cầu  
cao hơn đối với trình độ chuyên môn của giảng  
viên trong tương lai.  
5. Kết luận  
Cuộc CMCN lần thứ tư mang đến những  
yêu cầu, những cơ hội, đồng thời là những thách  
thức không nhỏ cho hoạt động đào tạo nguồn  
nhân lực tại Việt Nam hiện nay. Việc nhận diện  
kịp thời các vấn đề cơ bản mà hoạt động đào tạo  
nguồn nhân lực ở nước ta phải đối mặt là rất quan  
trọng nhằm kịp thời đưa ra những giải pháp phù  
hợp và hiệu quả.  
Trong bài viết này, chúng tôi đã mạnh dạn  
chia sẻ một vài ý kiến đối với những vấn đề mà  
hoạt động đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam  
đang đối mặt trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0.  
Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đề xuất một số  
giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động đào tạo  
nhằm giúp nguồn nhân lực sớm đáp ứng được  
các yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của xã hội  
trong kỷ nguyên số. Các giải pháp này chỉ là  
cơ bản, mang tính gợi mở bước đầu. Tùy thuộc  
vào thực tế, mỗi đơn vị đào tạo cũng như toàn  
Để nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên  
trong bối cảnh mới, việc tiếp thu các kinh nghiệm  
của các quốc gia, các tổ chức, việc trao đổi kinh  
nghiệm với các đơn vị đào tạo khác là vô cùng  
cần thiết. Đó sẽ là cơ sở giúp mỗi đơn vị đào tạo  
tự xây dựng tiêu chí năng lực phù hợp nhất cho  
đội ngũ giảng viên tại cơ sở của mình.  
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và hệ thống giáo dục nói chung cần có những giải  
nghiên cứu khoa học về đào tạo nguồn nhân lực pháp đồng bộ và cụ thể hơn để tiếp tục hoàn  
trong giai đoạn mới.  
thiện hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong  
giai đoạn mới, góp phần tích cực vào sự phát  
triển chung của đất nước./.  
CMCN 4.0 là một vấn đề toàn cầu, đã và  
đang được cả thế giới quan tâm. Để đảm bảo sự  
103  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Hoàng Việt Hà (2018), “Nguồn nhân lực 4.0: Cơ hội và thách thức”, Báo điện tử Đấu thầu,  
[2]. Nhật Hồng (2016), “CMCN lần thứ 4: Phải đổi mới chương trình đào tạo ngành viễn thông”,  
phai-doi-moi-chuong-trinh-dao-tao-nganh-vien-thong-20161104135349241.htm.  
[3]. Xuân Kỳ (2018), “Đào tạo nhân lực chất lượng cao thời kỳ CMCN 4.0”, Báo điện tử Nhân  
mang-cong-nghiep-4-0.html.  
[4]. Lữ Thành Long (2017), “CMCN lần thứ tư là gì”, Báo điện tử VNExpress, https://vnexpress.  
net/projects/cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-la-gi-3571618/index.html.  
[5]. Đàm Quang Minh, Phạm Hiệp (2016), “CMCN 4.0 và nguy cơ “thua trắng” của  
đại học truyền thống”, Báo điện tử Tuổi trẻ cuối tuần, https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/van-de-  
su-kien/20160907/cach-mang-cong-nghiep-40-va-nguy-co-thua-trang-cua-dai-hoc-truyen-  
thong/1165108.html.  
[6]. Dương Trọng Tấn (2018), “Giáo dục thay đổi thế nào trong CMCN 4.0”, Báo điện tử  
nghiep-4-0-3818789.html.  
[7]. Nguyễn Viết Thảo (2017), “CMCN lần thứ tư”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2017, tr.79-84.  
[8]. Lệ Thu (2017), “Thời đại 4.0, giáo dục Việt Nam đang đâu đó ở giai đoạn… 2.0”, Báo điện  
doan-20-20171116072902994.htm.  
SOME ISSUES FOR HUMAN RESOURCES TRAINING  
IN THE CONTEXT OF 4.0 INDUSTRIAL REVOLUTION IN VIETNAM  
Summary  
The 4.0 Industrial Revolution is dramatically affecting countries all over the world, including  
Vietnam. One of the areas directly influenced by this revolution in Vietnam is human resources  
training. This article analyses some issues associated with human resources training in the 4.0  
Industrial Revolution context; thereby, some proposals are suggested in order to improve this  
important training activity.  
Keywords: Training activity, human resources training, 4.0 Industrial Revolution.  
Ngày nhận bài: 19/11/2018; Ngày nhận lại: 18/01/2019; Ngày duyệt đăng: 09/4/2019.  
104  
pdf 8 trang Thùy Anh 16420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề đặt ra cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_dat_ra_cho_hoat_dong_dao_tao_nguon_nhan_luc_tr.pdf