Một số khuyến nghị trong sử dụng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản tại Việt Nam

TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XÃ HỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO HỘ  
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CHO HÀNG NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM  
SOME RECOMMENDATIONS IN USING AND PROTECTING  
GEOGRAPHICAL INSTRUCTIONS FOR AGRICULTURAL PRODUCTS IN  
VIETNAM  
NGUYỄN MẠNH HOÀNG*, PHẠM THỊ PHƯƠNG MAI  
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam  
*Email liên hệ: [email protected]  
phương: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng  
hóa được bắt nguồn từ lãnh thổ của một quốc gia  
Tóm tắt  
Chỉ dẫn địa lý cho các mặt hàng nông sản, đặc  
biệt các đặc sản địa phương tại Việt Nam là một  
hình thức giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của  
hàng hóa, nếu được xây dựng và phát triển sẽ góp  
phần rất lớn vào lợi ích quốc gia. Trong bài báo  
này, tác giả phân tích, chỉ ra các khó khăn trong  
đăng ký, sử dụng và quản lý các sản phẩm nông  
sản được cấp phép chỉ dẫn địa lý và đưa ra các  
khuyến nghị, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả  
trong hoạt động sử dụng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý  
cho hàng nông sản tại Việt Nam, hỗ trợ đẩy mạnh  
phát triển ngành nông nghiệp nước nhà bền vững,  
hiện đại.  
thành viên hoặc từ khu vực hay địa lý của lãnh thổ đó  
có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu  
do xuất xứ địa lý quyết định”.  
Hiệp định TRIPs đã quy định khá chặt chẽ điều  
kiện để một sản phẩm được chỉ dẫn địa lý. Chỉ dẫn  
phải nêu rõ được xuất xứ, nguồn gốc của hàng hóa từ  
một quốc gia thành viên hoặc khu vực địa phương của  
lãnh thổ đó và phải có sự gắn bó mật thiết giữa chất  
lượng, tính chất đặc trưng của hàng hóa đó với khu  
vực địa lý được chỉ dẫn.  
Trước khi “Luật Sở hữu trí tuệ” tại Việt Nam được  
ban hành, thì thuật ngữ “Tên gọi xuất xứ hàng hóa”  
chính là một dấu hiệu đưa ra nhằm quy định chỉ dẫn  
theo địa lý, nó cung cấp các thông tin về nguồn gốc  
hàng hóa từ nơi sản xuất ở một địa phương, quốc gia,  
mang theo hình ảnh, chất lượng, hay cả danh tiếng,  
đặc trưng của điều kiện địa lý phân biệt với các miền  
văn hóa khác nhau được ẩn chứa trong đó. Vào năm  
2005, khi “Luật Sở hữu trí tuệ” được ban hành thì cụm  
từ chỉ dẫn địa lý được quy định là “dấu hiệu để chỉ  
hàng hóa có nguồn gốc từ địa phương, khu vực, vùng  
lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể” (Khoản 22 Điều 4). Đó  
là vấn đề đảm bảo cho các sản phẩm đã được chứng  
nhận có chất lượng nhất định, mang tính chất đặc  
trưng và nét riêng biệt của các vùng miền, như một sự  
so sánh từ khâu sản xuất và ra thành phẩm của từng  
địa phương. Khái niệm của Việt Nam về chỉ dẫn địa  
lý cũng tương thích với khái niệm trong hiệp định  
TRIPs trên cả 2 yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ và tính  
chất đặc trưng của hàng hóa ứng với địa danh đó.  
Từ khóa: Nông sản Việt Nam, chỉ dẫn địa lý, phát  
triển nông nghiệp.  
Abstract  
Geographical indications for agricultural  
products, especially local specialties in Vietnam is  
a form of helping to improve the competitiveness  
of goods, if built and development will greatly  
contribute to the national interest. In this article  
the author analyzes difficulties in registration, use  
and management of protected agricultural  
products only geographic guidance and propose  
recommendations and solutions to increase  
efficiency in conservation activities using and  
protecting  
geographical  
indications  
for  
agricultural products in Vietnam, contributing to  
promoting the development of the foundation  
modern and sustainable domestic agriculture.  
Keywords: Vietnamese agricultural products,  
geographical  
development.  
indication,  
agricultural  
Bắt đầu từ năm 2001 cho đến nay khi chỉ dẫn địa  
lý được đưa vào sử dụng thì thuật ngữ này vẫn chưa  
thực sự phát huy được công dụng của mình vì còn tồn  
tại nhiều khó khăn từ những khâu đăng ký, sử dụng và  
quản lý cũng như bảo hộ đối với các mặt hàng nông  
sản được cấp chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam. Tính đến  
thời điểm hiện tại, mới có 101 sản phẩm được chứng  
nhận chỉ dẫn địa lý và trong đó có 89 sản phẩm là nông  
nghiệp [4].  
1. Đặt vấn đề  
Các hiệp định về các khía cạnh thương mại liên  
quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) là  
một thỏa thuận pháp lý quốc tế giữa tất cả các quốc  
gia là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới  
(WTO). Hiệp định TRIPs đã pháp điển hóa khái niệm  
chỉ dẫn địa lý thông qua các vòng đàm phán đa  
SỐ 68 (11-2021)  
96  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
Với một quốc gia mạnh về nông nghiệp như Việt  
Nam thì con số đó còn là quá nhỏ, cần có các biện  
pháp để khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phát triển chỉ  
dẫn địa lý giúp đảm bảo về chất lượng sản phẩm khi  
tới tay người tiêu dùng, đảm bảo uy tín cho sản phẩm  
tại nơi sản xuất, đồng thời làm tăng giá trị chất lượng  
của nông sản Việt Nam, đảm bảo tính cạnh tranh về  
đặc thù sản phẩm tại thị trường trong nước và thị  
trường quốc tế.  
Bảng 1. Số liệu thống kê các sản phẩm mới  
được chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý  
Năm  
2001  
2002  
2005  
2006  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
Sản phẩm  
Nông sản  
1
1
0
1
1
2
6
2
2
7
5
5
4
5
0
7
6
8
9
19  
1
2
7
2
2. Khó khăn trong thực tiễn bảo hộ và sử dụng  
chỉ dẫn địa lý cho nông sản tại Việt Nam  
2
8
2.1. Khó khăn trong đăng ký  
5
5
Phần lớn các hàng nông sản được bảo hộ là sản  
phẩm tươi, nhiều nông sản được chứng nhận bảo hộ  
dưới trạng thái sản phẩm khô, là nguyên liệu như hạt  
tiêu, hoa hồi, cà phê, vỏ quế. So với từ năm 2001 đến  
năm 2016 có 54 sản phẩm được đánh giá và cấp phép  
chứng nhận chỉ dẫn địa lý. Nổi bật trong đó có tới 47  
sản phẩm là nông sản, số lượng chỉ dẫn địa lý gia tăng  
đáng kể từ năm 2017 đến nay cụ thể là 47 sản phẩm  
được cấp bảo hộ trong vòng 4 năm, trong đó có 42 sản  
phẩm là nông sản. Tuy vậy, sự tăng trưởng đó vẫn  
chưa thực sự tương ứng với tiềm năng nông nghiệp  
quốc gia, con số đó chưa đảm bảo được mục tiêu về  
phát triển nông nghiệp bền vững [4].  
6
6
1
7
6
9
10  
22  
Nguồn: tác giả tổng hợp từ [4]  
ký chỉ dẫn địa lý. Điều đó dẫn tới việc mặt hàng sâm  
Ngọc Linh đăng kí theo chỉ dẫn địa lý năm 2006  
nhưng cho tới 10 năm sau (tháng 10/2016) thì sản  
phẩm mới được công nhận việc đăng ký bảo hộ.  
Không khó để thấy được những yếu tố dẫn đến  
tình trạng trên, đơn cử là hạn chế từ những quy định  
của pháp luật chưa có sự thay đổi phù hợp liên quan  
đến việc đăng ký chỉ dẫn địa lý. Để được cấp bằng bảo  
hộ thì việc chuẩn bị và nộp đơn là rất quan trọng. Theo  
đó, các mục liên quan đến việc sử dụng hiệu quả chỉ  
dẫn địa lý đã cấp chứng nhận không phải là yêu cầu  
cần có trong hồ sơ đăng ký. Tuy nhiên, đây chính là  
nội dung cần thiết để đảm bảo hiệu quả pháp lý cho  
vấn đề đăng ký, sử dụng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho  
các sản phẩm của địa phương.  
Cùng với đó, nước ta chưa cụ thể hóa việc sử dụng  
chỉ dẫn này nên có nhiều doanh nghiệp, địa phương  
rơi vào trạng thái lo sợ sau khi đăng ký xong nhưng  
không sử dụng được. Nhưng làm sao để các cá nhân,  
tổ chức có thể đăng ký được thì vẫn là trở ngại lớn,  
yêu cầu trong hồ sơ đăng ký cần phải đưa ra sự khác  
biệt của sản phẩm gắn với chỉ dẫn địa lý, khu vực địa  
lý,... phải mang yếu tố đặc thù. Khó khăn hơn khi các  
địa phương, doanh nghiệp không đăng ký chỉ dẫn địa  
lý là bởi khâu minh chứng mối quan hệ của thành phần  
chất lượng có trong sản phẩm với khu vực tạo ra sản  
phẩm đó. Muốn làm rõ điều này cần đòi hỏi người  
đăng ký phải làm rất nhiều nghiên cứu đến cấu trúc và  
quá trình hóa học diễn ra ở sinh vật để có thể chỉ ra  
mối liên hệ giữa đặc thù ở chất lượng của sản phẩm  
với môi trường sinh thái nông nghiệp và dấu hiệu địa  
lý. Song, theo như Thông tư số 01/2007/TTBKHCN  
đưa ra các quy định khung mẫu chung, các yếu tố xác  
định, chỉ tiêu để đánh giá,... chứng minh cho sự tồn tại  
của mối liên hệ này lại không được đưa ra rõ ràng.  
Thực tế rất khó để được thông qua việc đăng ký,  
nhận thấy trong 30 đơn thì chỉ có khoảng 10 đơn được  
chấp nhận. Dẫn đến khúc mắc như vậy, bởi hiện nay  
vấn đề xây dựng chỉ dẫn chưa được hoàn thiện luật  
hóa phù hợp tới mỗi địa phương. Mâu thuẫn xảy ra  
trong việc giám sát bảo hộ diễn ra thường xuyên đối  
với các sản phẩm nằm trong vùng địa lý trực thuộc  
lãnh thổ ở nhiều địa phương khác nhau. Ví như việc  
đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sâm Ngọc Linh cho thấy  
mâu thuẫn này. Do sâm Ngọc Linh được bản đồ địa lý  
khoanh vùng, xác định nằm trên lãnh thổ của hai tỉnh  
Quảng Nam và Kon Tum, mà theo luật pháp Việt Nam  
hiện hành về đăng ký chỉ dẫn địa lý vẫn chưa đưa ra  
biện pháp giải quyết các xung đột giữa các bên đăng  
2.2. Khó khăn trong sử dụng và quản lý  
Việc đăng ký để được cấp văn bằng chỉ dẫn địa lý  
SỐ 68 (11-2021)  
97  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XÃ HỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
gặp không ít khó khăn, nhưng việc quản lý và sử dụng  
được hiệu quả để nâng cao các giá trị chủ thể sản phẩm  
đôi khi còn là việc cấp thiết hơn. Xuyên suốt 20 năm  
qua, hiệu quả trong hoạt động sử dụng chỉ dẫn địa lý  
của các chủ thể chưa cao, điển hình như chỉ dẫn địa lý  
nước mắm Phú Quốc: Tình trạng dùng các loại phẩm  
màu, hương liệu pha lẫn nước muối, cho thêm các gia  
vị nhằm đánh lừa giác quan của người dùng, sau đó  
dán mác thương hiệu nước mắm Phú Quốc ngày càng  
gia tăng. Giá trị sản phẩm bị kéo xuống mức thấp, trà  
trộn vào thị trường tiêu thụ, gây ra nhiều hệ lụy đối  
với sản phẩm được công nhận chỉ dẫn địa lý nói riêng  
và ngành sản xuất nước mắm nói chung [6].  
bì tại Buôn Mê Thuột liền được gắn mác chỉ dẫn địa  
lý Buôn Mê Thuột [3]. Việc này báo động đến vấn đề  
đảm bảo thương hiệu uy tín của sản phẩm cà phê Buôn  
Mê Thuột và đem lại sự an toàn đối với người tiêu  
dùng trước những sản phẩm chất lượng không đúng  
chuẩn và không có sự kiểm chứng về chất lượng kỹ  
càng và tuyệt đối an toàn với sức khỏe.  
2.4. Khó khăn trong đảm bảo chất lượng hàng  
hóa được bảo hộ chỉ dẫn địa lý  
Có thể thấy, trong quá trình đóng gói bao bì, bảo  
quản và vận chuyển hàng vẫn chưa thể hiện được sự  
quan tâm, giám sát chặt chẽ và quản lý thực hiện  
nghiêm ngặt đối với sản phẩm được bảo hộ bởi chỉ  
dẫn này. Vậy nên, đã gây ra tình trạng suy giảm chất  
lượng hàng hóa khi tới tay người tiêu dùng, vì qua các  
khâu trung gian sản phẩm rất dễ bị pha trộn thành phần,  
thời gian vận chuyển hàng hóa lâu, điều kiện thời tiết  
không đảm bảo dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng đặc  
trưng thực sự của sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa  
lý. Trường hợp về chỉ dẫn địa lý chè Shan tuyết Mộc  
Châu là điển hình cho tình trạng đó khi sản phẩm chỉ  
được đóng theo bao 35kg vận chuyển đi nơi khác để  
bán chiếm tỷ lệ tới 90% [2]. Khi sản phẩm đến tay nhà  
phân phối trung gian, được mở ra đóng thành các gói  
lẻ để phân phối ra thị trường. Sau đó chuyển đến người  
tiêu dùng, bao bì sẽ không còn được vẹn nguyên như  
ban đầu, việc các nhà phân phối đóng gói lẻ để tiêu  
thụ sẽ không tránh khỏi tình trạng hàng hóa bị trộn lẫn  
cùng những sản phẩm cùng loại đến từ các nơi khác.  
Điều này làm cho hàng nông sản được chỉ dẫn địa lý  
vì thế mà giảm sút chất lượng và bị hạ thấp uy tín so  
với các mặt hàng khác.  
Tình trạng xuất hiện các mặt hàng giả gây ảnh  
hưởng nghiêm trọng tới tên tuổi, chất lượng, hình ảnh  
của hàng hóa được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nguy hại về  
chất lượng đối với người tiêu dùng nhưng vẫn chưa có  
các chế tài, quy định nghiêm ngặt xử lý. Điều đó nói  
lên hiệu quả ở khâu quản lý các sản phẩm đã được  
công nhận chỉ dẫn địa lý chưa thực sự phát huy hiệu  
quả, dẫn tới chất lượng của mặt hàng chính thống bị  
giảm xuống đáng kể.  
2.3. Hạn chế trong kiến thức thực tế về sản  
phẩm của người tiêu dùng  
Ngày nay, chỉ dẫn địa lý vẫn chưa mang tính phổ  
biến và lưu thông trong cộng đồng cũng làm giảm đi  
tính hiệu quả của chỉ dẫn địa lý đối với các mặt hàng  
nông sản nước ta. Mỗi sản phẩm được cấp văn bằng  
chỉ dẫn địa lý đều đã được kiểm tra về chất lượng đặc  
trưng theo vùng miền đó, chỉ dẫn địa lý như một sự  
kiểm định để tạo ra sự uy tín cho sản phẩm của địa  
phương đăng ký. Nếu nhiều người dân biết đến và  
hiểu hơn về chỉ dẫn địa lý thì giá trị đem lại cho các  
sản phẩm nông sản được bảo hộ sẽ tăng cao hơn, thúc  
đẩy phát triển nông nghiệp nước nhà, đóng góp nhiều  
thêm cho nền kinh tế quốc gia.  
Việc bảo vệ và cải tạo môi trường đặc trưng về mặt  
địa lý, nơi tạo ra sản phẩm được chứng nhận chỉ dẫn  
cũng cần nhận được sự quan tâm sát sao. Hiện nay ở  
nước ta có rất nhiều địa phương còn để nguyên đất  
trồng cây lâu năm mà không chăm sóc gây ra tình  
trạng thoái hóa đất nghiêm trọng và rất khó cải tạo. Ở  
một số nơi khác còn tận dụng đất trồng cây lâu năm  
để tiếp tục sử dụng nhưng lại không chú ý đến việc  
duy trì cấu trúc đất và dinh dưỡng trong đất. Đất trồng  
cây lâu năm rất dễ bị các vấn đề như xói mòn, rửa trôi  
làm mất đi các chất dinh dưỡng vì phải đảm bảo hoạt  
động cung cấp dưỡng chất cho các loại cây trồng trong  
một thời gian dài. Chính vì thế, cần sử dụng các biện  
pháp bổ sung dinh dưỡng hay cải tạo cấu trúc đất là  
vấn đề rất cần được quan tâm.  
Hơn nữa, người tiêu dùng vẫn còn gặp rào cản  
trong việc tiếp cận các kiến thức về sản phẩm và chưa  
phân biệt được sản phẩm được bảo hộ và sản phẩm  
giả trên thị trường. Vì vậy, tạo nên mối phân vân khi  
lựa chọn hàng hóa để sử dụng, thiếu đi sự tin tưởng  
của người dân vì rất nhiều mặt hàng được gắn mác bảo  
hộ theo chỉ dẫn địa lý nhưng đang bị làm giả. Đơn cử  
như chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm cà phê Buôn Mê  
Thuột, việc triển khai sử dụng khái niệm này hiện nay  
rất khó, gây ra các ảnh hưởng không tốt tới uy tín của  
mặt hàng được chứng nhận bảo hộ. Trên thị trường tồn  
tại rất nhiều loại hàng cà phê tuy không được làm ra  
trong khu vực đã khoanh vùng trên bản đồ địa lý bảo  
hộ nhưng lại được nhà sản xuất tổ chức đóng gói bao  
3. Nguyên nhân chỉ dẫn địa lý bị hạn chế  
Sau 20 năm, việc áp dụng chỉ dẫn địa lý vẫn chưa  
thực sự cho thấy những hiệu quả của nó mang lại đối  
SỐ 68 (11-2021)  
98  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
với các mặt hàng nông sản Việt Nam. Đây cũng là một  
sự tiếc nuối cho ngành nông nghiệp của ta nói chung  
vì để phát triển và nâng cao hiệu quả của cụm từ “chỉ  
dẫn địa lý” vẫn đang gặp phải một số khó khăn, hạn  
chế như:  
- Ở Việt Nam, các quy định đặt ra về “chỉ dẫn địa  
lý” gần như chưa phù hợp, gắn kết với chuẩn mực  
quốc tế.  
Mặc dù đã có sự bổ sung, sửa đổi “Luật Sở hữu trí  
tuệ” vào các năm 2009, năm 2019 với những thay đổi  
tích cực hơn về khâu đăng ký, cấp quyền cho những  
đối tượng, chủ thể đại diện sở hữu phù hợp theo chuẩn  
mực quốc tế. Song, nằm trong “Hồ sơ đề nghị xây  
dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của  
“Luật Sở hữu trí tuệ” dự định sẽ được trình lên Quốc  
hội xem xét và cho ý kiến vào Kỳ họp trong tháng 10  
năm 2021 và trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp  
tháng 5 năm 2022. Trong đó chỉ ra những điều kiện  
chưa phù hợp với những cam kết có trong các điều  
ước quốc tế mà Việt Nam mới là thành viên. Bên cạnh  
đó, những yêu cầu về các điều kiện bảo hộ cho chỉ dẫn  
địa lý nông sản của Việt Nam cũng tồn tại nhiều điểm  
chưa tương đồng và thiếu sự gắn kết với luật pháp  
quốc tế. Điển hình như quy định về các điều kiện cần  
để sản phẩm có thể đăng ký bảo hộ dưới dạng chỉ dẫn  
địa lý [1].  
- Do quy định của pháp luật Việt Nam chưa thực  
sự phù hợp với thực tiễn.  
Từ các phân tích ở trên, các quy định về quy trình  
đăng ký, sử dụng chỉ dẫn địa lý của pháp luật Việt  
Nam chưa thực sự phù hợp với thực tế và hiệu quả  
thực thi của các quy định không cao.  
- Một số quy định đặt ra đang tập trung chủ yếu  
vào vấn đề đăng ký, còn thiếu sót trong việc chú trọng  
sử dụng và quản lý chỉ dẫn địa lý hiện nay.  
Các quy định về chỉ dẫn địa lý có trong “Luật Sở  
hữu trí tuệ” và các văn bản hướng dẫn chưa đề cập đến  
hoạt động sử dụng và quản lý chỉ dẫn địa lý cho những  
mặt hàng đã được cấp bằng đăng ký mà mới chỉ đưa  
ra quá trình để đăng ký chứng nhận. Do vậy, phần lớn  
các chỉ dẫn địa lý đã được đăng ký nhưng không có  
một tổ chức, cá nhân nào được cấp quyền sử dụng để  
khai thác giá trị về mặt thương mại hóa dẫn tới tình  
trạng sử dụng hoàn toàn tự do, thiếu đi sự quản lý  
nghiêm ngặt, công tác bảo hộ còn lỏng lẻo đã gây ảnh  
hưởng không tốt đến tính chất đặc trưng, chất lượng  
của mặt hàng và uy tín của chỉ dẫn địa lý.  
- Hoạt động sử dụng và quản lý chỉ dẫn địa lý chưa  
được quan tâm đúng mức. Với những giá trị cốt lõi mà  
chỉ dẫn địa lý mang lại góp phần xây dựng thương  
hiệu mặt hàng nông sản Việt Nam, nâng tầm giá trị  
toàn ngành nông nghiệp nước nhà đã cho thấy mối  
quan tâm cấp thiết cần được chú trọng ngay lúc này.  
Tuy nhiên, soi chiếu trên quy định của luật pháp Việt  
Nam ta còn tồn tại nhiều mặt hạn chế, chúng ta vẫn  
chưa dành nhiều sự quan tâm tới đối tượng, mức đầu  
tư, hỗ trợ ngân sách dành cho nghiên cứu các yếu tố  
nằm trong chuyên môn còn thiếu, dẫn tới phát triển và  
thực hiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho những sản phẩm  
nông sản tại các địa phương, các vùng miền còn nhiều  
trở ngại và chậm phát triển.  
- Do thuật ngữ “Chỉ dẫn địa lý” còn mới đối với  
người tiêu dùng.  
Từ những ngày đầu được đưa vào sử dụng đến nay,  
chưa có chiến dịch quảng bá hay truyền thông mạnh  
mẽ nào để người tiêu dùng biết tới chỉ dẫn địa lý. Điều  
đó gây ra hạn chế về sự phổ biến và tiếp cận thị trường  
của các sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý bởi lẽ  
mọi sản phẩm khi đưa ra thị trường cần có sự đón nhận  
và ủng hộ của người tiêu dùng. Chưa mang hiểu biết  
về chỉ dẫn địa lý tới người tiêu dùng thì công dụng và  
giá trị của nó đem lại cho hàng hóa được bảo hộ chưa  
phát huy hiệu quả.  
4. Khuyến nghị  
Từ những khó khăn, nguyên nhân nêu trên, tác giả  
xin đưa ra một số khuyến nghị sau đây:  
⁕ Về phía Nhà nước:  
- Chưa có quy định của pháp luật liên quan tới quy  
trình đóng gói, bảo quản hàng hóa từ khâu sản xuất  
đến tay người tiêu dùng.  
- Cần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật từ các  
khâu cho phép đơn đăng ký, khâu sử dụng, khâu quản  
lý cũng như bảo đảm cho việc chỉ dẫn địa lý theo  
hướng: Cụ thể hoá những nội dung liên quan tới sử  
dụng và quản lý chỉ dẫn địa lý để đẩy mạnh thêm hoạt  
động này; đưa ra những quy định rõ ràng về quyền sở  
hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý đối với các sản  
phẩm được chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Nhà  
nước cần đưa ra các hình thức xử phạt cụ thể, khắt khe  
với những trường hợp làm giả nhãn hiệu, làm giảm giá  
Sau khi đã được chứng nhận chỉ dẫn địa lý, khâu  
sử dụng vẫn chưa được quy định và kiểm soát chặt chẽ.  
Quy trình đóng gói hàng hóa chưa được quan tâm sát  
sao, còn để xảy ra nhiều trường hợp bị pha trộn khi  
qua khâu trung gian bán hàng. Điều đó dẫn tới suy  
giảm chất lượng của sản phẩm, không còn được đúng  
với các tính chất đặc trưng của vùng miền, gây ra ảnh  
hưởng nghiêm trọng tới uy tín của chỉ dẫn địa lý.  
SỐ 68 (11-2021)  
99  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KINH TẾ - XÃ HỘI  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
trị và chất lượng sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý  
như xử phạt hành chính, tước giấy phép kinh doanh,...  
Kết hợp cùng với các nhà khoa học, cập nhật công  
nghệ mới phục vụ cho chăm sóc và sản xuất nông sản.  
- Để thuận tiện hơn cho việc đăng ký, cần bổ sung  
thêm quy định cụ thể về xác định khu vực địa lý của  
nông sản, nếu mặt hàng đó nằm giữa 2 địa phương có  
thể xét theo tỷ lệ về diện tích nằm bên nào nhiều hơn.  
Xem xét lại các quy định về khâu minh chứng mối  
quan hệ của thành phần chất lượng có trong sản phẩm  
với khu vực tạo ra sản phẩm đó nhằm giảm sự phức  
tạp khi phải làm nhiều nghiên cứu cấu trúc. Giới hạn  
lại chỉ cần minh chứng cụ thể quá trình hóa học và tính  
đặc trưng của nông sản địa phương đặc biệt hơn so với  
mặt hàng đó ở các địa phương khác. Khắc phục tồn tại  
và xem xét lại những điểm chưa tương đồng với luật  
pháp quốc tế, trước hết là về quy định các điều kiện  
cần để sản phẩm có thể đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý.  
- Các địa phương cần tăng cường xây dựng thêm  
những mô hình chuẩn về tổ chức, khai thác và quản lý  
các mặt hàng có tiềm năng được chứng nhận chỉ dẫn  
địa lý, đưa ra các chế tài quản lý bảo hộ chỉ dẫn địa lý  
vào là một phần trong chính sách phát triển nông  
nghiệp; tăng cường việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý  
cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam đã được bảo  
hộ trong nước ra nước ngoài, đặc biệt là ở các quốc  
gia có nhiều người Việt học tập, sinh sống và làm việc  
như Pháp, Đức, Mỹ, Nga,... Đưa sản phẩm nông sản  
của Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế thông qua chỉ  
dẫn địa lý với bước đệm đã được đảm bảo, kiểm tra  
về chất lượng.  
- Các địa phương cần quan tâm hơn nữa và rà soát  
lại các đặc sản của vùng mình để tiến hành thực hiện  
các thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý, đồng thời cần đẩy  
mạnh các biện pháp phòng, chống sản xuất, tiêu thụ  
sản phẩm giả mạo các sản phẩm chính thống được cấp  
phép bảo hộ chỉ dẫn địa lý để đảm bảo về uy tín, danh  
tiếng cho các mặt hàng mang chỉ dẫn địa lý. Coi chỉ  
dẫn địa lý như một mức độ kiểm tra, đảm bảo về chất  
lượng hàng nông sản của địa phương để nâng cao giá  
trị hàng hóa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.  
- Cần làm rõ về vai trò của các cơ quan chuyên  
môn, cơ quan quản lý, các chủ sử dụng, các hiệp hội,  
tổ chức tập thể,… trong việc khai thác, sử dụng, quản  
lý và bảo vệ quyền đối với các sản phẩm hàng nông  
sản địa phương được cấp bằng chỉ dẫn địa lý. Chuyên  
môn hóa các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát nhằm đảm  
bảo giữ được tính chất đặc trưng vùng miền của hàng  
hóa được chỉ dẫn, tối ưu hóa giá trị của chỉ dẫn địa lý  
đem lại cho hàng hóa nông sản địa phương.  
- Nhà nước cần kết hợp với địa phương và các  
kênh truyền thông để đẩy mạnh việc đưa thông tin  
chính xác về chỉ dẫn địa lý với những lợi ích mà nó  
mang lại cho người tiêu dùng. Đặc biệt cần tuyên  
truyền hướng dẫn người mua cách phân biệt hàng thật  
giả của các sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Cụ  
thể có thể đưa ra các dấu hiệu nhận biết về tem mác,  
ký hiệu đặc trưng không thể làm giả, độc quyền của  
người hoặc đơn vị sở hữu chỉ dẫn địa lý. Việc đó giúp  
người tiêu dùng có sự tin tưởng và yên tâm với sản  
phẩm mình lựa chọn, đã nhận được đúng sản phẩm  
đảm bảo chất lượng đặc trưng của đặc sản địa phương.  
- Người/ đơn vị sở hữu của sản phẩm được bảo hộ  
chỉ dẫn địa lý cần quan tâm và giám sát chặt chẽ khâu  
đóng gói bảo quản hàng hóa. Quy định rõ ràng về hình  
thức, khối lượng, số lượng trong một đơn vị bao gói  
để tránh tình trạng chuyển bao bì dễ gây ra tình trạng  
pha trộn, suy giảm chất lượng đặc trưng của sản phẩm  
được bảo hộ.  
5. Kết luận  
Ngày nay, chỉ dẫn địa lý đã được nhà nước quan  
tâm và đẩy mạnh hỗ trợ người nông dân đăng ký sản  
phẩm sản xuất của mình tối đa nhất có thể. Tuy nhiên,  
vẫn gặp phải các vấn đề khiến cho hiệu quả sử dụng,  
quản lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý chưa được cao. Cần  
tạo ra nhiều chính sách cải thiện, nâng cao, để hạn chế  
khuyết điểm, phát huy tối đa mọi giá trị của chỉ dẫn  
địa lý đem lại cho nông sản Việt Nam, đẩy mạnh tăng  
cường phát triển kinh tế nông nghiệp, đóng góp cho  
nền kinh tế nước nhà.  
- Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý có thể tham  
khảo áp dụng cơ sở dữ liệu Blockchain (Chuỗi khối)  
để chứng minh nguồn gốc cho các hàng hóa được bảo  
hộ bằng cách mã hóa. Ngoài ra có thể áp dụng thêm  
hình thức dùng mã QR cho mỗi sản phẩm để người  
tiêu dùng dễ dàng kiểm tra kiểm hóa, hạn chế tình  
trạng hàng nhái.  
⁕ Về phía địa phương có sản phẩm nông sản được  
bảo hộ:  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trích dẫn theo Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ.  
- Địa phương cần quan tâm, hướng dẫn người nông  
dân cách chăm bón cây, cải tạo đất cứng, trồng đúng  
giống để đảm bảo giữ đúng tính chất đặc trưng của  
nông sản đã được bảo hộ mang tên tuổi địa phương.  
[2] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Những  
giải pháp để phát triển đăng ký cho các sản phẩm  
đặc sản ở Việt Nam, NXB. Nông nghiệp, 2007.  
SỐ 68 (11-2021)  
100  
TẠP CHÍ  
ISSN: 1859-316X  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HÀNG HẢI  
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ  
JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY  
[3] Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn tỉnh Đăk Lăk.  
Ngày nhận bài:  
23/5/2021  
16/6/2021  
06/7/2021  
Ngày nhận bản sửa:  
Ngày duyệt đăng:  
[5] Bùi Thị Hằng Nga, Nguyễn Minh Bách Tùng  
(2021), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý: yêu cầu của phát  
triển nông nghiệp bền vững, tại link  
[6] Quang Huy (2014), 80% nước mắm Phú Quốc là  
hàng giả, tại link https://plo.vn/kinh-te/80-nuoc-  
20/5/2020.  
SỐ 68 (11-2021)  
101  
pdf 6 trang Thùy Anh 16240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số khuyến nghị trong sử dụng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_khuyen_nghi_trong_su_dung_va_bao_ho_chi_dan_dia_ly_ch.pdf