Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN: Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ
30
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN:
Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ
The relationships between ASEAN stock markets:
A spectral Granger causality approach
Trần Thị Tuấn Anh1*
1Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
econ.vi.17.1.1791.2022
Bài viết sử dụng thông tin về tỷ suất sinh lợi chứng khoán hằng
ngày của thị trường chứng khoán các nước ASEAN6 để khảo sát
mối liên hệ giữa các thị trường thông qua kiểm định Granger truyền
thống và kiểm định Granger dạng phổ. Kết quả kiểm định Granger
truyền thống cho thấy giữa các quốc gia ASEANs có sự kết nối khá
chặt chẽ, không có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới liên kết
với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của từng quốc gia trong
mạng lưới kết nối này là khác nhau. Việt Nam đóng vai trò là quốc
gia nhận tác động Granger nhiều nhất trong khi Philippines là quốc
gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều
nhất. Kiểm định Granger dạng phổ để xem xét chi tiết tác động
Granger ở nhiều tần số ω khác nhau. Vai trò của các quốc gia trong
mạng lưới thay đổi rất nhiều khi xem xét ở các độ dài chu kỳ tuần
hoàn khác nhau. Indonesia là quốc gia có sự kết nối thay đổi nhiều
nhất giữa các chu kỳ tuần hoàn, chuyển từ vai trò quốc gia truyền
thông tin ở khi xét ở chu kỳ tuần hoàn ngắn sang vai trò nhận thông
tin ở chu kỳ tuần hoàn dài. Thái Lan và Singapore đóng vai trò chủ
động truyền thông tin đến các thị trường khác trong tất cả các chu
kỳ tuần hoàn được xem xét trong bài, trong khi ở hầu hết các trường
hợp thì Việt Nam là quốc gia nhận thông tin.
Ngày nhận: 05/04/2021
Ngày nhận lại: 08/06/2021
Duyệt đăng: 03/07/2021
Từ khóa:
kiểm định nhân quả Granger;
kiểm định nhân quả Granger
dạng phổ; thị trường chứng
khoán các nước ASEAN
ABSTRACT
This article collects data of ASEAN6’s daily stock returns to
investigate the relationships among them by traditional Granger
causality test in combination with spectral Granger causality test.
Traditional Granger test results show that there exists close
relationships among ASEAN6’s stock markets, in which no
country is isolated from the others. However, the role of each
country in this network is quite different. Vietnam receives
Granger effects from all other countries. Philippines has the most
intergrated stock market. Spectral Granger causality test also
reveals Granger effect in many different frequencies of stock return
series. Indonesia is the country that changes role the most between
different frequencies, shifting from a country that transmits
Keywords:
ASEAN stock markets;
Granger causality test; spectral
Granger causality
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
31
information at high frequencies to a role of receiving information
at low frequencies. Thailand and Singapore play active roles in
transmitting information to other markets under all considered
frequencies considered while in most cases Vietnam is the
receiving country.
1. Giới thiệu
Sự kiện cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được chính thức thành lập ngày 31 tháng 12
năm 2015 đã trở thành sự kiện quan trọng đánh dấu sự vượt bậc trong quan hệ kinh tế giữa các
nước ASEAN. Các mục tiêu quan trọng mà cộng đồng AEC hướng tới bao gồm hợp tác phát triển
kinh tế, tự do hơn trong lưu chuyển thương mại và lưu chuyển các nguồn vốn, lan tỏa tri thức và
công nghệ, từ đó xây dựng khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng. Thông qua AEC, các quốc gia
ASEAN không những sẽ chủ động hội nhập tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu mà còn phát triển
năng động với khả năng cạnh tranh ngày càng được củng cố trên trường quốc. Sau hơn 05 năm
thành lập, cộng đồng Kinh tế ASEAN đã đạt được những bước hội nhập quan trọng trong kinh tế,
trong đó có lĩnh vực tài chính. Nhiều biện pháp để mở rộng liên kết giữa các thị trường đã được
đề xuất về thực thi, như việc thông qua các Tiêu chuẩn công bố thông tin ASEAN (ASEAN
Disclosure Standards) hay Kết nối thương mại ASEAN (ASEAN Trading Link) giữa các quốc gia
có thị trường chứng khoán như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Việt Nam và
Singapore. Kết nối thương mại ASEAN đã tạo ra một kết nối linh hoạt giữa thị trường chứng khoán
của 06 quốc gia ASEAN này và tạo ra một mạng lưới lan truyền thông tin nhanh chóng và hiệu
quả giữa các thị trường.
Để đánh giá thành quả hoạt của các hoạt động kết nối thị trường, việc xem xét và đánh giá
thành quả hội nhập về kinh tế cũng như hội nhập về tài chính giữa các quốc gia ASEAN là một
trong những vấn đề chính phủ và các nhà đầu tư quan tâm. Với nhận định này, bài viết hướng tới
khảo sát và đo lường mức độ kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN thành viên của Liên
kết thương mại ASEAN từ năm 2015 đến nay. Từ kết quả định lượng, bài viết thể hiện sự kết nối
dưới dạng mạng lưới và thảo luận về mức độ kết nối của từng quốc gia trong mạng lưới kết nối
này, sự thay đổi của mạng lưới ở những chu kỳ thời gian khác nhau. Bài viết cũng nêu ra hàm ý
cho người làm quản ký cũng như cho nhà đầu tư từ kết quả nghiên cứu đạt được.
Với mục tiêu nghiên cứu về định lượng sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán trong
ASEAN6, phần còn lại của bài viết được tổ chức như sau: Mục 2 của bài viết thể hiện tổng quan
các nghiên cứu có liên quan về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán cũng như một số kết
quả nghiên cứu về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN đã được công bố; Mục 3
của bài viết giới thiệu về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 thực hiện phân tích số liệu
và thảo luận kết quả thực nghiệm đạt được; Mục 5 tóm tắt kết quả chính bài báo đạt được và đề
xuất một số hàm ý chính sách từ kết quả này.
2. Tổng quan nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều công cụ định lượng khác nhau để đo lường mức độ
kết nối giữa các thị trường chứng khoán. Trong các công cụ định lượng được sử dụng có thể đề
cập đến ba hướng tiếp cận truyền thống đã được dụng rất phổ biến: (1) Kiểm định nhân quả
Granger; (2) Đo lường kết nối động theo phương pháp của Diebold và Yilmaz (2009, 2012, 2014)
và (3) Đo lường thông tin chung và sự truyền thông tin giữa các thị trường bằng Tranfer entropy
được đề xuất bởi Schreiber (2000). Mỗi hướng tiếp cận truyền thống này đề có những ưu điểm
riêng về phương pháp và cách diễn giải kết quả đại được.
Phương pháp kiểm định nhân quả Granger do Granger (1969) đề xuất là phương pháp được
sử dụng phổ biến nhất bởi tính đơn giản của kiểm định, kết quả đạt được khá trực quan và dễ giải
32
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
thích khi sử dụng các thông tin trong quá khứ của các chuỗi thời gian để dự báo tương lại của
chúng. Nếu các thông tin trong quá khứ của một chuỗi thời gian Xt là hữu ích, có thể được sử dụng
để dự báo các giá trị trong tương lai của Yt thì có thể xem như Xt có tác động đến Xt. Tuy nhiên,
hạn chế của phương pháp kiểm định nhân qua Granger thể hiện ở việc kiểm định này đòi hỏi tính
dừng của dữ liệu, chỉ kiểm định được quan hệ dạng tuyến tính và giả định rằng yếu tố đóng vai trò
nguyên nhân luôn phải xảy ra trước yếu tố đóng vai trò kết quả. Các nghiên cứu đã sử dụng phương
pháp nhân quả Granger để đo lường mối quan hệ giữa các thị trường chứng khoán của Atmadja
(2005), Sum (2013), Mohamed và Masih (2017) và nhiều nghiên cứu khác.
Các tiếp cận bằng kết nối động do Diebold và Yilmaz (2009, 2012, 2014) đề xuất cũng dựa
trên giả định về tính dừng của dữ liệu và mối quan hệ dạng tuyến tính của các chuỗi thời gian. Hệ
số kết nối động giữa các chuỗi thời gian được thực hiện thông qua việc ước lượng mô hình VAR
và kết quả phân rã phương sai của mô hình VAR thu được. Phương pháp này đã được áp dụng để
phân tích hiệu ứng lan truyền giữa thị trường chứng khoán các quốc gia châu Á như trong nghiên
cứu của Chow (2017), Joshi (2011), Tungsong, Caccioli, và Aste (2018) hay Tran (2020a) đã áp
dụng kỹ thuật này để đo lường cho trường hợp của các quốc gia ASEAN.
Khác với hai phương pháp trên đều dựa trên mối quan hệ dạng tuyến tính giữa các chuỗi
thời gian dừng và được kiểm định thông các các mô hình hồi quy, phương pháp xác định mối quan
hệ dựa trên đại lượng transfer entropy đề xuất của Schreiber (2000). Transfer entropy thực hiện đo
lường lượng thông tin chung giữa Yt và các chuỗi dữ liệu trong quá khứ của Xt, từ đó đánh giá mức
độ truyền thông tin giữa chuỗi thời gian X đến chuỗi thời gian Y. Nếu đại lượng transfer entropy
có tính trễ theo thời gian giữa Xt và Yt có ý nghĩa thống kê thì xem như có sự di chuyển thông tin
từ Xt đến Yt . Một số nghiên cứu tiếp cận theo các này để nghiên cứu thị trường chứng khoán
ASEAN có thể kể đến nghiên cứu của Tungsong và cộng sự (2018) hay Tran (2020b).
Tuy nhiên, cả ba các tiếp cận trên đều xem xét và phân tích các chuỗi thời gian theo cái
nhìn truyền thống về tính thứ tự của các thời điểm thu thập dữ liệu và cấu trúc thành phần của
chuỗi thời gian theo cách tiếp cận này bao gồm tính xu thế, tính chu kỳ, tính mùa vụ và thành phần
sai số ngẫu nhiên. Trong các hướng phân tích chuỗi thời gian hiện đại, một chuỗi thời gian thay vì
được khảo sát theo chiều thời gian sẽ được khảo sát theo tần số trong tính tuần hoàn của dữ liệu.
Đặc tính tuần hoàn của chuỗi thời gian được khảo sát thông qua kỹ thuật phân tích phổ (spectral
analysis) và cho phép khám phá các chu kỳ cơ bản chuỗi. Để thực hiện phép phân tích phổ, các
chuỗi thời gian dừng được phân rã thành tổ hợp của các chuỗi tuần hoàn có tần số khác nhau tương
ứng với độ dài chu kỳ khác nhau của chuỗi. Với ý tưởng này, Geweke (1982, 1984), Hosoya (1991)
và tiếp theo đó là nghiên cứu của Breitung và Candelon (2006) đã thực hiện kiểm định nhân quả
Granger trên từng thành phần theo chu kỳ của chuỗi thời gian, từ đó cho phép chi tiết hóa tác động
nhân quả Granger của chuỗi theo từng độ dài thời gian khác nhau. Các làm này được gọi là kiểm
định nhân quả Granger dạng phổ (spectral Granger causality).
Kỹ thuật kiểm định nhân quả Granger dạng phổ đã được Lemmens, Croux, và Dekimpe
(2008) sử dụng trong mô phỏng và dự báo sản lượng kỳ vọng ở châu Âu và so sánh kết quả với
các công cụ truyền thống. Tiwari (2014) đã sử dụng kiểm định nhân quả Granger theo tần số để
khảo sát mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ điện và GDP của Hoa Kỳ và nhận thấy
rằng giữa các tần số khác nhau thì quan hệ nhân quả Granger diễn ra với chiều hướng và độ mạnh
khác nhau. Prats và Sandoval (2020) áp dụng kết hợp phương pháp kiểm định nhân quả Granger
truyền thống, kiểm định Toda-Yamamoto và kiểm định Granger dạng phổ phân tích mối quan hệ
giữa giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán với GDP và GDP thực tế ở 10 quốc gia Trung và Đông
Âu (CEEC). Các kết quả thu được cho thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả theo cả hai chiều
giữa các biến ở một số lượng đáng kể các quốc gia, và đặc biệt là ở những quốc gia mà các biến
thể hiện rõ ràng là đồng liên kết (Bulgaria, Hungary, Latvia, Romania, Slovakia, & Slovenia).
Phương pháp kiểm định nhân quả Granger dạng phổ đang dần được sử dụng rộng rãi trên
thế giới khi khảo sát chi tiết các mối liên hệ về mặt thống kê giữa các chuỗi thời gian, đặc biệt là
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
33
các chuỗi thời gian tài chính. Trong khí đó, ở Việt Nam, kỹ thuật này kiểm định Granger dạng phổ
dường như còn khá mới mẻ; gần như chưa có bài nghiên cứu áp dụng kỹ thuật này trong phân tích
kinh tế các chuỗi thời gian của thị trường Việt Nam. Do vậy, thông qua bài báo này được thực hiện
nhằm giới thiệu một công cụ nghiên cứu định lượng hữu hiệu trong phân tích tài chính cũng như
làm rõ nét hơn sự kết nối giữa thị trường chứng khoán ở các quốc gia ASEAN theo từng tần số
khác nhau. Việc biết được sự kết nối giữa thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN thay đổi
theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp các nhà đầu tư có chiến lược xây dựng danh mục đầu tư hợp
lý trong những khoảng thời gian khác nhau, đồng thời ra các quyết định đáng tin cậy tùy trên điều
kiện giới hạn thời gian. Ngoài ra, những người làm chính sách cũng có những giải pháp khả thi và
chiến lược phát triển thị trường tương ứng với chu kỳ tuần hoàn của thị trường.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu
Bài viết thu thập dữ liệu về giá đóng cửa của chỉ số chứng khoán cùng với tỷ suất sinh lợi
hằng ngày của 06 quốc gia Đông Nam Á thành viên của Kết nối thương mại ASEAN, bao gồm
Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines. Dữ liệu được thu thập trong
giai đoạn từ ngày 02/01/2015 đến 31/03/2021. Từ chỉ số chứng khoán thu thập được. Sáu chỉ số
chứng khoán đại diện cho thị trường chứng khoán của các quốc gia theo thứ tự lần lượt là VN-
Index (Vietnam Stock Index, Việt Nam), SET (Stock Exchange of Thailand SET Index, Thái Lan),
JCT (Jakarta Stock Exchange Composite Index, Indonesia), FTSE (Bursa Malaysia KLCI Index,
Malaysia), STI (FTSE Straits Times Index, Singapore), và PSEI (Philippines Stock Exchange
Index, Philippines).
Số liệu được thu thập từ trang Web investing.com và các tính toán tương ứng được thực
hiện bằng phần mềm Stata. Hình 1 biểu diễn chuỗi tỷ suất sinh lợi tương ứng. kiểm định Granger
thông thường và kiểm định Granger dạng phổ sẽ được áp dụng trên chuỗi thời gian về tỷ suất sinh
lợi hàng ngày. Các phương pháp này được trình bàytrong Mục 3.2.
(b) Tỷ suất sinh lợi thị trường Malaysia
(a) Tỷ suất sinh lợi thị trường Indonesia
(c) Tỷ suất sinh lợi thị trường Philippines
(d) Tỷ suất sinh lợi thị trường Singapore
34
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
(e) Tỷ suất sinh lợi thị trường Thái Lan
(f) Tỷ suất sinh lợi thị trường Việt Nam
Hình 1. Đồ thị biến động chỉ tỷ suất sinh lợi hàng ngày của 06 quốc gia ASEAN
3.2. Kiểm định nhân quả Granger tuyến tính
Granger (1969) đã giới thiệu phương pháp kiểm định nhân quả Granger giữa hai chuỗi thời
gian giúp đo lường mối quan hệ dạng tuyến tính giữa chúng. Kiểm định nhân quả Granger giữa hai
chuỗi thời gian Xt và Yt bao gồm kiểm định hai chiều: (1) Xt tác động Granger đến Yt và (2) Yt tác
động Granger đến Xt. Trong kiểm định Xt tác động Granger đến Yt thì Xt đóng vai trò nguyên nhân
(cause) và Y đóng vai trò kết quả (effect). Kiểm định tác động Granger (1969) của Xt đến Yt được
H : ... 0
thực hiện thông qua việc kiểm định giả thuyết
của phương trình hồi quy:
0
1
p
p
p
Y 0
Y
j Xt j
t
(1)
t
j
t j
j1
j1
H0 :1 ... p 0
bị bác bỏ thì đây là bằng chứng thống kê để cho thấy
Nếu giả thuyết
rằng Xt có tác động Granger đến Yt. Cách nói “Xt có tác động Granger đến Yt.” thể hiện hàm ý
rằng các thông tin trong quá khứ của Xt có thể được sử dụng để dự báo thông tin kỳ hiện tại và
tương lai của Yt, kết hợp với việc kiểm soát đầy đủ các thông tin trong quá khứ của chính Yt. Việc
kiểm định sự tác động Granger của Yt lên Xt được thực hiện tương tự như (1) với biến phụ thuộc
trong mô hình là Xt.
3.3. Kiểm định nhân quả Granger dạng phổ
Breitung và Candelon (2006) xây dựng kiểm định nhân quả Grange dạng phổ cho phép xác
định tác động nhân quả Granger của Xt đến Yt theo từng tần số của chuỗi. Việc xác định tác động
Granger dạng phổ giúp khảo sát chi tiết về việc thông tin mang tính trễ của từng thành phần theo
tần số của Xt có giúp dự báo thành phần cùng tần số tương ứng của Yt hay không. Điều kiện để thực
hiện kiểm định Granger truyền thống cũng như kiểm định dạng phổ là các chuỗi thời gian Xt đến
Yt đưa vào kiểm định phải là chuỗi dừng.
Zt (Xt ,Y )
Đặt
và mô hình VAR(p) của Zt như sau:
t
(I2 A L ... Ap Lp )Zt t
(2)
1
Trong đó,
L: Toán tử lùi;
Ai: ma trận hệ số cấp
của độ trễ i, i = 1, 2,…, p;
22
I2: ma trận đơn vị cấp 2;
,
t (1t ,2t ) là vecto sai số trong đó
2t là các chuỗi nhiễu trắng với E(t ) 0 và ma
1t
E(t .t )
trận hiệp phương sai
là xác định dương.
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
35
1 H.H1
Thực hiện phân rã Cholesky với ma trận hiệp phương sai , giả sử ta được
với H là ma trận tam giác dưới.
Mô hình (1) được biến đổi thành dạng VMA (Vector Moving Average) như sau
Zt (L)t
(3)
(4)
Hay
X
11(L) 12 (L)
t
1t
Y
21(L)
22 (L) 2t
t
1t
E( . ) I
Sau đó phân rã sai số thành các cú sốc trực giao t
Mô hình sau khi phân rã thành các cú sốc trực giao có dạng
G
t , trong đó
.
t
t
2t
X
11(L) 12 (L)
t 1t
(5)
Y
21(L)
22 (L) 2t
t
11(L) 12 (L)
Với các ký hiệu được đặt tương ứng là (L)
,
21(L) 22 (L)
(L) (I2 A L ... Ap Lp )1
,
(L) (L).G1
.
1
Sử dụng phép biến đổi Fourier trên các chuỗi thời gian ở dạng trung bình trượt sẽ thu được
hàm mật độ dạng phổ của Xt như sau:
2
2
1
fX (
)
11(ei )
12 (ei )
(6)
2
Geweke (1982) đề xuất công thức để đo lường tác động từ Xt đến Yt như sau:
2
12 (ei )
2
fX (
)
MX Y
(
) log
log 1
(7)
2
2
11(ei )
11(ei )
Nếu
12 (ei ) 0 thì MX Y
(
)
cũng sẽ bằng 0, điều đó có nghĩa là Xt không có tác động
đến Yt ở tần số ω. Vì vậy, giả thuyết H0 tương ứng của kiểm định nhân quả Granger Xt đến Yt ở tần
số ω là
H0 : MX Y
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu
(
) 0
(8)
Dữ liệu về tỷ suất sinh lợi hằng ngày trên thị trường chứng khoán của sáu quốc gia ASEAN
được được hiện thống kê mô tả trong Bảng 1. Theo các giá trị thống kê mô tả, có thể thấy rằng
trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021, Thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ suất sinh lợi
trung bình hằng ngày cao nhất trong số các quốc gia được nghiên cứu, tiếp đến là thị trường chứng
khoán Indonesia. Ngược lại, thị trường chứng khoán duy nhất có giá trị trung bình của tỷ suất sinh
lợi mang dấu âm trong toàn bộ giai đoạn thu thập số liệu là Malaysia.
Khi thực hiện thống kê mô tả, độ lệch chuẩn thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh
lợi thị trường cũng rất được quan tâm. Thị trường Việt Nam có tỷ suất sinh lợi trung bình hằng
ngày cao nhất nhưng không phải là thị trường có độ biến động cao nhất mà chỉ đứng thứ hai sau
thị trường của Philippins. Ngược lại với trường hợp của Việt Nam, thị trường chứng khoán của
Philippines có tỷ suất sinh lợi nằm trong số 02 quốc gia thấp nhất nhưng độ biến động thể hiện
36
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
mức rủi ro thị trường lại cao nhất. Thị trường chứng khoán Malaysia có tỷ suất sinh lợi trung bình
thấp nhất nhưng đồng thời cũng là thị trường có độ biến động thể hiện bằng độ lệch chuẩn thấp
nhất trong số sáu quốc gia được phân tích.
Bảng 1
Thống kê mô tả tỷ suất sinh lợi hàng ngày của thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN
Số
quan sát
Trung
bình
Độ
Giá trị
Giá trị
Kiểm định
Quốc gia
Indonesia
lệch chuẩn nhỏ nhất lớn nhất Shapiro-Wilk
1,626
1,626
1,626
1,626
1,626
1,626
0.014
-0.004
0.000
0.003
0.008
0.054
1.018
0.702
1.201
0.928
0.978
1.079
-6.580
-5.260
-13.340
-7.210
-10.800
-6.670
10.190
6.850
7.440
6.940
7.950
4.980
11.367***
11.341***
11.873***
11.297***
13.097***
11.116***
Malaysia
Philippines
Singapore
Thái Lan
Việt Nam
*,**,***: Có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%
Nguồn: Tác giả tự tính toán với số liệu thu thập được
Bảng 2 thực hiện kiểm định tính dừng đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi của cả sáu thị trường.
Vì tính dừng là điều kiện cần thiết để thực hiện các hồi quy và kiểm định nhân quả Granger truyền
thống cũng như kiểm định Granger dạng phổ nên bài viết đã thực hiện kiểm định tính dừng bằng
cả hai phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) và kiểm định Phillip - Perron nhằm đảm bảo
tính tin cậy cho kết quả thu được. Độ trễ thích hợp nhất để kiểm định cho từng chuỗi được thể hiện
ở cột 02 trong Bảng 2 và độ trễ này được lựa chọn theo tiêu chí thông tin AIC (Akaike Information
Criteria). Kết quả kiểm định cho thấy chuỗi tỷ suất sinh lợi hằng ngày của các thị trường đều là
chuỗi dừng tại độ trễ được lựa chọn. Kết quả kiểm định này thuận lợi cho việc phân tích nhân quả
Granger của các chuỗi thời gian sẽ được thực hiện trong Mục 4.2.
Bảng 1
Kiểm định tính dừng chuỗi tỷ suất sinh lợi hàng ngày của thị trường chứng khoán các quốc gia
ASEAN
Quốc gia
Toàn bộ mẫu
Indonesia
Độ trễ
ADF
Phillip-Perron
2
3
3
3
3
2
-28.586***
-21.365***
-21.363***
-21.096***
-21.009***
-25.688***
-37.941***
-39.762***
-41.166***
-40.010***
-42.870***
-37.878***
Malaysia
Philippines
Singapore
Thái Lan
Việt Nam
*,**,***: có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%
Nguồn: Tác giả tự tính toán với số liệu thu thập được
4.2. Kết quả nghiên cứu
Để khảo sát sự kết nối giữa thị trường chứng khoán các quốc gia thuộc ASEAN6, bài viết
sử dụng kiểm định nhân quả Granger truyền thống kết hợp với kiểm định nhân quả Granger dạng
phổ. Kiểm định nhân quả Granger truyền thống được thực hiện để cho thấy sự kết nối giữa các thị
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
37
trường trên miền thời gian trong khi kiểm định nhân quả Granger dạng phổ cho thấy mối liên hệ
trên miền tần số, mỗi tần số ứng với một chu kỳ tuần hoàn cụ thể với đơn vị chu kỳ tuần hoàn được
tính bằng ngày giao dịch theo công thức:
2
Độ dài chu kỳ tuần hoàn =
(9)
Theo công thức (9), một chuỗi thời gian có tần số thấp cũng có nghĩa là độ dài chu kỳ tuần
hoàn của chuỗi càng dài. Ngược lại, một chuỗi có tần số cao sẽ có độ dài chu kỳ tuần hoàn ngắn.
Ví dụ nếu chuỗi có độ dài chu kỳ tuần hoàn là 120 ngày thì sẽ tương ứng với tần số ω = 0.052;
một chuỗi có độ dài chu kỳ tuần hoàn 05 ngày sẽ có tần số ω = 1.25. Để xem xét các trường hợp
điển hình, bài viết này sẽ chọn phân tích ở ba tần số cụ thể ω = 3.14 (độ dài chu kỳ tuần hoàn là
02 ngày), ω = 1.26 (độ dài chu kỳ tuần hoàn là 05 ngày) và ω = 0.68 độ dài chu kỳ tuần hoàn là
10 ngày. Các kết quả tương ứng với các chu kỳ này sẽ được thể hiện ở Mục 4.3.
Do có sáu chuỗi tỷ suất sinh lợi của sáu quốc gia cần được phân tích và kiểm định nhân quả
6!
Granger được thực hiện cho từng cặp chuỗi thời gian nên sẽ có tất cả C62
15 cặp. Kiểm
2!4!
định Granger được thực hiện hai chiều cho mỗi cặp nên tổng số kiểm định Granger được thực
hiện là 30. Các kết quả kiểm định Granger dạng phổ được thể hiện trong Phụ lục 1. Phụ lục 1
biểu diễn đầy đủ kết quả kiểm định Granger giữa sáu thị trường sẽ bao gồm 30 dòng kết quả và
cột 01 của Phụ lục 1 dùng để thể hiện chiều hướng tác động từ chuỗi tỷ suất sinh lợi của thị
trường đóng vai trò nguồn tác động đến chuỗi đóng vai trò kết quả nhận tác động. Lưu ý rằng
tác động trong kiểm định Granger chỉ hàm ý rằng thông tin trong quá khứ chuỗi nguồn có thể
hữu ích để dự báo thông tin tương lai của chuỗi đích thay vì kết luận về mặt nguyên nhân kết
quả theo các lý thuyết kinh tế.
Nếu như cột 01 của Phụ lục 1 cho biết cặp chuỗi tỷ suất sinh lợi được kiểm định thì cột 02
cho biết độ trễ tối ưu được xét của cặp chuỗi tỷ suất sinh lợi đó. Độ trễ tối ưu này cũng được lựa
chọn theo tiêu chí AIC. Cột 03 của Phụ lục 1 thể hiện kết quả kiểm định Granger truyền thống.
Cột 04 thể hiện kết quả kiểm định Granger dạng phổ dưới dạng đồ thị; trục hoành biểu thị tần số
ω nhận giá trị từ 0 đến π và trục tung là độ lớn của giá trị thống kê kiểm định tương ứng với từng
tần số. Trên đồ thị vẽ sẵn đường nằm ngang màu xanh là biểu diễn giá trị tới hạn của mức ý nghĩa
10% và đường nằm ngang màu đỏ ứng với giá trị tới hạn ở mức ý nghĩa 5%. Tại những khoảng
giá trị của ω mà đường biểu diễn thống kê kiểm định nằm phía trên đường giá trị tới hạn thì điều
đó có nghĩa là ở những mức tần số tương ứng thì tác động nhân quả của quốc gia nguồn đến quốc
gia đích có ý nghĩa thống kê.
Tiêu biểu có thể xét cụ thể đồ thị biểu diễn kết quả tác động Granger từ Malaysia đến
Indonesia ở dòng hai của Phụ lục 1. Độ trễ tối ưu được lựa chọn để thực hiện kiểm định là độ trễ
05 Kiểm định Granger truyền thống ở độ trễ 05 cho thấy thị trường Malaysia có tác động Granger
đến thị trường Indonesia, hàm ý rằng các thông tin trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi trên thị trường
chứng khoán Malaysia có thể giúp dự đoán tỷ suất sinh lợi của thị trường Indonesia. Tuy nhiên,
theo đồ thị biểu diễn kiểm định Granger theo tần số ở cột 4 trên cùng dòng tương ứng, có thể thấy
rằng tác động Granger này không xảy ra trên mọi tần số mà chỉ xảy rõ rệt ở những tần số nhỏ từ
trong khoảng (0; 1.05) tương ứng với khoảng thời gian từ 06 ngày giao dịch trở lên. Với những
tần số lớn hơn 1.05; nghĩa là với những khoảng thời gian nhỏ hơn 06 ngày giao dịch, kết quả kiểm
định cho thấy không có tác động Granger xảy ra.
Cách đọc kết quả này có thể áp dụng tương tự cho kết quả của các cặp thị trường còn lại
thể hiện trong Phụ lục 1. Rất nhiều các kết quả nghiên cứu có thể rút ra từ kết quả kiểm định
Granger truyền thống và kết quả kiểm định Granger dạng phổ nhưng nhìn chung đều cho thấy rằng
kết quả kiểm định Granger dạng phổ chính là thể hiện chi tiết kết quả ứng với từng tần số của
chuỗi tỷ suất sinh lợi, từ đó giúp xác định được các độ dài thời gian hữu ích để có thể sử dụng
38
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
trong dự báo các chuỗi kết quả. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu chung nhất sẽ được thảo
luận trong Mục 4.3.
4.3. Thảo luận kết quả
Với những kết quả xử lý dữ liệu thu được trong mục 4,2, bài viết sẽ thực hiện thảo luận
về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở hai khía cạnh: (1) thảo luận về
sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN dựa trên kết quả kiểm định Granger truyền
thống để cho thấy bức tranh chung về sự kết nối giữa các thị trường; (2) sau đó đề tài sẽ xem xét
các sự kết nối này trên từng tần số cụ thể để có được những kết quả nghiên cứu chi tiết hơn. Mặc
dù có thể xét mọi tần số ω trong khoảng (0, π) để kết luận về tác động Granger giữa các chuỗi tỷ
suất sinh lợi, nhưng bài viết chỉ thảo luận trên một số tần số tiêu biểu bao gồm tần số ω = 3.14
(ứng với chu kỳ tuần hoàn là 02 ngày giao dịch), ω = 1.26 (ứng với chu kỳ tuần hoàn là 05 ngày
giao dịch, nghĩa là một tuần hoạt động của thị trường), và ω = 0.628 (ứng với chu kỳ tuần hoàn
là 10 ngày giao dịch, tức là 02 tuần hoạt động của thị trường. Kết quả kiểm định Granger truyền
thống được tóm tắt trên Hình 2 trong khi kết quả theo từng tần số được thể hiện tương ứng từ
Hình 3 đến Hình 5.
4.3.1. Kết quả chung về mối quan hệ giữa các thị trường chứng khoán
Hình 2. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 bằng kiểm định
Granger truyền thống
Hình 2 biểu diễn sự kết nối được kiểm định bằng tác động Granger giữa các thị trường
chứng khoán của sáu quốc gia Đông Nam Á theo kết quả thể hiện của Cột 03 trong Phụ lục 1. Dấu
mũi tên thể hiện hướng tác động từ thị trường nguyên nhân đến thị trường nhận kết quả. Giữa hai
quốc gia mà tác động Granger có ý nghĩa thống kê sẽ được biểu diễn bằng một mũi tên tương ứng
thể hiện chiều tác động. Mũi tên hai chiều thể hiện tác động Granger giữa hai quốc gia có ý nghĩa
thống kê theo cả hai hướng.
Theo Hình 2, có thể thấy rằng giữa các quốc gia ASEANs có sự kết nối khá chặt chẽ, không
có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới liên kết với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của
từng quốc gia trong mạng lưới kết nối này là khá khác nhau. Trong mạng lưới này, Việt Nam đóng
vai trò là quốc gia nhận tác động Granger nhiều nhất từ cả 05 quốc gia khác trong khi rất ít có tác
động Granger theo chiều ngược lại, trừ Philippines và Thái Lan. Indonesia ở vị thế tương tự như
Việt Nam khi chịu nhận sự tác động Granger nhiều hơn là tác động theo chiều ngược lại. Tuy
nhiên, Việt Nam không có tác động Granger đến thị trường Indonesia mà là ngược lại.
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
39
Cũng theo Hình 2, quốc gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều
nhất là Philippines khi quốc gia này nhận tác động Granger từ tất cả các quốc gia khác và cũng có
tác động Granger đến cả năm quốc gia này. Malaysia có thể được xếp ở vị trí thứ hai trong mạng
lưới kết nối khu vực khi cũng ở vị thế tương tự như Philippines, nghĩa nhận tác động Granger từ
tất cả các quốc gia khác và tác động Granger đến hầu hết các quốc gia còn lại ngoại trừ Thái Lan.
Thái Lan và Singapore có thể xem là hai quốc gia đóng vai trò chủ động khá cao trong khu
vực khi các quốc gia này là nguồn truyền thông tin giúp dự báo các thị trường khác nhiều hơn là
dùng thông tin từ các thị trường khác để dự báo thị trường chứng khoán các quốc gia này. Điều
này có thể là do khi thị trường chứng khoán của một quốc gia là đạt trạng thái hiệu quả càng cao
thì khả năng dùng các thông tin thị quá khứ hoặc các thông tin bên ngoài để dự đoán thị trường đó
càng khó khăn. Hơn nữa, các thị trường chứng khoán của Singapore và Thái Lan khá trưởng thành
và vì vậy, liên quan đến các nguồn thông tin từ thị trường tài chính thế giới nhiều hơn là thị trường
tài chính trong nội bộ khu vực.
4.3.2. Tại mức tần số ω = 3.14 (tương ứng với độ dài thời gian 02 ngày giao dịch)
Mặc dù Hình 2 cho thấy các mối kết nối thể hiện dưới dạng mạng lưới giữa các quốc gia
trong khu vực nhưng không phải các kết nối này tồn tại ở mọi chu kỳ tuần hoàn của chuỗi thời
gian và khi xem xét chu kỳ tuần hoàn khác nhau thì sự kết nối trên mạng lưới sẽ khác nhau. Hình
3 thể hiện các sự kết nối hiện hữu khi xét chu kỳ tuần hoàn là hai ngày giao dịch, ứng với tần số
ω = 3.14.
Ở chu kỳ tuần hoàn này, Philippines vẫn là quốc gia chịu tác động Granger từ tất cả các
quốc gia khác và chỉ tác động Granger đến Malaysia. Trong khi đó, Việt Nam cũng chịu sự tác
động Granger từ hầu hết các quốc gia khác ngoại trừ Philippines. Kết quả cũng cho thấy không có
thông tin từ quốc gia nào trong số các quốc gia ASEAN có thể giúp dự đoán được tỷ suất sinh lợi
trên thị trường Indonesia. Trong khi Singapre và Malaysia có tình huống tương tự nhau. Kết quả
cũng cho thấy các thông tin từ thị trường Malaysia, Philippines và Thái Lan có thể hữu ích để dự
báo thị trường Singapore trong khi thông tin lịch sử từ thị trường Indonesia, Thái Lan và
Philippines có thể giúp dự đoán thị trường Malaysia.
Hình 3. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 3.14
4.3.3. Tại mức tần số ω = 1.26 (tương ứng với độ dài thời gian 05 ngày giao dịch)
Ở tần số ω = 1.6, ứng với độ dài chu kỳ thời gian là 05 ngày giao dịch, vị thế của Indonesia
trái ngược với khi xét ở tần số ω = 3.14. Khi xem xét ở chu tuần hoàn 05 ngày giao dịch, Indonesia
thuần là quốc gia chịu tác động Granger từ Thái Lan, Singapore và Philippines, không có tác động
40
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Granger đến quốc gia nào nào khác. Philippines vẫn là quốc gia có mức độ hội nhập rộng nhất khi
kết nối với hầu hết các quốc gia khác. Vai trò của Singapore không thay đổi nhiều so với trường
hợp ω = 3.14 nhưng Việt Nam là quốc gia ít kết nối nhất khi xét ở độ dài chu kỳ tuần hoàn này và
Thái Lan là thị trường chủ động truyền thông tin để dự báo các thị trường khác nhất.
Hình 4. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 1.26
4.3.4. Tại mức tần số ω = 0.628 (tương ứng với độ dài thời gian 10 ngày giao dịch)
Tại mức tần số ω = 0.628 tương ứng với chu kỳ tuần hoàn 02 tuần giao dịch, nghĩa là xét
chu kỳ tuần hoàn dài hơn, mức độ kết nối của Việt Nam và Indonesia có sự thay đổi rõ rệt và được
biểu diễn trên Hình 5. Thị trường Việt Nam nhận sự tác động Granger từ tất cả các thị trường
chứng khoán ASEAN khác trong khi chỉ tác động Granger đến thị trường lân cận Thái Lan.
Indonesia thay vì đóng vai trò chủ động truyền thông tin để dự báo các thị trường khác như ở
trường hợp trước thì lúc này lại có thể dự báo được từ các thông tin thị trường khác ngoại trừ Việt
Nam. Thông tin từ thị trường Thái Lan và Singapore có thể được sử dụng để dự báo tất cả thị
trường khác. Thông tin từ thị trường Malaysia cũng có thể dùng để dự báo thị trường các quốc gia
khác ngoại trừ Thái Lan và có thể được dự báo từ thông tin quá khứ của Thái Lan và Singapore.
Hình 5. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 0.628
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
41
Bên cạnh các kết quả vừa được thảo luận từ các tần số tiêu biểu ω = 3.14; ω = 1.26 và ω =
0.628 ; tương ứng với độ dài chu kỳ tuần hoàn 02 ngày, 05 ngày và 10 ngày giao dịch. Người đọc
có thể thiết lập mạng lưới thể hiện kết nối giữa các thị trường ASEAN ở bất kỳ tần số nào từ các
thông tin trong Phụ lục 1, tùy theo yêu cầu về quản lý hoặc ra quyết định chính sách đầu tư.
5. Kết luận và gợi ý chính sách
Với thông tin về tỷ suất sinh lợi chứng khoán hằng ngày của thị trường chứng khoán các
nước ASEAN6, kết hợp với kiểm định Granger truyền thống và kiểm định Granger dạng phổ, bài
viết cho thấy sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán của các nước Việt Nam, Thái Lan,
Singapore, Indonesia, Malaysia, Philli. Kết quả kiểm định Granger truyền thống cho thấy giữa các
quốc gia ASEANs có sự kết nối khá chặt chẽ, không có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới
liên kết với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của từng quốc gia trong mạng lưới kết nối này
là khá khác nhau. Trong mạng lưới này, Việt Nam đóng vai trò là quốc gia nhận tác động Granger
nhiều nhất từ cả 05 quốc gia khác trong khi rất ít có tác động Granger theo chiều ngược lại.
Indonesia ở vị thế tương tự như Việt Nam khi nhận tác động nhiều hơn là truyền đi sự tác động.
Quốc gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều nhất là Philippines và
tiếp theo đó là Malaysia. Thái Lan và Singapore có thể xem là hai quốc gia đóng vai trò chủ động
khá cao trong khu vực khi các quốc gia này là nguồn truyền thông tin giúp dự báo các thị trường
khác nhiều hơn là được dự báo với thông tin từ các thị trường khác.
Bên cạnh kiểm định Granger truyền thống, bài viết áp dụng kiểm định Granger dạng phổ
để xem xét chi tiết tác động Granger ở nhiều tần số ω khác nhau trong khoảng (0,π) – tương ứng
với nhiều chu kỳ tuần hoàn có độ dài khác nhau. Mặc dù tác động Granger truyền thống xảy ra ở
hầu hết các cặp quốc gia được xem xét nhưng ở mỗi tần số khác nhau thì các mối liên kết xảy ra
khác nhau. Vai trò của các quốc gia trong mạng lưới thay đổi rất nhiều giữa các tần số này.
Indonesia là quốc gia thay đổi nhiều nhất giữa các tần số. Khi ở xem xe, quốc gia này khá tách
biệt và đóng vai trò truyền thông tin nhưng nếu xét ở tần số thấp, Indonesia lại là quốc gia có thể
dự đoán từ thông tin của hầu hết các thị trường khác. Philippines trong hầu hết các trường hợp vẫn
là quốc gia hội nhập và kết nối nhiều nhất. Thái Lan và Singapore đóng vai trò chủ động truyền
thông tin đến các thị trường khác trong tất cả các tần số được xem xét trong khi ở hầu hết các
trường hợp thì Việt Nam là quốc gia nhận thông tin.
Với các kết quả về việc nguồn thông tin từ thị trường chứng khoán nào sẽ hữu ích để dự
báo một thị trường chứng khoán cụ thể nào đó tùy theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp ích rất
nhiều cho các đầu tư khi dự đoán thị trường. Việc biết được sự kết nối giữa thị trường chứng khoán
các quốc gia ASEAN thay đổi theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp các nhà đầu tư có chiến lược
xây dựng danh mục đầu tư hợp lý trong những khoảng thời gian khác nhau, đồng thời ra các quyết
định đáng tin cậy tùy trên điều kiện giới hạn thời gian. Ngoài ra, những người làm chính sách cũng
có những giải pháp khả thi và chiến lược phát triển thị trường tương ứng với chu kỳ tuần hoàn của
thị trường.
Tài liệu tham khảo
Atmadja, A. (2005). The Granger causality tests for the five asean countries stock markets and
macroeconomic variables during and post the 1997 Asian financial crisis. Jurnal Manajemen
dan Kewirausahaan, 7(1), 1-21.
Baek, S., Jung, W. S., Kwon, O., & Moon, H. T. (2005). Transfer entropy analysis of the stock
Breitung, J., & Candelon, B. (2006). Testing for short and long-run causality: A frequency domain
approach. Journal of Econometrics, 132(2), 363-378.
42
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Chow, H. K. (2017). Volatility spillovers and linkages in Asian stock markets. Emerging Markets
Finance and Trade, 53(12), 2770-2781. doi:10.1080/1540496X.2017.1314960
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2009). Measuring financial asset return and volatility spillovers, with
application to global equity markets. Economic Journal, 119, 158-171.
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2012). Better to give than to receive: Predictive measurement of
volatility spillovers (with discussion). International Journal of Forecasting, 28(1), 57-66.
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2014). On the network topology of variance decompositions:
Measuring the connectedness of financial firms. Journal of Econometrics, 182(1), 119-134.
Geweke, J. (1982). Measurement of linear dependence and feedback between multiple time series.
Journal of the American Statistical Association, 77(378), 304-313.
Geweke, J. (1984). Measures of conditional linear dependence and feedback between time series.
Journal of the American Statistical Association, 79(388), 907-915.
Granger, C. W. J. (1969). Investigating causal relations by econometric models and cross-spectral
methods. Econometrica, 37(3), 424-438.
Hosoya, Y. (1991). The decomposition and measurement of the interdependence between second-
order stationary process. Probability Theory and Related Fields, 88, 429-444.
Jiang, Y., Nie, H., & Monginsidi, J. Y. (2017). Co-movement of ASEAN stock markets: New
evidence from wavelet and VMD-based copula tests. Economic Modelling, 64(C), 384-398.
Joshi, P. (2011). Return and volatility spillovers among asian stock markets. SAGE Open, 1(1),
215824401141347. doi:10.1177/2158244011413474
Lemmens, A., Croux, C., & Dekimpe, M. G. (2008). Measuring and testing Granger causality over
the spectrum: An application to European production expectation surveys. International
Journal of Forecasting, 24(3), 414-431.
Lim, L. K. (2009). Convergence and interdependence between ASEAN-5 stock markets.
Mathematics and Computers in Simulation, 79(9), 2957-2966.
Mohamed, H., & Masih, M. (2017). Stock market comovement among the ASEAN-5: A causality
Prats, M., & Sandoval, B. (2020). Does stock market capitalization cause GDP? A causality study
for Central and Eastern European countries? Economics - The Open-Access, Open-Assessment
E-Journal, 14(2020-17), 1-29.
Schreiber, T. (2000). Measuring information transfer. Physical Review Letter, 85(2), 461-464.
Sum, V. (2013). The ASEAN stock market performance and economic policy uncertainty in the
United States. Economic Papers A journal of Applied Economics and Policy, 32(4), 512-521.
Tiwari, A. K. (2014). The frequency domain causality analysis between energy consumption and
income in the United States. Economia Aplicada, 18(1), 51-67.
Tran, T. T. A. (2020a). Determining the dynamic connectedness of stock returns across asean
securities markets by spillover index approach. Can Tho University Journal of Science,
56(3D), 223-235.
Tran, T. T. A. (2020b). Determining the information flow among vietnam stock market industries
by transfer entropy matrix. Asian Journal of Economics and Banking, 170(5), 25-38.
Tungsong, S., Caccioli, F., & Aste, T. (2018) Relation between regional uncertainty spillovers in the
global banking system. Journal of Network Theory in Finance, 4(2), 1-23.
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
43
PHỤ LỤC
Kết quả kiểm định nhân quả Granger truyền thống và Granger dạng phổ trên chuỗi tỷ suất sinh lợi
của các thị trường chứng khoán ASEAN6
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Indonesia
Malaysia
5
16.480***
31.178***
16.354***
Malaysia
Indonesia
5
Indonesia
Philippines
3
44
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Philippines
Indonesia
3
27.874***
Indonesia
Singapore
5
3.149
Singapore
Indonesia
5
34.621***
Indonesia
Thailand
6.409
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
45
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Thailand
Indonesia
52.240***
29.984***
5.070
Indonesia
Vietnam
5
5
5
Vietnam
Indonesia
Malaysia
Philippines
23.912***
46
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Philippines
Malaysia
5
27.901***
15.724***
22.821***
5.786
Malaysia
Singapore
5
5
5
Singapore
Malaysia
Malaysia
Thailand
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
47
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Thailand
Malaysia
5
62.943***
18.503***
5.0199
Malaysia
Vietnam
3
3
7
Vietnam
Malaysia
Philippines
Singapore
63.280***
48
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Singapore
Philippines
7
34.308***
26.488***
92.827***
8.233**
Phlippines
Thailand
8
8
3
Thailand
Philippines
Philippines
Vietnam
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50
49
Tác động Granger
tuyến tính
Kết quả phân tích tác động
Granger dạng phổ
Quốc gia
Độ trễ
Vietnam
Philippines
3
6.680*
Singapore
Thailand
6
6
5
14.079***
81.169***
24.370***
Thailand
Singapore
Singapore
Vietnam
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN: Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
moi_lien_he_giua_thi_truong_chung_khoan_cac_nuoc_asean_tiep.pdf

