Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN: Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ

30  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN:  
Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ  
The relationships between ASEAN stock markets:  
A spectral Granger causality approach  
Trần Thị Tuấn Anh1*  
1Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: [email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.17.1.1791.2022  
Bài viết sử dụng thông tin về tỷ suất sinh lợi chứng khoán hằng  
ngày của thị trường chứng khoán các nước ASEAN6 để khảo sát  
mối liên hệ giữa các thị trường thông qua kiểm định Granger truyền  
thống và kiểm định Granger dạng phổ. Kết quả kiểm định Granger  
truyền thống cho thấy giữa các quốc gia ASEANs có sự kết nối khá  
chặt chẽ, không có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới liên kết  
với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của từng quốc gia trong  
mạng lưới kết nối này là khác nhau. Việt Nam đóng vai trò là quốc  
gia nhận tác động Granger nhiều nhất trong khi Philippines là quốc  
gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều  
nhất. Kiểm định Granger dạng phổ để xem xét chi tiết tác động  
Granger ở nhiều tần số ω khác nhau. Vai trò của các quốc gia trong  
mạng lưới thay đổi rất nhiều khi xem xét ở các độ dài chu kỳ tuần  
hoàn khác nhau. Indonesia là quốc gia có sự kết nối thay đổi nhiều  
nhất giữa các chu kỳ tuần hoàn, chuyển từ vai trò quốc gia truyền  
thông tin ở khi xét ở chu kỳ tuần hoàn ngắn sang vai trò nhận thông  
tin ở chu kỳ tuần hoàn dài. Thái Lan và Singapore đóng vai trò chủ  
động truyền thông tin đến các thị trường khác trong tất cả các chu  
kỳ tuần hoàn được xem xét trong bài, trong khi ở hầu hết các trường  
hợp thì Việt Nam là quốc gia nhận thông tin.  
Ngày nhận: 05/04/2021  
Ngày nhận lại: 08/06/2021  
Duyệt đăng: 03/07/2021  
Từ khóa:  
kiểm định nhân quả Granger;  
kiểm định nhân quả Granger  
dạng phổ; thị trường chứng  
khoán các nước ASEAN  
ABSTRACT  
This article collects data of ASEAN6’s daily stock returns to  
investigate the relationships among them by traditional Granger  
causality test in combination with spectral Granger causality test.  
Traditional Granger test results show that there exists close  
relationships among ASEAN6’s stock markets, in which no  
country is isolated from the others. However, the role of each  
country in this network is quite different. Vietnam receives  
Granger effects from all other countries. Philippines has the most  
intergrated stock market. Spectral Granger causality test also  
reveals Granger effect in many different frequencies of stock return  
series. Indonesia is the country that changes role the most between  
different frequencies, shifting from a country that transmits  
Keywords:  
ASEAN stock markets;  
Granger causality test; spectral  
Granger causality  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
31  
information at high frequencies to a role of receiving information  
at low frequencies. Thailand and Singapore play active roles in  
transmitting information to other markets under all considered  
frequencies considered while in most cases Vietnam is the  
receiving country.  
1. Giới thiệu  
Sự kiện cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được chính thức thành lập ngày 31 tháng 12  
năm 2015 đã trở thành sự kiện quan trọng đánh dấu sự vượt bậc trong quan hệ kinh tế giữa các  
nước ASEAN. Các mục tiêu quan trọng mà cộng đồng AEC hướng tới bao gồm hợp tác phát triển  
kinh tế, tự do hơn trong lưu chuyển thương mại và lưu chuyển các nguồn vốn, lan tỏa tri thức và  
công nghệ, từ đó xây dựng khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng. Thông qua AEC, các quốc gia  
ASEAN không những sẽ chủ động hội nhập tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu mà còn phát triển  
năng động với khả năng cạnh tranh ngày càng được củng cố trên trường quốc. Sau hơn 05 năm  
thành lập, cộng đồng Kinh tế ASEAN đã đạt được những bước hội nhập quan trọng trong kinh tế,  
trong đó có lĩnh vực tài chính. Nhiều biện pháp để mở rộng liên kết giữa các thị trường đã được  
đề xuất về thực thi, như việc thông qua các Tiêu chuẩn công bố thông tin ASEAN (ASEAN  
Disclosure Standards) hay Kết nối thương mại ASEAN (ASEAN Trading Link) giữa các quốc gia  
có thị trường chứng khoán như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Việt Nam và  
Singapore. Kết nối thương mại ASEAN đã tạo ra một kết nối linh hoạt giữa thị trường chứng khoán  
của 06 quốc gia ASEAN này và tạo ra một mạng lưới lan truyền thông tin nhanh chóng và hiệu  
quả giữa các thị trường.  
Để đánh giá thành quả hoạt của các hoạt động kết nối thị trường, việc xem xét và đánh giá  
thành quả hội nhập về kinh tế cũng như hội nhập về tài chính giữa các quốc gia ASEAN là một  
trong những vấn đề chính phủ và các nhà đầu tư quan tâm. Với nhận định này, bài viết hướng tới  
khảo sát và đo lường mức độ kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN thành viên của Liên  
kết thương mại ASEAN từ năm 2015 đến nay. Từ kết quả định lượng, bài viết thể hiện sự kết nối  
dưới dạng mạng lưới và thảo luận về mức độ kết nối của từng quốc gia trong mạng lưới kết nối  
này, sự thay đổi của mạng lưới ở những chu kỳ thời gian khác nhau. Bài viết cũng nêu ra hàm ý  
cho người làm quản ký cũng như cho nhà đầu tư từ kết quả nghiên cứu đạt được.  
Với mục tiêu nghiên cứu về định lượng sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán trong  
ASEAN6, phần còn lại của bài viết được tổ chức như sau: Mục 2 của bài viết thể hiện tổng quan  
các nghiên cứu có liên quan về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán cũng như một số kết  
quả nghiên cứu về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN đã được công bố; Mục 3  
của bài viết giới thiệu về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 thực hiện phân tích số liệu  
và thảo luận kết quả thực nghiệm đạt được; Mục 5 tóm tắt kết quả chính bài báo đạt được và đề  
xuất một số hàm ý chính sách từ kết quả này.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều công cụ định lượng khác nhau để đo lường mức độ  
kết nối giữa các thị trường chứng khoán. Trong các công cụ định lượng được sử dụng có thể đề  
cập đến ba hướng tiếp cận truyền thống đã được dụng rất phổ biến: (1) Kiểm định nhân quả  
Granger; (2) Đo lường kết nối động theo phương pháp của Diebold và Yilmaz (2009, 2012, 2014)  
và (3) Đo lường thông tin chung và sự truyền thông tin giữa các thị trường bằng Tranfer entropy  
được đề xuất bởi Schreiber (2000). Mỗi hướng tiếp cận truyền thống này đề có những ưu điểm  
riêng về phương pháp và cách diễn giải kết quả đại được.  
Phương pháp kiểm định nhân quả Granger do Granger (1969) đề xuất là phương pháp được  
sử dụng phổ biến nhất bởi tính đơn giản của kiểm định, kết quả đạt được khá trực quan và dễ giải  
32  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
thích khi sử dụng các thông tin trong quá khứ của các chuỗi thời gian để dự báo tương lại của  
chúng. Nếu các thông tin trong quá khứ của một chuỗi thời gian Xt là hữu ích, có thể được sử dụng  
để dự báo các giá trị trong tương lai của Yt thì có thể xem như Xt có tác động đến Xt. Tuy nhiên,  
hạn chế của phương pháp kiểm định nhân qua Granger thể hiện ở việc kiểm định này đòi hỏi tính  
dừng của dữ liệu, chỉ kiểm định được quan hệ dạng tuyến tính và giả định rằng yếu tố đóng vai trò  
nguyên nhân luôn phải xảy ra trước yếu tố đóng vai trò kết quả. Các nghiên cứu đã sử dụng phương  
pháp nhân quả Granger để đo lường mối quan hệ giữa các thị trường chứng khoán của Atmadja  
(2005), Sum (2013), Mohamed và Masih (2017) và nhiều nghiên cứu khác.  
Các tiếp cận bằng kết nối động do Diebold và Yilmaz (2009, 2012, 2014) đề xuất cũng dựa  
trên giả định về tính dừng của dữ liệu và mối quan hệ dạng tuyến tính của các chuỗi thời gian. Hệ  
số kết nối động giữa các chuỗi thời gian được thực hiện thông qua việc ước lượng mô hình VAR  
và kết quả phân rã phương sai của mô hình VAR thu được. Phương pháp này đã được áp dụng để  
phân tích hiệu ứng lan truyền giữa thị trường chứng khoán các quốc gia châu Á như trong nghiên  
cứu của Chow (2017), Joshi (2011), Tungsong, Caccioli, và Aste (2018) hay Tran (2020a) đã áp  
dụng kỹ thuật này để đo lường cho trường hợp của các quốc gia ASEAN.  
Khác với hai phương pháp trên đều dựa trên mối quan hệ dạng tuyến tính giữa các chuỗi  
thời gian dừng và được kiểm định thông các các mô hình hồi quy, phương pháp xác định mối quan  
hệ dựa trên đại lượng transfer entropy đề xuất của Schreiber (2000). Transfer entropy thực hiện đo  
lường lượng thông tin chung giữa Yt và các chuỗi dữ liệu trong quá khứ của Xt, từ đó đánh giá mức  
độ truyền thông tin giữa chuỗi thời gian X đến chuỗi thời gian Y. Nếu đại lượng transfer entropy  
có tính trễ theo thời gian giữa Xt và Yt có ý nghĩa thống kê thì xem như có sự di chuyển thông tin  
từ Xt đến Yt . Một số nghiên cứu tiếp cận theo các này để nghiên cứu thị trường chứng khoán  
ASEAN có thể kể đến nghiên cứu của Tungsong và cộng sự (2018) hay Tran (2020b).  
Tuy nhiên, cả ba các tiếp cận trên đều xem xét và phân tích các chuỗi thời gian theo cái  
nhìn truyền thống về tính thứ tự của các thời điểm thu thập dữ liệu và cấu trúc thành phần của  
chuỗi thời gian theo cách tiếp cận này bao gồm tính xu thế, tính chu kỳ, tính mùa vụ và thành phần  
sai số ngẫu nhiên. Trong các hướng phân tích chuỗi thời gian hiện đại, một chuỗi thời gian thay vì  
được khảo sát theo chiều thời gian sẽ được khảo sát theo tần số trong tính tuần hoàn của dữ liệu.  
Đặc tính tuần hoàn của chuỗi thời gian được khảo sát thông qua kỹ thuật phân tích phổ (spectral  
analysis) và cho phép khám phá các chu kỳ cơ bản chuỗi. Để thực hiện phép phân tích phổ, các  
chuỗi thời gian dừng được phân rã thành tổ hợp của các chuỗi tuần hoàn có tần số khác nhau tương  
ứng với độ dài chu kỳ khác nhau của chuỗi. Với ý tưởng này, Geweke (1982, 1984), Hosoya (1991)  
và tiếp theo đó là nghiên cứu của Breitung và Candelon (2006) đã thực hiện kiểm định nhân quả  
Granger trên từng thành phần theo chu kỳ của chuỗi thời gian, từ đó cho phép chi tiết hóa tác động  
nhân quả Granger của chuỗi theo từng độ dài thời gian khác nhau. Các làm này được gọi là kiểm  
định nhân quả Granger dạng phổ (spectral Granger causality).  
Kỹ thuật kiểm định nhân quả Granger dạng phổ đã được Lemmens, Croux, và Dekimpe  
(2008) sử dụng trong mô phỏng và dự báo sản lượng kỳ vọng ở châu Âu và so sánh kết quả với  
các công cụ truyền thống. Tiwari (2014) đã sử dụng kiểm định nhân quả Granger theo tần số để  
khảo sát mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ điện và GDP của Hoa Kỳ và nhận thấy  
rằng giữa các tần số khác nhau thì quan hệ nhân quả Granger diễn ra với chiều hướng và độ mạnh  
khác nhau. Prats và Sandoval (2020) áp dụng kết hợp phương pháp kiểm định nhân quả Granger  
truyền thống, kiểm định Toda-Yamamoto và kiểm định Granger dạng phổ phân tích mối quan hệ  
giữa giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán với GDP và GDP thực tế ở 10 quốc gia Trung và Đông  
Âu (CEEC). Các kết quả thu được cho thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả theo cả hai chiều  
giữa các biến ở một số lượng đáng kể các quốc gia, và đặc biệt là ở những quốc gia mà các biến  
thể hiện rõ ràng là đồng liên kết (Bulgaria, Hungary, Latvia, Romania, Slovakia, & Slovenia).  
Phương pháp kiểm định nhân quả Granger dạng phổ đang dần được sử dụng rộng rãi trên  
thế giới khi khảo sát chi tiết các mối liên hệ về mặt thống kê giữa các chuỗi thời gian, đặc biệt là  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
33  
các chuỗi thời gian tài chính. Trong khí đó, ở Việt Nam, kỹ thuật này kiểm định Granger dạng phổ  
dường như còn khá mới mẻ; gần như chưa có bài nghiên cứu áp dụng kỹ thuật này trong phân tích  
kinh tế các chuỗi thời gian của thị trường Việt Nam. Do vậy, thông qua bài báo này được thực hiện  
nhằm giới thiệu một công cụ nghiên cứu định lượng hữu hiệu trong phân tích tài chính cũng như  
làm rõ nét hơn sự kết nối giữa thị trường chứng khoán ở các quốc gia ASEAN theo từng tần số  
khác nhau. Việc biết được sự kết nối giữa thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN thay đổi  
theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp các nhà đầu tư có chiến lược xây dựng danh mục đầu tư hợp  
lý trong những khoảng thời gian khác nhau, đồng thời ra các quyết định đáng tin cậy tùy trên điều  
kiện giới hạn thời gian. Ngoài ra, những người làm chính sách cũng có những giải pháp khả thi và  
chiến lược phát triển thị trường tương ứng với chu kỳ tuần hoàn của thị trường.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu  
Bài viết thu thập dữ liệu về giá đóng cửa của chỉ số chứng khoán cùng với tỷ suất sinh lợi  
hằng ngày của 06 quốc gia Đông Nam Á thành viên của Kết nối thương mại ASEAN, bao gồm  
Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines. Dữ liệu được thu thập trong  
giai đoạn từ ngày 02/01/2015 đến 31/03/2021. Từ chỉ số chứng khoán thu thập được. Sáu chỉ số  
chứng khoán đại diện cho thị trường chứng khoán của các quốc gia theo thứ tự lần lượt là VN-  
Index (Vietnam Stock Index, Việt Nam), SET (Stock Exchange of Thailand SET Index, Thái Lan),  
JCT (Jakarta Stock Exchange Composite Index, Indonesia), FTSE (Bursa Malaysia KLCI Index,  
Malaysia), STI (FTSE Straits Times Index, Singapore), và PSEI (Philippines Stock Exchange  
Index, Philippines).  
Số liệu được thu thập từ trang Web investing.com và các tính toán tương ứng được thực  
hiện bằng phần mềm Stata. Hình 1 biểu diễn chuỗi tỷ suất sinh lợi tương ứng. kiểm định Granger  
thông thường và kiểm định Granger dạng phổ sẽ được áp dụng trên chuỗi thời gian về tỷ suất sinh  
lợi hàng ngày. Các phương pháp này được trình bàytrong Mục 3.2.  
(b) Tỷ suất sinh lợi thị trường Malaysia  
(a) Tỷ suất sinh lợi thị trường Indonesia  
(c) Tỷ suất sinh lợi thị trường Philippines  
(d) Tỷ suất sinh lợi thị trường Singapore  
34  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
(e) Tỷ suất sinh lợi thị trường Thái Lan  
(f) Tỷ suất sinh lợi thị trường Việt Nam  
Hình 1. Đồ thị biến động chỉ tỷ suất sinh lợi hàng ngày của 06 quốc gia ASEAN  
3.2. Kiểm định nhân quả Granger tuyến tính  
Granger (1969) đã giới thiệu phương pháp kiểm định nhân quả Granger giữa hai chuỗi thời  
gian giúp đo lường mối quan hệ dạng tuyến tính giữa chúng. Kiểm định nhân quả Granger giữa hai  
chuỗi thời gian Xt và Yt bao gồm kiểm định hai chiều: (1) Xt tác động Granger đến Yt và (2) Yt tác  
động Granger đến Xt. Trong kiểm định Xt tác động Granger đến Yt thì Xt đóng vai trò nguyên nhân  
(cause) và Y đóng vai trò kết quả (effect). Kiểm định tác động Granger (1969) của Xt đến Yt được  
H :... 0  
thực hiện thông qua việc kiểm định giả thuyết  
của phương trình hồi quy:  
0
1
p
p
p
Y 0  
Y   
j Xtj  
t  
(1)  
t
j
tj  
j1  
j1  
H0 :1 ... p 0  
bị bác bỏ thì đây là bằng chứng thống kê để cho thấy  
Nếu giả thuyết  
rằng Xt có tác động Granger đến Yt. Cách nói “Xt có tác động Granger đến Yt.” thể hiện hàm ý  
rằng các thông tin trong quá khứ của Xt có thể được sử dụng để dự báo thông tin kỳ hiện tại và  
tương lai của Yt, kết hợp với việc kiểm soát đầy đủ các thông tin trong quá khứ của chính Yt. Việc  
kiểm định sự tác động Granger của Yt lên Xt được thực hiện tương tự như (1) với biến phụ thuộc  
trong mô hình là Xt.  
3.3. Kiểm định nhân quả Granger dạng phổ  
Breitung và Candelon (2006) xây dựng kiểm định nhân quả Grange dạng phổ cho phép xác  
định tác động nhân quả Granger của Xt đến Yt theo từng tần số của chuỗi. Việc xác định tác động  
Granger dạng phổ giúp khảo sát chi tiết về việc thông tin mang tính trễ của từng thành phần theo  
tần số của Xt có giúp dự báo thành phần cùng tần số tương ứng của Yt hay không. Điều kiện để thực  
hiện kiểm định Granger truyền thống cũng như kiểm định dạng phổ là các chuỗi thời gian Xt đến  
Yt đưa vào kiểm định phải là chuỗi dừng.  
Zt (Xt ,Y )  
Đặt  
và mô hình VAR(p) của Zt như sau:  
t
(I2 A L ...Ap Lp )Zt t  
(2)  
1
Trong đó,  
L: Toán tử lùi;  
Ai: ma trận hệ số cấp  
của độ trễ i, i = 1, 2,…, p;  
22  
I2: ma trận đơn vị cấp 2;  
,  
t (1t ,2t ) là vecto sai số trong đó  
2t là các chuỗi nhiễu trắng với E(t ) 0 và ma  
1t  
  E(t .t )  
trận hiệp phương sai  
là xác định dương.  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
35  
1 H.H1  
Thực hiện phân rã Cholesky với ma trận hiệp phương sai , giả sử ta được  
với H là ma trận tam giác dưới.  
Mô hình (1) được biến đổi thành dạng VMA (Vector Moving Average) như sau  
Zt  (L)t  
(3)  
(4)  
Hay  
X
11(L) 12 (L)  
t    
  1t   
   
   
Y
21(L)  
22 (L) 2t  
t
   
    
1t   
E(.) I  
Sau đó phân rã sai số thành các cú sốc trực giao t  
Mô hình sau khi phân rã thành các cú sốc trực giao có dạng  
G  
t , trong đó  
.
t
t
2t  
X
11(L) 12 (L)  
t     1t   
(5)  
   
   
Y
21(L)  
22 (L) 2t  
    
t
   
11(L) 12 (L)  
Với các ký hiệu được đặt tương ứng là (L)   
,
21(L) 22 (L)  
(L) (I2 A L ...Ap Lp )1  
,
(L)  (L).G1  
.
1
Sử dụng phép biến đổi Fourier trên các chuỗi thời gian ở dạng trung bình trượt sẽ thu được  
hàm mật độ dạng phổ của Xt như sau:  
2
2
1
fX (  
)   
11(ei )   
12 (ei )  
(6)  
2  
Geweke (1982) đề xuất công thức để đo lường tác động từ Xt đến Yt như sau:  
2   
12 (ei )  
2
fX (  
)
MX Y  
(  
) log  
log 1  
(7)  
2   
2   
11(ei )  
11(ei )  
Nếu  
12 (ei) 0 thì MX Y  
(  
)
cũng sẽ bằng 0, điều đó có nghĩa là Xt không có tác động  
đến Yt ở tần số ω. Vì vậy, giả thuyết H0 tương ứng của kiểm định nhân quả Granger Xt đến Yt ở tần  
số ω là  
H0 : MX Y  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu  
(  
) 0  
(8)  
Dữ liệu về tỷ suất sinh lợi hằng ngày trên thị trường chứng khoán của sáu quốc gia ASEAN  
được được hiện thống kê mô tả trong Bảng 1. Theo các giá trị thống kê mô tả, có thể thấy rằng  
trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021, Thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ suất sinh lợi  
trung bình hằng ngày cao nhất trong số các quốc gia được nghiên cứu, tiếp đến là thị trường chứng  
khoán Indonesia. Ngược lại, thị trường chứng khoán duy nhất có giá trị trung bình của tỷ suất sinh  
lợi mang dấu âm trong toàn bộ giai đoạn thu thập số liệu là Malaysia.  
Khi thực hiện thống kê mô tả, độ lệch chuẩn thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh  
lợi thị trường cũng rất được quan tâm. Thị trường Việt Nam có tỷ suất sinh lợi trung bình hằng  
ngày cao nhất nhưng không phải là thị trường có độ biến động cao nhất mà chỉ đứng thứ hai sau  
thị trường của Philippins. Ngược lại với trường hợp của Việt Nam, thị trường chứng khoán của  
Philippines có tỷ suất sinh lợi nằm trong số 02 quốc gia thấp nhất nhưng độ biến động thể hiện  
36  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
mức rủi ro thị trường lại cao nhất. Thị trường chứng khoán Malaysia có tỷ suất sinh lợi trung bình  
thấp nhất nhưng đồng thời cũng là thị trường có độ biến động thể hiện bằng độ lệch chuẩn thấp  
nhất trong số sáu quốc gia được phân tích.  
Bảng 1  
Thống kê mô tả tỷ suất sinh lợi hàng ngày của thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN  
Số  
quan sát  
Trung  
bình  
Độ  
Giá trị  
Giá trị  
Kiểm định  
Quốc gia  
Indonesia  
lệch chuẩn nhỏ nhất lớn nhất Shapiro-Wilk  
1,626  
1,626  
1,626  
1,626  
1,626  
1,626  
0.014  
-0.004  
0.000  
0.003  
0.008  
0.054  
1.018  
0.702  
1.201  
0.928  
0.978  
1.079  
-6.580  
-5.260  
-13.340  
-7.210  
-10.800  
-6.670  
10.190  
6.850  
7.440  
6.940  
7.950  
4.980  
11.367***  
11.341***  
11.873***  
11.297***  
13.097***  
11.116***  
Malaysia  
Philippines  
Singapore  
Thái Lan  
Việt Nam  
*,**,***: Có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%  
Nguồn: Tác giả tự tính toán với số liệu thu thập được  
Bảng 2 thực hiện kiểm định tính dừng đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi của cả sáu thị trường.  
Vì tính dừng là điều kiện cần thiết để thực hiện các hồi quy và kiểm định nhân quả Granger truyền  
thống cũng như kiểm định Granger dạng phổ nên bài viết đã thực hiện kiểm định tính dừng bằng  
cả hai phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) và kiểm định Phillip - Perron nhằm đảm bảo  
tính tin cậy cho kết quả thu được. Độ trễ thích hợp nhất để kiểm định cho từng chuỗi được thể hiện  
ở cột 02 trong Bảng 2 và độ trễ này được lựa chọn theo tiêu chí thông tin AIC (Akaike Information  
Criteria). Kết quả kiểm định cho thấy chuỗi tỷ suất sinh lợi hằng ngày của các thị trường đều là  
chuỗi dừng tại độ trễ được lựa chọn. Kết quả kiểm định này thuận lợi cho việc phân tích nhân quả  
Granger của các chuỗi thời gian sẽ được thực hiện trong Mục 4.2.  
Bảng 1  
Kiểm định tính dừng chuỗi tỷ suất sinh lợi hàng ngày của thị trường chứng khoán các quốc gia  
ASEAN  
Quốc gia  
Toàn bộ mẫu  
Indonesia  
Độ trễ  
ADF  
Phillip-Perron  
2
3
3
3
3
2
-28.586***  
-21.365***  
-21.363***  
-21.096***  
-21.009***  
-25.688***  
-37.941***  
-39.762***  
-41.166***  
-40.010***  
-42.870***  
-37.878***  
Malaysia  
Philippines  
Singapore  
Thái Lan  
Việt Nam  
*,**,***: có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%  
Nguồn: Tác giả tự tính toán với số liệu thu thập được  
4.2. Kết quả nghiên cứu  
Để khảo sát sự kết nối giữa thị trường chứng khoán các quốc gia thuộc ASEAN6, bài viết  
sử dụng kiểm định nhân quả Granger truyền thống kết hợp với kiểm định nhân quả Granger dạng  
phổ. Kiểm định nhân quả Granger truyền thống được thực hiện để cho thấy sự kết nối giữa các thị  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
37  
trường trên miền thời gian trong khi kiểm định nhân quả Granger dạng phổ cho thấy mối liên hệ  
trên miền tần số, mỗi tần số ứng với một chu kỳ tuần hoàn cụ thể với đơn vị chu kỳ tuần hoàn được  
tính bằng ngày giao dịch theo công thức:  
2
Độ dài chu kỳ tuần hoàn =  
(9)  
Theo công thức (9), một chuỗi thời gian có tần số thấp cũng có nghĩa là độ dài chu kỳ tuần  
hoàn của chuỗi càng dài. Ngược lại, một chuỗi có tần số cao sẽ có độ dài chu kỳ tuần hoàn ngắn.  
Ví dụ nếu chuỗi có độ dài chu kỳ tuần hoàn là 120 ngày thì sẽ tương ứng với tần số ω = 0.052;  
một chuỗi có độ dài chu kỳ tuần hoàn 05 ngày sẽ có tần số ω = 1.25. Để xem xét các trường hợp  
điển hình, bài viết này sẽ chọn phân tích ở ba tần số cụ thể ω = 3.14 (độ dài chu kỳ tuần hoàn là  
02 ngày), ω = 1.26 (độ dài chu kỳ tuần hoàn là 05 ngày) và ω = 0.68 độ dài chu kỳ tuần hoàn là  
10 ngày. Các kết quả tương ứng với các chu kỳ này sẽ được thể hiện ở Mục 4.3.  
Do có sáu chuỗi tỷ suất sinh lợi của sáu quốc gia cần được phân tích và kiểm định nhân quả  
6!  
Granger được thực hiện cho từng cặp chuỗi thời gian nên sẽ có tất cả C62   
15 cặp. Kiểm  
2!4!  
định Granger được thực hiện hai chiều cho mỗi cặp nên tổng số kiểm định Granger được thực  
hiện là 30. Các kết quả kiểm định Granger dạng phổ được thể hiện trong Phụ lục 1. Phụ lục 1  
biểu diễn đầy đủ kết quả kiểm định Granger giữa sáu thị trường sẽ bao gồm 30 dòng kết quả và  
cột 01 của Phụ lục 1 dùng để thể hiện chiều hướng tác động từ chuỗi tỷ suất sinh lợi của thị  
trường đóng vai trò nguồn tác động đến chuỗi đóng vai trò kết quả nhận tác động. Lưu ý rằng  
tác động trong kiểm định Granger chỉ hàm ý rằng thông tin trong quá khứ chuỗi nguồn có thể  
hữu ích để dự báo thông tin tương lai của chuỗi đích thay vì kết luận về mặt nguyên nhân kết  
quả theo các lý thuyết kinh tế.  
Nếu như cột 01 của Phụ lục 1 cho biết cặp chuỗi tỷ suất sinh lợi được kiểm định thì cột 02  
cho biết độ trễ tối ưu được xét của cặp chuỗi tỷ suất sinh lợi đó. Độ trễ tối ưu này cũng được lựa  
chọn theo tiêu chí AIC. Cột 03 của Phụ lục 1 thể hiện kết quả kiểm định Granger truyền thống.  
Cột 04 thể hiện kết quả kiểm định Granger dạng phổ dưới dạng đồ thị; trục hoành biểu thị tần số  
ω nhận giá trị từ 0 đến π và trục tung là độ lớn của giá trị thống kê kiểm định tương ứng với từng  
tần số. Trên đồ thị vẽ sẵn đường nằm ngang màu xanh là biểu diễn giá trị tới hạn của mức ý nghĩa  
10% và đường nằm ngang màu đỏ ứng với giá trị tới hạn ở mức ý nghĩa 5%. Tại những khoảng  
giá trị của ω mà đường biểu diễn thống kê kiểm định nằm phía trên đường giá trị tới hạn thì điều  
đó có nghĩa là ở những mức tần số tương ứng thì tác động nhân quả của quốc gia nguồn đến quốc  
gia đích có ý nghĩa thống kê.  
Tiêu biểu có thể xét cụ thể đồ thị biểu diễn kết quả tác động Granger từ Malaysia đến  
Indonesia ở dòng hai của Phụ lục 1. Độ trễ tối ưu được lựa chọn để thực hiện kiểm định là độ trễ  
05 Kiểm định Granger truyền thống ở độ trễ 05 cho thấy thị trường Malaysia có tác động Granger  
đến thị trường Indonesia, hàm ý rằng các thông tin trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi trên thị trường  
chứng khoán Malaysia có thể giúp dự đoán tỷ suất sinh lợi của thị trường Indonesia. Tuy nhiên,  
theo đồ thị biểu diễn kiểm định Granger theo tần số ở cột 4 trên cùng dòng tương ứng, có thể thấy  
rằng tác động Granger này không xảy ra trên mọi tần số mà chỉ xảy rõ rệt ở những tần số nhỏ từ  
trong khoảng (0; 1.05) tương ứng với khoảng thời gian từ 06 ngày giao dịch trở lên. Với những  
tần số lớn hơn 1.05; nghĩa là với những khoảng thời gian nhỏ hơn 06 ngày giao dịch, kết quả kiểm  
định cho thấy không có tác động Granger xảy ra.  
Cách đọc kết quả này có thể áp dụng tương tự cho kết quả của các cặp thị trường còn lại  
thể hiện trong Phụ lục 1. Rất nhiều các kết quả nghiên cứu có thể rút ra từ kết quả kiểm định  
Granger truyền thống và kết quả kiểm định Granger dạng phổ nhưng nhìn chung đều cho thấy rằng  
kết quả kiểm định Granger dạng phổ chính là thể hiện chi tiết kết quả ứng với từng tần số của  
chuỗi tỷ suất sinh lợi, từ đó giúp xác định được các độ dài thời gian hữu ích để có thể sử dụng  
38  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
trong dự báo các chuỗi kết quả. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu chung nhất sẽ được thảo  
luận trong Mục 4.3.  
4.3. Thảo luận kết quả  
Với những kết quả xử lý dữ liệu thu được trong mục 4,2, bài viết sẽ thực hiện thảo luận  
về sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở hai khía cạnh: (1) thảo luận về  
sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán ASEAN dựa trên kết quả kiểm định Granger truyền  
thống để cho thấy bức tranh chung về sự kết nối giữa các thị trường; (2) sau đó đề tài sẽ xem xét  
các sự kết nối này trên từng tần số cụ thể để có được những kết quả nghiên cứu chi tiết hơn. Mặc  
dù có thể xét mọi tần số ω trong khoảng (0, π) để kết luận về tác động Granger giữa các chuỗi tỷ  
suất sinh lợi, nhưng bài viết chỉ thảo luận trên một số tần số tiêu biểu bao gồm tần số ω = 3.14  
(ứng với chu kỳ tuần hoàn là 02 ngày giao dịch), ω = 1.26 (ứng với chu kỳ tuần hoàn là 05 ngày  
giao dịch, nghĩa là một tuần hoạt động của thị trường), và ω = 0.628 (ứng với chu kỳ tuần hoàn  
là 10 ngày giao dịch, tức là 02 tuần hoạt động của thị trường. Kết quả kiểm định Granger truyền  
thống được tóm tắt trên Hình 2 trong khi kết quả theo từng tần số được thể hiện tương ứng từ  
Hình 3 đến Hình 5.  
4.3.1. Kết quả chung về mối quan hệ giữa các thị trường chứng khoán  
Hình 2. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 bằng kiểm định  
Granger truyền thống  
Hình 2 biểu diễn sự kết nối được kiểm định bằng tác động Granger giữa các thị trường  
chứng khoán của sáu quốc gia Đông Nam Á theo kết quả thể hiện của Cột 03 trong Phụ lục 1. Dấu  
mũi tên thể hiện hướng tác động từ thị trường nguyên nhân đến thị trường nhận kết quả. Giữa hai  
quốc gia mà tác động Granger có ý nghĩa thống kê sẽ được biểu diễn bằng một mũi tên tương ứng  
thể hiện chiều tác động. Mũi tên hai chiều thể hiện tác động Granger giữa hai quốc gia có ý nghĩa  
thống kê theo cả hai hướng.  
Theo Hình 2, có thể thấy rằng giữa các quốc gia ASEANs có sự kết nối khá chặt chẽ, không  
có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới liên kết với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của  
từng quốc gia trong mạng lưới kết nối này là khá khác nhau. Trong mạng lưới này, Việt Nam đóng  
vai trò là quốc gia nhận tác động Granger nhiều nhất từ cả 05 quốc gia khác trong khi rất ít có tác  
động Granger theo chiều ngược lại, trừ Philippines và Thái Lan. Indonesia ở vị thế tương tự như  
Việt Nam khi chịu nhận sự tác động Granger nhiều hơn là tác động theo chiều ngược lại. Tuy  
nhiên, Việt Nam không có tác động Granger đến thị trường Indonesia mà là ngược lại.  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
39  
Cũng theo Hình 2, quốc gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều  
nhất là Philippines khi quốc gia này nhận tác động Granger từ tất cả các quốc gia khác và cũng có  
tác động Granger đến cả năm quốc gia này. Malaysia có thể được xếp ở vị trí thứ hai trong mạng  
lưới kết nối khu vực khi cũng ở vị thế tương tự như Philippines, nghĩa nhận tác động Granger từ  
tất cả các quốc gia khác và tác động Granger đến hầu hết các quốc gia còn lại ngoại trừ Thái Lan.  
Thái Lan và Singapore có thể xem là hai quốc gia đóng vai trò chủ động khá cao trong khu  
vực khi các quốc gia này là nguồn truyền thông tin giúp dự báo các thị trường khác nhiều hơn là  
dùng thông tin từ các thị trường khác để dự báo thị trường chứng khoán các quốc gia này. Điều  
này có thể là do khi thị trường chứng khoán của một quốc gia là đạt trạng thái hiệu quả càng cao  
thì khả năng dùng các thông tin thị quá khứ hoặc các thông tin bên ngoài để dự đoán thị trường đó  
càng khó khăn. Hơn nữa, các thị trường chứng khoán của Singapore và Thái Lan khá trưởng thành  
và vì vậy, liên quan đến các nguồn thông tin từ thị trường tài chính thế giới nhiều hơn là thị trường  
tài chính trong nội bộ khu vực.  
4.3.2. Tại mức tần số ω = 3.14 (tương ứng với độ dài thời gian 02 ngày giao dịch)  
Mặc dù Hình 2 cho thấy các mối kết nối thể hiện dưới dạng mạng lưới giữa các quốc gia  
trong khu vực nhưng không phải các kết nối này tồn tại ở mọi chu kỳ tuần hoàn của chuỗi thời  
gian và khi xem xét chu kỳ tuần hoàn khác nhau thì sự kết nối trên mạng lưới sẽ khác nhau. Hình  
3 thể hiện các sự kết nối hiện hữu khi xét chu kỳ tuần hoàn là hai ngày giao dịch, ứng với tần số  
ω = 3.14.  
Ở chu kỳ tuần hoàn này, Philippines vẫn là quốc gia chịu tác động Granger từ tất cả các  
quốc gia khác và chỉ tác động Granger đến Malaysia. Trong khi đó, Việt Nam cũng chịu sự tác  
động Granger từ hầu hết các quốc gia khác ngoại trừ Philippines. Kết quả cũng cho thấy không có  
thông tin từ quốc gia nào trong số các quốc gia ASEAN có thể giúp dự đoán được tỷ suất sinh lợi  
trên thị trường Indonesia. Trong khi Singapre và Malaysia có tình huống tương tự nhau. Kết quả  
cũng cho thấy các thông tin từ thị trường Malaysia, Philippines và Thái Lan có thể hữu ích để dự  
báo thị trường Singapore trong khi thông tin lịch sử từ thị trường Indonesia, Thái Lan và  
Philippines có thể giúp dự đoán thị trường Malaysia.  
Hình 3. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 3.14  
4.3.3. Tại mức tần số ω = 1.26 (tương ứng với độ dài thời gian 05 ngày giao dịch)  
Ở tần số ω = 1.6, ứng với độ dài chu kỳ thời gian là 05 ngày giao dịch, vị thế của Indonesia  
trái ngược với khi xét ở tần số ω = 3.14. Khi xem xét ở chu tuần hoàn 05 ngày giao dịch, Indonesia  
thuần là quốc gia chịu tác động Granger từ Thái Lan, Singapore và Philippines, không có tác động  
40  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Granger đến quốc gia nào nào khác. Philippines vẫn là quốc gia có mức độ hội nhập rộng nhất khi  
kết nối với hầu hết các quốc gia khác. Vai trò của Singapore không thay đổi nhiều so với trường  
hợp ω = 3.14 nhưng Việt Nam là quốc gia ít kết nối nhất khi xét ở độ dài chu kỳ tuần hoàn này và  
Thái Lan là thị trường chủ động truyền thông tin để dự báo các thị trường khác nhất.  
Hình 4. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 1.26  
4.3.4. Tại mức tần số ω = 0.628 (tương ứng với độ dài thời gian 10 ngày giao dịch)  
Tại mức tần số ω = 0.628 tương ứng với chu kỳ tuần hoàn 02 tuần giao dịch, nghĩa là xét  
chu kỳ tuần hoàn dài hơn, mức độ kết nối của Việt Nam và Indonesia có sự thay đổi rõ rệt và được  
biểu diễn trên Hình 5. Thị trường Việt Nam nhận sự tác động Granger từ tất cả các thị trường  
chứng khoán ASEAN khác trong khi chỉ tác động Granger đến thị trường lân cận Thái Lan.  
Indonesia thay vì đóng vai trò chủ động truyền thông tin để dự báo các thị trường khác như ở  
trường hợp trước thì lúc này lại có thể dự báo được từ các thông tin thị trường khác ngoại trừ Việt  
Nam. Thông tin từ thị trường Thái Lan và Singapore có thể được sử dụng để dự báo tất cả thị  
trường khác. Thông tin từ thị trường Malaysia cũng có thể dùng để dự báo thị trường các quốc gia  
khác ngoại trừ Thái Lan và có thể được dự báo từ thông tin quá khứ của Thái Lan và Singapore.  
Hình 5. Mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán trong ASEAN6 ở tần số ω = 0.628  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
41  
Bên cạnh các kết quả vừa được thảo luận từ các tần số tiêu biểu ω = 3.14; ω = 1.26 và ω =  
0.628 ; tương ứng với độ dài chu kỳ tuần hoàn 02 ngày, 05 ngày và 10 ngày giao dịch. Người đọc  
có thể thiết lập mạng lưới thể hiện kết nối giữa các thị trường ASEAN ở bất kỳ tần số nào từ các  
thông tin trong Phụ lục 1, tùy theo yêu cầu về quản lý hoặc ra quyết định chính sách đầu tư.  
5. Kết luận và gợi ý chính sách  
Với thông tin về tỷ suất sinh lợi chứng khoán hằng ngày của thị trường chứng khoán các  
nước ASEAN6, kết hợp với kiểm định Granger truyền thống và kiểm định Granger dạng phổ, bài  
viết cho thấy sự kết nối giữa các thị trường chứng khoán của các nước Việt Nam, Thái Lan,  
Singapore, Indonesia, Malaysia, Philli. Kết quả kiểm định Granger truyền thống cho thấy giữa các  
quốc gia ASEANs có sự kết nối khá chặt chẽ, không có quốc gia rào bị tách rời khỏi mạng lưới  
liên kết với các quốc gia còn lại. Tuy nhiên, vai trò của từng quốc gia trong mạng lưới kết nối này  
là khá khác nhau. Trong mạng lưới này, Việt Nam đóng vai trò là quốc gia nhận tác động Granger  
nhiều nhất từ cả 05 quốc gia khác trong khi rất ít có tác động Granger theo chiều ngược lại.  
Indonesia ở vị thế tương tự như Việt Nam khi nhận tác động nhiều hơn là truyền đi sự tác động.  
Quốc gia có mức độ hội nhập với thị trường chứng khoán khu vực nhiều nhất là Philippines và  
tiếp theo đó là Malaysia. Thái Lan và Singapore có thể xem là hai quốc gia đóng vai trò chủ động  
khá cao trong khu vực khi các quốc gia này là nguồn truyền thông tin giúp dự báo các thị trường  
khác nhiều hơn là được dự báo với thông tin từ các thị trường khác.  
Bên cạnh kiểm định Granger truyền thống, bài viết áp dụng kiểm định Granger dạng phổ  
để xem xét chi tiết tác động Granger ở nhiều tần số ω khác nhau trong khoảng (0,π) – tương ứng  
với nhiều chu kỳ tuần hoàn có độ dài khác nhau. Mặc dù tác động Granger truyền thống xảy ra ở  
hầu hết các cặp quốc gia được xem xét nhưng ở mỗi tần số khác nhau thì các mối liên kết xảy ra  
khác nhau. Vai trò của các quốc gia trong mạng lưới thay đổi rất nhiều giữa các tần số này.  
Indonesia là quốc gia thay đổi nhiều nhất giữa các tần số. Khi ở xem xe, quốc gia này khá tách  
biệt và đóng vai trò truyền thông tin nhưng nếu xét ở tần số thấp, Indonesia lại là quốc gia có thể  
dự đoán từ thông tin của hầu hết các thị trường khác. Philippines trong hầu hết các trường hợp vẫn  
là quốc gia hội nhập và kết nối nhiều nhất. Thái Lan và Singapore đóng vai trò chủ động truyền  
thông tin đến các thị trường khác trong tất cả các tần số được xem xét trong khi ở hầu hết các  
trường hợp thì Việt Nam là quốc gia nhận thông tin.  
Với các kết quả về việc nguồn thông tin từ thị trường chứng khoán nào sẽ hữu ích để dự  
báo một thị trường chứng khoán cụ thể nào đó tùy theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp ích rất  
nhiều cho các đầu tư khi dự đoán thị trường. Việc biết được sự kết nối giữa thị trường chứng khoán  
các quốc gia ASEAN thay đổi theo độ dài chu kỳ tuần hoàn sẽ giúp các nhà đầu tư có chiến lược  
xây dựng danh mục đầu tư hợp lý trong những khoảng thời gian khác nhau, đồng thời ra các quyết  
định đáng tin cậy tùy trên điều kiện giới hạn thời gian. Ngoài ra, những người làm chính sách cũng  
có những giải pháp khả thi và chiến lược phát triển thị trường tương ứng với chu kỳ tuần hoàn của  
thị trường.  
Tài liệu tham khảo  
Atmadja, A. (2005). The Granger causality tests for the five asean countries stock markets and  
macroeconomic variables during and post the 1997 Asian financial crisis. Jurnal Manajemen  
dan Kewirausahaan, 7(1), 1-21.  
Baek, S., Jung, W. S., Kwon, O., & Moon, H. T. (2005). Transfer entropy analysis of the stock  
Breitung, J., & Candelon, B. (2006). Testing for short and long-run causality: A frequency domain  
approach. Journal of Econometrics, 132(2), 363-378.  
42  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Chow, H. K. (2017). Volatility spillovers and linkages in Asian stock markets. Emerging Markets  
Finance and Trade, 53(12), 2770-2781. doi:10.1080/1540496X.2017.1314960  
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2009). Measuring financial asset return and volatility spillovers, with  
application to global equity markets. Economic Journal, 119, 158-171.  
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2012). Better to give than to receive: Predictive measurement of  
volatility spillovers (with discussion). International Journal of Forecasting, 28(1), 57-66.  
Diebold, F. X., & Yilmaz, K. (2014). On the network topology of variance decompositions:  
Measuring the connectedness of financial firms. Journal of Econometrics, 182(1), 119-134.  
Geweke, J. (1982). Measurement of linear dependence and feedback between multiple time series.  
Journal of the American Statistical Association, 77(378), 304-313.  
Geweke, J. (1984). Measures of conditional linear dependence and feedback between time series.  
Journal of the American Statistical Association, 79(388), 907-915.  
Granger, C. W. J. (1969). Investigating causal relations by econometric models and cross-spectral  
methods. Econometrica, 37(3), 424-438.  
Hosoya, Y. (1991). The decomposition and measurement of the interdependence between second-  
order stationary process. Probability Theory and Related Fields, 88, 429-444.  
Jiang, Y., Nie, H., & Monginsidi, J. Y. (2017). Co-movement of ASEAN stock markets: New  
evidence from wavelet and VMD-based copula tests. Economic Modelling, 64(C), 384-398.  
Joshi, P. (2011). Return and volatility spillovers among asian stock markets. SAGE Open, 1(1),  
215824401141347. doi:10.1177/2158244011413474  
Lemmens, A., Croux, C., & Dekimpe, M. G. (2008). Measuring and testing Granger causality over  
the spectrum: An application to European production expectation surveys. International  
Journal of Forecasting, 24(3), 414-431.  
Lim, L. K. (2009). Convergence and interdependence between ASEAN-5 stock markets.  
Mathematics and Computers in Simulation, 79(9), 2957-2966.  
Mohamed, H., & Masih, M. (2017). Stock market comovement among the ASEAN-5: A causality  
analysis. Retrieved May 10, 2021, from https://mpra.ub.uni-muenchen.de/98781  
Prats, M., & Sandoval, B. (2020). Does stock market capitalization cause GDP? A causality study  
for Central and Eastern European countries? Economics - The Open-Access, Open-Assessment  
E-Journal, 14(2020-17), 1-29.  
Schreiber, T. (2000). Measuring information transfer. Physical Review Letter, 85(2), 461-464.  
Sum, V. (2013). The ASEAN stock market performance and economic policy uncertainty in the  
United States. Economic Papers A journal of Applied Economics and Policy, 32(4), 512-521.  
Tiwari, A. K. (2014). The frequency domain causality analysis between energy consumption and  
income in the United States. Economia Aplicada, 18(1), 51-67.  
Tran, T. T. A. (2020a). Determining the dynamic connectedness of stock returns across asean  
securities markets by spillover index approach. Can Tho University Journal of Science,  
56(3D), 223-235.  
Tran, T. T. A. (2020b). Determining the information flow among vietnam stock market industries  
by transfer entropy matrix. Asian Journal of Economics and Banking, 170(5), 25-38.  
Tungsong, S., Caccioli, F., & Aste, T. (2018) Relation between regional uncertainty spillovers in the  
global banking system. Journal of Network Theory in Finance, 4(2), 1-23.  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
43  
PHỤ LỤC  
Kết quả kiểm định nhân quả Granger truyền thống và Granger dạng phổ trên chuỗi tỷ suất sinh lợi  
của các thị trường chứng khoán ASEAN6  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Indonesia  
Malaysia  
5
16.480***  
31.178***  
16.354***  
Malaysia   
Indonesia  
5
Indonesia   
Philippines  
3
44  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Philippines  
Indonesia  
3
27.874***  
Indonesia   
Singapore  
5
3.149  
Singapore   
Indonesia  
5
34.621***  
Indonesia   
Thailand  
6.409  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
45  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Thailand   
Indonesia  
52.240***  
29.984***  
5.070  
Indonesia   
Vietnam  
5
5
5
Vietnam   
Indonesia  
Malaysia   
Philippines  
23.912***  
46  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Philippines  
Malaysia  
5
27.901***  
15.724***  
22.821***  
5.786  
Malaysia   
Singapore  
5
5
5
Singapore   
Malaysia  
Malaysia   
Thailand  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
47  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Thailand   
Malaysia  
5
62.943***  
18.503***  
5.0199  
Malaysia   
Vietnam  
3
3
7
Vietnam   
Malaysia  
Philippines  
Singapore  
63.280***  
48  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Singapore   
Philippines  
7
34.308***  
26.488***  
92.827***  
8.233**  
Phlippines   
Thailand  
8
8
3
Thailand   
Philippines  
Philippines  
Vietnam  
Trần Thị Tuấn Anh. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), 30-50  
49  
Tác động Granger  
tuyến tính  
Kết quả phân tích tác động  
Granger dạng phổ  
Quốc gia  
Độ trễ  
Vietnam   
Philippines  
3
6.680*  
Singapore   
Thailand  
6
6
5
14.079***  
81.169***  
24.370***  
Thailand   
Singapore  
Singapore   
Vietnam  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang Thùy Anh 15720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các nước ASEAN: Tiếp cập bằng kiểm định nhân quả Granger dạng phổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_lien_he_giua_thi_truong_chung_khoan_cac_nuoc_asean_tiep.pdf