Ngôn ngữ văn hóa trong vở tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu

32  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG VỞ TUỒNG LIỆU ĐỐ  
CỦA NGUYỄN DIÊU  
Võ Minh Hải*, Võ Thị Thu Hòa  
Trường Đại học Quy Nhơn  
Tóm tắt  
Bài viết tập trung đánh giá về cuộc đời, hành trạng của nhà biên soạn tuồng Nguyễn  
Diêu của Bình Định và những giá trị đặc sắc của vở tuồng Liệu đố, một tác phẩm tuồng Nôm  
tiêu biểu của ông. Từ hướng tiếp cận văn hoá, chúng tôi đã khái quát và nêu bật một số nét đặc  
sắc về ngôn ngữ của tác phẩm Liệu đố. Qua ngôn ngữ văn hoá, người đọc có thể nhận thấy tác  
phẩm đã đánh dấu một bước phát triển khá đặc sắc của dòng tuồng Nôm trung đại nói chung và  
tuồng Bình Định nói chung.  
Từ khoá: Tuồng Nôm, tuồng Bình Định, ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ tuồng, Liệu đố.  
Abstract:  
The cultural language in Nguyen Dieu’s classical drama Liệu đố  
This article focuses on assessing the life of Nguyen Dieu, the Binh Dinh classical drama  
composer, and the unique values of the classical drama Liệu đố, a typical classical drama of his  
works. From a cultural point of view, we have generalized and highlighted some linguistic  
features of Liệu đố. Through his cultural language, readers can find that the work has marked  
the development of the medieval classical drama in Nôm script in particular, and the classical  
drama of Binh Dinh in general.  
Key words: classical drama in Nôm script, Binh Dinh classical drama, cultural  
language, the language of classical drama, Liệu đố.  
liệu điền dã cá nhân, sau khi đỗ Tú Tài, vì  
những lý do cá nhân, ông lui về ở ẩn, dạy  
học và viết tuồng tại quê nhà cho đến khi  
mất (1880). Ông là vị ân sư khai tâm dạy  
chữ và cũng chính là người gieo niềm đam  
mê hát bội (hay còn gọi là Tuồng) cho nhà  
thơ Đào Tấn – soạn giả tuồng lỗi lạc của  
Bình Định, môn sinh đắc ý nhất của cụ Tú.  
Trong tiến trình lịch sử phát triển của  
văn chương Hán Nôm Bình Định, ngoài  
những nhân vật tiêu biểu như Đào Duy Từ,  
Đặng Đức Siêu, Hồ Sĩ Tạo... và Đào Tấn,  
chúng ta cần nghiên cứu về trứ tác, nhân  
cách và những ảnh hưởng của Nguyễn Diêu  
trong văn giới Bình Định. Đây là một trong  
những tác giả lớn trong tiến trình văn học  
Bình Định. Ông không chỉ là những nhà  
1. Nguyễn Diêu và vở tuồng Liệu đố  
1.1. Nguyễn Diêu – xử sĩ chốn Nho  
trường Bình Định  
Nguyễn Diêu sinh năm 1822, không  
rõ tên tự, hiệu là Quỳnh Phủ, người thôn  
Nhơn Ân, xã Phước Thuận, huyện Tuy  
Phước, tỉnh Bình Định. Ông được sinh  
trưởng trong một gia đình nghèo nhưng bản  
tính hiếu học và quyết chí theo khoa cử.  
Ông đỗ tú tài năm Tự Đức thứ 13 (1860)  
nên dân gian thường gọi là cụ Tú Nhơn Ân.  
Ông tiếp tục con đường khoa cử nhưng  
không thành đạt nên về nhà mượn thơ rượu,  
lấy trăng thanh, cỏ biếc làm vui; làm thơ,  
viết tuồng và mở trường dạy học. Theo tư  
_____________________________  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
33  
hoạt động văn chương nghệ thuật mà phong  
thái đức độ của ông còn ảnh hưởng đến  
những tầng lớp sĩ phu Bình Định cuối thế  
dần củng cố ách đô hộ trên đất nước ta.  
Trước sự đầu hàng của vua quan nhà  
Nguyễn, bản thân Nguyễn Diêu tự suy xét  
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Từ ý thức lịch sử đó, thời cuộc, ông cho rằng:  
tiếp cận các văn bản Tuồng và thơ của cụ  
Tú Diêu, chúng ta có thể nhận ra một nhà  
thơ lớn Nguyễn Diêu. Ông là nhà thơ ưu  
thời mẫn thế, luôn trăn trở với đời.  
Liếc mắt thấy thế tình đà điên đảo  
Lắng tai nghe thời sự quá dở dang  
(Hàn sĩ vịnh)  
Và chán ngán thế sự:  
Nhiều người biết tiếng cụ Tú Nhơn  
Ân. Nhiều tài liệu viết về cụ, nhưng rất sơ  
sài, cả về tiểu sử lẫn văn nghiệp. Tác phẩm  
của ông cũng bị thất lạc hầu hết. Hiện nay  
chỉ còn một số vở tuồng: Ngũ Hổ Bình Tây  
(có người gọi là Ngũ hổ bình Liêu), Liệu  
đố (chữa bệnh ghen), Chém cáo (Nguyệt cô  
hoá cáo)… một số bài thơ nôm: Chán đời,  
An phận, Con muỗi, bài phú Hàn sĩ vịnh do  
cư sĩ Bùi Văn Lăng dịch và in lại trong tập  
Danh nhân Bình Định do tác giả tự xuất  
bản năm 1943.  
Về quan điểm nhân sinh và xã hội, có  
lẽ trong cuộc đời của mình, cụ Tú đã gặp  
nhiều trắc trở, nhiều nhân vật trong các vở  
tuồng của ông dường như đã phần nào thể  
hiện rõ những điều ấy:  
Văn hay chẳng khỏi nề xanh cỏ  
Võ giỏi rồi ra cũng bạc đầu  
(Chán đời)  
Do đó, trong những cách lựa chọn, ông  
chỉ muốn an phận, an bần mà vui với đạo,  
theo lời dạy của các bậc tiên Nho:  
Áo cơm xong phận theo ngày tháng  
Ruột đặng như vầy rứa cũng tiên  
(An phận)  
Với tư cách một nhà nho, ông đã rất  
tự hào về cuộc sống thanh bần, lạc đạo của  
mình. Hai câu thơ có tính chất triết luận sau  
biểu hiện rất rõ nhân sinh quan của Nguyễn  
Diêu:  
Vui là vui với bá tòng là bầu bạn,  
đói no kinh sử cũng thỏa lòng.  
Đường lợi danh trối kẻ ước mong,  
trường đạo lý thời ta nông nã.  
Anh hùng nước bước còn săn  
Đừng dun mày liễu, mà quằn ruột lan.  
Chính cụ Nguyễn Diêu thường nói về  
mình: “Trăm đều không bằng người nhưng  
chưa từng có lòng xảo trá, do đó dáng dấp  
và tinh thần không mệt mỏi, cơm áo thì hơi  
no đủ cũng là được rồi, nhưng chẳng cần  
phải nghĩ ngợi nhiều về chuyện có và  
không” [2;tr.12]. Trong gia tài sáng tác của  
ông, Hàn sĩ vịnh là bài Phú có tính chất tự  
vịnh, vừa nhằm khuyến khích học trò đừng  
vì nghèo mà thối chí, vừa phải kiên tâm mà  
dùi mài kinh sử, nhưng cũng cần phải sáng  
suốt thấy được tình đời, tình người và  
những điều sâu thẳm hơn trong đó.  
(Hàn sĩ vịnh)  
Có thể nói, hơn ai khác, Đào Mộng  
Mai là người hiểu rõ thầy mình nhất. Ông  
biết, cụ Tú không phải vì chán đời, vì an  
phận mà ông tách rời hẳn cuộc đời. Không  
chỉ trăn trở với thời cuộc, đôi khi Nguyễn  
Diêu cũng phóng bút, trào lộng. Trong  
bài Con muỗi, ông ví bọn tham quan như  
những con muỗi chuyên hút máu và nguyện  
trở thành chiếc quạt băng tiêu để đập chết  
bọn chúng:  
Băng tiêu quạt nọ trời cho mỗ  
Ra sức đập mày cũng chết queo  
(Con muỗi)  
Ông không xuất chính và trở thành  
một dật sĩ bởi một lẽ quan trọng khác. Vào  
những năm cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp  
Từ những câu chuyện dã sử và giai  
thoại, dạo qua vườn văn của cụ Tú, chúng  
ta vẫn thấy đọng lại trong lòng mối hoài  
34  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
cảm của một bậc xử sĩ đậm chất lãng tử  
ngạo nghễ trong Nho lâm. Có thể nói, cuộc  
đời và cách hành xử của ông đã để lại cho  
hậu thế khá nhiều những bài học về nhân  
sinh trân quý.  
đổi mới toàn diện và triệt để về mọi mặt:  
nội dung tư tưởng, đề tài chủ đề, kết cấu,  
nhân vật, ngôn ngữ... Nguyễn Diêu đặt nền  
móng cho sự cách tân còn Đào Tấn thực  
hiện việc “thay da đổi thịt” cho nghệ thuật  
tuồng Bình Định. Nó cách khác, cùng với  
Đào Tấn, Nguyễn Diêu đã tạo nên một  
phong cách tuồng đặc trưng của vùng Nam  
Trung bộ - phong cách Bình Định.  
1.2. Nguyễn Diêu – Nhà soạn tuồng xuất  
sắc của Bình Định  
Nghiên cứu về những đặc sắc của  
tuồng Đào Tấn, thật thiếu sót khi không nói  
đến sự ảnh hưởng sâu sắc của cụ Tú Nhơn  
Ân - Nguyễn Diêu, người thầy đáng kính  
mà Đào Tấn luôn tôn sùng. Ông chịu ảnh  
hưởng của Quỳnh phủ Nguyễn Diêu ở  
nhiều mặt, cả về đạo đức, học vấn lẫn  
phong cách sáng tác. Suốt cuộc đời mình,  
ông luôn nhớ đến công ơn thầy, làm nhiều  
thơ văn nói về người thầy kính yêu của  
mình và trong tuồng Đào Tấn cũng thấy  
phảng phất triết lý, tư tưởng của Nguyễn  
Diêu ở đó.  
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha [3]  
đánh giá Nguyễn Diêu như một ngọn Tháp  
Đôi vốn đẹp đẽ nhưng lâu nay bị khuất lấp,  
bây giờ hiện ra lộng lẫy choáng ngợp. Từ  
góc độ lịch sử nghệ thuật tuồng, chúng ta  
có thể khẳng định, Nguyễn Diêu và Đào  
Tấn là “tuyệt đại song hùng” của làng  
tuồng Bình Định. Đối với Nguyễn Diêu,  
ông được nhiều người biết đến là nhờ ở  
những vở tuồng kinh điển mà ông đã để lại  
cho hậu thế. Đặc biệt, Ngũ hổ bình  
Tây được xem là một trong những vở tuồng  
cổ hay nhất, được lưu truyền, được dàn  
Cụ Tú Nhơn Ân nổi tiếng với các vở  
tuồng Ngũ hổ bình Liêu, Liệu đố, Võ Tam  
Tư trảm Nguyệt Cô... Qua các vở tuồng này, dựng và biểu diễn qua nhiều thời đại. Nếu  
ta thấy Nguyễn Diêu có một bản lĩnh sáng  
tác thật đáng kính nể. Đó là khả năng Việt  
hóa sâu sắc các cốt truyện Trung Hoa theo  
truyền thống văn hóa người Việt, từ ý thức  
tư tưởng đến lời ăn tiếng nói và hành động.  
Nhân vật đều là những nhân vật trong lịch  
sử Trung Hoa nhưng cốt truyện, tình tiết  
kịch lại là những sự kiện trong đời sống  
sinh hoạt hàng ngày của người Việt như:  
chuyện tình yêu, chuyện ghen tuông,  
chuyện mẹ chồng nàng dâu.... Chính vì vậy,  
tuồng của cụ Tú Nhơn Ân rất gần gũi và  
thân thuộc với người dân Bình Định và trở  
thành một món ăn tinh thần không thể thiếu  
trong sinh hoạt văn hóa quần chúng ngày  
trước. Phong cách sáng tác của Quỳnh Phủ  
tiên sinh đã tạo nên những dấu ấn không  
nhỏ trong sáng tác tuồng của Đào Tấn sau  
này. Chính sự cách tân về nội dung trong  
tuồng Nguyễn Diêu đã góp phần tạo nên sự  
Ngũ hổ bình Tây mang chủ đề trung, hiếu,  
tiết, nghĩa thì Chém cáo lại thể những đối  
thoại văn hoá, nhân văn sâu sắc. Với Liệu  
đố, tư tưởng nhân văn không chỉ được tiếp  
nối mà còn thể hiện những đổi mới nghệ  
thuật tuồng dân gian, mang lại những tiếng  
cười, những suy tư và trải nghiệm về cuộc  
sống vợ chồng trong môi trường văn hoá  
Nho giáo.  
Từ cuộc sống thanh bạch, mẫu mực,  
Nguyễn Diêu đã thể hiện phong thái của  
bậc hàn Nho thời loạn thế. Chẳng những  
thế, qua một số vở tuồng còn lưu truyền,  
hậu thế còn cảm nhận ở cụ Tú Nhơn Ân là  
một nghệ sĩ đa tài, táo bạo. Ông không chỉ  
tạo nên những dấu ấn đậm nét trong tiến  
trình lịch sử nghệ thuật tuồng Nam Trung  
bộ, mà còn kiến tạo nên một phong cách  
tuồng đặc biệt – phong cách Bình Định mà  
người học trò Đào Tấn của ông là một tác  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
35  
gia tiêu biểu.  
1.3. Giới thiệu vở tuồng Liệu đố (chữa  
bệnh ghen)  
Hoạch. May nhờ cha con Thạch Nghị -  
Kim Liên chặn đánh băng cướp, họ chạy  
thoát và chẳng biết trời xui đất khiến thế  
nào mà Châu Anh lại chạy thẳng vào buồng  
ngủ của Kim Kiên để ẩn nấp. Kim Liên vốn  
là một thiếu nữ tài sắc tuy nhộn nhạo tin  
ong sứ điệp nhưng chưa vấn vương mối chỉ  
đường tơ khiến hai cha con nàng lâm vào  
tình cảnh: Cha đầu bạc bóng dâu hầu  
xế/Con má hồng cầu thước chửa sang.  
Trước hôm tình cờ gặp Châu Anh, Kim  
Liên đã chiêm bao thấy: Cọp yểm trở thành  
giấc mộng/Rồng con xuất hiện canh ba và  
đã kể cho Thạch Nghị nghe, Thạch Nghị  
đoán rằng đây là giấc mộng báo trước Kim  
Liên sắp lấy được người chồng danh giá.  
Nay lại có chuyện chàng cống sĩ đậu khoa  
Nhâm Dần chạy trốn cướp vào ngay phòng  
ngủ kín bưng của con mình, Thạch Nghị  
cho đây đích thị là duyên số trời ban nên dù  
Châu Anh trần tình đã có vợ ở quê nhà  
Thạch Nghị vẫn ngỏ lời gả Kim Liên cho  
chàng. Từ lời đề nghị khá khéo léo khiến  
Châu Anh hết đường từ chối đành chấp  
nhận kết duyên cầm sắt cùng Kim Liên để  
Trăm năm dầu đặng chữ thành thân/Muôn  
kiếp nguyện ghi lòng báo nghĩa. Sau khi  
kiếm được rể quý cho con, Thạch Nghị đã  
đích thân hộ tống Châu Anh tới kinh ứng  
thí.  
Ngọc Mai ở nhà bặt tin chồng quá lâu,  
đã rất héo hon sầu nhớ, vốn ghen tuông đã  
sẵn tính trời lại thêm lời khích bác ác ý của  
những kẻ chuyên ngồi lê đôi mách như mụ  
Bảy Nhạn láng giềng rằng chồng nàng đã  
kiếm được vợ nhỏ hầu non chốn kinh thành  
nên hóa điên hóa dại rồi quyết ra đi tìm  
chồng để đánh ghen cho bỏ tức. Trên  
đường, Ngọc Mai lại gặp băng cướp Hắc  
Sát, Bạch Hoạch và bị chúng bắt. Trước đó,  
khi Thạch Nghị đưa Châu Anh ra kinh,  
thừa cơ Kim Liên ở nhà một mình, băng  
cướp này đã quay lại trả thù gia đình nàng.  
Liệu đố là một trong những vở tuồng  
còn sót lại của cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu.  
Vở tuồng này đã được nhiều thế hệ nghệ sĩ  
biểu diễn. Trên cơ sở đối chiếu bản Nôm và  
bản quốc ngữ do nhà nghiên cứu Vũ Ngọc  
Liễn cung cấp, hai nhà nghiên cứu Hán  
Nôm Huỳnh Chương Hưng và Võ Minh  
Hải đã xem xét, sửa chữa, hiệu đính. Qua  
khảo cứu, nhà nghiên cứu Huỳnh Chương  
Hưng cho rằng, tuy được sáng tác bằng chữ  
Nôm nhưng lại xem lẫn khá nhiều câu chữ  
Hán, nhiều điển cố, những câu chữ được  
trích dẫn từ Tứ thư, Ngũ kinh. Liệu đố là  
một vở tuồng hay, và là vốn quý của kho  
tàng nghệ thuật tuồng Bình Định cần được  
gìn giữ.  
Liệu đố bắt đầu bằng cảnh vợ chồng  
chàng cử nhân Châu Anh, người thôn Bạch  
Lãnh bàn nhau về cuộc thi hội do nhà vua  
triệu tập. Người vợ, nàng Ngọc Mai, nói  
với Châu Anh rằng đỗ cử nhân là đủ rồi, cứ  
yên tâm ở quê nhà nhủ ba thằng con nít là  
tốt rồi, chẳng nên tham công danh phú quý  
nữa. Điều Ngọc Mai lo lắng nhất là chồng  
nàng: Những muốn ông tiến sĩ/ những muốn  
ông thám hoa/ức làm quan làm gia chỉ để  
kiếm hầu xinh hầu tốt nên nàng nài nỉ  
chồng làm đơn xin khỏi thi, tốn kém gì  
nàng sẽ lo liệu. Châu Anh bàn với Ngọc  
Mai rằng nếu làm thế, dễ mắc tội khi quân,  
hãy để chàng tiếp tục: Tang bồng, dầu trả  
nợ nam nhi/Kỳ biểu cũng rạng nơi cố lý.  
Không ngăn cản được cái mộng công danh  
của chồng, Ngọc Mai đành để chồng ra đi  
nhưng căn dặn Châu Anh phải tránh xa  
chuyện trăng hoa kẻo sẽ: Chẳng hư nhiều,  
hư ít/cũng nát cửa nát nhà.  
Châu Anh cùng hề đồng lên đường tới  
kinh thành. Giữa đường, hai thầy trò gặp  
băng cướp của hai anh em Hắc Sát, Bạch  
36  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Vì thân cô, thế cô, Kim Liên cũng đã bị  
chúng bắt. Thế là Ngọc Mai và Kim Liên  
tình cờ gặp nhau trong nhà ngục của băng  
cướp và qua câu chuyện tâm tình của  
những người cùng cảnh ngộ hai người bất  
ngờ nhận ra là họ cùng có chung một người  
chồng. Kim Liên phân trần về cái “duyên  
trời” giúp nàng được gặp, kết nghĩa đá vàng  
cùng Châu Anh và xin Ngọc Mai xá tội, sẽ  
tìm cách cứu Ngọc Mai để đáp đền ân  
nghĩa. Ngọc Mai nói với Kim Liên rằng  
nàng chỉ nhất thời oán trách, chứ thực sự  
cũng nghĩ Kim Liên vô tội, xin Kim Liên  
đừng hồ nghi lòng nàng, mong được Kim  
Liên giúp đỡ cùng nhau vượt qua hoạn nạn.  
Từ việc Hắc Sát, Bạch Hoạch ngỏ ý muốn  
cưới Kim Liên và Ngọc Mai, Kim Liên đã  
lập kế giết chết Bạch Hoạch, đưa Ngọc Mai  
trốn chạy. Hắc Sát đem lâu la đuổi theo  
quyết truy bắt hai người. May vừa lúc  
Thạch Nghị trở về từ kinh thành, ông đã kịp  
thời chặn đánh băng cướp, giết chết nốt  
tướng cướp Hắc Sát.  
Mãi cho đến khi Ngọc Hoàng thượng đế  
quá bất bình vì Ngọc Mai cứ Giữ một mực  
ghen tương/không biết đường phải trái toan  
cử Thiên Lôi xuống đánh chết nhưng nhờ  
Nam Tào can gián mới sai Thổ Địa xuống  
Diêm La bắt hồn mẹ Ngọc Mai là bà Kim  
Cảnh hiện về hết lời khuyên giải, la ngầy  
chỉ cho Ngọc Mai thấy: Ơn nó quý hơn  
vàng/Tình mày đà quá bạc, Ngọc Mai mới  
thực sự tỉnh ngộ.  
Gặp lại Kim Liên, Ngọc Mai chân  
thành bày tỏ lòng biết ơn với Kim Liên.  
Khi Kim Liên trở dạ muốn sinh, Ngọc Mai  
lại hết lòng phò trì Kim Liên vượt cạn, sinh  
được một con trai đầu lòng tuyệt đẹp. Cuối  
cùng, Ngọc Mai ngỏ lời mời cha con Thạch  
Nghị, Kim Liên về lại Bạch Lãnh chung  
sống chờ Châu Anh vinh quy bái tổ để cho  
nàng được Ngõ đáp đền ơn nọ nghĩa  
kia/Cho vẹn đạo cha đâu con đó. Cả ba  
người lên đường về Bạch Lãnh thôn trong  
câu hát nam của Thạch Nghị: Cho hay giải  
cấu là duyên/Chị hòa em thuận phỉ nguyền  
cùng nhau.  
Hoạn nạn đã qua, Ngọc Mai được đưa  
về sống chung với cha con Kim Liên với  
nỗi dằn vặt khôn nguôi về cái tình cảnh trớ  
trêu của mình. Từ đó, Ngọc Mai đổ bệnh  
ngày càng nặng, Kim Liên đã tận tình lo  
lắng thuốc thang chăm sóc cứu chữa cho  
Ngọc Mai bất chấp việc Ngọc Mai vì không  
kìm được hờn ghen mà luôn xua đẩy xa  
lánh nàng. Đến khi Ngọc Mai lâm cơn thập  
tử nhất sinh, trong tình cảnh Mộng quỷ đã  
nên chứng dữ/Trường sanh khôn chạy  
thuốc thang, Kim Liên đã cắt lấy máu mình  
hòa thuốc rồi vái phật tiên trời đất cùng  
mình cứu sống Ngọc Mai. Qua cơn hiểm  
nghèo, tuy biết nhờ Kim Liên mà mình  
được tái sinh, nhưng Ngọc Mai vẫn chưa  
thôi hậm hực, nàng vẫn Vòng hoạn nạn đã  
an một kiếp/Nhưng đường tử sinh chưa  
quyết hai bề và Đường thị phi hai nẻo gập  
ghềnh/Điều hư thiệt một lòng nghi ngại.  
2. Hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ  
tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu  
2.1. Tiền đề và cơ sở khảo sát  
Nguyễn Diêu là một nhà nghệ sĩ, quan  
niệm của ông về văn hóa - thẩm mỹ trong  
ngôn ngữ diễn đạt của tuồng Nôm cũng có  
sự dịch chuyển. Từ góc nhìn văn hóa, hệ  
thống từ ngữ trong sáng tác Nôm của  
Quỳnh Phủ có thiên về khuynh hướng kết  
hợp hài hoà hai luồng thẩm mĩ Hán và Việt,  
bác học và bình dân, quy phạm và phá vỡ  
quy phạm với sự vận dụng thường xuyên  
hệ thống ngữ liệu văn hóa một cách thần  
tình, nhuần nhuyễn và độc đáo. Ở giai đoạn  
sau, đặc biệt sau khi các vở tuồng kinh điển  
của ông đã được lưu hành, người ta bắt gặp  
ở đó là một dật sĩ sống hòa mình giữa thiên  
nhiên thôn quê và cuộc sống của nhân dân  
lao động, ông nghiêng về khuynh hướng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
37  
thẩm mĩ bình dân với những chủ đề rất dân  
dã mà Liệu đố là minh chứng thông qua  
việc tăng cường sử dụng hệ thống ngữ liệu  
văn hóa bình dân trong các sáng tác. Là  
một tác giả lớn của văn học Bình Định thời  
trung đại, sáng tác Nguyễn Diêu đã được  
ghi nhận trong một số tài liệu do hậu thế  
sưu tầm, biên soạn, ghi chép, in ấn. Tuy  
nhiên, Liệu đố là một bộ tuồng Nôm khá lý  
thú, được sử dụng để công diễn, tư diễn khá  
nhiều nơi trên địa bàn miền Trung và Bình  
Định.  
Trước hết, về những bản chữ Nôm  
được lưu truyền. Theo Vũ Ngọc Liễn trong  
công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông  
đồ nghệ sĩ [2], hiện nay còn các bản chép  
tay được lưu giữ ở tư gia và thư viện nhà  
hát tuồng Đào Tấn. Từ nửa sau thế kỉ XX,  
bản tuồng này được phiên âm ra chữ quốc  
ngữ và cũng chỉ lưu truyền trong giới nghệ  
sĩ biểu diễn. Tính đến nay, đã có 02 bản  
phiên âm được công bố, giới thiệu. Cụ thể  
như sau:  
1. Bản đầu tiên do cụ Phan Hiền phiên  
âm, Vũ Ngọc Liễn chú giải, được công bố  
trong công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu –  
Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu, 2011. Bản  
này có 140 trang, bao gồm cả phần chú  
thích.  
2. Bản thứ hai do nhà nghiên cứu  
Huỳnh Chương Hưng và TS. Võ Minh Hải  
phiên âm, hiệu đính và chú giải ngữ liệu  
Hán Nôm. Bản này chưa được xuất bản,  
qua tiếp cận, chúng tôi được biết văn bản  
có 120 trang khổ A4, được hoàn thành năm  
2013. Ưu điểm của bản này là sự khảo sát  
và phiên âm trực tiếp từ bản Nôm do các  
nhà nghiên cứu sưu tầm được trong quá  
trình điền dã tại Tuy Phước năm 2010 [1].  
Quỳnh Phủ rất “kín đáo” trong việc  
phát ngôn quan niệm nghệ thuật. Quan  
niệm văn hóa - thẩm mĩ của nhà thơ được  
giấu kín qua hệ thống các ngữ liệu văn hóa  
mà ông đã sử dụng trong tác phẩm của  
mình. Tiến hành khảo sát ngôn ngữ trong  
vở tuồng Liệu đố, chúng tôi dựa vào cơ sở  
khảo sát đầu tiên là đặc trưng văn hóa trong  
ngôn ngữ văn học Nôm thời trung đại. Có  
thể nói, ngôn ngữ văn hoá trong các tác  
phẩm Nôm của Nguyễn Diêu và vở Liệu đố  
mang trong mình những dấu vết văn hóa, là  
biểu hiện sinh động của truyền thống văn  
hóa dân tộc. Qua gia tài sáng tác này, ta có  
thể phục dựng lại những nét cơ bản về  
không gian văn hóa thời trung đại cũng như  
đời sống văn hóa người con người Bình  
Định xưa.  
2.2. Một số nhận xét về ngữ liệu văn hóa  
trong tuồng Liệu đố  
Qua số lượng, mật độ và sự phân loại  
của các tiểu loại ngữ liệu văn hóa, có thể  
thấy được phần nào nghệ thuật sử dụng ngữ  
liệu văn hóa của Nguyễn Diêu.  
Về số lượng ngữ liệu văn hóa, với 248  
lượt ngữ liệu trong toàn bộ văn bản, trong  
tương quan với ngôn ngữ tuồng Nôm một  
số tác giả như Nguyễn Hiển Dĩnh, Đào  
Tấn…, mật độ ngữ liệu văn hóa trong Liệu  
đố là tương đối phong phú. Điều này nói  
lên rằng, ngôn ngữ trong tuồng Liệu đố in  
đậm dấu ấn văn hóa. Văn hóa là một đặc  
trưng trong phong cách ngôn ngữ nghệ  
thuật tác phẩm Liệu đố của Nguyễn Diêu.  
Về hình thức ngôn ngữ của ngữ liệu  
văn hóa, ngữ liệu văn hóa được sử dụng  
trong tuồng Nôm Liệu đố có đầy đủ ba  
thành phần như đặc trưng chung của ngữ  
liệu văn hóa trong thơ Nôm. Đó là các  
thành phần ngữ liệu thuần Việt, ngữ liệu  
Hán Việt và ngữ liệu bán Hán Việt. Trong  
ngôn ngữ tuồng Liệu đố, ngữ liệu bán Hán  
Việt chiếm tỉ lệ cao nhất với 42,7% trong  
số 248 ngữ liệu văn hóa. Hiện tượng này  
phần nào nói lên rằng ở ngôn ngữ tác phẩm  
này có sự dung hòa, tích hợp đậm nét hai  
luồng văn hóa bác học và văn hóa bình dân.  
38  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Bên cạnh đó, nhiều ngữ liệu Hán Việt có  
nguồn gốc văn hóa Hán học được nhà thơ  
chuyển dịch sang bán Hán Việt (như ngữ  
liệu Hán học “nho lâm” được chuyển dịch  
thành ngữ liệu bán Hán Việt “rừng nho”,  
“tam quân” chuyển dịch thành “ba quân”,  
“chiết Chương Đài liễu” chuyển dịch từ “bẻ  
liễu Chương Đài”…), thậm chí thuần Việt  
(như ngữ liệu thuần Việt “bể dâu” được rút  
gọn và chuyển dịch từ ngữ liệu Hán học  
“thương hải tang điền”, “trăm năm” được  
rút gọn và chuyển dịch từ “nhân sinh bách  
niên vi kỳ”…). Điều này phản ánh phần  
nào khuynh hướng khước từ dần ảnh hướng  
của văn hóa Hán học, đồng thời tìm về với  
truyền thống văn hóa dân tộc của vở tuồng  
đặc sắc này. Trong các thành phần còn lại,  
ngữ liệu thuần Việt chiếm tỉ lệ thấp hơn cả  
với 49 ngữ liệu, chiếm 19,8% trong tổng số  
248 ngữ liệu. Ngữ liệu Hán Việt chiếm tỉ lệ  
lớn thứ hai sau ngữ liệu bán Hán Việt, với  
93 đơn vị, chiếm 37,5%.  
So với một số tác phẩm của Nguyễn  
Hiển Dĩnh và Đào Tấn - hai soạn giả tiêu  
biểu của bộ môn nghệ thuật tuồng khu vực  
Nam Trung bộ, khuynh hướng tìm về, kế  
thừa và phát huy, đề cao giá trị văn hóa nội  
sinh, ngữ liệu văn hóa bình dân trong Liệu  
Đố có phần nhỏ hơn. Tuy nhiên, trong hình  
chung là áp lực còn rất lớn của ngữ liệu  
Hán Việt đối với văn học tuồng Nôm thời  
trung đại, tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu  
là một trong những sáng tác có tỉ lệ ngữ  
liệu văn hóa thuần Việt và ngữ liệu bán  
Hán Việt chuyển dịch cao (155/248 ngữ  
liệu, chiếm 62,5%). Phải là sáng tác của  
những tác giả có khuynh hướng một mặt  
hạn chế sự tác động của văn hóa Hán bằng  
cách sử dụng có chọn lọc, mặt khác tìm về,  
học tập và phát huy mạnh mẽ các giá trị  
văn hóa nội sinh của dân tộc… mới đạt  
được tỉ lệ này.  
văn hóa trong ngôn ngữ vở Liệu đố mang  
cả hai phong cách bác học và bình dân.  
Hiện tượng này một mặt bắt nguồn từ  
truyền thống của thơ Nôm trung đại, đồng  
thời, chịu ảnh hưởng đậm nét từ cuộc đời  
và phong cách soạn giả. Nguyễn Diêu vừa  
là một hàn sĩ, bậc túc nho, thông làu kinh  
sử, am tường văn hóa Hán học lại vừa là  
người sống gần gũi với người dân lao động,  
gắn bó với nông thôn, sành sõi tiếng Việt,  
hiểu biết về truyền thống văn hóa của dân  
tộc. Hai phong cách văn hóa trong con  
người Quỳnh Phủ để lại dấu ấn rõ nét trong  
thơ văn của ông, đặc biệt là trong ngôn ngữ  
tuồng thời trung đại Việt Nam.  
Trong hai phong cách, ngữ liệu văn  
hóa mang phong cách bác học chiếm tỉ lệ  
lớn trong tuồng Liệu đố. Có 193/248 ngữ  
liệu là ngữ liệu bác học, chiếm tỉ lệ 77,8%.  
Dẫn đến hiện tượng này, theo chúng tôi, là  
bởi dấu ấn văn hóa bác học trong ngôn ngữ  
tuồng Quỳnh Phủ chịu ảnh hưởng sâu sắc  
từ con người và phong cách thi nhân của  
Nguyễn Diêu. Ngữ liệu văn hóa bình dân  
trong vở Liệu đố có tỉ lệ thấp hơn với 55  
ngữ liệu, chiếm 22,2% trong tổng số 248  
ngữ liệu văn hóa thống kê được. Tuy nhiên,  
sự gia tăng về thành ngữ, tục ngữ, phương  
ngữ, khẩu ngữ, tiếng lóng, từ ngữ xã hội…  
với số lượng tương đối lớn vào ngôn ngữ  
tuồng Liệu đố là một hiện tượng thú vị, có  
ý nghĩa nhất định đối với khuynh hướng  
tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc của tuồng  
Nôm Bình Định.  
Ngoại trừ điển cố, thi liệu và từ ngữ xã  
hội Hán học, các bộ phận còn lại trong hệ  
thống ngữ liệu văn hóa trong Liệu đố có tỉ  
lệ khá tương đồng. Việc hạn chế sử dụng  
điển cố, thi liệu Hán học, đồng thời tăng  
cường sử dụng thành ngữ, ca dao, thành  
ngữ, khẩu ngữ đã góp phần làm cho ngôn  
ngữ Nôm trong Liệu đố của Nguyễn Quỳnh  
Phủ ngày càng trở nên mềm mại, uyển  
Xét về phong cách văn hóa, ngữ liệu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
39  
chuyển, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng  
ngày của nhân dân lao động, đóng góp nhất  
định đối với sự phát triển của tiếng Việt  
văn chương ở thời trung đại. Từ góc nhìn  
văn hóa, ngữ liệu văn hóa trong bản tuồng  
Liệu đố của Nguyễn Diệu đã gián tiếp thể  
hiện ít nhiều quan niệm văn hóa - thẩm mĩ  
của thi nhân trong các sáng tác của mình.  
Khuynh hướng lựa chọn, sử dụng từng hệ  
thống ngữ liệu văn hóa cho thấy các  
phương diện cơ bản trong quan niệm văn  
hóa - thẩm mĩ của nhà thơ. Việc sử dụng có  
chủ đích hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học  
cho thấy ở tác giả quan niệm về mẫu người  
nhà nho lí tưởng; quan niệm về cái đẹp văn  
hóa mang tính trang trọng, mực thước, tao  
nhã, uyên bác vốn chịu sự chi phối của văn  
hóa Nho giáo. Ngược lại, việc ưu tiên sử  
dụng tăng cường hệ thống ngữ liệu văn hóa  
bình dân thể hiện ở nhà thơ quan niệm về  
3.1. Ngôn ngữ văn hóa bác học với sự thể  
hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của  
Nguyễn Diêu trong vở tuồng Liệu đố  
Dấu ấn của văn hóa bác học đối với  
việc hình thành và thể hiện quan niệm văn  
hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Diêu trong ngôn  
ngữ vở Liệu đố được thể hiện qua phương  
diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm,  
chủ yếu là ngôn từ. Nhà thơ ưu tiên lựa  
chọn lớp từ mực thước, trừu tượng, cổ kính,  
trang nhã. Điều này lí giải vì sao lớp ngữ  
liệu văn hóa bác học được nhà thơ huy  
động sử dụng với số lượng rất lớn trong các  
tác phẩm Nôm thời trung đại.  
Kết quả thống kê cho thấy, ngữ liệu  
văn hóa bác học trong Liệu đố của Nguyễn  
Diêu chiếm tỉ lệ cao nhất với 77,8% trong  
tổng số 248 ngữ liệu, được sử dụng với  
nhiều hình thức đa dạng (kinh sử, điển cố  
thi liệu, nhân danh địa danh, từ ngữ xã hội  
cái đẹp văn hóa mang tính cụ thể, sinh động, Hán học; nguyên dạng và chuyển dịch; Hán  
chân thực, gần gũi, tươi trẻ, thậm chí tinh  
nghịch, phá cách; quan niệm về cái hài gắn  
với sự kệch cỡm, lố lăng vốn chịu ảnh  
hưởng từ truyền thống văn hóa dân tộc, văn  
hóa bình dân, tiếng cười trào lộng của nhân  
dân lao động.  
Nhìn chung, hai bộ phận ngữ liệu  
mang phong cách văn hóa bác học và bình  
dân trong ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố đã  
phản ánh ít nhiều về đặc điểm phong cách  
con người và phong thái văn chương của cụ  
Tú. Ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố vừa học  
tập, kế thừa tinh hoa các giá trị văn hóa bác  
học (chủ yếu là văn hóa gốc Hán có nguồn  
gốc ngoại lai) vừa quay về với mạch nguồn  
văn hóa dân tộc, tiếp thu và phát huy các  
giá trị văn hóa nội sinh. Đây là điểm độc  
đáo, đồng thời là nét giá trị của Liệu đố  
trong tiến trình vận động của văn học tuồng  
Nôm cổ điển Việt Nam.  
Việt, bán Hán Việt và cả thuần Việt). Rõ  
ràng, nhà thơ sử dụng ngữ liệu văn hóa bác  
học một cách có chủ đích. Là bậc túc nho,  
Nguyễn Diêu hiểu rõ bản chất và giá trị của  
bộ phận ngữ liệu văn hóa này (tính hàm súc,  
trang trọng, thanh nhã). Cộng với đó là tài  
năng sử dụng ngôn ngữ của thi nhân. Các  
ngữ liệu văn hóa bác học vào tay ông đều  
trở nên đắc địa, nhiều trường hợp trở thành  
“thần cú nhãn tự” của tác phẩm, phát huy  
tối đa giá trị biểu cảm, thẩm mĩ và văn hóa  
của chúng. Có thể thấy rõ điều này qua  
những đoạn trích hay trong vở tuồng tài  
danh mà Nguyễn Diêu chủ động huy động  
sử dụng một lượng lớn ngữ liệu văn hóa  
bác học như:  
- Sử dụng nhiều điển cố, thi liệu (65  
đơn vị):  
“Đê mê Nam phố Lục ba  
Áo não Dương xuân biệt điệu  
Đồng xướng: Đắc ý xuân phong trục mã đề  
Tương tương nam bắc các đê mê  
3. Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ văn hoá  
trong tuồng Liệu đố  
40  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Giá phiên tống biệt vô tha thoại  
đúng chỗ, hệ thống ngữ liệu văn hóa này sẽ  
phát huy được các giá trị tự thân, mang đến  
cho tác phẩm những hiệu ứng thẩm mĩ độc  
đáo, bất ngờ, thú vị. Bằng tài năng và nhãn  
quan ngôn ngữ tuyệt vời của mình, Nguyễn  
Diêu biết cách lợi dụng các đặc tính quan  
Duy vọng ngao đầu tánh tự đề”  
- Sử dụng nhiều từ ngữ xã hội Hán học  
(76 đơn vị):  
(Hát vãn) Uyên ương ngọc quý trao tay  
Xin phu quân nhớ lấy nghe:  
“Dặn lòng xin chớ lãng xao tấc lòng, trọng trên của hệ thống ngữ liệu văn hóa  
Châu Anh: (Vãn) Đường đời trải nẻo tây  
đông.  
Ơi em ơi Phòng loan mỏi mắt đợi trông  
ngày ngày,  
bình dân để thể hiện các ý đồ nghệ thuật,  
thông qua đó ít nhiều nói lên quan niệm  
văn hóa - thẩm mĩ của mình. Cho nên,  
không phải ngẫu nhiên mà trong tuồng  
Nôm Liệu đố của ông, các bộ phận của ngữ  
liệu văn hóa bình dân có số lượng khá lớn,  
xuất hiện với tần suất khá cao. Ví dụ:  
- Sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca  
dao (ở nguyên dạng hoặc biến dạng):  
Kim Liên:  
Phu nhơn đà trở lại cố hương  
Âu là  
Sư đệ kíp bước qua kinh địa  
(Hát loạn) Sách mã phiên phiên khí thế hào  
Kiều chiêm đế khuyết nhựt luân cao…  
Với việc được sử dụng với tần số cao  
trong các đoạn ca vãn, xướng, các lớp ngữ  
liệu văn hóa bác học đã phát huy tối đa tác  
dụng của chúng trong việc kiến tạo nên lớp  
ngôn từ giàu tính bác học, hàn lâm đồng  
thời trang nghiêm, thanh nhã. Có thể nói,  
trên phương diện hình thức, hệ thống ngữ  
liệu văn hóa bác học đã góp phần thể hiện ở  
Nguyễn Diêu quan niệm văn hóa - thẩm mĩ.  
Đó là quan niệm về cái đẹp gắn với sự  
trang trọng, cao nhã, hài hòa, đăng đối,  
mực thước, uyên bác. Cố nhiên, đó không  
phải là cái đẹp của sự hóc hiểm, cầu kì, gia  
công đẽo gọt. Đa số ngữ liệu văn hóa bác  
học trong tuồng Liệu đố đều dễ hiểu, được  
chuyển dịch và Việt hóa tối đa nói lên điều  
này.  
3.2. Ngữ liệu văn hóa bình dân với sự thể  
hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của  
Nguyễn Diêu trong vở tuồng Liệu đố  
Xét từ nguồn gốc nội sinh từ truyền  
thống văn hóa của dân tộc, ngữ liệu văn  
hóa bình dân mang trong mình nhiều đặc  
điểm như tính cụ thể, sinh động, gần gũi  
với hiện thực cuộc sống và tâm thức người  
Việt, khả năng cực tả, khả năng tạo hình,  
biểu cảm cao. Khi được sử dụng tăng  
cường một cách chủ động, linh hoạt và  
Thạch Nghị vốn cha già,  
Kim Liên là tên thiếp  
Tuy nhôn nhạo tin ong sứ điệp  
Chưa vấn vương mối chỉ đường tơ  
Chẳng biết khi dòng nước rơi thơ  
Có gặp đấng trông bắn sẻ hay chăng?  
- Sử dụng nhiều tiếng lóng, khẩu ngữ :  
Thạch Nghị:  
Bớ con Con đừng biện bạch  
Nó thật côn đồ  
Con chớ “thủ nhơn dĩ mạo” mà  
lầm, xưa nay thường là  
Mặt giống học trò  
Nhưng mà Bộ giò ăn cắp đó con  
Để cha cho một đạp  
Đặng nó mất ba hồn đi cho rồi  
Rõ ràng, sự xuất hiện với tần số khá  
cao của hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân  
đã mang đến cho ngôn ngữ Nôm trong Liệu  
đố nét sinh động, khỏe khoắn, chân thực, cụ  
thể, giàu hình ảnh và biểu cảm. Với hệ  
thống ngữ liệu văn hóa này, hình tượng  
trong các nhân vật trong tuồng của ông trở  
nên sống động, gần gũi hơn. Vẻ đẹp văn  
hóa trong tuồng Nôm Nguyễn Diêu cũng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
41  
hiện lên cụ thể, rõ nét hơn. Ngôn ngữ của  
các nhân vật tiêu biểu trong tuồng Liệu đố  
của ông như Kim Liên, Thạch Nghị, Ngọc  
Mai, Châu Anh, Hề đồng,…rất tiêu biểu  
cho điều này. Bên cạnh quan niệm về cái  
đẹp gắn với sự trong sáng, gần gũi, sống  
động, quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của  
Nguyễn Diêu còn thể hiện ở cái nhìn trào  
lộng. Bên cạnh cái đẹp, ông còn nêu ra  
quan niệm về cái hài. Đó là sự kệch cỡm,  
trơ tráo, sự khập khiễng giữa hình thức và  
nội dung gây phản cảm. Trong lời thoại của  
một số nhân vật, yếu tố được ông sử dụng  
nhiều ngữ liệu văn hóa bình dân, đặc biệt là  
lớp khẩu ngữ, tiếng lóng như “trò trẹt chi  
bay”, “nực cười”, “đếch”, “mẹ mày”, “khá  
khen thay”, “cũng thế a”…nhằm tăng  
cường khả năng tạo tiếng cười. Và nhà thơ  
thật sự thành công với lối đi này. Bởi như  
đã biết, với các đặc tính giàu khả năng  
miêu tả và biểu cảm, sinh động, linh hoạt,  
gần gũi, thậm chí suồng sã, thông tục, lớp  
ngữ liệu văn hóa bình dân tỏ ra phù hợp với  
chức năng trào phúng, có tác dụng lớn  
trong việc gây cười. Có thể nói, từ góc nhìn  
văn hóa, có thể thấy rằng, quan niệm văn  
hóa - thẩm mĩ về cái hài của Nguyễn Diêu  
chịu ảnh hưởng từ tiếng cười trào tiếu dân  
gian của các pho tuồng đồ nổi tiếng đất  
Bình Đinh. Sự phóng chiếu của sự ảnh  
hưởng này được thể hiện rõ nét qua hệ  
thống ngữ liệu văn hóa bình dân mà cụ  
Quỳnh Phủ đã sử dụng.  
Nghiên cứu hệ thống ngữ liệu trong  
Liệu đố dưới góc nhìn văn hóa mang đến  
cho chúng ta những kết quả mới mẻ, thú vị.  
Từ góc nhìn văn hóa, ta có thể tìm hiểu  
quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của soạn giả  
Nguyễn Diêu thông qua hệ thống ngữ liệu  
văn hóa mà ông đã sử dụng trong các tác  
phẩm. Cũng từ góc nhìn này, có thể thấy  
được tính triết luận văn hóa trong ngôn ngữ  
tuồng Nguyễn Diêu trên hai bình diện: văn  
hóa dân tộc và văn hóa ngoại lai. Với vấn  
đề tiếp nhận, lan toả và ảnh hưởng của  
tuồng Nôm Nguyễn Diêu nói chung và Liệu  
đố nói riêng trên hai phương diện sáng tác  
và nghiên cứu, phê bình, hướng nghiên cứu  
văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị  
làm nên sức hấp dẫn, lan tỏa của ngôn ngữ  
đặc sắc của vở Liệu đố. Có thể nói, giá trị  
văn hóa hàm chứa bên trong các hệ thống  
ngữ liệu văn hóa được sử dụng một cách  
linh hoạt, nhuần nhị và sáng tạo là một  
trong những tiền đề quan trọng giúp cho  
ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố có sức sống  
lâu bền trong lòng khán thính giả và trong  
tiến trình vận động, phát triển của tuồng  
Nôm Việt Nam  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Huỳnh Chương Hưng, Võ Minh Hải (Phiên âm, chú giải, 2015), Nguyễn Diêu di cảo  
– Liệu đố (Tư liệu cá nhân)  
[2] Vũ Ngọc Liễn (2011), Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu, H.  
[3] Nhiều tác giả (2012), Kỷ yếu Hội thảo Nguyễn Diêu, Sở Văn hoá – Du lịch Bình Định,  
Tp. Quy Nhơn.  
(Ngày nhận bài: 25/09/2019; ngày phản biện: 29/09/2019; ngày nhận đăng: 04/10/2019)  
pdf 10 trang Thùy Anh 20220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ngôn ngữ văn hóa trong vở tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfngon_ngu_van_hoa_trong_vo_tuong_lieu_do_cua_nguyen_dieu.pdf