Ngôn ngữ văn hóa trong vở tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu
32
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
NGÔN NGỮ VĂN HÓA TRONG VỞ TUỒNG LIỆU ĐỐ
CỦA NGUYỄN DIÊU
Võ Minh Hải*, Võ Thị Thu Hòa
Trường Đại học Quy Nhơn
Tóm tắt
Bài viết tập trung đánh giá về cuộc đời, hành trạng của nhà biên soạn tuồng Nguyễn
Diêu của Bình Định và những giá trị đặc sắc của vở tuồng Liệu đố, một tác phẩm tuồng Nôm
tiêu biểu của ông. Từ hướng tiếp cận văn hoá, chúng tôi đã khái quát và nêu bật một số nét đặc
sắc về ngôn ngữ của tác phẩm Liệu đố. Qua ngôn ngữ văn hoá, người đọc có thể nhận thấy tác
phẩm đã đánh dấu một bước phát triển khá đặc sắc của dòng tuồng Nôm trung đại nói chung và
tuồng Bình Định nói chung.
Từ khoá: Tuồng Nôm, tuồng Bình Định, ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ tuồng, Liệu đố.
Abstract:
The cultural language in Nguyen Dieu’s classical drama Liệu đố
This article focuses on assessing the life of Nguyen Dieu, the Binh Dinh classical drama
composer, and the unique values of the classical drama Liệu đố, a typical classical drama of his
works. From a cultural point of view, we have generalized and highlighted some linguistic
features of Liệu đố. Through his cultural language, readers can find that the work has marked
the development of the medieval classical drama in Nôm script in particular, and the classical
drama of Binh Dinh in general.
Key words: classical drama in Nôm script, Binh Dinh classical drama, cultural
language, the language of classical drama, Liệu đố.
liệu điền dã cá nhân, sau khi đỗ Tú Tài, vì
những lý do cá nhân, ông lui về ở ẩn, dạy
học và viết tuồng tại quê nhà cho đến khi
mất (1880). Ông là vị ân sư khai tâm dạy
chữ và cũng chính là người gieo niềm đam
mê hát bội (hay còn gọi là Tuồng) cho nhà
thơ Đào Tấn – soạn giả tuồng lỗi lạc của
Bình Định, môn sinh đắc ý nhất của cụ Tú.
Trong tiến trình lịch sử phát triển của
văn chương Hán Nôm Bình Định, ngoài
những nhân vật tiêu biểu như Đào Duy Từ,
Đặng Đức Siêu, Hồ Sĩ Tạo... và Đào Tấn,
chúng ta cần nghiên cứu về trứ tác, nhân
cách và những ảnh hưởng của Nguyễn Diêu
trong văn giới Bình Định. Đây là một trong
những tác giả lớn trong tiến trình văn học
Bình Định. Ông không chỉ là những nhà
1. Nguyễn Diêu và vở tuồng Liệu đố
1.1. Nguyễn Diêu – xử sĩ chốn Nho
trường Bình Định
Nguyễn Diêu sinh năm 1822, không
rõ tên tự, hiệu là Quỳnh Phủ, người thôn
Nhơn Ân, xã Phước Thuận, huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Định. Ông được sinh
trưởng trong một gia đình nghèo nhưng bản
tính hiếu học và quyết chí theo khoa cử.
Ông đỗ tú tài năm Tự Đức thứ 13 (1860)
nên dân gian thường gọi là cụ Tú Nhơn Ân.
Ông tiếp tục con đường khoa cử nhưng
không thành đạt nên về nhà mượn thơ rượu,
lấy trăng thanh, cỏ biếc làm vui; làm thơ,
viết tuồng và mở trường dạy học. Theo tư
_____________________________
* Email: minhhaiquynhon@gmail.com
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
33
hoạt động văn chương nghệ thuật mà phong
thái đức độ của ông còn ảnh hưởng đến
những tầng lớp sĩ phu Bình Định cuối thế
dần củng cố ách đô hộ trên đất nước ta.
Trước sự đầu hàng của vua quan nhà
Nguyễn, bản thân Nguyễn Diêu tự suy xét
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Từ ý thức lịch sử đó, thời cuộc, ông cho rằng:
tiếp cận các văn bản Tuồng và thơ của cụ
Tú Diêu, chúng ta có thể nhận ra một nhà
thơ lớn Nguyễn Diêu. Ông là nhà thơ ưu
thời mẫn thế, luôn trăn trở với đời.
Liếc mắt thấy thế tình đà điên đảo
Lắng tai nghe thời sự quá dở dang
(Hàn sĩ vịnh)
Và chán ngán thế sự:
Nhiều người biết tiếng cụ Tú Nhơn
Ân. Nhiều tài liệu viết về cụ, nhưng rất sơ
sài, cả về tiểu sử lẫn văn nghiệp. Tác phẩm
của ông cũng bị thất lạc hầu hết. Hiện nay
chỉ còn một số vở tuồng: Ngũ Hổ Bình Tây
(có người gọi là Ngũ hổ bình Liêu), Liệu
đố (chữa bệnh ghen), Chém cáo (Nguyệt cô
hoá cáo)… một số bài thơ nôm: Chán đời,
An phận, Con muỗi, bài phú Hàn sĩ vịnh do
cư sĩ Bùi Văn Lăng dịch và in lại trong tập
Danh nhân Bình Định do tác giả tự xuất
bản năm 1943.
Về quan điểm nhân sinh và xã hội, có
lẽ trong cuộc đời của mình, cụ Tú đã gặp
nhiều trắc trở, nhiều nhân vật trong các vở
tuồng của ông dường như đã phần nào thể
hiện rõ những điều ấy:
Văn hay chẳng khỏi nề xanh cỏ
Võ giỏi rồi ra cũng bạc đầu
(Chán đời)
Do đó, trong những cách lựa chọn, ông
chỉ muốn an phận, an bần mà vui với đạo,
theo lời dạy của các bậc tiên Nho:
Áo cơm xong phận theo ngày tháng
Ruột đặng như vầy rứa cũng tiên
(An phận)
Với tư cách một nhà nho, ông đã rất
tự hào về cuộc sống thanh bần, lạc đạo của
mình. Hai câu thơ có tính chất triết luận sau
biểu hiện rất rõ nhân sinh quan của Nguyễn
Diêu:
Vui là vui với bá tòng là bầu bạn,
đói no kinh sử cũng thỏa lòng.
Đường lợi danh trối kẻ ước mong,
trường đạo lý thời ta nông nã.
Anh hùng nước bước còn săn
Đừng dun mày liễu, mà quằn ruột lan.
Chính cụ Nguyễn Diêu thường nói về
mình: “Trăm đều không bằng người nhưng
chưa từng có lòng xảo trá, do đó dáng dấp
và tinh thần không mệt mỏi, cơm áo thì hơi
no đủ cũng là được rồi, nhưng chẳng cần
phải nghĩ ngợi nhiều về chuyện có và
không” [2;tr.12]. Trong gia tài sáng tác của
ông, Hàn sĩ vịnh là bài Phú có tính chất tự
vịnh, vừa nhằm khuyến khích học trò đừng
vì nghèo mà thối chí, vừa phải kiên tâm mà
dùi mài kinh sử, nhưng cũng cần phải sáng
suốt thấy được tình đời, tình người và
những điều sâu thẳm hơn trong đó.
(Hàn sĩ vịnh)
Có thể nói, hơn ai khác, Đào Mộng
Mai là người hiểu rõ thầy mình nhất. Ông
biết, cụ Tú không phải vì chán đời, vì an
phận mà ông tách rời hẳn cuộc đời. Không
chỉ trăn trở với thời cuộc, đôi khi Nguyễn
Diêu cũng phóng bút, trào lộng. Trong
bài Con muỗi, ông ví bọn tham quan như
những con muỗi chuyên hút máu và nguyện
trở thành chiếc quạt băng tiêu để đập chết
bọn chúng:
Băng tiêu quạt nọ trời cho mỗ
Ra sức đập mày cũng chết queo
(Con muỗi)
Ông không xuất chính và trở thành
một dật sĩ bởi một lẽ quan trọng khác. Vào
những năm cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp
Từ những câu chuyện dã sử và giai
thoại, dạo qua vườn văn của cụ Tú, chúng
ta vẫn thấy đọng lại trong lòng mối hoài
34
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
cảm của một bậc xử sĩ đậm chất lãng tử
ngạo nghễ trong Nho lâm. Có thể nói, cuộc
đời và cách hành xử của ông đã để lại cho
hậu thế khá nhiều những bài học về nhân
sinh trân quý.
đổi mới toàn diện và triệt để về mọi mặt:
nội dung tư tưởng, đề tài chủ đề, kết cấu,
nhân vật, ngôn ngữ... Nguyễn Diêu đặt nền
móng cho sự cách tân còn Đào Tấn thực
hiện việc “thay da đổi thịt” cho nghệ thuật
tuồng Bình Định. Nó cách khác, cùng với
Đào Tấn, Nguyễn Diêu đã tạo nên một
phong cách tuồng đặc trưng của vùng Nam
Trung bộ - phong cách Bình Định.
1.2. Nguyễn Diêu – Nhà soạn tuồng xuất
sắc của Bình Định
Nghiên cứu về những đặc sắc của
tuồng Đào Tấn, thật thiếu sót khi không nói
đến sự ảnh hưởng sâu sắc của cụ Tú Nhơn
Ân - Nguyễn Diêu, người thầy đáng kính
mà Đào Tấn luôn tôn sùng. Ông chịu ảnh
hưởng của Quỳnh phủ Nguyễn Diêu ở
nhiều mặt, cả về đạo đức, học vấn lẫn
phong cách sáng tác. Suốt cuộc đời mình,
ông luôn nhớ đến công ơn thầy, làm nhiều
thơ văn nói về người thầy kính yêu của
mình và trong tuồng Đào Tấn cũng thấy
phảng phất triết lý, tư tưởng của Nguyễn
Diêu ở đó.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha [3]
đánh giá Nguyễn Diêu như một ngọn Tháp
Đôi vốn đẹp đẽ nhưng lâu nay bị khuất lấp,
bây giờ hiện ra lộng lẫy choáng ngợp. Từ
góc độ lịch sử nghệ thuật tuồng, chúng ta
có thể khẳng định, Nguyễn Diêu và Đào
Tấn là “tuyệt đại song hùng” của làng
tuồng Bình Định. Đối với Nguyễn Diêu,
ông được nhiều người biết đến là nhờ ở
những vở tuồng kinh điển mà ông đã để lại
cho hậu thế. Đặc biệt, Ngũ hổ bình
Tây được xem là một trong những vở tuồng
cổ hay nhất, được lưu truyền, được dàn
Cụ Tú Nhơn Ân nổi tiếng với các vở
tuồng Ngũ hổ bình Liêu, Liệu đố, Võ Tam
Tư trảm Nguyệt Cô... Qua các vở tuồng này, dựng và biểu diễn qua nhiều thời đại. Nếu
ta thấy Nguyễn Diêu có một bản lĩnh sáng
tác thật đáng kính nể. Đó là khả năng Việt
hóa sâu sắc các cốt truyện Trung Hoa theo
truyền thống văn hóa người Việt, từ ý thức
tư tưởng đến lời ăn tiếng nói và hành động.
Nhân vật đều là những nhân vật trong lịch
sử Trung Hoa nhưng cốt truyện, tình tiết
kịch lại là những sự kiện trong đời sống
sinh hoạt hàng ngày của người Việt như:
chuyện tình yêu, chuyện ghen tuông,
chuyện mẹ chồng nàng dâu.... Chính vì vậy,
tuồng của cụ Tú Nhơn Ân rất gần gũi và
thân thuộc với người dân Bình Định và trở
thành một món ăn tinh thần không thể thiếu
trong sinh hoạt văn hóa quần chúng ngày
trước. Phong cách sáng tác của Quỳnh Phủ
tiên sinh đã tạo nên những dấu ấn không
nhỏ trong sáng tác tuồng của Đào Tấn sau
này. Chính sự cách tân về nội dung trong
tuồng Nguyễn Diêu đã góp phần tạo nên sự
Ngũ hổ bình Tây mang chủ đề trung, hiếu,
tiết, nghĩa thì Chém cáo lại thể những đối
thoại văn hoá, nhân văn sâu sắc. Với Liệu
đố, tư tưởng nhân văn không chỉ được tiếp
nối mà còn thể hiện những đổi mới nghệ
thuật tuồng dân gian, mang lại những tiếng
cười, những suy tư và trải nghiệm về cuộc
sống vợ chồng trong môi trường văn hoá
Nho giáo.
Từ cuộc sống thanh bạch, mẫu mực,
Nguyễn Diêu đã thể hiện phong thái của
bậc hàn Nho thời loạn thế. Chẳng những
thế, qua một số vở tuồng còn lưu truyền,
hậu thế còn cảm nhận ở cụ Tú Nhơn Ân là
một nghệ sĩ đa tài, táo bạo. Ông không chỉ
tạo nên những dấu ấn đậm nét trong tiến
trình lịch sử nghệ thuật tuồng Nam Trung
bộ, mà còn kiến tạo nên một phong cách
tuồng đặc biệt – phong cách Bình Định mà
người học trò Đào Tấn của ông là một tác
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
35
gia tiêu biểu.
1.3. Giới thiệu vở tuồng Liệu đố (chữa
bệnh ghen)
Hoạch. May nhờ cha con Thạch Nghị -
Kim Liên chặn đánh băng cướp, họ chạy
thoát và chẳng biết trời xui đất khiến thế
nào mà Châu Anh lại chạy thẳng vào buồng
ngủ của Kim Kiên để ẩn nấp. Kim Liên vốn
là một thiếu nữ tài sắc tuy nhộn nhạo tin
ong sứ điệp nhưng chưa vấn vương mối chỉ
đường tơ khiến hai cha con nàng lâm vào
tình cảnh: Cha đầu bạc bóng dâu hầu
xế/Con má hồng cầu thước chửa sang.
Trước hôm tình cờ gặp Châu Anh, Kim
Liên đã chiêm bao thấy: Cọp yểm trở thành
giấc mộng/Rồng con xuất hiện canh ba và
đã kể cho Thạch Nghị nghe, Thạch Nghị
đoán rằng đây là giấc mộng báo trước Kim
Liên sắp lấy được người chồng danh giá.
Nay lại có chuyện chàng cống sĩ đậu khoa
Nhâm Dần chạy trốn cướp vào ngay phòng
ngủ kín bưng của con mình, Thạch Nghị
cho đây đích thị là duyên số trời ban nên dù
Châu Anh trần tình đã có vợ ở quê nhà
Thạch Nghị vẫn ngỏ lời gả Kim Liên cho
chàng. Từ lời đề nghị khá khéo léo khiến
Châu Anh hết đường từ chối đành chấp
nhận kết duyên cầm sắt cùng Kim Liên để
Trăm năm dầu đặng chữ thành thân/Muôn
kiếp nguyện ghi lòng báo nghĩa. Sau khi
kiếm được rể quý cho con, Thạch Nghị đã
đích thân hộ tống Châu Anh tới kinh ứng
thí.
Ngọc Mai ở nhà bặt tin chồng quá lâu,
đã rất héo hon sầu nhớ, vốn ghen tuông đã
sẵn tính trời lại thêm lời khích bác ác ý của
những kẻ chuyên ngồi lê đôi mách như mụ
Bảy Nhạn láng giềng rằng chồng nàng đã
kiếm được vợ nhỏ hầu non chốn kinh thành
nên hóa điên hóa dại rồi quyết ra đi tìm
chồng để đánh ghen cho bỏ tức. Trên
đường, Ngọc Mai lại gặp băng cướp Hắc
Sát, Bạch Hoạch và bị chúng bắt. Trước đó,
khi Thạch Nghị đưa Châu Anh ra kinh,
thừa cơ Kim Liên ở nhà một mình, băng
cướp này đã quay lại trả thù gia đình nàng.
Liệu đố là một trong những vở tuồng
còn sót lại của cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu.
Vở tuồng này đã được nhiều thế hệ nghệ sĩ
biểu diễn. Trên cơ sở đối chiếu bản Nôm và
bản quốc ngữ do nhà nghiên cứu Vũ Ngọc
Liễn cung cấp, hai nhà nghiên cứu Hán
Nôm Huỳnh Chương Hưng và Võ Minh
Hải đã xem xét, sửa chữa, hiệu đính. Qua
khảo cứu, nhà nghiên cứu Huỳnh Chương
Hưng cho rằng, tuy được sáng tác bằng chữ
Nôm nhưng lại xem lẫn khá nhiều câu chữ
Hán, nhiều điển cố, những câu chữ được
trích dẫn từ Tứ thư, Ngũ kinh. Liệu đố là
một vở tuồng hay, và là vốn quý của kho
tàng nghệ thuật tuồng Bình Định cần được
gìn giữ.
Liệu đố bắt đầu bằng cảnh vợ chồng
chàng cử nhân Châu Anh, người thôn Bạch
Lãnh bàn nhau về cuộc thi hội do nhà vua
triệu tập. Người vợ, nàng Ngọc Mai, nói
với Châu Anh rằng đỗ cử nhân là đủ rồi, cứ
yên tâm ở quê nhà nhủ ba thằng con nít là
tốt rồi, chẳng nên tham công danh phú quý
nữa. Điều Ngọc Mai lo lắng nhất là chồng
nàng: Những muốn ông tiến sĩ/ những muốn
ông thám hoa/ức làm quan làm gia chỉ để
kiếm hầu xinh hầu tốt nên nàng nài nỉ
chồng làm đơn xin khỏi thi, tốn kém gì
nàng sẽ lo liệu. Châu Anh bàn với Ngọc
Mai rằng nếu làm thế, dễ mắc tội khi quân,
hãy để chàng tiếp tục: Tang bồng, dầu trả
nợ nam nhi/Kỳ biểu cũng rạng nơi cố lý.
Không ngăn cản được cái mộng công danh
của chồng, Ngọc Mai đành để chồng ra đi
nhưng căn dặn Châu Anh phải tránh xa
chuyện trăng hoa kẻo sẽ: Chẳng hư nhiều,
hư ít/cũng nát cửa nát nhà.
Châu Anh cùng hề đồng lên đường tới
kinh thành. Giữa đường, hai thầy trò gặp
băng cướp của hai anh em Hắc Sát, Bạch
36
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
Vì thân cô, thế cô, Kim Liên cũng đã bị
chúng bắt. Thế là Ngọc Mai và Kim Liên
tình cờ gặp nhau trong nhà ngục của băng
cướp và qua câu chuyện tâm tình của
những người cùng cảnh ngộ hai người bất
ngờ nhận ra là họ cùng có chung một người
chồng. Kim Liên phân trần về cái “duyên
trời” giúp nàng được gặp, kết nghĩa đá vàng
cùng Châu Anh và xin Ngọc Mai xá tội, sẽ
tìm cách cứu Ngọc Mai để đáp đền ân
nghĩa. Ngọc Mai nói với Kim Liên rằng
nàng chỉ nhất thời oán trách, chứ thực sự
cũng nghĩ Kim Liên vô tội, xin Kim Liên
đừng hồ nghi lòng nàng, mong được Kim
Liên giúp đỡ cùng nhau vượt qua hoạn nạn.
Từ việc Hắc Sát, Bạch Hoạch ngỏ ý muốn
cưới Kim Liên và Ngọc Mai, Kim Liên đã
lập kế giết chết Bạch Hoạch, đưa Ngọc Mai
trốn chạy. Hắc Sát đem lâu la đuổi theo
quyết truy bắt hai người. May vừa lúc
Thạch Nghị trở về từ kinh thành, ông đã kịp
thời chặn đánh băng cướp, giết chết nốt
tướng cướp Hắc Sát.
Mãi cho đến khi Ngọc Hoàng thượng đế
quá bất bình vì Ngọc Mai cứ Giữ một mực
ghen tương/không biết đường phải trái toan
cử Thiên Lôi xuống đánh chết nhưng nhờ
Nam Tào can gián mới sai Thổ Địa xuống
Diêm La bắt hồn mẹ Ngọc Mai là bà Kim
Cảnh hiện về hết lời khuyên giải, la ngầy
chỉ cho Ngọc Mai thấy: Ơn nó quý hơn
vàng/Tình mày đà quá bạc, Ngọc Mai mới
thực sự tỉnh ngộ.
Gặp lại Kim Liên, Ngọc Mai chân
thành bày tỏ lòng biết ơn với Kim Liên.
Khi Kim Liên trở dạ muốn sinh, Ngọc Mai
lại hết lòng phò trì Kim Liên vượt cạn, sinh
được một con trai đầu lòng tuyệt đẹp. Cuối
cùng, Ngọc Mai ngỏ lời mời cha con Thạch
Nghị, Kim Liên về lại Bạch Lãnh chung
sống chờ Châu Anh vinh quy bái tổ để cho
nàng được Ngõ đáp đền ơn nọ nghĩa
kia/Cho vẹn đạo cha đâu con đó. Cả ba
người lên đường về Bạch Lãnh thôn trong
câu hát nam của Thạch Nghị: Cho hay giải
cấu là duyên/Chị hòa em thuận phỉ nguyền
cùng nhau.
Hoạn nạn đã qua, Ngọc Mai được đưa
về sống chung với cha con Kim Liên với
nỗi dằn vặt khôn nguôi về cái tình cảnh trớ
trêu của mình. Từ đó, Ngọc Mai đổ bệnh
ngày càng nặng, Kim Liên đã tận tình lo
lắng thuốc thang chăm sóc cứu chữa cho
Ngọc Mai bất chấp việc Ngọc Mai vì không
kìm được hờn ghen mà luôn xua đẩy xa
lánh nàng. Đến khi Ngọc Mai lâm cơn thập
tử nhất sinh, trong tình cảnh Mộng quỷ đã
nên chứng dữ/Trường sanh khôn chạy
thuốc thang, Kim Liên đã cắt lấy máu mình
hòa thuốc rồi vái phật tiên trời đất cùng
mình cứu sống Ngọc Mai. Qua cơn hiểm
nghèo, tuy biết nhờ Kim Liên mà mình
được tái sinh, nhưng Ngọc Mai vẫn chưa
thôi hậm hực, nàng vẫn Vòng hoạn nạn đã
an một kiếp/Nhưng đường tử sinh chưa
quyết hai bề và Đường thị phi hai nẻo gập
ghềnh/Điều hư thiệt một lòng nghi ngại.
2. Hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ
tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu
2.1. Tiền đề và cơ sở khảo sát
Nguyễn Diêu là một nhà nghệ sĩ, quan
niệm của ông về văn hóa - thẩm mỹ trong
ngôn ngữ diễn đạt của tuồng Nôm cũng có
sự dịch chuyển. Từ góc nhìn văn hóa, hệ
thống từ ngữ trong sáng tác Nôm của
Quỳnh Phủ có thiên về khuynh hướng kết
hợp hài hoà hai luồng thẩm mĩ Hán và Việt,
bác học và bình dân, quy phạm và phá vỡ
quy phạm với sự vận dụng thường xuyên
hệ thống ngữ liệu văn hóa một cách thần
tình, nhuần nhuyễn và độc đáo. Ở giai đoạn
sau, đặc biệt sau khi các vở tuồng kinh điển
của ông đã được lưu hành, người ta bắt gặp
ở đó là một dật sĩ sống hòa mình giữa thiên
nhiên thôn quê và cuộc sống của nhân dân
lao động, ông nghiêng về khuynh hướng
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
37
thẩm mĩ bình dân với những chủ đề rất dân
dã mà Liệu đố là minh chứng thông qua
việc tăng cường sử dụng hệ thống ngữ liệu
văn hóa bình dân trong các sáng tác. Là
một tác giả lớn của văn học Bình Định thời
trung đại, sáng tác Nguyễn Diêu đã được
ghi nhận trong một số tài liệu do hậu thế
sưu tầm, biên soạn, ghi chép, in ấn. Tuy
nhiên, Liệu đố là một bộ tuồng Nôm khá lý
thú, được sử dụng để công diễn, tư diễn khá
nhiều nơi trên địa bàn miền Trung và Bình
Định.
Trước hết, về những bản chữ Nôm
được lưu truyền. Theo Vũ Ngọc Liễn trong
công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông
đồ nghệ sĩ [2], hiện nay còn các bản chép
tay được lưu giữ ở tư gia và thư viện nhà
hát tuồng Đào Tấn. Từ nửa sau thế kỉ XX,
bản tuồng này được phiên âm ra chữ quốc
ngữ và cũng chỉ lưu truyền trong giới nghệ
sĩ biểu diễn. Tính đến nay, đã có 02 bản
phiên âm được công bố, giới thiệu. Cụ thể
như sau:
1. Bản đầu tiên do cụ Phan Hiền phiên
âm, Vũ Ngọc Liễn chú giải, được công bố
trong công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu –
Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu, 2011. Bản
này có 140 trang, bao gồm cả phần chú
thích.
2. Bản thứ hai do nhà nghiên cứu
Huỳnh Chương Hưng và TS. Võ Minh Hải
phiên âm, hiệu đính và chú giải ngữ liệu
Hán Nôm. Bản này chưa được xuất bản,
qua tiếp cận, chúng tôi được biết văn bản
có 120 trang khổ A4, được hoàn thành năm
2013. Ưu điểm của bản này là sự khảo sát
và phiên âm trực tiếp từ bản Nôm do các
nhà nghiên cứu sưu tầm được trong quá
trình điền dã tại Tuy Phước năm 2010 [1].
Quỳnh Phủ rất “kín đáo” trong việc
phát ngôn quan niệm nghệ thuật. Quan
niệm văn hóa - thẩm mĩ của nhà thơ được
giấu kín qua hệ thống các ngữ liệu văn hóa
mà ông đã sử dụng trong tác phẩm của
mình. Tiến hành khảo sát ngôn ngữ trong
vở tuồng Liệu đố, chúng tôi dựa vào cơ sở
khảo sát đầu tiên là đặc trưng văn hóa trong
ngôn ngữ văn học Nôm thời trung đại. Có
thể nói, ngôn ngữ văn hoá trong các tác
phẩm Nôm của Nguyễn Diêu và vở Liệu đố
mang trong mình những dấu vết văn hóa, là
biểu hiện sinh động của truyền thống văn
hóa dân tộc. Qua gia tài sáng tác này, ta có
thể phục dựng lại những nét cơ bản về
không gian văn hóa thời trung đại cũng như
đời sống văn hóa người con người Bình
Định xưa.
2.2. Một số nhận xét về ngữ liệu văn hóa
trong tuồng Liệu đố
Qua số lượng, mật độ và sự phân loại
của các tiểu loại ngữ liệu văn hóa, có thể
thấy được phần nào nghệ thuật sử dụng ngữ
liệu văn hóa của Nguyễn Diêu.
Về số lượng ngữ liệu văn hóa, với 248
lượt ngữ liệu trong toàn bộ văn bản, trong
tương quan với ngôn ngữ tuồng Nôm một
số tác giả như Nguyễn Hiển Dĩnh, Đào
Tấn…, mật độ ngữ liệu văn hóa trong Liệu
đố là tương đối phong phú. Điều này nói
lên rằng, ngôn ngữ trong tuồng Liệu đố in
đậm dấu ấn văn hóa. Văn hóa là một đặc
trưng trong phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật tác phẩm Liệu đố của Nguyễn Diêu.
Về hình thức ngôn ngữ của ngữ liệu
văn hóa, ngữ liệu văn hóa được sử dụng
trong tuồng Nôm Liệu đố có đầy đủ ba
thành phần như đặc trưng chung của ngữ
liệu văn hóa trong thơ Nôm. Đó là các
thành phần ngữ liệu thuần Việt, ngữ liệu
Hán Việt và ngữ liệu bán Hán Việt. Trong
ngôn ngữ tuồng Liệu đố, ngữ liệu bán Hán
Việt chiếm tỉ lệ cao nhất với 42,7% trong
số 248 ngữ liệu văn hóa. Hiện tượng này
phần nào nói lên rằng ở ngôn ngữ tác phẩm
này có sự dung hòa, tích hợp đậm nét hai
luồng văn hóa bác học và văn hóa bình dân.
38
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
Bên cạnh đó, nhiều ngữ liệu Hán Việt có
nguồn gốc văn hóa Hán học được nhà thơ
chuyển dịch sang bán Hán Việt (như ngữ
liệu Hán học “nho lâm” được chuyển dịch
thành ngữ liệu bán Hán Việt “rừng nho”,
“tam quân” chuyển dịch thành “ba quân”,
“chiết Chương Đài liễu” chuyển dịch từ “bẻ
liễu Chương Đài”…), thậm chí thuần Việt
(như ngữ liệu thuần Việt “bể dâu” được rút
gọn và chuyển dịch từ ngữ liệu Hán học
“thương hải tang điền”, “trăm năm” được
rút gọn và chuyển dịch từ “nhân sinh bách
niên vi kỳ”…). Điều này phản ánh phần
nào khuynh hướng khước từ dần ảnh hướng
của văn hóa Hán học, đồng thời tìm về với
truyền thống văn hóa dân tộc của vở tuồng
đặc sắc này. Trong các thành phần còn lại,
ngữ liệu thuần Việt chiếm tỉ lệ thấp hơn cả
với 49 ngữ liệu, chiếm 19,8% trong tổng số
248 ngữ liệu. Ngữ liệu Hán Việt chiếm tỉ lệ
lớn thứ hai sau ngữ liệu bán Hán Việt, với
93 đơn vị, chiếm 37,5%.
So với một số tác phẩm của Nguyễn
Hiển Dĩnh và Đào Tấn - hai soạn giả tiêu
biểu của bộ môn nghệ thuật tuồng khu vực
Nam Trung bộ, khuynh hướng tìm về, kế
thừa và phát huy, đề cao giá trị văn hóa nội
sinh, ngữ liệu văn hóa bình dân trong Liệu
Đố có phần nhỏ hơn. Tuy nhiên, trong hình
chung là áp lực còn rất lớn của ngữ liệu
Hán Việt đối với văn học tuồng Nôm thời
trung đại, tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu
là một trong những sáng tác có tỉ lệ ngữ
liệu văn hóa thuần Việt và ngữ liệu bán
Hán Việt chuyển dịch cao (155/248 ngữ
liệu, chiếm 62,5%). Phải là sáng tác của
những tác giả có khuynh hướng một mặt
hạn chế sự tác động của văn hóa Hán bằng
cách sử dụng có chọn lọc, mặt khác tìm về,
học tập và phát huy mạnh mẽ các giá trị
văn hóa nội sinh của dân tộc… mới đạt
được tỉ lệ này.
văn hóa trong ngôn ngữ vở Liệu đố mang
cả hai phong cách bác học và bình dân.
Hiện tượng này một mặt bắt nguồn từ
truyền thống của thơ Nôm trung đại, đồng
thời, chịu ảnh hưởng đậm nét từ cuộc đời
và phong cách soạn giả. Nguyễn Diêu vừa
là một hàn sĩ, bậc túc nho, thông làu kinh
sử, am tường văn hóa Hán học lại vừa là
người sống gần gũi với người dân lao động,
gắn bó với nông thôn, sành sõi tiếng Việt,
hiểu biết về truyền thống văn hóa của dân
tộc. Hai phong cách văn hóa trong con
người Quỳnh Phủ để lại dấu ấn rõ nét trong
thơ văn của ông, đặc biệt là trong ngôn ngữ
tuồng thời trung đại Việt Nam.
Trong hai phong cách, ngữ liệu văn
hóa mang phong cách bác học chiếm tỉ lệ
lớn trong tuồng Liệu đố. Có 193/248 ngữ
liệu là ngữ liệu bác học, chiếm tỉ lệ 77,8%.
Dẫn đến hiện tượng này, theo chúng tôi, là
bởi dấu ấn văn hóa bác học trong ngôn ngữ
tuồng Quỳnh Phủ chịu ảnh hưởng sâu sắc
từ con người và phong cách thi nhân của
Nguyễn Diêu. Ngữ liệu văn hóa bình dân
trong vở Liệu đố có tỉ lệ thấp hơn với 55
ngữ liệu, chiếm 22,2% trong tổng số 248
ngữ liệu văn hóa thống kê được. Tuy nhiên,
sự gia tăng về thành ngữ, tục ngữ, phương
ngữ, khẩu ngữ, tiếng lóng, từ ngữ xã hội…
với số lượng tương đối lớn vào ngôn ngữ
tuồng Liệu đố là một hiện tượng thú vị, có
ý nghĩa nhất định đối với khuynh hướng
tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc của tuồng
Nôm Bình Định.
Ngoại trừ điển cố, thi liệu và từ ngữ xã
hội Hán học, các bộ phận còn lại trong hệ
thống ngữ liệu văn hóa trong Liệu đố có tỉ
lệ khá tương đồng. Việc hạn chế sử dụng
điển cố, thi liệu Hán học, đồng thời tăng
cường sử dụng thành ngữ, ca dao, thành
ngữ, khẩu ngữ đã góp phần làm cho ngôn
ngữ Nôm trong Liệu đố của Nguyễn Quỳnh
Phủ ngày càng trở nên mềm mại, uyển
Xét về phong cách văn hóa, ngữ liệu
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
39
chuyển, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng
ngày của nhân dân lao động, đóng góp nhất
định đối với sự phát triển của tiếng Việt
văn chương ở thời trung đại. Từ góc nhìn
văn hóa, ngữ liệu văn hóa trong bản tuồng
Liệu đố của Nguyễn Diệu đã gián tiếp thể
hiện ít nhiều quan niệm văn hóa - thẩm mĩ
của thi nhân trong các sáng tác của mình.
Khuynh hướng lựa chọn, sử dụng từng hệ
thống ngữ liệu văn hóa cho thấy các
phương diện cơ bản trong quan niệm văn
hóa - thẩm mĩ của nhà thơ. Việc sử dụng có
chủ đích hệ thống ngữ liệu văn hóa bác học
cho thấy ở tác giả quan niệm về mẫu người
nhà nho lí tưởng; quan niệm về cái đẹp văn
hóa mang tính trang trọng, mực thước, tao
nhã, uyên bác vốn chịu sự chi phối của văn
hóa Nho giáo. Ngược lại, việc ưu tiên sử
dụng tăng cường hệ thống ngữ liệu văn hóa
bình dân thể hiện ở nhà thơ quan niệm về
3.1. Ngôn ngữ văn hóa bác học với sự thể
hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của
Nguyễn Diêu trong vở tuồng Liệu đố
Dấu ấn của văn hóa bác học đối với
việc hình thành và thể hiện quan niệm văn
hóa - thẩm mĩ của Nguyễn Diêu trong ngôn
ngữ vở Liệu đố được thể hiện qua phương
diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm,
chủ yếu là ngôn từ. Nhà thơ ưu tiên lựa
chọn lớp từ mực thước, trừu tượng, cổ kính,
trang nhã. Điều này lí giải vì sao lớp ngữ
liệu văn hóa bác học được nhà thơ huy
động sử dụng với số lượng rất lớn trong các
tác phẩm Nôm thời trung đại.
Kết quả thống kê cho thấy, ngữ liệu
văn hóa bác học trong Liệu đố của Nguyễn
Diêu chiếm tỉ lệ cao nhất với 77,8% trong
tổng số 248 ngữ liệu, được sử dụng với
nhiều hình thức đa dạng (kinh sử, điển cố
thi liệu, nhân danh địa danh, từ ngữ xã hội
cái đẹp văn hóa mang tính cụ thể, sinh động, Hán học; nguyên dạng và chuyển dịch; Hán
chân thực, gần gũi, tươi trẻ, thậm chí tinh
nghịch, phá cách; quan niệm về cái hài gắn
với sự kệch cỡm, lố lăng vốn chịu ảnh
hưởng từ truyền thống văn hóa dân tộc, văn
hóa bình dân, tiếng cười trào lộng của nhân
dân lao động.
Nhìn chung, hai bộ phận ngữ liệu
mang phong cách văn hóa bác học và bình
dân trong ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố đã
phản ánh ít nhiều về đặc điểm phong cách
con người và phong thái văn chương của cụ
Tú. Ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố vừa học
tập, kế thừa tinh hoa các giá trị văn hóa bác
học (chủ yếu là văn hóa gốc Hán có nguồn
gốc ngoại lai) vừa quay về với mạch nguồn
văn hóa dân tộc, tiếp thu và phát huy các
giá trị văn hóa nội sinh. Đây là điểm độc
đáo, đồng thời là nét giá trị của Liệu đố
trong tiến trình vận động của văn học tuồng
Nôm cổ điển Việt Nam.
Việt, bán Hán Việt và cả thuần Việt). Rõ
ràng, nhà thơ sử dụng ngữ liệu văn hóa bác
học một cách có chủ đích. Là bậc túc nho,
Nguyễn Diêu hiểu rõ bản chất và giá trị của
bộ phận ngữ liệu văn hóa này (tính hàm súc,
trang trọng, thanh nhã). Cộng với đó là tài
năng sử dụng ngôn ngữ của thi nhân. Các
ngữ liệu văn hóa bác học vào tay ông đều
trở nên đắc địa, nhiều trường hợp trở thành
“thần cú nhãn tự” của tác phẩm, phát huy
tối đa giá trị biểu cảm, thẩm mĩ và văn hóa
của chúng. Có thể thấy rõ điều này qua
những đoạn trích hay trong vở tuồng tài
danh mà Nguyễn Diêu chủ động huy động
sử dụng một lượng lớn ngữ liệu văn hóa
bác học như:
- Sử dụng nhiều điển cố, thi liệu (65
đơn vị):
“Đê mê Nam phố Lục ba
Áo não Dương xuân biệt điệu
Đồng xướng: Đắc ý xuân phong trục mã đề
Tương tương nam bắc các đê mê
3. Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ văn hoá
trong tuồng Liệu đố
40
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
Giá phiên tống biệt vô tha thoại
đúng chỗ, hệ thống ngữ liệu văn hóa này sẽ
phát huy được các giá trị tự thân, mang đến
cho tác phẩm những hiệu ứng thẩm mĩ độc
đáo, bất ngờ, thú vị. Bằng tài năng và nhãn
quan ngôn ngữ tuyệt vời của mình, Nguyễn
Diêu biết cách lợi dụng các đặc tính quan
Duy vọng ngao đầu tánh tự đề”
- Sử dụng nhiều từ ngữ xã hội Hán học
(76 đơn vị):
(Hát vãn) Uyên ương ngọc quý trao tay
Xin phu quân nhớ lấy nghe:
“Dặn lòng xin chớ lãng xao tấc lòng, trọng trên của hệ thống ngữ liệu văn hóa
Châu Anh: (Vãn) Đường đời trải nẻo tây
đông.
Ơi em ơi Phòng loan mỏi mắt đợi trông
ngày ngày,
bình dân để thể hiện các ý đồ nghệ thuật,
thông qua đó ít nhiều nói lên quan niệm
văn hóa - thẩm mĩ của mình. Cho nên,
không phải ngẫu nhiên mà trong tuồng
Nôm Liệu đố của ông, các bộ phận của ngữ
liệu văn hóa bình dân có số lượng khá lớn,
xuất hiện với tần suất khá cao. Ví dụ:
- Sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca
dao (ở nguyên dạng hoặc biến dạng):
Kim Liên:
Phu nhơn đà trở lại cố hương
Âu là
Sư đệ kíp bước qua kinh địa
(Hát loạn) Sách mã phiên phiên khí thế hào
Kiều chiêm đế khuyết nhựt luân cao…
Với việc được sử dụng với tần số cao
trong các đoạn ca vãn, xướng, các lớp ngữ
liệu văn hóa bác học đã phát huy tối đa tác
dụng của chúng trong việc kiến tạo nên lớp
ngôn từ giàu tính bác học, hàn lâm đồng
thời trang nghiêm, thanh nhã. Có thể nói,
trên phương diện hình thức, hệ thống ngữ
liệu văn hóa bác học đã góp phần thể hiện ở
Nguyễn Diêu quan niệm văn hóa - thẩm mĩ.
Đó là quan niệm về cái đẹp gắn với sự
trang trọng, cao nhã, hài hòa, đăng đối,
mực thước, uyên bác. Cố nhiên, đó không
phải là cái đẹp của sự hóc hiểm, cầu kì, gia
công đẽo gọt. Đa số ngữ liệu văn hóa bác
học trong tuồng Liệu đố đều dễ hiểu, được
chuyển dịch và Việt hóa tối đa nói lên điều
này.
3.2. Ngữ liệu văn hóa bình dân với sự thể
hiện quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của
Nguyễn Diêu trong vở tuồng Liệu đố
Xét từ nguồn gốc nội sinh từ truyền
thống văn hóa của dân tộc, ngữ liệu văn
hóa bình dân mang trong mình nhiều đặc
điểm như tính cụ thể, sinh động, gần gũi
với hiện thực cuộc sống và tâm thức người
Việt, khả năng cực tả, khả năng tạo hình,
biểu cảm cao. Khi được sử dụng tăng
cường một cách chủ động, linh hoạt và
Thạch Nghị vốn cha già,
Kim Liên là tên thiếp
Tuy nhôn nhạo tin ong sứ điệp
Chưa vấn vương mối chỉ đường tơ
Chẳng biết khi dòng nước rơi thơ
Có gặp đấng trông bắn sẻ hay chăng?
- Sử dụng nhiều tiếng lóng, khẩu ngữ :
Thạch Nghị:
Bớ con Con đừng biện bạch
Nó thật côn đồ
Con chớ “thủ nhơn dĩ mạo” mà
lầm, xưa nay thường là
Mặt giống học trò
Nhưng mà Bộ giò ăn cắp đó con
Để cha cho một đạp
Đặng nó mất ba hồn đi cho rồi
Rõ ràng, sự xuất hiện với tần số khá
cao của hệ thống ngữ liệu văn hóa bình dân
đã mang đến cho ngôn ngữ Nôm trong Liệu
đố nét sinh động, khỏe khoắn, chân thực, cụ
thể, giàu hình ảnh và biểu cảm. Với hệ
thống ngữ liệu văn hóa này, hình tượng
trong các nhân vật trong tuồng của ông trở
nên sống động, gần gũi hơn. Vẻ đẹp văn
hóa trong tuồng Nôm Nguyễn Diêu cũng
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
41
hiện lên cụ thể, rõ nét hơn. Ngôn ngữ của
các nhân vật tiêu biểu trong tuồng Liệu đố
của ông như Kim Liên, Thạch Nghị, Ngọc
Mai, Châu Anh, Hề đồng,…rất tiêu biểu
cho điều này. Bên cạnh quan niệm về cái
đẹp gắn với sự trong sáng, gần gũi, sống
động, quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của
Nguyễn Diêu còn thể hiện ở cái nhìn trào
lộng. Bên cạnh cái đẹp, ông còn nêu ra
quan niệm về cái hài. Đó là sự kệch cỡm,
trơ tráo, sự khập khiễng giữa hình thức và
nội dung gây phản cảm. Trong lời thoại của
một số nhân vật, yếu tố được ông sử dụng
nhiều ngữ liệu văn hóa bình dân, đặc biệt là
lớp khẩu ngữ, tiếng lóng như “trò trẹt chi
bay”, “nực cười”, “đếch”, “mẹ mày”, “khá
khen thay”, “cũng thế a”…nhằm tăng
cường khả năng tạo tiếng cười. Và nhà thơ
thật sự thành công với lối đi này. Bởi như
đã biết, với các đặc tính giàu khả năng
miêu tả và biểu cảm, sinh động, linh hoạt,
gần gũi, thậm chí suồng sã, thông tục, lớp
ngữ liệu văn hóa bình dân tỏ ra phù hợp với
chức năng trào phúng, có tác dụng lớn
trong việc gây cười. Có thể nói, từ góc nhìn
văn hóa, có thể thấy rằng, quan niệm văn
hóa - thẩm mĩ về cái hài của Nguyễn Diêu
chịu ảnh hưởng từ tiếng cười trào tiếu dân
gian của các pho tuồng đồ nổi tiếng đất
Bình Đinh. Sự phóng chiếu của sự ảnh
hưởng này được thể hiện rõ nét qua hệ
thống ngữ liệu văn hóa bình dân mà cụ
Quỳnh Phủ đã sử dụng.
Nghiên cứu hệ thống ngữ liệu trong
Liệu đố dưới góc nhìn văn hóa mang đến
cho chúng ta những kết quả mới mẻ, thú vị.
Từ góc nhìn văn hóa, ta có thể tìm hiểu
quan niệm văn hóa - thẩm mĩ của soạn giả
Nguyễn Diêu thông qua hệ thống ngữ liệu
văn hóa mà ông đã sử dụng trong các tác
phẩm. Cũng từ góc nhìn này, có thể thấy
được tính triết luận văn hóa trong ngôn ngữ
tuồng Nguyễn Diêu trên hai bình diện: văn
hóa dân tộc và văn hóa ngoại lai. Với vấn
đề tiếp nhận, lan toả và ảnh hưởng của
tuồng Nôm Nguyễn Diêu nói chung và Liệu
đố nói riêng trên hai phương diện sáng tác
và nghiên cứu, phê bình, hướng nghiên cứu
văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị
làm nên sức hấp dẫn, lan tỏa của ngôn ngữ
đặc sắc của vở Liệu đố. Có thể nói, giá trị
văn hóa hàm chứa bên trong các hệ thống
ngữ liệu văn hóa được sử dụng một cách
linh hoạt, nhuần nhị và sáng tạo là một
trong những tiền đề quan trọng giúp cho
ngôn ngữ tuồng Nôm Liệu đố có sức sống
lâu bền trong lòng khán thính giả và trong
tiến trình vận động, phát triển của tuồng
Nôm Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Huỳnh Chương Hưng, Võ Minh Hải (Phiên âm, chú giải, 2015), Nguyễn Diêu di cảo
– Liệu đố (Tư liệu cá nhân)
[2] Vũ Ngọc Liễn (2011), Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – Ông đồ nghệ sĩ, Nxb Sân khấu, H.
[3] Nhiều tác giả (2012), Kỷ yếu Hội thảo Nguyễn Diêu, Sở Văn hoá – Du lịch Bình Định,
Tp. Quy Nhơn.
(Ngày nhận bài: 25/09/2019; ngày phản biện: 29/09/2019; ngày nhận đăng: 04/10/2019)
Bạn đang xem tài liệu "Ngôn ngữ văn hóa trong vở tuồng Liệu đố của Nguyễn Diêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ngon_ngu_van_hoa_trong_vo_tuong_lieu_do_cua_nguyen_dieu.pdf

