Tư tưởng “Tứ ân” trong một số tôn giáo bản địa ở Nam Bộ

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
63  
TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN”  
TRONG MỘT SỐ TÔN GIÁO BẢN ĐỊA Ở NAM BỘ  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI*  
NGUYỄN THUẬN QUÝ**  
GIANG THỊ TRÚC MAI***  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ xuất hiện một số tôn giáo bản địa khá  
đông tín đồ, như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa  
Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo... Qua tôn chỉ hành đạo, giáo lý, sấm giảng, luật đạo,  
bài viết phân tích, đối chiếu để thấy rõ hơn tư tưởng “tứ ân” trong từng tôn giáo  
ở Nam Bộ lúc bấy giờ.  
Từ khóa: tôn giáo bản địa; Nam Bộ; Bửu Sơn Kỳ Hương; Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Phật  
giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn; Phật giáo Hòa Hảo  
Nhận bài ngày: 11/9/2020; đưa vào biên tập: 20/10/2020; phản biện: 15/1/2021;  
duyệt đăng: 7/3/2021  
phần những người di dân vào vùng  
1. DẪN NHẬP  
đất Nam Bộ sinh sống không bị ảnh  
hưởng của một hệ tư tưởng chủ đạo  
hay một tín ngưỡng dân gian nào, mà  
họ bị chi phối bởi nhiều hệ tư tưởng,  
tín ngưỡng, các tôn giáo cũ - mới  
khác nhau cùng tác động đến đời  
sống tâm linh của họ.  
Để có cuộc sống tốt đẹp hơn, nhiều  
ruộng vườn hơn, không ít người dân  
miền Bắc, miền Trung di cư vào miền  
Nam khai hoang, lập làng. Ở vùng đất  
mới Nam Bộ, tín ngưỡng tôn giáo là  
chỗ dựa tinh thần xoa dịu nỗi nhớ quê  
cha đất tổ, cầu nguyện an lành cho  
cha mẹ vì nỗi day dứt chưa tròn chữ  
hiếu, và mong chiến tranh, thiên tai,  
dịch bệnh... không xảy ra.  
Những yếu tố trên đã tác động mạnh  
mẽ đến đời sống tinh thần của cư dân  
Nam Bộ, và đây cũng được xem là  
tiền đề và điều kiện thuận lợi cho việc  
ra đời các tôn giáo bản địa (hay “tôn  
giáo địa phương”, “tôn giáo nội sinh”).  
Tôn giáo ở Nam Bộ có đặc điểm riêng  
so với Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo,  
Kito giáo – những tôn giáo lớn, du  
nhập vào Việt Nam và Nam Bộ. Cụ  
thể như: Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ  
Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa  
Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo, Cao  
Đài… là các tôn giáo bản địa với tôn  
Cuộc sống của cộng đồng người Việt  
ở Nam Bộ lúc bấy giờ xuất hiện hiện  
tượng giao thoa văn hóa, tín ngưỡng  
dân gian với người Khmer, Chăm,  
Hoa... Tuy nhiên, với những tín  
ngưỡng truyền thống mang theo, đa  
* Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp.  
** Trường Đại học Đồng Tháp.  
*** Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh.  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI VÀ CÁC TÁC GIẢ – TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN” TRONG…  
64  
chỉ hành đạo là khuyên dạy tín đồ hơn. Quan niệm tứ ân được ông Đoàn  
Minh Huyên đề cập trong Sấm truyền  
- Đức Phật Thầy Tây An của đạo Bửu  
Sơn Kỳ Hương.  
sống hiếu nghĩa, làm lành, lánh dữ, tự  
sửa mình, thực hiện các hoạt động trị  
bệnh cứu người, vận động nhân dân  
đứng lên chống giặc cứu nước - tư “Kỉnh Trời kỉnh Đất, Thần Minh,  
Tông môn phụng tự giữ toàn Tứ Ân”  
(Nguyễn Văn Hầu, 1973: 88-89).  
tưởng “tứ ân”.  
2. QUAN NIỆM “TỨ ÂN” CỦA MỘT  
SỐ TÔN GIÁO BẢN ĐỊA Ở NAM BỘ  
So sánh bản dịch của Nguyễn Văn  
Hầu và bản chữ Hán, tác giả cho rằng  
từ “kính” mới là đúng nhất:  
Quan niệm tứ ân của đạo Bửu Sơn  
Kỳ Hương  
“Kính Trời kính Đất, Thần Minh,  
Tông môn phụng tự giữ toàn Tứ Ân”  
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn  
Minh Huyên (hay Đoàn Văn Huyên)  
sáng lập vào năm 1849 tại Cốc ông  
Đạo Kiến (nay là Tây An Cổ Tự, xã  
Long Kiến, huyện Chợ Mới, An Giang).  
Ông đã sử dụng bốn chữ khoán thủ  
trong bài thơ Tứ Bửu Linh Tự để đặt  
tên. Bài thơ này khi đọc theo chiều  
dọc và chiều ngang đều có ý nghĩa là  
ghi dấu chỗ phát tích của tông phái  
Bửu Sơn Kỳ Hương và mang ước  
vọng cho người dân Nam Bộ nói riêng  
và cả dân tộc Việt Nam nói chung một  
cuộc sống ấm no, hạnh phúc.  
Một số tài liệu, bài viết có sự nhầm lẫn  
giữa từ “sự” và “tự” ở hai câu sấm  
trên. Theo tác giả Nguyễn Văn Hầu  
dùng từ “tự” là hoàn toàn chính xác.  
Lúc bấy giờ, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương  
có đông tín đồ và ảnh hưởng rộng rãi  
ở Nam Bộ, nên sau khi ông Đoàn  
Minh Huyên mất đã xuất hiện nhiều  
“ông đạo” tự nhận mình là hậu thân  
của Đức Phật Thầy Tây An như: Đạo  
Đèn, Đức Phật Trùm,... tuy nhiên,  
người được người dân xem là hậu  
thân tiếp theo là Ngô Lợi, người sáng  
lập ra đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.  
Kế thừa tư tưởng của Phật giáo  
nhưng ông Đoàn Minh Huyên đã Việt  
hóa nội dung và tên gọi của các giáo  
lý để người dân dễ hiểu và hiểu rõ  
敬天敬地神明。  
宗门奉祀存全四恩  
(Kính Thiên kính Địa, Thần Minh  
Tông môn phụng tự tồn toàn Tứ ân)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
65  
Hai câu sấm trên khuyên tín đồ Bửu đại trọng ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất  
Sơn Kỳ Hương phải làm tròn tứ ân - nước (hay quốc vương thủy thổ), ân  
tam bảo (Phật, pháp, tăng), ân đồng  
bào, nhơn loại; Còn hiếu nghĩa: có  
hiếu với tổ tiên cha mẹ, có nghĩa với  
đồng bào trong xã hội.  
ân tổ tiên; ân đất nước; ân tam bảo;  
ân đồng bào và nhân loại (Nguyễn  
Văn Hầu, 1973: 32) (trong đó ông  
Đoàn Minh Huyên lấy ân tổ tiên đặt  
lên trên hết trong tứ ân).  
“Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi  
tiên” (có nghĩa là: Muôn ngàn kinh  
điển nghĩa thảo làm đầu) (Hà Tân Dân,  
1971). Đây được xem là điểm khác  
biệt rõ nhất trong việc tu nhân của tín  
đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa với tín đồ Bửu  
Sơn Kỳ Hương.  
Quan điểm tứ ân của đạo Bửu Sơn Kỳ  
Hương tuy có sự kế thừa từ Phật giáo,  
nhưng nếu xét về bản chất thì Bửu  
Sơn Kỳ Hương và Phật giáo có nhiều  
điểm khác nhau. Phật giáo không  
phân biệt Tổ quốc, quê hương, nòi  
giống, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thì  
xem việc phụng sự tổ quốc, quê  
hương, nòi giống là nghĩa vụ, là bổn  
phận của tín đồ khi thực hiện tứ ân,  
đây là triết lý sống của tín đồ Bửu Sơn  
Kỳ Hương. Thứ hai, quan điểm tứ ân  
không phải là giáo lý cốt lõi của Phật  
giáo nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương thì  
xem đây là căn cốt giáo lý của tôn  
giáo mình.  
Việc ông Ngô Lợi khuyên tu nhân đạo,  
lấy tứ đại trọng ân làm tiêu chí được  
kế thừa từ Kim Cang kinh của Phật giáo.  
Quan điểm tứ ân của Phật giáo  
Hiếu Nghĩa Tà Lơn  
Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn do các  
ông Đạo và giáo sư Nguyễn Ngọc An  
sáng lập ra năm 1915 ở Tà Lơn, sau  
đó về Tân Hội, Kiên Giang. Khai đạo  
vào năm 1921 và chùa An Bình, Kiên  
Lương được xem là tổ đình của đạo.  
Ý nghĩa của tên gọi “Phật giáo Hiếu  
Nghĩa Là Lơn” là tu hành theo pháp  
môn Phật giáo, lấy hiếu nghĩa làm  
phương châm hành đạo, Tà Lơn là  
địa danh nơi các ông Đạo và giáo sư  
Nguyễn Ngọc An sáng lập. Với chủ  
trương tu nhân đạo theo bậc hạ thừa,  
nên ông Nguyễn Ngọc An ngoài việc  
truyền bá tôn giáo, ông còn truyền dạy  
cho các tín đồ của mình lòng trung  
quân, ái quốc, và đó chính là mục tiêu  
hành đạo: “Tu cho quốc vương, thủ,  
thổ, giữ gìn ngọn rau, tất đất, nước  
nhà (Nguyễn Ngọc An, 1968a: 31).  
Quan điểm về tứ ân của Phật giáo  
Quan điểm tứ ân trong đạo Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa  
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô  
Lợi (hay Ngô Tự Lợi, Năm Lợi) sáng  
lập vào năm 1867 tại chùa Phi Lai,  
Châu Đốc, An Giang. Tên gọi Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa bao hàm chỉ mục đích và  
nội dung hành đạo và có thể nói đó là  
một tên gọi mang ít nhiều tính dân  
gian (Đinh văn Hạnh, 1999: 62-63).  
Với ông Ngô Lợi ngoài việc khuyên  
bảo tín đồ thực hiện tứ ân còn khuyên  
dạy họ phải làm tròn hiếu nghĩa. Như  
vậy, từ tên gọi của đạo Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa đã cho ta thấy tư tưởng tứ ân  
của ông Ngô Lợi được nâng lên là tứ  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI VÀ CÁC TÁC GIẢ – TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN” TRONG…  
66  
Hiếu Nghĩa Tà Lơn là: ân đất nước; thực hiện sáu tiêu chí sau mới được  
ân tổ tiên, cha mẹ; ân tam bảo, Phật  
pháp, tăng; ân đồng bào nhân loại  
(Nguyễn Ngọc An, 1968b: 19) (ân đất  
nước là trách nhiệm đầu tiên thực  
hiện tứ ân của tín đồ Phật giáo Hiếu  
Nghĩa Tà Lơn). Ngoài ra, Phật giáo  
Hiếu Nghĩa Tà Lơn còn lấy chữ “hiếu”,  
chữ “nghĩa” để khuyên dạy tín đồ.  
xem là đúng: một là, Nghĩa với nước  
là phải tận trung với nước, giữ gìn ngọn  
rau tấc đất nước nhà; hai là, Nghĩa  
với Thầy (giáo chủ) là thể hiện lòng  
hiếu hạnh, thảo hiền; ba là, Nghĩa với  
bạn là không phản bạn, không nói xấu  
bạn; bốn là, Nghĩa với bà con, song  
thân, luân lý là bản thân phải lễ phép,  
tôn trọng bà con, song thân, sống có  
đạo lý, hiếu thảo với song thân; năm  
là, Nghĩa với anh em là sống hòa  
thuận, đùm; sáu là, Nghĩa với cô bác  
xóm giềng hương thôn là phải thẳng  
thắn, cương trực, phải có tôn ti trật tự  
trong cách cư xử.  
Theo ông Nguyễn Ngọc An (1968b: 6),  
Hiếu nghĩa trong Phật giáo Hiếu  
Nghĩa Tà Lơn được xem là hạt nhân  
của toàn bộ giáo lý, vì trong trời đất vũ  
trụ, “Hiếu” là căn nguyên của sự sống,  
lan tỏa khắp tam tài: trời, đất và người.  
Đó chính là hiếu thiên (hiếu với trời);  
hiếu địa (hiếu với đất); hiếu nhân (hiếu  
với người). Cụ thể: “(1) Hiếu chí ư  
thiên tắc phong võ thuận thì; (2) Hiếu  
chí ư địa sinh hóa vạn vật; (3) Hiếu  
chí tổ giáo huấn thập nhị công nghệ;  
(4) Hiếu chí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ  
nuôi dưỡng người; (5) Hiếu chí tổ nội,  
tổ ngoại, đạo đồng nhất lý; (6) Hiếu  
chí phụ mẫu sinh thành hình vóc, tóc  
Quan điểm tứ ân trong đạo Phật  
giáo Hòa Hảo  
Phật giáo Hòa Hảo, do ông Huỳnh  
Phú Sổ sáng lập ra năm 1939 tại làng  
Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang (nay  
thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang).  
“Hòa Hảo” là nơi ông Huỳnh Phú Sổ  
sinh trưởng, ngẫu nhiên bao hàm một  
ý nghĩa từ bi, nhân loại đại đồng, xây  
da, thân thể; (7) Hiếu chí phụ mẫu, kế dựng trên nền tảng “hòa” đồng “hảo”  
hợp, ngoài ra ông cũng thường ký biệt  
danh Hòa Hảo. Còn cụm từ “Phật  
giáo” đã nói lên một cách sáng tỏ rằng  
đạo của ông là đạo Phật, giảng dạy  
giáo lý Phật giáo.  
phụ mẫu không sinh, có dưỡng đạo  
đồng”. Như vậy chữ “Hiếu” của Phật  
giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn được thể  
hiện qua 7 tiêu chí như trên. Còn  
“Nghĩa” của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
Lơn thực hành theo ba nguyên tắc: (1)  
Nghĩa với nước, có nghĩa là phải tận  
tâm vì nước, (2) Nghĩa với bạn là phải  
xây dựng lòng tin nơi bạn, thật thà,  
Ông Huỳnh Phú Sổ cũng vận dụng  
quan niệm tứ ân vào giáo lý của mình  
để truyền dạy cho tín đồ Phật giáo  
Hòa Hảo. Ông cho rằng, đền đáp trọn  
không dối lừa phản bạn và (3) Nghĩa vẹn tứ ân thì tín đồ sẽ đạt được  
những điều sau:  
với người là cho mọi người cảm phục  
đức tính, lòng nhân từ bản thân. Tín  
đồ Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn phải  
“Vững vàng bất thối công phu,  
Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn”.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
67  
Hay  
nhớ đến quá khứ, gửi gắm tình cảm  
của mình để thực hiện đạo lý “ăn trái  
nhớ kẻ trồng cây”, đây là giá trị đạo  
đức truyền thống của dân tộc. Tưởng  
nhớ tổ tiên không chỉ là ôn lại quá khứ  
mà còn giúp con cháu noi gương cha  
ông, sống sao cho không phải hổ thẹn  
với tiền nhân.  
“Nào là luân lý tứ ân,  
Phải lo đền đáp xác thân mới còn”.  
Thực hiện tứ ân là: ân đối với tổ tiên  
cha mẹ; ân đất nước; ân tam bảo; ân  
đồng bào và nhân loại (Huỳnh Phú Sổ,  
1966: 146) (xem ân tổ tiên, cha mẹ là  
hàng đầu trong tứ ân). Đó là những  
nguyên tắc căn bản của đạo làm  
người, là bậc thang đầu tiên để giúp  
con người đạt được đức hạnh, thành  
chánh quả.  
Dựa trên các quan điểm đạo lý truyền  
thống ấy, ông Đoàn Minh Huyên, ông  
Ngô Lợi, ông Nguyễn Ngọc An và ông  
Huỳnh Phú Sổ đã lồng ghép vào giáo  
lý của tôn giáo mình để khuyên dạy tín  
đồ, khuyên dạy người dân. Quan điểm  
này được ông Đoàn Minh Huyên ghi  
trong Sấm truyền như sau:  
Tứ ân của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
Lơn và Phật giáo Hòa Hảo được thể  
hiện cụ thể như sau:  
“Bất hiếu phụ mẫu nghịch lời,  
- Về quan điểm ân tổ tiên, cha mẹ  
(kế thừa từ ân phụ mẫu của Phật  
giáo): Tục ngữ có câu “Cây có cội,  
nước có nguồn” hay “chim có tổ -  
người có tông” hàm ý nhắc nhở người  
đời phải nhớ về tổ tiên, cha mẹ. Vì  
cha mẹ là người có công lao to lớn  
trong việc dưỡng dục ta nên người.  
Công lao ấy được ví như trời biển  
“Công cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ  
bằng trời chín tháng cưu mang”. Tổ  
tiên, cha mẹ còn là người dựng  
nghiệp nhà cho con cháu đời sau. Bổn  
phận là con cháu phải biết ơn tổ tiên  
cha mẹ và phải giữ gìn.  
Cha sanh mẹ dưỡng là nơi ơn dày”  
(Nguyễn Văn Hầu, 1973: 91).  
Ở góc nhìn khác, ông Ngô Lợi khuyên  
tín đồ:  
“Giáo cùng lớn nhỏ ai ai  
Giữ đặng chữ hiếu hoài hoài đừng sai  
….  
Sớm khuya săn sóc hôm mai giữ gìn”  
(Hà Tân Dân, 1971: 29).  
Hay trong Hiếu nghĩa kinh, quyển Hạ,  
ông Ngô Lợi có nói như sau:  
“Thượng thị phụ khí sanh, Hạ thử mẫu  
huyết dưỡng.  
Thiên địa âm dương hội, Phụ mẫu khí  
huyết hòa.  
Nhớ ơn tổ tiên là một nét văn hóa đẹp  
của dân tộc Việt Nam, không chỉ củng  
cố mối quan hệ huyết thống trong mỗi  
gia đình, dòng tộc mà còn khẳng định  
Thị cố sanh ngã đẳng, âm dương  
đồng thọ hưởng.  
tính cộng đồng làng xã, góp phần bảo Thiên địa nhơn đồng đạo, Phụ mẫu  
nghĩa tối cao” (dẫn theo Hà Tân Dân,  
đảm sự ổn định, phát triển cho cả dân  
tộc. Do ân tổ tiên, con cháu tưởng  
1971: 26).  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI VÀ CÁC TÁC GIẢ – TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN” TRONG…  
68  
(Nghĩa là: Thân hình ta do sự phối mẹ thì phải hết lòng vui; lúc cha mẹ  
hợp âm dương của cha mẹ mà sanh bệnh thì phải hết lòng lo than thuốc  
ra. Do đó, công ơn cha mẹ lớn rộng săn sóc…”.  
như Trời Đất, ta phải lo đền trả nghĩa  
cao dài ấy. Làm đúng như thế mới  
đúng là Tu Nhơn, xứng đáng đạo làm  
người. Xong đạo làm người mới nói  
đến chuyện Học Phật).  
Ông Huỳnh Phú Sổ khuyên tín đồ  
thực hiện tứ ân, trong đó ân tổ tiên  
cha mẹ là ân nghĩa đầu tiên và quan  
trọng nhất trong tứ ân mà mỗi tín đồ  
Phật giáo Hòa Hảo cần phải thực hiện.  
Ông cho rằng: “Thiên kinh vạn điển,  
hiếu nghĩa vi tiên” (Huỳnh Phú Sổ,  
1966: 176).  
Trong trường hợp này, ông Ngô Lợi  
đặt hiếu nghĩa làm đầu trong tứ ân  
của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đây còn  
được xem là nguyên nhân hình thành  
nên tên gọi của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.  
Bên cạnh sự kế thừa truyền thống  
hiếu thảo của dân tộc, đạo Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa còn có sự vận dụng sáng  
tạo từ Nho giáo “Hiếu giả bách hạng  
chi tiên” (có nghĩa là đọa hiếu đứng  
Muốn đền ơn cha mẹ, lúc sinh thời  
cha mẹ dạy bảo phải biết chăm chỉ  
lắng nghe, chớ nên xao lãng làm  
phiền lòng cha mẹ; phải lo nuôi dưỡng  
báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách,  
khỏi bệnh hoạn ốm đau; anh em phải  
hòa đồng, đoàn kết; tạo hạnh phúc  
đầu trong trăm hạng tốt), hoặc lấy cho gia đình. Con cháu luôn cầu chúc  
cho ông bà, cha mẹ được hưởng điều  
phước thọ; cầu cho linh hồn được  
siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát  
đọa trầm luân khi qua đời.  
chuyện Nhị thập tứ hiếu làm điều răn  
dạy sự hiếu thảo của con đối với cha  
mẹ. Ngoài ra, ông Ngô Lợi còn kế  
thừa triết lý Phật giáo: thờ cha mẹ  
chẳng ra gì, dù hàng ngày ăn chay  
niệm Phật cũng vô ích (Đinh Văn  
Hạnh, 1999: 87-88).  
Còn đền đáp công ơn của tổ tiên,  
phận làm con cháu phải làm cho vinh  
hiển đời mình để cho dòng dõi được  
thơm lây và đừng làm điều xấu ảnh  
hưởng đến tổ tông.  
Còn đối với Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
Lơn, chữ Hiếu được đề cập trong  
Triết Thánh đạo như sau:  
Qua phân tích ở trên cho thấy, quan  
điểm ân tổ tiên, cha mẹ của các tôn  
giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn  
và Phật giáo Hòa Hảo mang đậm chất  
truyền thống văn hóa của dân tộc Việt  
Nam. Chất truyền thống ấy tạo nên sự  
kết nối logic trong việc hoàn thiện  
nhân cách con người ở mỗi tín đồ.  
“Hiếu chi phụ mẫu, kế phụ mẫu không  
sanh có dưỡng đạo Đồng” (Nguyễn  
Ngọc An, 1968b: 19).  
Hay trong giáo lý Phật giáo Hiếu  
Nghĩa Tà Lơn, ông Nguyễn Ngọc An  
(1968b: 23-24) khuyên tín đồ phải biết  
ơn, phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ,  
người có công dưỡng dục sinh thành  
nên ta: “lúc cha mẹ ở với mình thì  
phải hết lòng yêu; lúc dưỡng nuôi cha  
- Quan điểm ân đất nước (tức ân  
quốc vương thủy thổ của Phật giáo) –  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
69  
người sinh ta ra là tổ tiên, cha mẹ. cảm thấy không đủ sức đảm đương  
Chúng ta sống và tồn tại trên thế gian việc lớn, hay chưa có cơ hội thuận  
nhờ đất nước quê hương, vì đây là tiện cho ta thực hiện, ta cũng không  
nơi đã cưu mang, nơi đùm bọc che làm điều chi tổn hại đến quê hương  
chở cho thân được yên, nhà được hay tạo cơ hội và phương tiện cho kẻ  
vững (Nguyễn Hồng Lương).  
thù chống lại quê hương xứ sở.  
Trước tình hình xã hội phong kiến suy Về sau, quan điểm ân đất nước của  
ông Đoàn Minh Huyên được ông Ngô  
Lợi, ông Nguyễn Ngọc An và ông  
Huỳnh Phú Sổ kế thừa và vận dụng  
vào giáo lý của tôn giáo mình. Vì vậy,  
khi Pháp xâm chiếm miền Nam, các  
tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
Lơn và Phật giáo Hòa Hảo đã thực  
hiện đúng nghĩa vụ của mình đó là  
đứng lên tham gia kháng chiến chống  
Pháp để “ân đền - nghĩa trả” đối với  
quê hương, xứ sở. Thực hiện được  
như thế, ngoài việc giúp cho đất  
nước cường thịnh thì cũng đã tự giúp  
cho gia đình, cho bản thân. Vì đất  
nước giàu có và phát triển thì gia  
đình mới ấm no, hạnh phúc. Đây  
được xem là điểm mới, điểm khác  
biệt khá nổi bật so với tứ ân của Phật  
giáo.  
tàn, thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ,  
mùa màng thất bát, đại dịch hoành  
hành, đời sống người dân lầm than  
khổ cực, quan điểm ân đất nước của  
đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã vực dậy  
lòng yêu quê hương đất nước, tự hào  
về nòi giống, kêu gọi mọi người đứng  
lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ  
thành quả của cha ông. Đồng quan  
điểm như trên, tác giả Nguyễn Đăng  
Thục, trong tác phẩm của mình, đã  
đưa ra luận điểm như sau: “Ở Việt  
Nam từ trước đến nay cả hai khuynh  
hướng thờ phụng tổ tiên và thờ phụng  
tự nhiên đã tiến tới sự phối hợp làm  
một ở sự thờ phụng vị anh hùng dân  
tộc, vừa là linh hồn tiền nhân bất tử,  
vừa là những anh hùng phối hợp với  
các thế lực tự nhiên thần thánh hóa...  
và dân Việt tìm thấy ở trong sự thần  
thánh hóa anh hùng dân tộc ấy cái  
quốc hồn để làm sức mạnh cấu kết  
đoàn thể, để làm sinh lực sống còn  
của dân tộc” (xem Nguyễn Đăng Thục,  
1959: 67).  
Quan điểm ân đất nước của ông Đoàn  
Minh Huyên được ông Ngô Lợi đề cập  
trong Sấm giảng ngũ giáo của mình  
như sau:  
“Quân vương nghĩa trọng biết bao,  
Làm tôi lo báo công lao ở đời” (Vương  
Kim, 1966: 158).  
Ân đất nước không phải là việc riêng  
của nhà lãnh đạo mà là của mọi người,  
mọi tín đồ trên đất nước Việt Nam. Do  
đó, mọi người phải có bổn phận và  
trách nhiệm đền đáp, phải cố gắng ra  
sức bảo vệ thậm chí có thể hy sinh  
cho quê hương, đất nước. Còn như ta  
Ông Nguyễn Ngọc An dùng chữ “Hiếu  
và Nghĩa” để khuyên tín đồ Phật giáo  
Hiếu Nghĩa Tà Lơn thực hiện tứ ân.  
“Hiếu chi ư thiên tắc phong võ thuận  
thì, Hiếu chi ư địa sanh hóa vạn vật,  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI VÀ CÁC TÁC GIẢ – TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN” TRONG…  
70  
Hiếu chi Tổ giáo huận thập nhị công Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
nghệ” hay “Nghĩa với nước phải tận Lơn và Phật giáo Hòa Hảo có sự kế  
trung vì nước, giữ gìn ngọn rau tấc  
đất nước nhà” (Nguyễn Ngọc An,  
1968b: 19)  
thừa lẫn nhau. Mỗi tôn giáo nhìn nhận  
vấn đề về ân đất nước ở các góc độ  
khác nhau nhưng tất cả đều khuyên  
tín đồ ra sức xây dựng và bảo vệ quê  
hương đất nước.  
Phật giáo Hòa Hảo cũng cho rằng, đất  
nước có được như ngày hôm nay là  
nhờ công lao to lớn của các bậc tiền  
bối, đã tạo dựng lên bằng mồ hôi và  
nước mắt.  
- Quan điểm về ân tam bảo: Quan  
điểm ân tam bảo của ông Đoàn Minh  
Huyên cũng giống như ân tam bảo  
của Phật giáo, gồm có: Phật, pháp,  
tăng. Để các tín đồ hiểu và thực hiện  
tốt việc ân tam bảo, ông Đoàn Minh  
Huyên xem xét trên hai phương diện  
để dạy tín đồ.  
“Bắc Nam một dải san hà,  
Mồ hôi giọt máu ông cha tài bồi”  
(Huỳnh Phú Sổ, 1966: 504).  
Với trách nhiệm và bổn phận của  
người con đối với quê hương đất  
nước, chúng ta phải ra sức bảo vệ đất  
nước ngày một phát triển và tốt đẹp  
hơn: “Cùng chung một giọt máu đào,  
phen này hiệp sức nâng cao nước  
nhà” (Huỳnh Phú Sổ, 1966: 507), phải  
quyết tâm bảo vệ đất nước khi bị giặc  
ngoại xâm, dù bỏ thân mạng cũng  
không phản bội Tổ quốc làm tay sai  
cho giặc “Thù giặc Pháp làm người  
phải trả, trừ tham quân bởi quá ngang  
tàng” (Huỳnh Phú Sổ, 1966: 536).  
Về phương diện vật chất: Ông Đoàn  
Minh Huyên cho rằng con người được  
sinh ra, nuôi dưỡng nhờ tổ tiên cha  
mẹ, sống và tồn tại được là nhờ quê  
hương đất nước (dẫn theo Dật Sĩ và  
Nguyễn Văn Hầu, 1972: 79).  
Về phương diện tinh thần: Để có được  
sự sáng suốt, thông minh trong cuộc  
sống, con người phải nhờ ơn tam bảo,  
tức là ân Phật bảo, ân pháp bảo và ân  
tăng bảo (dẫn theo Vương Kim và  
Đào Hưng, 1953: 88). Do đó, để thực  
hiện tốt ân tam bảo bổn phận của tín  
đồ là phải noi theo chí đức của các  
bậc tiền nhân, sống và hành đạo đúng  
theo tinh thần của giáo lý, tiếp tục phát  
huy tinh thần đó để mở mang trí tuệ.  
Khi đất nước bị giặc xâm lược thì các  
tín đồ phải ra sức bảo vệ, đứng lên  
chống giặc góp phần mang lại hòa  
bình, độc lập cho quê hương đất  
nước. Còn khi đất nước hòa bình  
thống nhất thì tín đồ phải trở về vị trí  
tu hiền để được vào cõi giải thoát:  
“Đền xong nợ nước thù nhà, thiền  
môn trở gót Phật Đà nam mô” (Huỳnh  
Phú Sổ, 1966: 518).  
Trong Sấm truyền, ông Đoàn Minh  
Huyên đã khuyên tín đồ:  
“Khá khuyên cải dữ làm lành,  
Với quan điểm ân đất nước như đã Sùng tu Tam Bảo học hành cho  
phân tích trên, chúng ta thấy rằng bốn thông” (dẫn theo Nguyễn Văn Hầu,  
tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân 1973: 95).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
71  
Ông Ngô Lợi và ông Huỳnh Phú Sổ đã tôn kính và am hiểu Phật - pháp để  
kế thừa quan điểm ân tam bảo của tránh tai nạn. Ông cho rằng:  
ông Đoàn Minh Huyên. Trong Linh  
Sơn hội thượng kinh, ông Ngô Lợi kêu  
gọi tín đồ phải trọng ân tam bảo, cụ  
thể ngay khi hành lễ, người tín đồ đã  
được nhắc nhở trong phần niệm  
hương:  
“Tu cho rõ mối huyền thâm,  
Qui đầu Phật pháp khỏi lâm tai nàn”  
(Huỳnh Phú Sổ, 1966: 168).  
- Quan điểm về ân đồng bào, nhân  
loại: Con người lúc mới lọt lòng mẹ,  
phải chịu ơn rất nhiều người xung  
quanh mình. Khi lớn lên, đi học, đi  
làm, tham gia các hoạt động xã hội  
thì sự chịu ơn ấy cũng lớn dần theo  
năm tháng. Ít nhiều trong xã hội,  
chúng ta đều hưởng thành quả lao  
động của đồng bào rộng hơn nữa là  
nhân loại. Do đó, trong cuộc sống,  
chúng ta phải biết yêu thương, giúp  
đỡ lẫn nhau vì chúng ta có cùng màu  
da, cùng tiếng nói, cùng tồn tại trên  
quê hương đất nước. Có như thế,  
mới gọi là đền đáp “ân đồng bào  
nhân loại”.  
“Nam mô Phật Pháp Tăng bảo thượng  
hương” (dẫn lại theo Tam Bửu Tự,  
1967: 2).  
Do đó, muốn tu nhân thì các tín đồ  
phải đền đáp công ơn của Phật, pháp,  
tăng bằng cách noi theo gương của  
Phật, làm những điều Phật dạy, phổ  
biến tư tưởng của đức Phật đến bá  
tánh, cùng nhau trừ lòng tham, tiêu trừ  
cái ác, hướng về cái thiện, yêu  
thương, giúp đỡ lẫn nhau, sống yên  
vui, đoàn kết dưới bóng từ bi của  
Phật… (dẫn theo Đinh Văn Hạnh,  
1999: 89)  
Quan điểm này hoàn toàn phù hợp  
với truyền thống của dân tộc Việt Nam  
“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng  
khác giống nhưng chung một giàn”  
hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,  
người chung một nước phải thương  
nhau cùng”…  
Với Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn thực  
hiện ân tam bảo là trách nhiệm của  
mỗi tín đồ, và khuyên tín đồ tiếp tục  
truyền bá giáo lý của Phật giáo Hiếu  
Nghĩa Tà Lơn đến mọi người dân để  
cùng hiểu, cùng làm việc thiện, sống  
có nhân đức, hướng đến chân thiện  
mỹ – quan điểm này được ông Nguyễn  
Ngọc An đề cập như sau:  
Như vậy, việc lồng ghép giá trị vă hóa,  
đạo đức truyền thống vào giáo lý của  
Bửu Sơn Kỳ Hương, ông Đoàn Minh  
Huyên khuyên tín đồ phải sống chân  
thành, thương yêu nhau…  
“Hiếu chi Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ  
nuôi dưỡng; Hiếu chi Tổ nội, Tổ ngoại  
đạo đồng nhất lý” hay “Nghĩa với Sư  
Thầy, người dạy ta nên hiếu hạnh  
thảo hiền” (Nguyễn Ngọc An, 1968b:  
19).  
Quan điểm ân đồng bào nhân loại của  
ông Đoàn Minh Huyên đã được ông  
Ngô Lợi, ông Nguyễn Ngọc An và ông  
Huỳnh Phú Sổ vận dụng vào giáo lý  
của mình. Sự vận dụng ấy được tiếp  
cận dưới các góc độ khác nhau.  
Trong khi đó, ông Huỳnh Phú Sổ kêu  
gọi tín đồ tu để hiểu rõ căn cơ, phải  
NGUYỄN PHƯỚC TÀI VÀ CÁC TÁC GIẢ – TƯ TƯỞNG “TỨ ÂN” TRONG…  
72  
Ông Nguyễn Ngọc An (1968b: 19) tiếp Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn  
tục dùng chữ Nghĩa để khuyên tín đồ và Phật giáo Hòa Hảo mang tính chất  
Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn tu hành phổ thông, phù hợp với đại đa số  
theo: “Nghĩa với bạn không phản bạn; người dân Nam Bộ lúc bấy giờ.  
Nghĩa với cô bác xóm giềng, hương  
3. KẾT LUẬN  
thôn”.  
Để đáp ứng nhu cầu về mặt tâm linh  
Ông Huỳnh Phú Sổ cho rằng:  
và phù hợp với trình độ nhận thức lúc  
bấy giờ của người dân Nam Bộ, các  
tôn giáo bản địa đã vận dụng một  
cách linh hoạt tư tưởng giáo lý của  
“Khắp Bắc Nam Lạc Hồng một giống,  
Tha thứ nhau để sống cùng nhau.  
Quý nhau từng giọt máu đào,  
Để đem máu ấy tưới vào địch quân” Phật giáo, thực hành tam cương, ngũ  
(Huỳnh Phú Sổ, 1966: 523).  
thường của Nho giáo, tư tưởng vô vi  
của Đạo giáo với truyền thống văn  
hóa và tín ngưỡng dân gian người  
dân Nam Bộ để đưa ra tư tưởng tứ ân  
trong giáo lý, tôn chỉ hành đạo của  
mình. Tư tưởng tứ ân của các tôn  
giáo ngoài khuyên dạy tín đồ làm lành  
lánh giữ, còn tập hợp nhân dân đứng  
lên chống giặc cứu nước bảo vệ quê  
hương, dân tộc.  
Quan điểm tu nhân - học Phật của các  
tôn giáo từ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ  
Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa  
Tà Lơn đến Phật giáo Hòa Hảo đều  
dựa trên nền tảng đạo đức của dân  
tộc, với nội dung là báo đáp tứ ân.  
Quan điểm này không nặng về triết lý  
và siêu hình mà giản dị, phù hợp với  
thuần phong mỹ tục, tu tâm dưỡng  
tính cũng là tìm đến tâm phật: “Phật  
tức tâm, tâm tức Phật”.  
Tuy tên gọi khác nhau nhưng giáo lý,  
tôn chỉ hành đạo của Bửu Sơn Kỳ  
Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo  
Hiếu Nghĩa Tà Lơn và Phật giáo Hòa  
Hảo đều khuyên tín đồ hiếu thảo với  
cha mẹ sinh thành dưỡng dục, biết  
dũng cảm đứng lên bảo vệ quê hương  
đất nước, bảo vệ nòi giống, biết tự rèn  
luyện bản thân... Đây chính là tinh hoa  
của các tôn giáo bản địa ở Nam Bộ  
cần được giữ gìn và phát huy.  
Nhìn chung, bốn tôn giáo trên đã thể  
hiện rõ tính nhập thế, luôn dạy tín đồ  
lấy báo ân làm đầu. So với Phật giáo,  
các tôn giáo này được canh tân theo  
hướng bình dân hóa, hiện đại hóa vì  
có tinh thần dân tộc, tư tưởng chúng  
sinh, bình đẳng trên một số lĩnh vực  
xã hội và truyền thống văn hóa bản  
địa. Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu. 1972. Thất Sơn mầu nhiệm. Sài Gòn: Nxb. Từ Tâm.  
2. Đinh Văn Hạnh. 1999. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt Nam Bộ (1867-1975).  
TPHCM: Nxb. Trẻ.  
3. Hà Tân Dân. 1971. Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Sài Gòn: Tủ sách sưu khảo sử liệu Phật  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.  
73  
4. Huỳnh Phú Sổ. 1966. Sấm giảng thi văn giáo lý. Ban Phổ thông Giáo lý Trung ương  
Phật giáo Hòa Hảo.  
5. Nguyễn Đăng Thục. 1959. Triết lý văn hóa khái luận. Sài Gòn: Nxb. Văn Hữu Á Châu.  
6. Nguyễn Hồng Lương. Ảnh hưởng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đến đời sống tinh thần  
_Nam_Bo-postLpP6XGmX.html, truy cập ngày 1/3/2021.  
7. Nguyễn Ngọc An. 1968a. Luật Đạo. An Bình Tự.  
8. Nguyễn Ngọc An. 1968b. Triết Thánh đạo. An Bình Tự.  
9. Nguyễn Văn Hầu. 1973. Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An. Ban Quản tự Tòng Sơn  
cổ tự.  
10. Tam Bửu Tự. 1967. Linh Sơn hội thượng kinh, Hiếu nghĩa kinh (quyển Thượng,  
Trung và Hạ). Chợ Lớn: Nhà in Phật Đường Tự.  
11. Vương Kim và Đào Hưng. 1953. Đức Phật Thầy Tây An. Sài Gòn: Nxb. Long Hoa.  
12. Vương Kim. 1966. Bửu Sơn Kỳ Hương. Sài Gòn: Nxb. Long Hoa.  
pdf 11 trang Thùy Anh 12000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng “Tứ ân” trong một số tôn giáo bản địa ở Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_tu_an_trong_mot_so_ton_giao_ban_dia_o_nam_bo.pdf