Giáo trình Văn hóa kinh doanh (Phần 1)

Bài giảng  
VĂN HÓA KINH DOANH  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH  
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA  
1.1.1. Khái niệm  
Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Nhưng mãi đến thế kỷ 17, nhất là nửa  
cuối thế kỷ 19 trở đi, các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung vào nghiên cứu sâu về  
lĩnh vực này. Bản thân vấn đề văn hóa rất đa dạng và phức tạp, nó là một khái niệm có  
nhiều nghĩa, được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tính  
chất và hình thức biểu hiện. Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn  
đến có nhiều quan niệm xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa. Năm 1952, Koroeber và  
Kluchohn đã thống kê được 164 định nghĩa về văn hóa, cho đến nay con số này chắc chắn  
đã tăng lên rất nhiều. Cũng như bất kỳ lĩnh vực nào khác, một vấn đề có thể được nhìn  
nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau  
không có gì đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm vấn đề được hiểu biết phong phú và toàn  
diện hơn.  
Theo nghĩa gốc của từ  
Tại phương Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng  
Đức)…đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai khoang, trồng trọt, trông nom  
cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng  
trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của  
con người.  
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa văn là vẻ đẹp của  
nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản  
thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc  
đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực  
tiễn, đời sống. Vậy, văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa. Đường lối văn trị hay  
đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo hóa,  
là giáo dục, cảm hóa bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự  
cưỡng bức).  
Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có  
một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá  
nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống  
trở nên tốt đẹp hơn.  
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu  
1
Căn cứ vào đối tượng mà thuật ngữ “văn hóa” được sử dụng để phản ánh – ba cấp  
độ nghiên cứu chính về văn hóa đó là:  
- Theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị  
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.  
Loài người là một bộ phận của tự nhiên nhưng khác với các sinh vật khác, loài  
người có một khoảng trời riêng, một thiên nhiên thứ 2 do loài người tạo ra bằng lao động  
và tri thức – đó chính là văn hóa. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người,  
giúp loài người hình thành và sinh tồn như không khí, đất đai… thì văn hóa là cái nôi thứ  
hai – nơi ở đó toàn bộ đời sống vật chất và tình thần của loài người được hình thành, nuôi  
dưỡng và phát triển. Nếu như con người không thể tồn tại khi tách khỏi giới tự nhiên thì  
cũng như vậy, con người không thể trở thành “người” theo đúng nghĩa nếu tách khỏi môi  
trường văn hóa.  
Do đó, nói đến văn hóa là nói đến con người – nói tới những đặc trưng riêng chỉ có  
ở loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người nhằm hoàn  
thiện con người, hướng con người khát vọng vươn tới chân – thiện – mỹ. Đó là ba giá trị  
trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân loại.  
Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người  
dù đó chỉ là những suy tư thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt  
động kinh tế, chính trị và xã hội. Như vậy, hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các  
giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân – thiện –  
mỹ và khả năng sáng tạo chân – thiện – mỹ trong đời sống.  
- Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người.  
Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học…) và văn hóa  
nghệ thuật (văn học, điện ảnh…) được coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn  
hóa.  
- Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được coi như một ngành – ngành văn hóa – nghệ  
thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Cách hiểu này thường kèm  
theo cách đối xử sai lệch về văn hóa: Coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài  
kinh tế, sống được là nhờ trợ cấp của nhà nước và “ăn theo” nền kinh tế.  
Trong ba cấp độ phạm vi nghiên cứu kể trên về thuật ngữ văn hóa, hiện nay người  
ta thường dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Loại trừ những trường hợp đặc biệt và  
người nghiên cứu đã tự giới hạn và quy ước.  
Căn cứ theo hình thức biểu hiện  
2
Văn hóa được phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng  
hơn, theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi  
vật thể (intangible).  
Các đền chùa, cảnh quan, di tích lịch sử cũng như các sản phẩm văn hóa truyền  
thống như tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài, áo tứ thân… đều thuộc loại hình văn  
hóa vật thể. Các phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca hay bảng giá trị, các chuẩn mực  
đạo đức của một dân tộc… là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy, sự phân loại  
trên cũng chỉ có nghĩa tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thường có cả yếu tố  
“vật thể” và “phi vật thể”. Điển hình như trong không gian văn hóa cồng chiêng của các  
dân tộc Tây Nguyên, ẩn sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, những chiêng,  
những con người của núi rừng, những nhà sàn, nhà rông mang đậm bản sắc… là cái vô  
hình của âm hưởng, phong cách và quy tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian,  
không gian và lịch sử.  
Như vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần  
được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của  
mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mỹ trong mối  
quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội. Từ ý nghĩa  
đó, chúng ta rút ra được khái niệm về văn hóa như sau:  
“Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra  
trong quá trình lịch sử”.  
1.1.2. Các yếu tố cấu thành văn hóa  
Văn hóa là một đối tượng phức tạp và đa dạng. Để hiểu bản chất của văn hóa, cần  
xem xét các yếu tố cấu thành văn hóa. Dựa vào khái niệm về văn hóa, có thể phân văn  
hóa thành hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.  
- Văn hóa vật chất  
Văn hóa vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện trong các của cải  
vật chất do con người sáng tạo ra. Đó là các sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệu  
tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở hạ  
tầng xã hội như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng tài chính  
như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính trong xã hội. Văn hóa vật chất được thể hiện  
qua đời sống vật chất của quốc gia đó. Chính vì vậy văn hóa vật chất sẽ ảnh hưởng to lớn  
đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trong nền kinh tế đó.  
Một điểm lưu ý là khi xem xét đến văn hóa vật chất, chúng ta xem xét cách con  
người làm ra những sản phẩm vật chất thể hiện rõ ở tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, ai làm  
3
ra chúng và tại sao. Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng đến mức sống và giúp giải  
thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó. Ví dụ như nếu là một quốc gia tiến bộ về kỹ  
thuật, con người ít tin vào số mệnh và họ tin tưởng rằng có thể kiểm soát những điều xảy  
ra đối với họ. Những giá trị của họ cũng thiên về vật chất bởi vì họ có mức sống cao hơn.  
Như vậy, một nền văn hóa vật chất thường được coi là kết quả của công nghệ và liên hệ  
trực tiếp với việc xã hội đó tổ chức hoạt động kinh tế của mình như thế nào.  
- Văn hóa tinh thần  
Là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức,  
các phong tục, tập quán; thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời  
và ngôn ngữ không lời); các giá trị và thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo;  
giáo dục; các phương thức giao tiếp, cách thức tổ chức xã hội.  
+ Kiến thức là nhân tố hàng đầu của văn hóa, thường được đo một cách hình thức  
bằng trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng các kiến thức khoa học, hệ thống kiến  
thức được con người phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sung nâng cao và  
không ngừng đổi mới qua các thế hệ.  
+ Các phong tục tập quán là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng  
ngày như nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống trong bữa ăn, cách xử  
sự với những người xung quanh, cách sử dụng thời gian… Phong tục, tập quán là những  
hành động ít mang tính đạo đức, sự vi phạm phong tục tập quán không phải là vấn đề  
nghiêm trọng, người vi phạm chỉ bị coi là không biết cách cư xử chứ ít bị coi là hư hỏng  
hay xấu xa. Vì thế, người nước ngoài có thể được tha thứ cho việc vi phạm phong tục tập  
quán lần đầu tiên. Tập tục có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với tập quán, nó là những quy tắc  
được coi là trọng tâm trong đời sống xã hội, việc làm trái tập tục có thể gây nên hậu quả  
nghiêm trọng. Chẳng hạn như tập tục bao gồm các yếu tố như sự lên án các hành động  
trộm cắp, ngoại tình, loạn luân và giết người. Ở nhiều xã hội, một số tập tục đã được cụ  
thể hóa trong luật pháp.  
+ Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trước. Cách  
cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt. Thói quen thể  
hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khi thực hiện chúng. Ví dụ thói quen ở  
Mỹ là ăn món chính trước món tráng miệng. Khi thực hiện thói quen này, họ dùng dao và  
dĩa ăn hết thức ăn trên đĩa và không nói khi có thức ăn trong miệng. Ở nhiều nước trên thế  
giới, thói quen và cách cư xử hoàn toàn khác nhau. Ở các nước Latinh có thể chấp nhận  
việc đến trễ, nhưng ở Anh và Pháp, sự đúng giờ là giá trị. Người Mỹ thường sử dụng phấn  
bột sau khi tắm nhưng người Nhật cảm thấy như thế là làm bẩn lại.  
4
+ Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được các  
thành viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ứng trước một sự  
vật dựa trên các giá trị. Ví dụ thái độ của nhiều quan chức tuổi trung niên của Chính phủ  
Nhật Bản với người nước ngoài không thiện chí lắm, họ cho rằng dùng hàng nước ngoài  
là không yêu nước. Thái độ có nguồn gốc từ những giá trị, ví dụ người Nga tin tưởng rằng  
cách nấu ăn của Mc Donald là tốt nhất đối với họ (giá trị) và do đó vui lòng đứng xếp  
hàng dài để ăn (thái độ).  
+ Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa vì nó là phương tiện  
được sử dụng để truyền thông tin và ý tưởng, giúp con người hình thành nên các nhận  
thức về thế giới và có tác dụng định hình đặc điểm văn hóa của con người. Ở những nước  
có nhiều ngôn ngữ người ta cũng thấy có nhiều nền văn hóa. Ví dụ, ở Canada có 2 nền  
văn hóa: Nền văn hóa tiếng Anh và nền văn hóa tiếng Pháp. Tuy nhiên, không phải lúc  
nào sự khác biệt về ngôn ngữ cũng dẫn đến sự khác biệt về xã hội. Trong hoạt động kinh  
doanh, nhất là kinh doanh quốc tế, sự hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, về những thành  
ngữ và cách nói xã giao hàng ngày, về dịch thuật là rất quan trọng. Một công ty đã không  
thành công khi quảng cáo bột giặt của mình đã đặt hình ảnh quần áo bẩn ở bên trái hộp xà  
phòng và hình ảnh quần áo sạch sẽ ở bên phải vì ở nước này người ta đọc từ phải qua trái,  
và điều đó được hiểu là xà phòng làm bẩn quần áo.  
Bản thân ngôn ngữ rất đa dạng, nó bao gồm ngôn ngữ có lời (verbal language) và  
ngôn ngữ không lời (non – verbal language). Thông điệp được chuyển giao bằng nội dung  
của từ ngữ, bằng cách diễn tả các thông tin đó (âm điệu, ngữ điệu…) và bằng các phương  
tiện không lời như cử chỉ, tư thế, ánh mắt, nét mặt… Ví dụ một cái gật đầu là dấu hiệu  
của sự đồng ý, một cái nhăn mặt là dấu hiệu của sự khó chịu. Tuy nhiên, một số dấu hiệu  
của ngôn ngữ cử chỉ lại bị giới hạn về mặt văn hóa. Chẳng hạn trong khi phần lớn người  
Mỹ và Châu Âu khi giơ ngón cái lên hàm ý “mọi thứ đều ổn” thì ở Hy Lạp, dấu hiệu đó là  
ngụ ý khiêu dâm.  
+ Thẩm mỹ liên quan đến thị hiếu nghệ thuật của văn hóa, các giá trị thẩm mỹ được  
phản ảnh qua các hoạt động nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, điện ảnh, văn chương, âm  
nhạc, kiến trúc…  
+ Tôn giáo ảnh hưởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói quen làm  
việc và cách cư xử của con người trong xã hội đối với nhau và với xã hội khác. Chẳng  
hạn, ở những nước theo đạo Hồi, vai trò của người phụ nữ bị giới hạn trong gia đình, Giáo  
hội Thiên chúa giáo đến tận bây giờ vẫn tiếp tục cấm sử dụng các biện pháp tránh thai.  
Thói quen làm việc chăm chỉ của người Mỹ là được ảnh hưởng từ lời khuyên của đạo Tin  
lành. Các nước Châu Á chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo Khổng nên coi trọng đạo đức  
làm việc. Thói quen ăn kiêng của một số tôn giáo ảnh hưởng từ thói quen làm việc. Ngay  
5
cả những ngày lễ trọng yếu cũng bị ràng buộc bởi tôn giáo, ví dụ nhiều người mỹ trao đổi  
quà cho nhau vào ngày 25 tháng 12 (lễ Giáng Sinh).  
+ Giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu văn hóa. Trình độ cao của giáo dục thường  
dẫn đến năng suất cao và tiến bộ kỹ thuật. Giáo dục cũng giúp cung cấp những cơ sở hạ  
tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị.  
Sự kết hợp giáo dục chính quy (nhà trường) và giáo dục không chính quy (gia đình  
và xã hội) giáo dục cho con người những giá trị và chuẩn mực xã hội như tôn trọng người  
khác, tuân thủ pháp luật, trung thực, gọn gàng, ngăn nắp, đúng giờ…, những nghĩa vụ cơ  
bản của công dân, những kỹ năng cần thiết. Việc đánh giá kết quả học tập theo điểm của  
giáo dục chính quy cũng giáo dục cho học sinh thấy giá trị thành công của mỗi cá nhân và  
khuyến khích tinh thần cạnh tranh ở học sinh. Trình độ giáo dục của một cộng đồng có  
thể đánh giá qua tỷ lệ người biết đọc, biết viết, tỷ lệ người tốt nghiệp phổ thông, trung học  
hay đại học… Đây chính là yếu tố quyết định sự phát triển của văn hóa vì nó sẽ giúp các  
thành viên trong một nền văn hóa kế thừa được những giá trị văn hóa cổ truyền và học hỏi  
những giá trị mới từ các nền văn hóa khác. Mô hình giáo dục ở các nước là khác nhau. Ví  
dụ, ở Nhật và Hàn Quốc nhấn mạnh đến kỹ thuật và khoa học ở trình độ đại học. Nhưng ở  
Châu Âu, số lượng MBA lại gia tăng nhanh trong những năm gần đây. Điều này có ý  
nghĩa lớn khi thiết lập các quan hệ trong giáo dục giữa các nước.  
+ Cách thức tổ chức của một xã hội thể hiện qua cấu trúc xã hội của xã hội đó  
Ở đây nổi lên bốn đặc điểm quan trọng giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa các nền  
văn hóa:  
Thứ nhất là sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể. Các xã hội  
phương Tây có xu hướng nhấn mạnh ưu thế của cá nhân, trong khi nhiều xã hội khác lại  
coi trọng tập thể hơn. Sự coi trọng ưu thế cá nhân, thành tựu cá nhân, một mặt khuyến  
khích tinh thần sáng tạo của mỗi cá nhân và làm xã hội trở nên năng động hơn; mặt khác,  
chủ nghĩa cá nhân cũng làm suy yếu mỗi liên hệ giữa các cá nhân, có thể gây ảnh hưởng  
xấu đến ý thức trách nhiệm của từng cá nhân với tập thể nói riêng và xã hội nói chung. Xã  
hội Mỹ là ví dụ điển hình về vấn đề này. Sự coi trọng tập thể, hòa nhập với tập thể sẽ tạo  
ra sự tương trợ lẫn nhau, tạo ra động lực mạnh mẽ để các thành viên trong tập thể làm  
việc vì lợi ích chung, làm tăng cường tinh thần hợp tác giữa các thành viên, nâng cao ý  
thức trách nhiệm của từng cá nhân với xã hội. Tuy nhiên, những xã hội coi trọng tập thể  
có thể bị coi là thiếu tính năng động và tinh thần kinh doanh cao. Xã hội Nhật Bản là ví  
dụ điển hình về vấn đề này. Vì những lý do văn hóa, nước Mỹ sẽ tiếp tục thành công hơn  
Nhật và đi đầu trong việc tạo ra những sản phẩm và phương thức kinh doanh mới.  
6
Thứ hai là sự phân cấp trong xã hội. Có một số xã hội có khoảng cách phân cấp  
cao và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp thấp (ví dụ như Ấn Độ và trong  
chừng mực thấp hơn là Anh quốc). Trong khi đó, ở một số xã hội khác, khoảng cách phân  
cấp ít hơn, nhưng lại linh hoạt hơn trong việc chuyển đổi giai cấp (ví dụ như Mỹ). Những  
cá nhân thuộc về phân cấp cao trong xã hội có nhiều cơ hội có một cuộc sống tốt hơn là  
những cá nhân thuộc về phân cấp thấp. Những người thuộc tầng lớp cao được giáo dục tốt  
hơn và cơ hội việc làm càng tốt hơn. Các cá nhân trong xã hội mà mức độ linh hoạt  
chuyển đổi giữa các giai cấp thấp thì khó có cơ hội vươn lên những tầng lớp cao hơn.  
Thành kiến xã hội và những quy định nghiêm ngặt về cách cư xử, thậm chí giọng nói  
ngăn cản họ làm việc ấy. Trong khi đó, những cá nhân trong xã hội mà mức độ linh hoạt  
chuyển đổi giữa các giai cấp cao có cơ hội vươn lên những tầng lớp cao hơn. Địa vị của  
một cá nhân được xác định chủ yếu bằng thành công của bản thân chứ không phải bằng  
một cá nhân có thể dễ dàng di chuyển từ giai cấp lao động lên giai cấp thượng lưu. Thực  
tế là tại Mỹ, người ta rất tôn trọng những người thành đạt có nguồn gốc thấp kém, trong  
khi ở Anh những người như thế chỉ được coi là “trưởng giả học làm sang” chứ không bao  
giờ được xã hội thượng lưu thực sự chấp nhận cả.  
Thứ ba là tính đối lập giữa tính nữ quyền hay nam quyền. Trong một số xã hội,  
mối quan hệ giữa giới tính và vai trò của từng giới trong công việc là rất rõ nét. Trong  
môi trường nam quyền, vai trò của giới tính rất được coi trọng, phân biệt giữa nam và nữ  
là rất lớn. Trong môi trường này, sự tham gia vào công việc của phái nữ là rất ít, hoặc sự  
tham gia đó chỉ là về mặt hình thức, các vị trí cao trong công việc nữ giới hầu như không  
được đảm nhiệm.  
Thứ tư là bản chất tránh rủi ro. Tại những xã hội có truyền thống văn hóa chấp  
nhận những điều không chắc chắn, con người sẵn sàng chấp nhận rủi ro đến từ những  
điều mà họ không biết rõ, họ cho rằng cuộc sống sẽ vẫn tiếp tục cho dù những rủi ro có  
xảy ra. Do đó trong môi trường này, cơ cấu của các tổ chức thường được xây dựng rất ít  
hoạt động, các văn bản về luật cũng không nhiều và các nhà quản lý có xu hướng chấp  
nhận rủi ro cao, đồng thời tỷ lệ thay thế lao động trong các tổ chức này thường cao và có  
nhiều nhân viên giàu hoài bão. Những quốc gia điển hình cho nền văn hóa này là Anh và  
Đan Mạch. Ngược lại, những xã hội có truyền thống văn hóa không chấp nhận những  
điều không chắc chắn, con người luôn luôn cam thấy bất an về một tình huống mơ hồ nào  
đó, họ luôn muốn tránh những xu hướng mạo hiểm bằng nhu cầu cao về an ninh và tin  
mạnh mẽ vào các chuyên gia hay hiểu biết của họ. Những tổ chức thuộc về nền văn hóa  
này thường xây dựng với nhất nhiều hoạt động trong tổ chức, có nhiều văn bản về điều  
luật và các nhà quản lý thường ít khi chấp nhận rủi ro. Tỷ lệ thay lao động trong các tổ  
7
chức này cũng thấp hơn và số nhân viên giàu tham vọng cũng ít hơn. Đơn cử cho những  
nước này là Đức, Nhật, Tây Ban Nha.  
1.1.3. Những nét đặc trưng của văn hóa  
Văn hóa có một số đặc trưng tiêu biểu sau  
- Văn hóa mang tính tập quán  
Văn hóa quy định những hành vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong  
một xã hội cụ thể. Có những tập quán đẹp, tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những  
nét độc đáo của một nền văn hóa này so với nền văn hóa kia, như tập quán “mời trầu” của  
người Việt Nam, tập quán các thiếu nữ Nga mời khách bánh mỳ và muối. Song cũng có  
những tập quán không dễ gì cảm thông như tập quán “cà răng căng tai” của một số dân  
tộc thiểu số của Việt Nam.  
- Văn hóa mang tính cộng đồng  
Văn hóa không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác  
động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội. Văn hóa như là một sự quy ước  
chung cho các thành viên trong cộng đồng. Đó là những lề thói, những tập tục mà một  
cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc. Một  
người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý  
những việc làm của anh ta không có gì là phi pháp.  
- Văn hóa mang tính dân tộc  
Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của từng dân tộc mà người dân tộc  
khác không dễ gì hiểu được. Vì thế mà một câu chuyện cười có thể làm cho người dân các  
nước phương Tây cười chảy nước mắt mà người dân Châu Á chẳng thấy có gì hài hước ở  
đó cả. Vì vậy, cùng một thông điệp mà ở nhiều nước lại có thể mang ý nghĩa hoàn toàn  
khác nhau.  
- Văn hóa có tính chủ quan  
Con người ở các nền văn hóa khác nhau có suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng  
một sự việc. Cùng một sự việc có thể được hiểu một cách khác nhau ở các nền văn hóa  
khác nhau. Một cử chỉ thọc tay vào túi quần và ngồi gếch chân lên bàn để giảng bài của  
một thầy giáo có thể được coi là rất bình thường ở nước Mỹ, trái lại là không thể chấp  
nhận được ở nhiều nước khác.  
- Văn hóa có tính khách quan  
Văn hóa thể hiện quan điểm chủ quan của từng dân tộc, nhưng lại có cả một quá  
trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội được chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ  
8
khác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người. Văn hóa tồn tại khách quan  
ngay cả với các thành viên trong cộng đồng. Chúng ta chỉ có thể học hỏi các nền văn hóa,  
chấp nhận nó, chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình. Chẳng hạn,  
quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã ăn rất sâu trong lịch sử Việt Nam, không dễ gì xóa bỏ  
được.  
- Văn hóa có tính kế thừa  
Văn hóa là sự tích tụ hàng trăm, hàng ngàn năm của tất cả các hoàn cảnh. Mỗi thế hệ  
đều cộng thêm đặc trưng riêng biệt của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại  
cho thế hệ sau. Ở mỗi thế hệ, thời gian qua đi, những cái cũ có thể được loại trừ và tạo  
nên một nền văn hóa quảng đại. Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho vốn văn  
hóa của một dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn.  
- Văn hóa có thể học hỏi được  
Văn hóa không chỉ được truyền lại từ đời này qua đời khác, mà nó còn phải do học  
mới có. Đa số những kiến thức (một biểu hiện của văn hóa) mà một người có được là do  
học mà có hơn là bẩm sinh đã có. Do vậy, con người ngoài vốn văn hóa có được từ nơi  
mình sinh ra và lớn lên, có thể còn học được từ những nơi khác, những nền văn hóa khác.  
- Văn hóa luôn tiến hóa  
Một nền văn hóa không bao giờ tĩnh tại và bất biến. Ngược lại văn hóa luôn luôn  
thay đổi và rất năng động. Nó luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình  
mới. Trong quá trình hội nhập và giao thoa với các nền văn hóa khác, nó có thể tiếp thu  
các giá trị tiến bộ hoặc tích cực của các nền văn hóa khác. Ngược lại, nó cũng tác động  
ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.  
Việc nắm bắt được những nét đặc trưng của văn hóa cho chúng ta có một tầm nhìn  
bao quát, rộng mở và một thái độ hết sức quan trọng và thận trọng với những vấn đề văn  
hóa. Một sự kết luận vội vàng hoặc một sự thiếu trách nhiệm đều có thể làm thui chột khả  
năng sáng tạo văn hóa. Nhận biết đầy đủ và sâu sắc những đặc trưng này sẽ giúp chúng ta  
xác định được biểu hiện và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội nói chung và trong  
hoạt động kinh doanh nói riêng.  
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA KINH DOANH  
1.2.1. Khái niệm văn hóa kinh doanh  
Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt  
động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành các  
9
lĩnh vực văn hóa đặc thù như văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn  
hóa gia đình… và văn hóa kinh doanh.  
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hóa  
và thị trường. Nếu là danh từ, kinh doanh là một nghề - được dùng để chỉ những con  
người thực hiện các hoạt động nhằm mục đích kiếm lời, còn nếu là động từ thì kinh doanh  
là một hoạt động – là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình  
đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường.  
Dù xét từ giác độ nào thì mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho  
chủ thể kinh doanh nên bản chất của kinh doanh là để kiếm lời. Trong nền kinh tế thị  
trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do  
sự phân công lao động xã hội tạo ra. Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem  
lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hóa kinh doanh.  
Trong kinh doanh, những sắc thái văn hóa có mặt trong toàn bộ quá trình tổ chức  
và hoạt động của hoạt động kinh doanh, được thể hiện từ cách chọn và cách bố trí máy  
móc và dây chuyền công nghệ; từ cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệ  
giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức cho đến những phương thức quản lý  
kinh doanh mà chủ thể kinh doanh áp dụng sao cho có hiệu quả nhất. Hoạt động kinh  
doanh cố nhiên không lấy các giá trị của văn hóa làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuật  
kinh doanh, từ việc tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, cách  
thức tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ và bảo hành sau  
bán… được “thăng hoa” lên với những biểu hiện và giá trị tốt đẹp thì kinh doanh cũng là  
biểu hiện sinh động văn hóa của con người.  
Do đó, bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái  
đúng, cái tốt và cái đẹp. Từ đó, khái niệm về văn hóa kinh doanh được trình bày như sau:  
“Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh  
chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc  
kinh doanh của chủ thể đó”.  
1.2.2. Các nhân tố cấu thành văn hóa kinh doanh  
Văn hóa kinh doanh là một phương diện của văn hóa trong xã hội và là văn hóa  
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Văn hóa kinh doanh bao gồm toàn bộ những giá trị  
vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra  
và sử dụng trong quá trình kinh doanh. Theo hướng tiếp cận này, để tạo nên hệ thống văn  
hóa kinh doanh hoàn chỉnh với bốn nhân tố cấu thành là triết lý kinh doanh, đạo đức kinh  
10  
doanh, văn hóa doanh nhân, và các hình thức văn hóa khác, chủ thể kinh doanh phải kết  
hợp đồng thời hai hệ giá trị sau:  
Trước hết, chủ thể kinh doanh sẽ lựa chọn và vận dụng các giá trị văn hóa dân tộc,  
văn hóa xã hội… vào hoạt động kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Đó là  
tri thức, kiến thức, sự hiểu biết về kinh doanh được thể hiện từ việc tuyển chọn nhân  
công, lựa chọn nguyên nhiên vật liệu, lựa chọn máy móc dây chuyền công nghệ…; ngôn  
ngữ được sử dụng trong kinh doanh; niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo; các giá trị văn hóa  
truyền thống; các hoạt động văn hóa tinh thần… Chẳng hạn, công ty Mai Linh có lựa  
chọn và vận dụng các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội vào việc đặt tên cho công ty  
của mình để làm thành Mai Linh được mọi người biết đến không còn đơn thuần là tên một  
công ty mà nó là tên của một thương hiệu nổi tiếng trên đất nước Việt Nam. Về ý nghĩa từ  
“Mai” nói lên hình ảnh của hoa mai trong ngày tết cổ truyền, của sự may mắn và niềm  
hạnh phúc đầu xuân, đồng thời cũng là một từ dùng để chỉ tương lai, về một ngày mai tốt  
đẹp. Còn từ “Linh” mang ý nghĩa của từ tinh nhanh, linh hoạt, linh động trong giải quyết  
công việc.  
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, các chủ thể kinh doanh cũng tạo ra các giá  
trị của riêng mình. Các giá trị này được thể hiện thông qua những giá trị hữu hình như giá  
trị của sản phẩm; hình thức mẫu mã sản phẩm; máy móc, thiết bị, nhà xưởng; biểu tượng,  
khẩu hiệu, lễ nghi, sinh hoạt, thủ tục, chương trình, truyền thuyết, các hoạt động văn hóa  
tinh thần của doanh nghiệp (các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao…). Yếu tố kiến  
trúc của cà phê Trung Nguyên là một minh chứng cho chủ thể kinh doanh cũng tạo ra các  
giá trị của riêng mình. Chúng ta không thể nhầm lẫn các quán Cafe của Trung Nguyên với  
các quán cafe khác qua những thiết kế từ màu đỏ bazan của vùng đất cao nguyên trên biển  
hiệu, của màu sắc và kiểu dáng bàn ghế, của cách bài trí đồ nội thất thống nhất trên toàn  
quốc đến âm điệu du dương của slogan “khơi nguồn sáng tạo”. Chất lượng của cafe,  
không gian của Trung Nguyên chính là sản phẩm mà khách hàng mong muốn và chờ đợi  
khi đến với Trung Nguyên.  
Đó còn là những giá trị vô hình như là phương thức tổ chức và quản lý kinh doanh;  
hệ giá trị, tâm lý và thị hiếu tiêu dùng; giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh; chiến lược,  
sứ mệnh và mục đích kinh doanh; các quy tắc, nội quy trong kinh doanh, tài năng kinh  
doanh…  
Tuy nhiên, sự phân biệt hai hệ giá trị kể trên chỉ là tương đối, các giá trị văn hóa dân  
tộc, văn hóa xã hội đã được chọn lọc và các giá trị văn hóa được tạo ra trong quá trình  
kinh doanh không thể tách bạch, chúng hòa quyện vào nhau thành một hệ thống văn hóa  
kinh doanh với 4 nhân tố cấu thành là:  
11  
1.2.2.1. Triết lý kinh doanh  
Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông  
qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh và chỉ  
dẫn cho hoạt động kinh doanh.  
Đó là một hệ thống bao gồm những giá trị cốt lõi có tính pháp lý và đạo lý tạo nên  
phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh và phương thức phát triển bền vững của hoạt  
động này. Đôi khi, triết lý kinh doanh còn là cơ sở để các nhà quản trị đưa ra các quyết  
định quản lý có tính chiến lược quan trọng trong những tình huống mà sự phân tích lỗ lãi  
không thể giải quyết. Đồng thời, triết lý kinh danh còn là phương tiện để giáo dục và phát  
triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh. Vì thế, nên trong những công ty xuất sắc  
của Mỹ như IBM, HP, Intel… các nhà quản trị đều có thói quen đối chiếu triết lý kinh  
doanh với các dự định hành động cũng như các kế hoạch, chiến lược trong giai đoạn xây  
dựng, và vấn đề đầu tiên mà các nhân viên mới phải học là sự hoà nhập với môi trường  
văn hoá của công ty với trọng tâm là triết lý kinh doanh để giá trị của công ty được truyền  
tải và di truyền vào từng thành viên, tạo nên sứ mệnh và hành vi chung của toàn thể nhân  
viên trong công ty.  
Hình thức thể hiện của triết lý kinh doanh cũng rất khác nhau với mỗi một chủ thể  
kinh doanh cụ thể. Đó có thể là một văn bản được in ra thành một cuốn sách nhỏ hoặc  
dưới dạng một câu khẩu hiệu hoặc bài hát. Triết lý kinh doanh cũng có thể không được  
thể hiện ra bằng các dạng vật chất mà tồn tại ở những giá trị niềm tin định hướng cho quá  
trình kinh doanh. Và dù dưới hình thức nào thì triết lý kinh doanh luôn trở thành ý thức  
thường trực trong mỗi chủ thể kinh doanh, chỉ đạo những hành vi của họ.  
Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau:  
Sứ mệnh kinh doanh cơ bản  
Các phương thức hành động để hoàn thành được những sứ mệnh và mục  
tiêu - nhằm cụ thể hoá hơn cách diễn đạt được những sứ mệnh và mục tiêu.  
Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh  
doanh đặc thù của doanh nghiệp  
Ví dụ: Triết lý của Intel  
Triết lý của công ty Intel được xây dựng từ ý tưởng của tiến sĩ A.S.Grove – nhà  
lãnh đạo của Intel về quản lý công ty như sau: “Biến nơi làm việc thành một đấu trường  
để có thể biến các cấp dưới của chúng ta thành những “vận động viên” góp phần thực  
hiện bằng tất cả năng lực của mình, đó là chìa khoá để biến đội của chúng ta thành  
những người luôn chiến thắng”. Do đó, biện pháp của Intel để thực hiện triết lý này là  
12  
phân chia nhân sự thành những nhóm nhỏ có tính chủ động và tự quản cao. Hình ảnh của  
mỗi nhóm được ví như một đội bóng chày, bóng rổ…  
1.2.2.2. Đạo đức kinh doanh  
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều  
chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.  
Đây là hệ thống các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức, các quy chế, nội quy…  
có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý đã  
định.  
Ngày nay, hoạt động kinh doanh đòi hỏi các chủ thể phải có những hành vi phù  
hợp với đạo lý dân tộc và các quy chuẩn về cái thiện và cái tốt chung của toàn nhân loại.  
Do vậy, đạo đức kinh doanh sẽ góp phần phát triển mối quan hệ với người lao động, với  
chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và với cộng đồng  
xã hội, từ đó góp phần tạo nên môi trường kinh doanh ổn định.  
Ví dụ: Giảm giá phục vụ khách hàng hay là sự vi phạm đạo đức kinh doanh  
Cho đến giờ ai cũng thấy rõ việc cổ vũ, cạnh tranh chủ yếu bằng hình thức khuyến  
mãi giảm giá quá mức dịch vụ viễn thông tại Việt Nam thời gian qua - đặc biệt là viễn  
thông di động đã đem lại nhiều hậu quả, lợi bất cập hại.  
Thời gian đầu đúng là người tiêu dùng có lợi nên nhiều người hoan ngênh, các  
báo đài ủng hộ. Nhưng một số chuyên gia có kinh nghiệm đã nhận thấy việc cạnh tranh  
này có dấu hiệu không lành mạnh, thực sự không hoàn toàn vì kinh tế - xã hội, không vì  
người tiêu dùng mà chỉ là tranh thủ giành giật khách hàng, không trên tinh thần đoàn kết,  
hợp tác, đảm bảo phát triển thị trường chung.  
Lúc đầu kêu đối phương lấy giá cước quá cao, móc túi người tiêu dùng có thu  
nhập thấp, gây hại cho kinh tế - xã hội, làm khó cho sản xuất kinh doanh, cản trở thu hút  
đầu tư nước ngoài, … sau là thực hiện ngay khuyến mãi, hạ giảm giá cước, thay đổi cách  
thu một cách cấp tiến, thậm chí là bán dịch vụ dưới giá thành, đòi hạ thấp một cách vô lý  
cước kết nối, thuê dùng cơ sở hạ tầng, không thanh toán sòng phẳng cước phí. Tiếp đến  
là đòi thực hiện cơ chế quản lý không đối xứng, kiềm chế doanh nghiệp chủ lực, nới lỏng  
doanh nghiệp mới; doanh nghiệp mới được tự động định liệu hà giảm giá cước còn doanh  
nghiệp truyền thống thì không được quyền đó, phải giữ mức cước cao hơn 10 – 20%,…  
Kết quả là kẻ trước người sau đua nhau khuyến mãi, giảm giá liên tục, phát triển  
quá nóng, thu nhập đơn vị (ARPU) giảm sút đến giới hạn, doanh nghiệp thu hẹp lợi  
nhuận, thậm chí có nguy cơ thua lỗ; nhà nước thất thu, người tiêu dùng không còn có lợi  
vì cước giảm giá ít mà chất lượng giảm thì nhiều, nghẽn mạch, rớt mạng thường xuyên  
13  
xảy ra; gọi không được, nghe không rõ. Chạy đua giảm giá, tranh thủ giành giật khách  
hàng trở thành nhiệm vụ chính, còn việc mở rộng, tăng cường mạng lưới, nâng cấp kỹ  
thuật, bảo đảm chất lượng phục vụ đã bị xem nhẹ.  
Đây rõ ràng là động cơ kinh doanh không đúng đắn, cạnh tranh không lành mạnh,  
chưa tôn trọng các giá trị đạo đức trong kinh doanh đã dẫn đến kết cục làm mất uy tín  
với khách hàng  
1.2.2.3. Văn hoá doanh nhân  
Văn hoá doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hoá mà các doanh nhân chọn lọc,  
tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh của mình.  
Tài năng, đạo đức và phong cách của nhà kinh doanh có vai trò quyết định trong  
việc hình thành văn hoá kinh doanh của chủ thể kinh doanh.  
Kinh doanh là một nghề phức tạp, đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải vừa có đức,  
vừa có tài, trong đó đức là cơ sở của tài. Hay nói cách khác thì đạo đức, tài năng, phong  
cách của chủ thể kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hoá kinh  
doanh. Doanh nhân không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ kinh  
doanh mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi  
lễ, huyền thoại… Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển kinh doanh, văn hoá của  
doanh nhân sẽ được phản chiếu lên văn hoá kinh doanh.  
Phong cách doanh nhân chính là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn ngữ, cách  
ứng xử và cách hành động của doanh nhân. Phong cách của doanh nhân thường đồng nhất  
với phong cách kinh doanh của họ vì nhà kinh doanh thường dành phần lớn thời gian và  
cuộc sống của họ cho công việc. Đồng thời, phong cách của nhà kinh doanh thường được  
biểu hiện rõ nét nhất ở lối ứng xử và hoạt động nghiệp vụ, do đó, phong cách của họ là  
yếu tố quan trọng hình thành nên phương pháp kinh doanh.  
Đạo đức của doanh nhân trong quá trình hoạt động là một thành tố quan trọng tạo  
nên văn hoá của doanh nhân. Có thể khái quát một số tiêu chuẩn không thể thiếu đối với  
đạo đức các doanh nhân như:  
Tính trung thực: Đức tính này phải được thể hiện trong sự nhất quán giữa nói  
và làm, danh và thực. Tính cách này sẽ hướng dẫn cho các doanh nhân không dùng thủ  
đoạn xấu xa để kiếm lời, coi trọng sự công bằng, chính đáng và đạo lý trong kinh doanh.  
Tôn trọng con người: Sự tôn trong con người phải được thực hiện từ việc coi  
trọng những nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng, tôn trọng phẩm giá và tiềm năng  
14  
phát triển nhân viên cho đến việc coi trọng chữ tín trong giao tiếp, quan hệ và hoạt động  
kinh doanh.  
Vươn tới sự hoàn hảo: Nếu không có mục tiêu vươn tới sự hoàn hảo, chủ thể  
kinh doanh hay các doanh nhân sẽ ngừng tu dưỡng bản thân, sẽ không có hoài bão và  
không có lý tưởng. Do vậy, đức tính này sẽ giúp cho các doanh nhân hình thành được lý  
tưởng nghề nghiệp và quyết tâm vươn lên để thành đạt bằng kính doanh.  
Đương đầu với thử thách: Đức tính này sẽ giúp cho các doanh nhân không ngại  
và quyết tâm vượt qua những khó khăn gian khổ mà nghề kinh doanh thường gặp phải.  
Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội: Hiệu quả kinh tế - xã hội là  
thước đo sự thành công và thành đạt trong kinh doanh. Do vậy, để phát triển, các doanh  
nhân phải không ngừng nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, đồng thời phải có  
những đóng góp xứng đáng cho xã hội.  
Năm đức tính trên là năm đức tính không thiểu đối với một nhà kinh doanh. Tuy  
nhiên, để thành đạt trong nền kinh tế thị trường thì ngoài những tiêu chuẩn không thể  
thiếu về đạo đức, các doanh nhân phải có tài năng kinh doanh. Có thể khái quát những tài  
năng của nhà kinh doanh thành những năng lực sau đây:  
Sự hiểu biết về thị trường: Sự hiểu biết đó bao gồm những hiểu biết về thị  
trường ngành hàng, hiểu biết về khách hàng mục tiêu, hiểu biết về đối thủ cạnh tranh và  
hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng tới việc kinh doanh.  
Những hiểu biết về nghề kinh doanh: Đó là những kiến thức về chuyên môn và  
nghiệp vụ kinh doanh như kiến thức về công nghệ, phương pháp quản trị, marketing, chất  
lượng sản phẩm, tài chính…  
Hiểu biết về con người và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ: Năng lực  
hiểu biết về con người và khả năng xử lý tốt các mối quan hệ của nhà kinh doanh được  
thể hiện thông qua khả năng giao tiếp, khả năng nuôi dưỡng và phát triển các mối quan hệ  
phục vụ cho công việc kinh doanh. Nếu có được năng lực này, các doanh nhân sẽ giải  
quyết tốt các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, khả năng đạt được kết quả cao trong  
kinh doanh là điều không khó.  
Nhanh nhạy, quyết đoán, và khôn ngoan: Đây là những năng lực cốt yếu của  
nhà kinh doanh, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường.  
Nếu không có sự nhanh nhạy, quyết đoan và khôn ngoan, các doanh nhân khó có thể nắm  
bắt được những cơ hội thuận lợi để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi ích đã định.  
Như vậy, đạo đức, tài năng và phong cách của doanh nhân là những thành tố quan  
trọng hình thành nên văn hoá doanh nhân nói riêng và văn hoá kinh doanh nói chung.  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang Thùy Anh 16880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Văn hóa kinh doanh (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_van_hoa_kinh_doanh_phan_1.pdf