Giáo trình nghề Công nghệ ô tô - Môđun: Hộp số tự động trên ô tô
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
HỘP SỐ TỰ ĐỘNG TRÊN Ô TÔ
MÔN HỌC/MÔ ĐUN: MĐ 35
NGÀNH/NGHỀ: CÔNG NGHỆ Ô TÔ
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số:
/QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày…….tháng….năm
................... của Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội)
Hà Nội, năm 2019
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 35
LỜI GIỚI THIỆU
Trong nhiều năm gần đây tốc độ gia tăng số lượng và chủng loại ô tô ở
nước ta khá nhanh. Nhiều kết cấu hiện đại đã trang bị cho ô tô nhằm thỏa mãn
càng nhiều nhu cầu của giao thông vận tải. Trong đó hộp số tự động được thiết
kế cho các dòng xe gọn và nhẹ nhằm tăng khả năng hoạt động trơn tru, tính cơ
động và cải thiện tính kinh tế nhiên liệu cho xe. Hộp số được điều khiển điện
tử về thời điểm sang số và áp suất dầu để hộp số tư động chọn số với các điều
kiện và tốc độ khác nhau của xe. Vì vậy xe có thể hoạt động trơn tru tại các tốc
độ khác nhau của xe.
Để phục vụ cho học viên học nghề và thợ sửa chữa ô tô những kiến thức cơ
bản cả về lý thuyết và thực hành bảo dưỡng, sửa chữa hộp số tự động. Với
mong muốn đó giáo trình được biên soạn, nội dung giáo trình bao gồm bốn
bài:
Bài 1: Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hộp số tự động
Bài 2: Tháo, lắp hộp số tự động
Bài 3: Kiểm tra chẩn đoán hộp số tự động
Kiến thức trong giáo trình được biên soạn theo chương trình Tổng cục Dạy
nghề, sắp xếp logic từ nhiệm vụ, cấu tạo, nguyên lý hoạt động của các cụm chi
tiết trong hệ thống truyền lực, đến cách phân tích các hư hỏng, phương pháp
kiểm tra và quy trình thực hành sửa chữa. Do đó người đọc có thể hiểu một cách
dễ dàng.
Xin chân trọng cảm ơn Tổng cục Dạy nghề, khoa Động lực trường Cao
đẳng Cơ điện Hà Nội cũng như sự giúp đỡ quý báu đồng nghiệp đã giúp tác giả
hoàn thành giáo trình này.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả
rất mong nhận được ý kiến đóng góp của người đọc để lần xuất bản sau giáo
trình được hoàn thiện hơn.
Hà nội, ngày…..tháng….. năm 20…
Tham gia biên soạn
Chủ biên
Nguyễn Văn Dương
2
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Mục lục
Bài 1: Cấu tạo, nguyên lý hoạt động của hộp số tự động
Bài 2: Tháo, lắp hộp số tự động
Bài 3: Kiểm tra chẩn đoán hộp số tự động
3
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
Tên mô đun: HỘP SỐ TỰ ĐỘNG TRÊN Ô TÔ
Mã mô đun:MĐ 35
Thời gian thực hiện mô đun: 45 giờ
thảo luận, bài tập: 28h, Kiểm tra: 02h)
(Lý thuyết: 15h; Thực hành, thí nghiệm,
I. Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun:
- Vị trí: Có thể bố trí dạy sau các mô đun sau: MĐ 21, MĐ 22, MĐ 23, MĐ 24, MĐ
25, MĐ 26, MĐ 27, MĐ 28, MĐ 29.
- Tính chất: Là mô đun chuyên ngành.
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun:
II. Mục tiêu của môn học/mô đun:
- Về kiến thức:
+ Trình bày đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ, phân loại hộp số tự động trong ô tô.
+ Trình bày được cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hộp số tự động
- Về kỹ năng:
+ Phân tích đúng những hiện tượng, nguyên nhân sai hỏng và trình bày các
phương pháp bảo dưỡng, kiểm tra và sữa chữa
+ Tháo lắp, kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa đúng quy trình
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Sử dụng đúng các dụng cụ kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa đảm bảo chính
xác và an toàn
+ Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô
+ Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của sinh viên.
III. Nội dung của môn học/mô đun:
4
BÀI 1: CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA HỘP SỐ TỰ ĐỘNG
Mã bài: 35 - 1
Mục tiêu:
- Trình bày đúng nhiệm vụ, yêu cầu và phân loại hộp số tự động
- Giải thích được cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hộp số tự động
- Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô
- Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của sinh viên.
Nội dung chính:
Khái quát về hộp số tự động
Hộp số tự động là một hộp số hiện đại được áp dụng trên ô tô nhằm giúp cho
người lái tham gia giao thông được thuận tiện hơn trong quá trình tham gia giao
thông. Nội dung phần này sẽ trình bày những kiến thức cơ bản của hộp số tự động.
Hộp số tự động là một cụm thuộc hệ thống truyền lực của ô tô bao gồm hai bộ
phận chính là biến mô men và hộp số hành tinh. Hai bộ phận này được lắp chung vỏ
và được lắp liền sau động cơ. Ngoài ra, cụm hộp số tự động còn có hệ thống tự động
điều khiển bằng thuỷ lực hoặc bằng điện tử thực hiện tự.
1.1. NHIỆM VỤ, YÊU CẦU CỦA HỘP SỐ TỰ ĐỘNG
Hộp số trên ô tô dùng để thay đổi lực kéo tiếp tuyến ở bánh xe chủ động cho
phù hợp với lực cản tổng cộng của đường. Đặc tính kéo của ô tô có hộp số thường
được thể hiện trên hình sau:
B1
A
B2
B3
B4
Tốc độ xe
Hình 1.1 Đặc tính kéo của ô tô
Đặc tính trên thể hiện cho ôtô có lắp hộp số cơ khí bốn cấp. Mỗi tay số sẽ cho
một đường đặc tính thể hiện mối quan hệ giữa lực kéo tiếp tuyến ở bánh xe chủ động
với tốc độ của xe. Với đặc tính này, ngay cả khi người lái xe chọn điểm làm việc của
tay số phù hợp với lực cản chuyển động của đường thì kết quả là điểm làm việc cũng
5
chưa phải là tối ưu. Điểm làm việc được coi là tối ưu khi nó nằm trên đường cong A
là tiếp tuyến với tất cả các đường đặc tính của hộp số cơ khí bốn cấp, đường cong đó
gọi là đường đặc tính lý tưởng. Đường cong lý tưởng có được chỉ khi sử dụng hộp số
vô cấp. Và khi đó chúng ta sẽ tránh được những mất mát công suất so với sử dụng
hộp số có cấp.
Hộp số tự động dùng trên ô tô chưa cho đường đặc tính kéo trùng với đường
đặc tính lý tưởng nhưng cũng cho ra được đường đặc tính gần trùng vớiđường đặc
tính lý tưởng. Với hộp số tự động việc gài các số truyền được thực hiện một cách tự
động tuỳ thuộc vào chế độ của động cơ và sức cản của mặt đường. Vì vậy nó luôn
tìm được một điểm làm việc trên đường đặc tính phù hợp với sức cản chuyển động
bảo đảm được chất lượng động lực học và tính kinh tế nhiên liệu của ô tô.
1.2. Yêu cầu:
Hộp số tự động đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thao tác điều khiển hộp số đơn giản nhẹ nhàng.
- Đảm bảo chất lượng động lực kéo cao.
- Hiệu suất truyền động phải tương đối lớn.
- Độ tin cậy lớn, ít hư hỏng, tuổi thọ cao.
- Kết cấu phải gọn, trọng lượng nhỏ.
1.3. Phân loại:
- Dựa vào đặc điểm hộp số tự động được chia làm hai loại:
+ Loại hộp số sử dụng trên ô tô FF (động cơ đặt trước, cầu trước chủ động).
+ Loại hộp số sử dụng trên ô tô FR (động cơ đặt trước, cầu sau chủ động).
Các hộp số sử dụng trên ôtô FF được thiết kế gọn nhẹ hơn so với loại sử dụng
trên ôtô FR do chúng được lắp đặt cùng một khối với động cơ.
Các hộp số sử dụng cho ôtô FR có bộ truyền động bánh răng cuối cùng với vi
sai lắp ở bên ngoài. Còn các hộp số sử dụng trên ôtô FF có bộ truyền bánh răng cuối
cùng với vi sai lắp ở bên trong, vì vậy loại hộp số tự động sử dụng trên ôtô FF còn
gọi là "hộp số có vi sai". Hai loại hộp số tự động nói trên được thể hiện như sau:
ểu hộp số FF và FR lắp trên ô tô
Hình 1.2 Hai ki
6
- Phân loại dựa vào cách điều khiển hộp số tự động người ta phân chia thành
hai loại:
+ Hộp số tự động điều khiển hoàn toàn bằng thuỷ
lực + Hộp số tự động điều khiển điện tử - thuỷ lực.
Hộp số tự động điều khiển thuỷ lực được điều khiển thông qua các van thuỷ
lực để chuyển số. Nhược điểm của hộp số này là không tự động chuyển số mà chỉ tự
động chuyển số trong mỗi dải làm việc tương ứng với tay số trên cần điều khiển. Kết
cấu của hệ thống điều khiển thuỷ lực khá cồng kềnh và phức tạp.
Loại điều khiển điện tử là việc chuyển số được máy tính trung tâm dựa vào
các tín hiệu từ các cảm biến để tính toán và đưa ra kết quả tối ưu để điều khiển
chuyển số và khoá biến mô men. Loại này còn bao gồm cả chức năng chẩn đoán và
dự phòng ngoài chức năng điều khiển số và khoá biến mô men.
1.4. Ưu nhược điểm của hộp số tự động
Ưu điểm:
So với hộp số cơ khí thông thường thì hộp số tự động có những tính năng
vượt trội sau đây:
Chuyển số liên tục không cần cắt dòng lực từ động cơ:
Biến mô men truyền dòng động lực thông qua động năng của dòng dầu thuỷ
lực nên truyền động êm dịu, không gây tải trọng động. Ngoài ra, cơ cấu hành tinh
cùng với các kết cấu li hợp khoá, phanh dải được điều khiển tự động cũng làm cho
việc chuyển số nhẹ nhàng, liên tục.
Tuổi thọ của các chi tiết trong hộp số tự động cao hơn do các chi tiết thường
xuyên được ngâm trong dầu, do đó việc bôi trơn và làm mát các chi tiết là rất tốt.
Việc truyền động giữa các chi tiết là êm dịu, không gây tải trọng động và lực truyền
đồng thời qua một số cặp bánh răng ăn khớp nên ứng suất trên răng nhỏ. Cơ cấu
hành tinh ăn khớp trong nên đường kính vòng tròn ăn khớp lớn. Các bánh răng hành
tinh bố trí đối xứng nên triệt tiêu được lực hướng trục. Giảm độ ồn khi làm việc.
Hiệu suất làm việc cao, vì các dòng năng lượng có thể là song song, ma sát
sinh ra tiêu hao năng lượng chủ yếu là do chuyển động tương đối còn không chịu
ảnh hưởng của chuyển động theo.
Cho tỉ số truyền cao nhưng kích thước lại không lớn:
Với kết cấu của cơ cấu hành tinh là bánh răng mặt trời và bánh răng hành tinh
nằm gọn bên trong Bánh răng bao nên kích thước của bộ truyền hành tinh là rất nhỏ
gọn với 1 tỉ số truyền khá lớn. Bên cạnh đó, biến mô men thuỷ lực còn có thể làm
cho mô men từ động cơ tăng lên đến 2,5 lần.
Ngoài ra, việc bố trí hộp số tự động trên xe ô tô còn làm cho việc điều khiển
xe dễ dàng và thuận tiện. Do không bố trí li hợp và việc chuyển số hoàn toàn tự
7
động cho nên người lái xe bớt được rất nhiều thao tác mỗi khi phải chuyển số. Nhất
là khi khởi hành và lái xe ở trong thành phố…
Nhược điểm.
Bên cạnh những ưu điểm mà hộp số tự động mang lại như đã nêu ở trên không thể
không kể đến những nhược điểm của nó:
Giá thành của hộp số tự động cao.
Công nghệ chế tạo đòi hỏi chính xác cao: trục lồng, bánh răng ăn khớp nhiều
vị trí.
Kết cấu phức tạp, nhiều cụm lồng, trục lồng, phanh dải, li hợp khoá, các
khớp một chiều, … Do đó việc tháo lắp và sửa chữa sẽ rất khó khăn và phức tạp.
Lực li tâm sinh ra trên các bánh răng hành tinh lớn do tốc độ góc lớn.
Nếu dùng nhiều li hợp và phanh có thể làm tăng tổn hao công suất khi
chuyển số, hiệu suất sẽ giảm.
Các nhược điểm này sẽ dần dần được khắc phục khi lựa chọn tối ưu sơ đồ cơ
cấu và công nghệ chế tạo máy phát triển.
1.5 Ứng dụng của hộp số tự động
Hộp số tự động được nghiên cứu và đưa vào sử dụng trên ô tô từ những năm
1940 và ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi trên tất cả các loại ô tô. Về
cơ bản hộp số tự động cho đến ngày nay vẫn bao gồm ba bộ phận chính là biến mô
men, hộp số hành tinh và bộ phận điều khiển. Những thành tựu mới của hộp số tự
động ngày nay chủ yếu là hoàn thiện về kết cấu, nâng cao được số tay số và tỉ số
truyền. Và một thành tựu đáng kể nữa là hệ thống điều khiển sang số của hộp số tự
động ngày nay là được điều khiển tự động hoàn toàn nhờ máy tính và các thiết bị
điện tử thông minh lắp trên xe. Nhờ những thành tựu mới của khoa học nhất là điện
tử, hộp số tự động ngày nay đã khắc phục được rất nhiều nhược điểm và phát huy
nhiều ưu điểm như kết cấu đơn giản, nhỏ gọn, giá thành chế tạo giảm, công tác kiểm
tra, bảo dưỡng, sửa chữa dễ dàng và cho ra đường đặc tính gần giống với đường đặc
tính lí tưởng.
Trên ô tô hiện đại, hộp số tự động được sử dụng rộng rãi cho các loại xe con
của hầu hết các hãng ô tô trên thế giới như MERCEDES, BMW, TOYOTA, FORD,
HONDA, AUDI… Với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng động học, động
lực học của xe đặc biệt là độ êm dịu chuyển động, tính kinh tế nhiên liệu và sự thuận
tiện khi sử dụng càng làm việc ứng dụng hộp số tự động trên xe càng rộng rãi. Vì thế
hộp số tự động vẫn là một lựa chọn số một cho xu thế phát triển xe ô tô trong tương
lai.
Ngày nay, ta không chỉ thấy hộp số tự động trên các xe du lịch, các xe có hai
cầu chủ động mà ta còn bắt gặp ở những xe đa dụng, xe địa hình có hai cầu chủ động
(4WD). Ngoài ra, trên một số xe chuyên dùng với tải trọng và kích thước lớn cũng
dùng hộp số tự động để tránh hiện tượng rung giật mỗi khi chuyển số và khởi hành
xe.
8
2. SƠ ĐỒ CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘP SỐ
Hộp số tự động điều khiển thuỷ lực của hãng TOYOTA bao gồm một số
bộ phận chính sau
- Bộ biến mô thuỷ lực
- Hộp số hành tinh
- Bộ điều khiển thuỷ lực (bộ truyền động bánh răng hành tinh)
- Bộ truyền động bánh răng cuối
cùng - Các thanh điều khiển
- Dầu hộp số tự động.
2.1. Bộ biến mô men thuỷ lực
Bộ biến mô men thủy lực trong hộp số tự động nhằm thực hiện
các chức năng sau:
- Tăng mômen do động cơ tạo ra;
- Đóng vai trò như một ly hợp thuỷ lực để truyền (hay không truyền) mô men từ
động cơ đến hộp số;
- Hấp thụ các dao động xoắn của động cơ và hệ thống truyền lực;
- Có tác dụng như một bánh đà để làm đồng đều chuyển động quay của động cơ
Dẫn động bơm dầu của hệ thống điều khiển thuỷ lực.
Hình 2.1 Cấu tạo hộp số tự động của hãng TOYOTA
9
2.1.1. Cấu tạo của biến mô men thuỷ lực
Về cấu tạo, biến mô bao gồm: bánh bơm, bánh tuabin, stato, khớp một
chiều và ly hợp khoá biến mô.
Tua bin
Vỏ biến mô
Vỏ biến mô
Tua bin
Stato
Trục vào
Từ bánh đà
Khớp một chiều
Hình 2.2 Bộ biến mô men thuỷ lực
a. Bánh bơm
Bánh bơm được gắn liền với vỏ biến mô. Bánh bơm có rất nhiều cánh có biên
dạng cong được bố trí theo hướng kớnh ở bờn trong. Vành dẫn hướng được bố trí
trên cạnh trong của cánh bơm để dẫn hướng cho dòng chảy của dầu. Vỏ biến mô
được nối với trục khuỷu của động cơ qua tấm dẫn động. Dưới đây là sơ đồ cấu tạo và
vị trí của bánh bơm trong bộ biến mô men thuỷ lực:
Hình 2.3 Bánh bơm
b. Bánh tua bin
Cũng như bánh bơm, bánh tua bin có rất nhiều cánh dẫn được bố trí bên
trong bánh tua bin. Hướng cong của các cánh dẫn này ngược chiều với cánh
10
dẫn trên bánh bơm. Rô to tua bin được lắp với trục sơ cấp của hộp số.
Cấu tạo và vị trí làm việc của rôto tua bin như hình sau:
Hình 2.4 Bánh tuabin
c. Stator và khớp một chiều.
Stato được đặt giữa bánh bơm và bánh tua bin. Nó được lắp trên trục stato,
trục này lắp cố định vào vỏ hộp số qua khớp một chiều. Các cánh dẫn của stato nhận
dũng dầu khi nó đi ra khỏi rô to tua bin và hướng cho nó đập vào mặt sau của cánh
dẫn trên cánh bơm làm cho cánh bơm được cường hoá.
Khớp một chiều cho phép stato quay cùng chiều với trục khuỷu động cơ. Tuy
nhiên nếu stato có xu hướng quay theo chiều ngược lại, khớp một chiều sẽ khóa stato
lại và không cho nó quay. Do vậy stato quay hay bị khóa phụ thuộc vào hướng của
dòng dầu đập vào các cánh dẫn của nó. Sơ đồ cấu tạo của stato và khớp một chiều
được thể hiện trên hình sau.
Hình 2.5 Stator và khớp một chiều
11
2.1.2. Nguyên lý làm việc của biến mô men
a. Nguyên lý truyền công suất.
Chúng ta liên hệ sự làm việc của
biến mô men với sự làm việc của hai
quạt gió. Quạt chủ động được nối với
nguồn điện, cánh của nó đẩy không khớ
sang quạt bị động (không nối với nguồn
điện) đặt đối diện. Quạt bị động sẽ quay
cùng chiều với quạt chủ động nhờ không
khí đập vào.
Hình 2.6 Nguyên lý truyền năng lượng qua cánh quạt gió
Trong biến mô men, quá trình cũng xảy ra tương tự nhưng thực hiện qua chất
lỏng. Khi bánh bơm được dẫn động quay từ trục khuỷu của động cơ, dầu trong bánh
bơm sẽ quay cùng với bánh bơm. Khi tốc độ của bánh bơm tăng lên, lực ly tâm làm
cho dầu bắt đầu văng ra và chảy từ trong ra phía ngoài dọc theo các bề mặt của các
cánh dẫn. Khi tốc độ của bánh bơm tăng lên nữa, dầu sẽ bị đẩy ra khỏi bánh bơm và
đập vào các cánh dẫn của rô to tua bin làm cho rô to tua bin bắt đầu quay cùng một
hướng với bánh bơm. Sau khi dầu giảm năng lượng do va đập vào các cánh dẫn của
rô to tua bin, nó tiếp tục chảy dọc theo màng cánh dẫn của rô to tua bin từ ngoài vào
trong để lại chảy ngược trở về bánh bơm và một chu kỳ mới lại bắt đầu. Nguyên lý
trên tương tự như ở ly hợp thuỷ lực.
Sơ đồ thể hiện nguyên lý truyền công suất từ bánh bơm sang bánh tua bin
được thể hiện trên hình sau:
Hình 2.7 Nguyên lý truyền công suất của biến mô men
12
Hình 2.8 Nguyên lý khuyếch đại mô men
*Nguyên lý khuyếch đại mômen
Việc khuyếch đại mô men bằng biến mô được thực hiện bằng cách trong cấu
tạo của biến mô ngoài cánh bơm và rô to tuabin cũng có stato.
Với cấu tạo và cách bố trí các bánh công tác như vậy thì dòng dầu thuỷ lực sau khi ra
khỏi rô to tua bin sẽ đi qua các cánh dẫn của stato. Do góc nghiêng của cánh dẫn
stato được bố trí sao cho dòng dầu ra khỏi cánh dẫn stator sẽ có hướng trùng với
hướng quay của cánh bơm. Vì vậy cánh bơm không những chỉ được truyền mô men
từ động cơ mà nó còn được bổ sung một lượng mô men của chất lỏng từ stato tác
dụng vào. Điều đó có nghĩa là cánh bơm đó được cường hóa và sẽ khuyếch đại mô
men đầu vào để truyền đến rô to tua bin.
b. Chức năng của khớp một chiều Stator:
Khi tốc độ của bánh bơm lớn hơn tốc độ của bánh tua bin thì dòng dầu sau khi
ra khỏi tua bin vào cánh dẫn của stato sẽ tác dụng lên stato một mô men có xu hướng
làm stato quay theo hướng ngược với cánh bơm. Để tạo ra hướng dòng dầu sau khi
ra khỏi cánh dẫn của stato tác dụng lên cánh dẫn của bánh bơm theo đòng chiều quay
của bánh bơm thì khi này stato phải được cố định (khớp một chiều khóa).
13
Rô to
tua bin
Hình 2.9 Hướng dòng dầu thay đổi khi khớp một chiều khóa
Khi tốc độ quay của rô to tua bin đạt gần đến tốc độ của bánh bơm, lúc này
tốc độ quay của dũng dầu sau khi ra khỏi rô to tuabin tác dụng lên cánh dẫn của stato
có xu hướng làm stato quay theo hướng cựng chiều bánh bơm. Vì vậy nếu stato vẫn
ở trạng thái cố định thì không những không có tác dụng cường hoá cho bánh bơm mà
còn gây cản trở sự chuyển động của dũng chất lỏng gây tổn thất năng lượng. Vì vậy
ở chế độ này stato được giải phóng để quay cùng với rô to tuabin và bánh bơm (khớp
một chiều mở). Khi này biến mô làm việc như một ly hợp thuỷ lực với mục đích tăng
hiệu suất cho biến mô
Hình 2.10 Khớp một chiều quay tự do
14
c. Cơ cấu khóa biến mô men thuỷ lực.
Khi ô tô chuyển động trên đường tốt, vận tốc của ô tô khá cao, khi đó mô men
cản chuyển động nhỏ nên số vòng quay của bánh tua bin xấp xỉ bằng số vòng quay
của bánh bơm. Biến mô đó làm việc ở chế độ ly hợp (stato được giải phóng) nhưng
hiệu suất còn nhỏ hơn 1 (từ 0,8 đến 0,9). Để hiệu suất truyền động của biến mô đạt
giá trị cao nhất, ở chế độ này người ta sử dụng một ly hợp để khóa cứng biến mô.
Tức là đường truyền mômen từ động cơ tới hộp số được thực hiện trực tiếp thông
qua ly hợp khóa biến mô như truyền qua một ly hợp ma sát bình thường và lúc đó
hiệu suất truyền bằng 1.
Kết cấu và nguyên lý của ly hợp khóa biến mô được thể hiện trên hình sau:
a. Ly hợp mở
b. Ly hợp khóa
Hình 2.11 Nguyên lý làm việc của ly hợp khóa biến mô men
15
Ly hợp khóa biến mô men được lắp trên moay ơ của rô to tua bin và nằm ở
phía trước của rô to tua bin. Trong ly hợp khóa biến mô men cũng bố trí lò xo giảm
chấn để khi ly hợp truyền mô men được êm dịu không gây va đập. Vật liệu ma sát ở
ly hợp này cũng giống như vật liệu ma sát sử dụng cho phanh và đĩa ly hợp. Khi ly
hợp khóa biến mô hoạt động, nó sẽ quay cùng với cánh bơm và rô to tua bin. Việc
đóng và mở của ly hợp khóa biến mô men được quyết định bởi sự thay đổi của
hướng dũng dầu thuỷ lực trong biến mô men.
- Trạng thái mở ly hợp: khi ô tô chạy ở tốc độ thấp hoặc mômen cản lớn, biến
mô men thuỷ lực làm việc ở chế độ biến mô men. Khi này nhờ cơ cấu điều khiển thuỷ
lực, dầu có áp suất chảy đến phía trước của ly hợp khóa biến mô, do áp suất ở phía
trước và phía sau của ly hợp bằng nhau nên ly hợp ở trạng thái mở.
- Trạng thái khoá ly hợp: khi ô tô chạy ở tốc độ cao, ứng với mô men cản nhỏ
khi này các van điều khiển thuỷ lực hoạt động hướng dòng dầu thuỷ lực có áp suất
chảy đến phần sau của ly hợp. Do vậy pit tông ép ly hợp vào vỏ biến mô, kết quả là
biến mô được khóa và vỏ trước của biến mô quay cùng với cánh bơm và rô to tua
bin.
Nhờ có ly hợp khóa cứng biến mô đặc tính của nó được thể hiện trên hình
sau:
Hình 2.12 Đặc tính của biến mô men có li hợp
khóa d. Một số thông số của biến mô men
Trong quá trình truyền lực của biến mô men, chúng ta quan tâm đến hai
thông số là độ trượt (s) và hiệu suất (η) của biến mô men.
Gọi M B , M T , M D lần lượt là mô men truyền của các bánh bơm, bánh tua bin
và stator; nT , nB là số vòng quay của bánh tua bin và bánh bơm.
16
M =MB ±MD
Ta có:
Trong phần lớn chế độ làm việc thì M
cùng chiều với M và:
> M . Khi đó chiều của M
B
D
T
B
M T =MB +MD
Giá trị M > M là đặc trưng của biến mô men.
T
B
M có giá trị lớn nhất khi khởi hành xe (n = 0) và nhỏ nhất khi
T
T
M = M (tại giá trị số vòng quay n ). Khi đó biến mô men làm việc
T
B
T0
như ly hợp thuỷ lực.
Hiệu suất của biến mô men được xác định theo công thức sau:
nT
M T ⋅
M B nB
Độ trượt s được tính bằng côngnthức:
s = 1 −
nB
2.2. Hộp số hành tinh
Hộp số hành tinh là một cụm bao gồm các bộ phận chính là: các bộ truyền
hành tinh, các phanh hãm, các ly hợp khóa và các khớp một chiều.
Hình 2.13 Cấu tạo hộp số
2.2.1. Bộ truyền hành tinh
Bộ truyền hành tinh trong hộp số tự động có các chức năng sau:
17
- Cung cấp một số tỉ số truyền để thay đổi mômen và tốc độ của bánh xe chủ động
phối hợp với sức cản chuyển động của đường và nhu cầu sử dụng tốc độ của ô tô.
- Đảo chiều quay của trục ra để thực hiện lùi xe;
- Tạo vị trí trung gian cho phép xe dừng lâu dài khi động cơ vẫn hoạt động.
Cấu tạo chung của bộ truyền hành tinh.
Bộ truyền hành tinh bao gồm một bánh răng mặt trời, Cần dẫn, các bánh răng
hành tinh và một bánh răng bao. Bánh răng mặt trời có vành răng ngoài và được đặt
trên một trục quay. Bánh răng bao có vành răng trong và cũng được đặt trên một trục
quay khác đồng trục với bánh răng mặt trời. Các bánh răng hành tinh nằm giữa và ăn
khớp với bánh răng mặt trời và bánh răng bao. Trục của các bánh răng hành tinh
được liên kết với một cần dẫn cũng có trục quay đồng trục với bánh răng bao và
bánh răng mặt trời.
Như vậy ba trục có cùng đường tâm quay ở dạng trục lồng và được gọi là
đường tâm trục của cơ cấu hành tinh. Các trục đều có thể quay tương đối với nhau.
Số lượng bánh răng hành tinh có thể là 2, 3, 4 tuỳ thuộc vào cấu trúc của chúng. Các
bánh răng hành tinh vừa quay xung quanh trục của nó vừa quay xung quanh trục của
cơ cấu hành tinh.
Dưới đây là sơ đồ cấu tạo của bộ truyền hành tinh trong hộp số tự động của
hãng TOYOTA:
Hình 2.14 Bộ truyền hành tinh
18
2.2.2. Nguyên lý hoạt động của bộ truyền hành tinh
Một cơ cấu hành tinh bao gồm ba loại bánh răng: một bánh răng mặt
trời, một Bánh răng bao và một số bánh răng hành tinh lắp trên một Cần dẫn.
Cơ cấu hành tinh là cơ cấu ba bậc tự do tương ứng với ba chuyển động
của các trục bánh răng mặt trời, bánh răng bao và cần dẫn. Vì vậy để có một
chuyển động từ đầu vào đến đầu ra thì một trong ba bậc tự do trên phải được
hạn chế.
Nguyên lý truyền động của cơ cấu hành tinh được thể hiện qua ba trường
hợp sau đây:
Giảm tốc
Ở chế độ này trạng thái và tên gọi của các phần tử trong cơ cấu hành
tinh được thể hiện như sau:
Bánh răng bao:
Bánh răng mặt trời:
Cần dẫn:
Phần tử chủ động
Cố định
Phần tử bị động
Khi bánh răng ngoại luõn quay theo chiều kim đồng hồ, các bánh răng
hành tinh sẽ quay xung quanh bánh răng mặt trời trong khi cũng quay quanh
trục của nó theo chiều kim đồng hồ. Điều đó làm cho tốc độ quay của giỏ hành
tinh giảm xuống tuỳ thuộc số răng của Bánh răng bao và bánh răng mặt trời.
Hình 2.15 Chế độ giảm tốc
Tăng tốc
Ở chế độ này trạng thái và tên gọi của các phần tử trong cơ cấu hành
tinh được thể hiện như sau:
19
Bánh răng hành tinh:
Bánh răng mặt trời:
Cần dẫn:
Phần tử bị động
Cố định
Phần tử chủ động
Khi cần dẫn quay theo chiều kim đồng hồ, các bánh răng hành tinh sẽ quay
xung quanh bánh răng mặt trời trong khi chúng cũng quay quanh trục của nó theo
chiều kim đồng hồ. Điều đó làm cho bánh răng bao tăng tốc tuỳ thuộc số răng của
bánh răng bao và bánh răng mặt trời.
Hình 2.16 Chế độ tăng tốc
Đảo chiều: Ở chế độ này trạng thái và tên gọi của các phần tử trong cơ cấu hành
tinh được thể hiện như sau:
Bánh răng bao:
Bánh răng mặt trời:
Cần dẫn:
Phần tử bị động
Phần tử chủ động
Cố định
Khi bánh răng mặt trời quay theo chiều kim đồng hồ, các bánh răng
hành tinh lúc này do cần dẫn bị cố định nên tự quanh quay trục của nó theo chiều
ngược chiều kim đồng hồ. Điều đó làm cho bánh răng bao cũng quay ngược chiều
kim đồng hồ. Lúc này bánh răng bao giảm tốc phụ thuộc vào số răng của bánh răng
bao và bánh răng mặt trời.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình nghề Công nghệ ô tô - Môđun: Hộp số tự động trên ô tô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_nghe_cong_nghe_o_to_modun_hop_so_tu_dong_tren_o_t.pdf

