Giáo trình Hải quan
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội
nhập và phát triển. Vì vậy, hoạt động thương mại quốc tế trong các doanh nghiệp
được đặc biệt quan tâm, nó góp phần không nhỏ giúp doanh nghiệp trong nước hội
nhập và khẳng định vị thế của mình trên thương trường quốc tế. Để làm được điều đó,
không thể không nhắc đến hoạt động hải quan, đây là một trong những hoạt động
then chốt trong hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp.
Học phần Hải quan nằm trong nội dung chương trình đào tạo về các ngành
kinh tế, kế toán. Đây là một môn cơ sở ngành, cung cấp cho Sinh viên những kiến
thức cơ bản về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra tính thuế và
thu thuế hải quan, thực hiện thông quan và kiểm tra sau thông quan,...
Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài liệu học tập và giảng dạy cho giảng viên, sinh
viên, chúng tôi biên soạn tập bài giảng: Hải quan.
Tập bài giảng có cấu trúc gồm 6chương:
Chương 1. Tổng quan về hải quan
Chương 2. Thủ tục hải quan, khai hải quan và đăng ký hồ sơ hải quan
Chương 3. Kiểm tra hải quan
Chương 4. Kiểm tra tính thuế và thu thuế hải quan
Chương 5. Thông quan hải quan
Chương 6. Giám sát hải quan
Mặc dù các tác giả đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu thực tế và các văn bản quy
hạm há luật về hải quan của Nhà nước nhưng không thể tránh khỏi những sai sót nhất
định trong tập bài giảng. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ đồng nghiệp và
sinh viên, để sửa chữa hoàn thiện cho lần tái bản sau.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HẢI QUAN
Mục tiêu của chương
+ Trình bày được Lịch sử phát triển của Hải quan thế giới và Hải quan Việt
Nam
+ Trình bày được chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Hải quan
1.1. Lịch sử phát triển của Hải quan thế giới và Hải quan Việt Nam
1.1.1. Lịch sử phát triển của Hải quan thế giới
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, từ khi các quốc gia trên thế giới xuất
hiện thì không một quốc gia nào có thể tồn tại hoàn toàn biệt lập, không hề có một
mối liên hệ nào với thế giới bên ngoài. Trong các mối quan hệ đó thì mối quan hệ kinh
tế, đặc biệt là thương mại quốc tế là quan hệ phổ biến và phát triển nhất. Để quản lý
hoạt động xuất nhập khẩu và những hoạt động có liên quan, các quốc gia tổ chức một
lực lượng canh gác biên cương của tổ quốc về kinh tế, ở nước ta, lực lượng đó được
gọi là Hải quan. Và trong điều kiện hội nhập, để điều hòa hoạt động hải quan các
nước, người ta đã thành lập hội đồng Hợp tác Hải quan (Customs Cooperation
Council – CCO) nay là tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization –
WCO).
Lịch sử hình thành và phát triển Hải quan gắn liền với sự xuất hiện của Nhà
nước, sự phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ và quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng
với sự ra đời của các khu vực mậu dịch trên thế giới và sự phát triển của ngoại thương,
Hải quan đã ra đời và ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển.
Sự ra đời của hoạt động hải quan trên thế giới có thể được nhìn nhận thông qua
một số mốc lịch sử đáng chú ý sau:
Tại thành Aten – khu vực mậu dịch đầu tiên trên thế giới – đã có thuế
IMFORLUM đánh vào các hoạt động buôn bán tại đây. Thời bấy giờ tất cả các hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa vào Aten, cũng như tàu thuyền xuất cảnh, neo đậu tại
cảng đều phải nộp thuế. Mức thuế đánh vào hàng hóa bằng 1/50 giá trị hàng.
Tại thành La Mã Cổ Đại cũng có thuế xuất nhập khẩu, được gọi là
PORTORIUM, do một người có quyền lực đứng thầu.
Tại Ý, ngay từ thời đầu Trung cổ, đã có thuế DOGANA và ngoài ra còn cấm
xuất khẩu lương thực, giữ độc quyền sản xuất và buôn muối; Về sau, khi có sự phát
triển các ngành tơ tằm, thuộc da, làm nến, làm gương thì Ý cấm nhập khẩu các mặt
hàng trên nhưng lại miễn thuế cho việc nhập khẩu nguyên vật liệu của các ngành này.
Ở Anh vào thế kỷ 11 đã thực hiện thu thuế COSTOMS đánh vào hàng hóa xuất
nhập khẩu.
Ở Trung Quốc đến đời nhà Đường thì bắt đầu thu thuế hàng xuất nhập khẩu, do
một cơ quan gọi là CHEPOSEN thực hiện để kiểm soát tàu thuyền xuất nhập cảnh.
Đến thế kỷ 17, nhà Thanh đặt ra danh từ Hải quan (hải quan ngoại thuế) thay cho cơ
quan CHEPOSEN. Lúc đầu thuế suất do Nhà vua đặt ra, cao hay thấp là phụ thuộc
vào Vua cần nhiều hay ít tiền, sau đó đến thời Khang Hy mới đặt ra biểu thuế cho
từng loại hàng hóa.
2
Cho đến nay, ở tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị,
nước nào cũng có một đường lối kinh tế đối ngoại, một chính sách thuế quan, cũng
quy định thể lệ, thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và đặt ra cơ quan phụ trách
việc thi hành các thủ tục, thể lệ này đồng thời thực hiện thu thuế xuất nhập khẩu. Thủ
tục này được gọi chung là thủ tục hải quan. Còn cơ quan phụ trách thi hành thủ tục hải
quan thì được gọi với những tên gọi khác nhau tùy tứng quốc gia: Trung Quốc gọi là
Quan, Anh gọi là Customs, Pháp gọi là Donanes, Cu ba là Duana, Việt Nam gọi là Hải
quan,... Nhưng nội dung hoạt động của các tổ chức này là giống nhau.
Công ước Kyoto cho rằng, Hải quan là cơ quan của Chính phủ, chịu trách
nhiệm thi hành Luật hải quan, thu thuế hải quan và thu thuế khác. Đồng thời cũng
chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác có liên quan đến việc xuất nhập khẩu, vận
chuyển hay lưu kho hàng hóa.
Theo luật Hải quan Việt Nam năm 2014, Hải quan là cơ quan do Nhà nước
thiết lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu,
xuất nhập cảnh, quá cảnh và đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép
hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
1.1.2. Lịch sử phát triển của Hải quan Việt Nam
Năm 1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Hồ Chủ Tich đã đọc bản Tuyên
ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Tuy nhiên, sau đó Việt
Nam vẫn phải tiếp tục trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt và 27 năm thử thách trong
thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh.
Với cái tên đầu tiên là “Sở Thuế quan và thuế gián thu” được thành lập với
mục đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân
sách, Hải quan Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng, hoàn thiện và nâng cao cơ
sở pháp lý - quản lý Nhà nước để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn của nước Việt
Nam. Từ chỗ Hải quan Việt Nam còn phải tạm thời sử dụng những quy định nghiệp
vụ về thuế quan của chính quyền thực dân đến nay đã xây dựng và ban hành được
“Điều lệ Hải quan”, Pháp lệnh Hải quan và tiếp đó là Luật Hải quan Việt Nam có hiệu
lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002.
Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển xuất nhập khẩu, thu hút
đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản lý, nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác Hải quan Việt Nam đã luôn luôn thực hiện theo
khẩu hiệu mà mình đã đặt ra: công bằng, minh bạch, hiệu quả
Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy
quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 27
- SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" khai sinh Hải quan Việt Nam.
Quá trình trưởng thành và phát triển theo các giai đoạn như sau:
GIAI ĐOẠN 1945-1954:
Đây là giai đoạn thành lập, Hải quan Việt Nam vừa thực hiện nhiệm vụ của
Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa vừa mới khai sinh, tham gia cuộc kháng chiến
chống Pháp. Ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được ủy quyền
của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 27 - SL
thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" khai sinh ngành Hải quan Việt Nam. Với
3
nhiệm vụ thu các quan thuế nhập cảnh và xuất cảnh, thu thuế gián thu. Sau đó, Ngành
được giao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và có quyền định đoạt, hòa giải
đối với các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu.
Hệ thống tổ chức:
- Trung ương: Sở thuế quan và thuế gián thu (sau đổi thành Nha thuế quan và
thuế gián thu) thuộc Bộ tài chính.
- Địa phương: Bắc, Trung, Nam bộ, mỗi miền đều có:
+ Tổng thu Sở thuế quan.
+ Khu vực thuế quan.
+ Chính thu Sở thuế quan.
+ Phụ thu Sở thuế quan.
Giai đoạn này cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược; Hải quan Việt Nam phối hợp cùng các lực lượng thực hiện chủ trương bao vây
kinh tế và đấu tranh kinh tế với địch. Nhiệm vụ chính trị của Hải quan Việt nam thời
kỳ này là bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ của Cách mạng, tạo nguồn thu cho
Ngân sách quốc gia, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, đấu tranh chống buôn lậu
giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm.
GIAI ĐOẠN 1954-1975:
Đây là giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chống Mỹ xâm lược,
giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; Chính phủ giao cho Bộ Công thương quản
lý hoạt động ngoại thương và thành lập Sở Hải quan (thay ngành thuế xuất, nhập
khẩu) thuộc Bộ Công thương.
Hệ thống tổ chức:
- Trung ương: Sở Hải quan.
- Địa phương: Sở Hải quan liên khu, thành phố, Chi sở Hải quan tỉnh, Phòng
Hải quan cửa khẩu.
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới của Ngành Hải quan, ngày 27/2/1960 Chính phủ
đã đã có Nghị định 03/CP (do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ) ban hành Điều lệ Hải
quan đánh dấu bước phát triển mới của Hải quan Việt nam.
Ngày 17/6/1962 Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 490/TNgT/QĐ - TCCB
đổi tên Sở Hải quan trung ương thành Cục Hải quan thuộc Bộ ngoại thương.
Giai đoạn này Hải quan Việt nam được xác định là công cụ bảo đảm thực hiện
đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, ngoại hối, thi hành chính sách
thuế quan (thu thuế hàng hóa phi mậu dịch) tiếp nhận hàng hóa viện trợ và chống
buôn lậu qua biên giới.
Năm 1973 Hiệp định Pari được ký kết chấm dứt chiến tranh phá hoại của Mỹ ở
miền Bắc. Hải quan Việt Nam huấn luyện, chuẩn bị các điều kiện triển khai công tác
khi miền Nam được giải phóng. Thời kỳ này toàn ngành Hải quan được tặng thưởng 2
Huân chương Lao động Hạng hai và Hạng Ba, 11 đơn vị và cá nhân được tặng thưởng
Huân chương Lao động và Huân chương chiến công các hạng.
GIAI ĐOẠN 1975-1986:
4
Hải quan thống nhất lực lượng và triển khai hoạt động trên phạm vi cả nước.
Sau khi thống nhất đất nước Hải quan triển khai hoạt động trên địa bàn cả nước từ
tuyến biên giới phía Bắc đến tuyến biên giới phía Tây Nam, các cảng biển, Sân bay
quốc tế, Bưu cục ngoại dịch, Trạm chở hàng. Do yêu cầu quản lý tập trung thống nhất,
Chính phủ đã có Quyết định số 80/CT ngày 5/3/1979 quyết định chuyển tổ chức Hải
quan địa phương thuộc UBND tỉnh, thành phố về thuộc Cục Hải quan Bộ Ngoại
thương.
Thời kỳ này tính chất các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới có biểu hiện phức tạp và phổ biến. Ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nước
phê chuẩn Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN7 thành lập Tổng cục Hải quan trực thuộc
Hội đồng Bộ trưởng; và ngay sau đó Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết số
139/HĐBT ngày 20/10/1984 ban hành Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ
chức bộ máy của Tổng cục Hải quan. Hải quan Việt Nam được xác định là "Công cụ
chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước có chức năng kiểm tra và quản lý
hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các công cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước
CHXHCN Việt Nam, thi hành chính sách thuế xuất nhập khẩu, ngăn ngừa chống các
hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, nhằm bảo
đảm thực hiện đúng đắn chính sách của nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại
hối góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục
vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước".
Hệ thống tổ chức:
- Tổng cục Hải quan.
- Hải quan tỉnh, thành phố.
- Hải quan Cửa khẩu và Đội kiểm soát Hải quan.
GIAI ĐOẠN 1986 đến nay:
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới đất nước,
chủ trương mở cửa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Yêu cầu đối với Hải quan Việt Nam lúc này là thực hiện quản lý Nhà nước về
Hải quan trước tình hình: Hoạt động giao lưu hợp tác với nước ngoài phát triển mạnh
mẽ chưa từng thấy, kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết tật, hạn chế, khối lượng
hàng hóa XNK khá lớn tạo nguồn thu thuế XNK hàng năm chiếm tỷ lệ từ 20 - 25%
GDP, tình trạng buôn lậu gia tăng, nhập lậu tài liệu phản động, ấn phẩm đồi truỵ, chất
nổ, ma tuý khá nhiều.
Ngày 24/2/1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Pháp lệnh Hải
quan. Pháp lệnh gồm 51 điều, chia làm 8 chương, có hiệu lực thi hành từ ngày
1/5/1990.
Pháp lệnh Hải quan xác định chức năng của Hải quan Việt nam là "Quản lý
Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh
Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối
hoặc tiền Việt nam qua biên giới". Bộ máy tổ chức của Hải quan Việt nam được xác
định rõ tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội
đồng Bộ Trưởng".
5
Hệ thống tổ chức:
- Tổng cục Hải quan;
- Cục Hải quan liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.
- Hải quan Cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan.
Cơ sở vật chất của Hải quan Việt Nam được nâng cấp một bước: đã trang bị
máy soi nghiệp vụ, máy và chó nghiệp vụ phát hiện ma tuý, tàu cao tốc chống buôn
lậu trên biển.
Công tác đào tạo bồi dưỡng công chức được lưu ý hơn: Trường Nghiệp vụ Hải
quan thành lập năm 1986, Trường Nghiệp vụ Hải quan 1 ( Hà Nội) thành lập năm
1988; sau hợp nhất 2 trưởng thành Trường Hải quan Việt Nam và năm 1996 Thủ
tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Trường Cao đẳng Hải quan. Từ năm 1986
đến năm 1999 đã bồi dưỡng nghiệp vụ cho 4.626 cán bộ, gửi đào tạo đại học tại chức
1.750 cán bộ.
Hải quan Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Hải quan thế giới (WCO) từ ngày 01/7/1993 và từ đó đã mở rộng quan hệ với tổ chức
Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN. Ghi nhận bước trưởng thành của Hải
quan Việt Nam, Hội đồng Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì
cho Ngành, Huân chương các hạng cho một số Hải quan cấp tỉnh Hải quan Việt nam
nhân dịp 45 năm kỷ niệm ngày thành lập ngành Hải quan.
Từ 1990 đến 2000 toàn ngành Hải quan tích cực triển khai thực hiện cải cách
thủ tục hành chính, tập trung đột phá vào khâu cải cách thủ tục hải quan tại cửa khẩu,
thực hiện tốt các nội dung: Sắp xếp lại và thành lập thêm các địa điểm thông quan,
công khai hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thủ tục hải quan, phân
luồng hàng hóa "Xanh, Vàng, Đỏ", thiết lập đường dây điện thoại nóng, sửa đổi, bổ
sung và ban hành nhiều văn bản, quy chế, quy trình thủ tục hải quan nhằm thực hiện
các nội dung của đề án cải cách.
Trong 2 năm 1999 – 2000, Hải quan Việt Nam đã ký kết và thực hiện 2 Dự án
với nước ngoài: Dự án VIE - 97/059 do UNDP tài trợ về "tăng cường năng lực cho
Hải quan Việt Nam thực hiện công tác quản lý XNK và hội nhập quốc tế" và Dự án
nghiên cứu khả thi do cơ quan Phát triển và Thương mại Hoa Kỳ (TDA) và Công ty
UNISYS tài trợ về công nghệ thông tin tiến tới áp dụng công nghệ trao đổi dữ liệu
điện tử EDI.
Từ năm 1993 đến 2001 toàn ngành tập trung xây dựng và hoàn thiện Dự thảo
Luật Hải quan, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đến tháng 5/2001 Dự thảo Luật Hải
quan lần thứ 18 đã được hoàn chỉnh và trình kỳ họp thứ 9 Quốc Hội khóa 10 để thông
qua thay thế cho Pháp lệnh Hải quan 1990. Ngày 29-06-2001, thay mặt Quốc hội nước
CNXHCN Việt nam, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký quyết định số
29/2001/QH10 ban hành Luật Hải quan. Luật Hải quan được công bố chính thức theo
Lệnh số 10/2001/L-CTN do Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký ngày 12-7-2001 và có
hiệu lực từ 01-01-2002. Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng thưởng Huân chương
Hồ Chí Minh cho ngành Hải quan nhân dịp 50 năm ngày thành lập Hải quan Việt nam
( 10/9/1945 - 10/9/1995).
6
Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg
ngày 4 tháng 9 năm 2002 chuyển Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính.
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã ký quyết
định số 42/2005/QH11 ban hành "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải
quan". Luật này có hiệu lực từ ngày 01-01-2006.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Hải quan
1.2.1. Chức năng của Hải quan
Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt
động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới.
Trong hoạt động của mình, Hải quan Việt Nam tuân theo pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã ký kết, công nhận.
Chức năng quản lý Nhà nước về hải quan được quy định trong Luật hải quan
Việt Nam bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển Hải quan Việt
Nam
- Ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về Hải quan.
- Hướng dẫn thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan.
- Quy định về tổ chức hoạt động của hải quan.
- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức hải quan.
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào phương pháp quản lý
hải quan hiện đại.
- Thống kê nhà nước về hải quan.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
hải quan.
- Hợp tác quốc tế về hải quan.
1.2.2. Nhiệm vụ của hải quan
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương
tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ
chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối
với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.3. Hoạt động cơ bản của hải quan
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Hải quan ở hầu hết các quốc gia
phải tổ chức triển khai các hoạt động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng nước,
từng giai đoạn. Những hoạt động cơ bản của hải quan là tác nghiệp trực tiếp và các
hoạt động gián tiếp nhằm giúp cho các đối tượng chịu sự quản lý của hải quan thực thi
đúng và đầy đủ pháp luật về hải quan.
Trong thực tế ở Việt Nam, hoạt động ngành hải quan rất phong phú và đa dạng,
nhưng những hoạt động chủ yếu là:
- Thực hiện thủ tục hải quan
7
- Kiểm tra hải quan
- Giám sát hải quan
- Tổ chức thực hiện thu thuế hải quan
- Thông quan hải quan
- Kiểm tra sau thông quan hải quan
1.2.4. Vai trò của hải quan
Cùng với sự phát triển của nhân loại, lực lượng hải quan cũng ngày càng
trưởng thành, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp ổn định và phát triển kinh tế, đặc
biệt là kinh tế đối ngoại trong điều kiện hội nhập. Kinh tế đối ngoại càng phát triển
bao nhiêu thì vai trò trách nhiệm của lực lượng hải quan càng to lớn, nặng nề bấy
nhiêu. Một mặt, hải quan phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế và
các mối quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế phát triển; Mặt khác, lực lượng hải quan
phải kiên quyết ngăn chặn hiện tượng buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần phát
triển kinh tế, văn hóa, bảo vệ lợi ích và chủ quyền kinh tế cũng như an ninh quốc gia.
Là người gác cửa nền kinh tế đất nước, là lực lượng biên phòng trên mặt trận
kinh tế, vai trò của hải quan không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng
trong lĩnh vực có liên quan. Với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, lực lượng hải quan
cũng là một trong những công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh
quốc gia, bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ lợi ích người tiêu
dùng và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước. Nhiệm vụ chính trị của ngành hải
quan vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính an ninh quốc gia, chúng có mối quan
hệ mật thiết, gắn bó và đan xen nhau. Tùy theo đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội của
mỗi nước, mỗi khu vực, trong từng giai đoạn phát triển mà chức năng nhiệm vụ của
hải quan có thể có những điểm khác nhau nhưng hầu hết các nước đều giống nhau về
những nhiệm vụ cơ bản.
Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của kinh tế nhà nước, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng được nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc,
phù hợp với quy luật vận động và phát triển của nền kinh tế. Hải quan Việt Nam, từ
chỗ là công cụ của nhà nước nhằm thực hiện chính sách nhà nước độc quyền ngoại
thương , đến chỗ đảm bảo thực hiện chính sách nhà nước về phát triển quan hệ kinh
tế, văn hóa với nước ngoài, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động
xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực.
Ngoài ra, hải quan còn thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương
mại, nhiệm vụ tổ chức và thu thuế xuất nhập khẩu là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của hải quan nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế và an ninh quốc
gia. Hải quan không chỉ hoạt động ở cửa khẩu biên giới mà hoạt động dọc biên giới,
cả trong nội địa, ở tất cả các nơi có nhu cầu làm thủ tục kiểm tra, giám sát, kiểm soát
hàng hóa xuất nhập khẩu, không chỉ phối hợp với lực lượng trong nước mà còn phải
hợp tác chặt chẽ với các tổ chức hải quan quốc tế và khu vực.
Là tấm màng ngăn đặc biệt, lực lượng hải quan có vai trò rất to lớn trong điều
kiện hội nhập. Hải quan, một mặt tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho thương
mại, giao lưu quốc tế phát triển, kịp thời đón nhận những cơ hội giúp đất nước phát
triển hùng cường; mặt khác, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực giúp nền kinh tế
phát triển lành mạnh, hiệu quả.
8
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1. Trình bày quá trình ra đời và phát triển của Hải quan thế giới và Hải quan
Việt Nam?
2. Cho biết chức năng và nhiệm vụ của cơ bản của Hải quan Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay? Liên hệ với thực tế tại địa phương em?
3. Trình bày mô hình tổ chức của Hải quan Việt Nam hiện nay? Tìm hiểu mô
hình tổ chức của cơ quan Hải quan Lào Cai hiện nay?
4. Liệt kê các hoạt động cơ bản của Hải quan. Hoạt động nào là quan trọng nhất
đối với doanh nghiệp, tại sao?
9
CHƯƠNG 2. THỦ TỤC HẢI QUAN, KHAI HẢI QUAN
VÀ ĐĂNG KÝ HỒ SƠ HẢI QUAN
Mục tiêu của chương
+ Liệt kê được các nội dung và tính chất của thủ tục hải quan, nguyên tắc làm
thủ tục hải quan
+ Trình bày được khái niệm khai hải quan, phân biệt được các hình thức khai
hải quan
+ Thực hành khai hải quan cơ bản
+ Liệt kê và nhận biết được các chứng từ trong hồ sơ hải quan
+ Trình bày được trình tự thực hiện đăng ký hồ sơ hải quan
2.1. Thủ tục hải quan
2.1.1. Khái niệm, nội dung thủ tục hải quan
Theo công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan (Công ước
Kyoto sửa đổi) Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên liên quan
và Hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo tuân thủ Luật Hải quan.
Theo Luật Hải quan Việt Nam, Thủ tục hải quan là các công việc mà người
khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối
với hàng hóa, phương tiện vận tải.
Căn cứ vào đối tượng làm thủ tục hải quan, thủ tục hải quan gồm:
- Thủ tục hải quan đối với hàng hóa
- Thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải
Căn cứ vào phương thức thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục hải quan được chia
thành:
- Thủ tục hải quan truyền thống (thủ tục hải quan thủ công)
- Thủ tục hải quan hiện đại (thủ tục hải quan điện tử) là thủ tục hải quan được
thực hiện bằng các thông điệp dữ liệu điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử
của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật
Thủ tục hải quan là thủ tục hành chính, được thực hiện bởi người khai hải quan
và công chức hải quan. Cụ thể đối với người khai hải quan phải thực hiện các công
việc sau:
- Khai và nộp tờ khai hải quan, nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.
- Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm
tra thưc tế hàng hóa, phương tiện vận tải;
- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp
luật;
- Thực hiện thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải.
Đối với công chức hải quan, phải thực hiện các công việc sau:
- Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan. Trong trường hợp thực hiện thủ tục hải
quan điện tử, việc tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan được thực hiện
thông qua hệ thống sử lý dữ liệu điện tử của hải quan;
- Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải;
10
- Thu thuế và khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
- Quyết định việc thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải.
2.1.2. Các tính chất cơ bản của thủ tục hải quan
Tính hành chính bắt buộc
Thủ tục hải quan là thủ tục hành chính vì thực hiện thủ tục hải quan chính là
thực hiện quyền hành pháp trong lĩnh vực hải quan và do cơ quan quản lý hành chính
nhà nước thực hiện, mà cụ thể là cơ quan hải quan. Xét về mặt nguyên tắc, tất cả các
hàng hóa, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
đều phải làm thủ tuc hải quan; Nếu không làm thủ tuc hải quan hoặc làm thủ tục hải
quan không đúng, không đầy đủ theo quy định của pháp luật đều không được chấp
nhận thông quan, và như vậy, hành vi xuất nhập khẩu hàng hóa không thể thực hiện
được. Tất cả các nội dung công việc của thủ tục hải quan đều được quy định cụ thể
trong Luật hải quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Hải quan. Người khai
hải quan và công chức hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác của
Nhà nước để thực hiện các nội dung công việc đó.
Tính trình tự và liên tục
Nói đến thủ tục là phải nói đến trình tự của nó, tức là nói đến việc nào, bước
nào thực hiện trước, việc nào, bước nào thực hiện sau. Kết quả của bước trước là tiền
đề, là căn cứ, là cơ sở để thực hiện bước tiếp theo. Bước sau phải là kết quả của bước
trước và phải được thực hiện trên cơ sở kết quả của bước trước. Bước sau phải kiểm
tra lại kết quả của bước trước và là sự kế tiếp của bước trước để hạn chế những sai sót
trong dây chuyền làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan phải được thực hiện liên tục,
không đươc ngắt quãng để đảm bảo thông quan nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất nhập khẩu.
Tính thống nhất
Tính thống nhất thể hiện ở chỗ thủ tục hải quan phải thống nhất từ hệ thống văn bản,
phải thống nhất từ quy định bộ hồ sơ phải nộp, phải xuất trình, phải thống nhất trong
cách xử lý, thống nhất trong các chi cục, các Cục, trong toàn quốc, thống nhất về các
nghiệp vụ trong suốt dây chuyền làm thủ tục hải quan; Thống nhất ở tất cả các địa
điểm làm thủ tục hải quan, trong phạm vi cả nước. Không cho phép thủ tục hải quan ở
địa điểm này khác thủ tục hải quan làm ở địa điểm khác.
Tính công khai, minh bạch và quốc tế hóa
Để đảm bảo tính thống nhất của thủ tục hải quan, tất yếu thủ tục hải quan phải được
công khai hóa và minh bạch hóa, bởi đây là thủ tục hành chính bắt buộc. Tính chất
này được thể hiện ở chỗ thủ tục hải quan được quy định cụ thể trong các văn bản pháp
luật và được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng cụ thể phải được đăng
tải tại Công báo của Chính phủ, được niêm yết tại các địa điểm làm thủ tục hải quan.
Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải
quan phải thực hiện đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập
cảnh, quá cảnh. Do vậy, việc thực hiện thủ tục hải quan ảnh hưởng rất lớn đến giao
lưu thương mại quốc tế. Theo đó, muốn phát triển kinh tế, muốn hội nhập quốc tế phải
hài hòa hóa thủ tục hải quan và phải mang tính quốc tế hóa.
2.1.3. Cơ sở pháp lý của thủ tục hải quan
Việc thực hiện thủ tục hải quan được dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định.
Cơ sở pháp lý đó gồm cơ sở pháp lý quốc gia và cơ sở pháp lý quốc tế.
11
Cơ sở pháp lý quốc gia hay còn gọi là Luật pháp quốc gia là những văn bản
quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự
thủ tục do luật định. Bao gồm:
Các văn bản pháp luật về Hải quan như:
Cơ sở pháp lý quốc tế là các văn bản do các quốc gia thỏa thuận xây dựng và
thường gọi là các điều ước quốc tế, gồm các điều ước quốc tế về hải quan và các điều
ước quốc tế liên quan đến hải quan, như:
Công ước về thành lập Hội đồng hợp tác hải quan (Customs Cooperation
Council – CCO); Công ước Kyoto 1973 và công ước Kyoto sửa đổi năm 1999 về đơn
giản hóa, hài hòa hóa thủ tục hải quan; Hiệp định về Hải quan Asean 1997; Công ước
HS về phân loại hàng hóa 1988; Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định ưu đãi thuế
quan và thương mại (Hiệp định GATT); Hiệp định thỏa thuận về thực thi quyền sở
hữu trí tuệ tại biên giới (Hiệp định TRIPS).
Các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà Việt Nam đã gia
nhập và công nhận: Công ước Luật biển 1982; Công ước Chi – ca – gô năm 1944 về
hàng không quốc tế; Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự; Công ước Viên
năm 1960 về Luật Điều ước quốc tế; Công ước về các quyền ưu đãi và miễn trừ của
Liên hợp quốc 1946,…
Trong hệ thống các Điều ước quốc tế về hải quan thì Công ước Kyoto có tên
gọi đầy đủ là Công ước quốc tế về hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan là công
ước “xương sống” về thủ tục hải quan. Công ước được soạn thảo, thông qua tại Kyoto
ngày 18/5/1973, có hiệu lực từ 25/9/1974 dưới sự bảo trợ của hợp đồng hợp tác Hải
quan. Công ước đã được sửa đổi, bổ sung tại Brussells (Bỉ) vào ngày 26/6/1999.
2.1.4. Quy trình thủ tục hải quan
2.1.4.1. Khái niệm, nội dung, quy trình thủ tục hải quan
Theo từ điển tiếng Việt, “quy trình” là một danh từ diễn tả chương trình đã
được quy định, nếu làm trái quy trình là phạm kỷ luật.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, quy trình là tập hợp các hoạt động có
liên quan đến nhau hoặc tương tác để chuyển hóa đầu vào thành đầu ra.
Việc xây dựng các quy trình trong quản lý đối với các tổ chức là hết sức cần
thiết, bởi vì cách tiếp cận “theo quy trình” giúp tổ chức đạt được các lợi ích nhất định.
Đối với các tổ chức khác nhau có các đặc thù khác nhau, để hoạt động trong tổ chức
đạt được hiệu quả, tổ chức đó cần ban hành các quy trình quản lý phù hợp với đặc
điểm và mục đích hoạt động của mình. Hải quan là tổ chức công quyền của nhà nước
có chức năng quản lý nhà nước về hải quan. Vì vậy, tất yếu hải quan phải xây dựng,
ban hành các quy trình để thực hiện việc quản lý đó. Cụ thể, Hải quan Việt Nam đã
ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương
mại, quy trình thủ tục hải quan điện tử, quy trình quản lý nghiệp vụ hải quan đối với
hàng hóa gia công với thương nhân nước ngoài, quy trình quản lý đối với nguyên liệu,
vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, quy trình kiểm tra sau thông quan,…
Quy trình thủ tục hải quan là trình tự các bước công việc mà công chức hải
quan phải thực hiện để thông quan hải quan theo quy định của pháp luật hải quan.
Hay nói cách khác, quy trình thủ tục hải quan là trình tự các thao tác nghiệp vụ
mà công chức hải quan phải thực hiện để thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải
theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nội dung của quy trình thủ tục hải quan bao gồm:
12
- Xác định trình tự các bước công việc mà công chức hải quan phải thực hiện
khi tiến hành thủ tục thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải.
- Xác định trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ, công chức hải quan ở từng
bước, từng khâu khi thực hiện thông quan hàng hóa và phương tiện vận tải.
- Hướng dẫn các thao tác nghiệp vụ cho công chức hải quan ở từng bước, từng
khâu cụ thể trong việc thông quan hàng hóa và phương tiện vận tải.
Thông thường một quy trình thủ tục hải quan gồm các bước sau:
1. Tiếp nhận, đăng ký hồ sơ hải quan
2. Kiểm tra hồ sơ hải quan
3. Kiểm tra thực tế hàng hóa
4. Thu thuế, lệ phí hải quan
5. Quyết định thông quan
6. Phúc tập hồ sơ hải quan
2.1.4.2. Yêu cầu, ý nghĩa, vai trò của quy trình thủ tục hải quan
Quy trình thủ tục hải quan là trình tự các thao tác nghiệp vụ mà công chức hải
quan phải thực hiện để thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải theo quy định của
pháp luật. Vì vậy, việc thiết kế một quy trình thủ tục hải quan phải đảm bảo đáp ứng
các yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo tính đơn giản và dễ thực hiện
- Đảm bảo tính minh bạch, công khai, khách quan, trung thực và chính xác
- Phù hợp với phương thức quản lý rủi ro mà hải quan đang áp dụng
- Đáp ứng được yêu cầu của hiện đại hóa hải quan
- Đảm bảo thuận lợi cho việc thực hiện các nghiệp vụ hải quan có liên quan
như nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, nghiệp vụ điều tra chống buôn lậu, nghiệp vụ
giám sát hải quan,…
- Phải phù hợp với quy định của pháp luật hải quan và phù hợp với thông lệ
quốc tế.
Ý nghĩa và vai trò cơ bản của thủ tục hải quan là:
- Quy trình thủ tục hải quan đảm bảo tính thống nhất về thủ tục hải quan trong
toàn ngành.
- Quy trình thủ tục hải quan là công cụ hữu ích để thực hiện quản lý nhà nước
về hải quan có hiệu quả.
- Quy trình thủ tục hải quan là cơ sở ràng buộc trách nhiệm pháp lý của chủ thể
thực hiện quy trình.
- Quy trình thủ tục hải quan giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của hải quan và cộng đồng doanh nghiệp.
- Quy trình thủ tục hải quan là khung pháp lý chuẩn về hành vi ứng xử của
công chức hải quan khi thực hiện các nghiệp vụ hải quan để thông quan hàng hóa,
phương tiện vận tải.
2.2. Khai hải quan
2.2.1. Khái niệm và hình thức khai hải quan
Khai hải quan là việc người khai hải quan cung cấp cho cơ quan hải quan các
thông tin, dữ liệu về đối tượng làm thủ tục hải quan bằng các hình thức đã được pháp
luật quy định.
13
Khai hải quan là hành vi pháp lý đầu tiên do người khai hải quan thực hiện để
thực hiện thông quan hàng hóa, đồng thời là cơ sở pháp lý ban đầu để công chức hải
quan thực hiện quá trình kiểm tra, giám sát hải quan.
Khi thực hiện khai hải quan, người khai hải quan phải:
- Khai đúng nội dung ấn chỉ hải quan hoăc chứng từ có sẵn, hợp lệ;
- Đảm bảo đầy đủ chủng loại chứng từ khai báo hải quan với nội dung chứng từ
đó đúng với thực tế đối tượng được khai báo hải quan.
- Thực hiện khai hải quan đúng với thời gian và địa điểm quy định
- Tờ khai hải quan hoặc hồ sơ hải quan phải do chính đối tượng hoặc người đại
diện hợp pháp chịu trách nhiệm về khai hải quan và cả thủ tục hải quan tiếp theo với
đối tượng khai báo đó
Khai hải quan được thực hiện chủ yếu theo 3 hình thức sau:
Khai miệng là hình thức khai không được ghi nhận bằng chứng từ, không được
xác lập và lưu trữ thành hồ sơ. Hình thức khai này chủ yếu áp dụng với đối tượng là
hành lý xách tay của hành khách xuất nhập cảnh, ngoại trừ hành lý được hưởng chế độ
ưu đãi hải quan.
Khai viết là hình thức khai bằng chữ viết trên các tài liệu do cơ quan hải quan
quy định, có 2 hình thức khai viết:
- Khai bằng tờ khai hải quan: Là việc người khai hải quan kê khai những thông
tin về đối tượng làm thủ tục hải quan trên tờ khai hải quan theo mẫu do cơ quan hải
quan phát hành. Áp dụng chủ yếu cho loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Khai bằng chứng từ có sẵn: Là việc người khai hải quan kê khai những thông
tin về đối tượng làm thủ tục hải quan bằng những chứng từ có sẵn. Áp dụng chủ yếu
cho phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Khai điện tử là hình thức khai hải quan bằng việc sử dụng công nghệ thông tin,
bao gồm các hình thức sau:
- Khai trên hệ thống mạng máy tính của cơ quan hải quan
- Khai trên mạng máy tính của doanh nghiệp có kết nối với mạng máy tính của
cơ quan hải quan
- Đơn vị gửi file có chứa thông tin khai báo về đối tượng cho cơ quan hải quan.
2.2.2. Thời hạn, địa điểm khai và nộp tờ khai hải quan
Thời hạn khai và nộp tờ khai hải quan Là khoảng thời gian quy định mà người
khai hải quan phải hoàn thành công việc khai và nộp tờ khai hải quan cho cơ quan hải
quan.
Luật hải quan Việt Nam quy định thời hạn nộp tờ khai hải quan như sau:
a) Đối với hàng hóa xuất khẩu, việc nộp tờ khai hải quan được thực hiện sau
khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm do người khai hải quan thông báo và chậm nhất
04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng
dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất
cảnh;
b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, việc nộp tờ khai hải quan được thực hiện trước
ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa
khẩu.
Trường hợp phương tiện vận tải nhập cảnh khai hải quan điện tử, ngày hàng
hóa đến cửa khẩu là ngày phương tiện vận tải đến cửa khẩu theo thông báo của hãng
vận tải trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
14
Trường hợp phương tiện vận tải làm thủ tục hải quan nhập cảnh theo phương
thức thủ công, ngày hàng hóa đến cửa khẩu là ngày cơ quan hải quan đóng dấu lên
bản khai hàng hóa nhập khẩu tại cảng dỡ hàng trong hồ sơ phương tiện vận tải nhập
cảnh (đường biển, đường hàng không, đường sắt) hoặc ngày ghi trên tờ khai phương
tiện vận tải qua cửa khẩu hoặc sổ theo dõi phương tiện vận tải (đường sông, đường
bộ)”.
Công chức hải quan tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan ngay sau khi
người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan thì phải thông báo lý do cho người
khai hải quan biết. Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký hồ sơ hải quan thì phải
thông báo lý do cho người khai hải quan biết.
Địa điểm khai hải quan
Địa điểm khai hải quan được hiểu là nơi người khai hải quan nộp tờ khai cho
cơ quan hải quan và ở đó, cơ quan hải quan tiếp nhận và đăng ký tờ khai hải quan.
Với cách tiếp cận đó, địa điểm khai hải quan chính là địa điểm làm thủ tục hải
quan, cụ thể là trụ sở Hải quan cửa khẩu và trụ sở hải quan ngoài cửa khẩu.
Trong đó, trụ sở Hải quan cửa khẩu bao gồm: Cảng biển quốc tế, cảng sông
quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện
quốc tế, cửa khẩu biên giới đường bộ.
Trụ sở chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu bao gồm: Địa điểm làm thủ tục hải
quan cảng nội địa, địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu.
Trong trường hợp cần thiết, việc kiểm tra thực tế hàng hóa xuất nhập khẩu có
thể được thực hiện tại địa điểm khác do Tổng cục hải quan quy định.
2.2.3. Nguyên tắc khai hải quan
Môt tờ khai hải quan được khai tối đa 50 dòng hàng. Trường hợp một lô hàng
̣
có trên 50 dòng hàng, người khai hải quan phải khai báo trên nhiều tờ khai;
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo các loại hình khác nhau phải khai trên tờ
khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khác nhau theo từng loại hình tương ứng;
Một tờ khai hải quan chỉ khai báo cho một hóa đơn;
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế,
giảm thuế so với quy định thì khi khai hải quan phải khai số danh mục miễn thuế; mã
miễn, giảm thuế, không chịu thuế và số tiền thuế được giảm;
Người khai hải quan khai tờ khai trị giá và nộp cho cơ quan Hải quan theo quy
định tại Quyết định số 30/2008/QĐ-BTC ngày 21 tháng 5 năm 2008 và Thông tư
182/2012/TT-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2012. Riêng trường hợp người khai hải
quan xác định hàng hóa đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, đồng thời
đã khai thông tin trị giá trên Tờ khai hàng hóa nhập khẩu và Hệ thống tự động tính trị
giá tính thuế thì người khai hải quan không phải khai và nộp tờ khai trị giá.
2.2.4. Hướng dẫn khai hải quan
2.2.4.1. Hướng dẫn khai hải quan trên giấy (khai viết)
Khai hải quan trên giấy là việc người khai hải quan điền thông tin hải quan
bằng tay vào tờ khai có sẵn, sau đó đem bộ tờ khai cùng một số chứng từ như :
15
contract, packing list, invoice, C/O, B/L,…) lên cơ quan hải quan để làm thủ tục thông
quan hàng hóa.
a. Các biểu mẫu được sử dụng
* Mẫu tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:
- Tờ khai hàng hóa xuất khẩu(mẫu HQ/2015/XK);
- Tờ khai hàng hóa nhập khẩu(mẫu HQ/2015/NK);
* Mẫu Phụ lục tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:
- Phụ lục tờ khai hàng hoá xuất khẩu (mẫu HQ/2015-PLXK);
- Phụ lục tờ khai hàng hoá nhập khẩu (mẫu HQ/2015-PLNK);
Các mẫu biểu nêu trên được in mực đen, trên giấy trắng khổ A4; người sử dụng
có thể tự in trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan Hải quan.
b. Hướng dẫn cách ghi các tiêu thức trên tờ khai hải quan
b1. HƯỚNG DẪN CÁCH GHI CÁC TIÊU THỨC TRÊN TỜ KHAI HÀNG HOÁ
NHẬP KHẨU
Tiêu thức
Nội dung hướng dẫn cụ thể
Góc trên
Người khai hải quan ghi tên Chi cục Hải quan đăng ký tờ khai, Chi cục
bên trái tờ Hải quan cửa khẩu nhập khẩu.
khai
Phần giữa tờ * Số tờ khai, ngày giờ đăng ký: là số thứ tự của số đăng ký tờ khai hàng
khai
ngày theo từng loại hình nhập khẩu tại từng Chi cục Hải quan theo trật
tự: Số tờ khai/NK/loại hình/đơn vị đăng ký tờ khai và số lượng phụ lục
tờ khai.
* Số lượng phụ lục tờ khai: là số các phụ lục tờ khai (trong trường hợp
lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên)
Góc trên
Công chức hải quan tiếp nhận đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu ký
bên phải tờ tên, đóng dấu công chức.
khai
A- Phần dành cho người khai hải quan kê khai và tính thuế
Ô số 1
Ô số 2
Người xuất khẩu: Người khai hải quan ghi tên đầy đủ, địa chỉ, số điện
thoại, số Fax và mã số (nếu có) của người bán hàng ở nước ngoài bán
hàng cho thương nhân Việt Nam (thể hiện trên hợp đồng mua bán hàng
hoá)
Người nhập khẩu: Người khai hải quan ghi tên đầy đủ, địa chỉ, số điện
thoại, số Fax và mã số thuế của thương nhân nhập khẩu; chứng minh
thư hoặc hộ chiếu (nếu là cá nhân).
16
Ô số 3
Ô số 4
Người uỷ thác/người được uỷ quyền: Người khai hải quan ghi tên đầy
đủ, địa chỉ, số điện thoại, số fax và mã số thuế của thương nhân uỷ thác
cho người nhập khẩu hoặc tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại, số Fax và
mã số thuế của người được uỷ quyền khai hải quan; chứng minh thư
hoặc hộ chiếu (nếu người được ủy quyền là cá nhân).
Đại lý Hải quan: Người khai hải quan ghi tên đầy đủ, địa chỉ, số điện
thoại, số Fax và mã số thuế của Đại lý hải quan; số, ngày hợp đồng đại
lý hải quan. Trường hợp gửi kho ngoại quan thì khai tên kho ngoại
quan.
Ô số 5
Ô số 6
Loại hình: Người khai hải quan ghi rõ loại hình nhập khẩu tương ứng.
Hoá đơn thương mại: Người khai hải quan ghi số, ngày, tháng, năm của
hoá đơn thương mại (nếu có).
Ô số 7
Ô số 8
Ô số 9
Ô số 10
Ô số 11
Giấy phép/ngày/ngày hết hạn: Người khai hải quan ghi số, ngày, tháng,
năm giấy phép của cơ quan quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa
nhập khẩu và ngày, tháng, năm hết hạn của giấy phép (nếu có).
Hợp đồng/ngày/ngày hết hạn: Người khai hải quan ghi số ngày, tháng,
năm ký hợp đồng và ngày, tháng, năm hết hạn (nếu có) của hợp đồng
hoặc phụ lục hợp đồng (nếu có).
Vận đơn: Người khai hải quan ghi số, ngày, tháng, năm của vận đơn
hoặc chứng từ vận tải có giá trị do người vận tải cấp thay thế vận đơn
(nếu có).
Cảng xếp hàng: Người khai hải quan ghi tên cảng, địa điểm (được thoả
thuận trong hợp đồng thương mại hoặc ghi trên vận đơn) nơi từ đó hàng
hoá được xếp lên phương tiện vận tải để chuyển đến Việt Nam.
Cảng dỡ hàng: Người khai hải quan ghi tên cảng/cửa khẩu nơi hàng hóa
được dỡ từ phương tiện vận tải xuống (được ghi trên vận đơn hoặc các
chứng từ vận tải khác). Trường hợp cảng/cửa khẩu dỡ hàng khác với
địa điểm hàng hóa được giao cho người khai hải quan thì ghi cảng dỡ
hàng/ địa điểm giao hàng.
Ví dụ: Hàng nhập khẩu được dỡ tại cảng Hải Phòng và giao hàng cho
người nhận hàng tại ICD Gia Thụy, người khai ghi Hải Phòng/Gia
Thụy
Ô số 12
Ô số 13
Ô số 14
Phương tiện vận tải: Người khai hải quan ghi tên tàu biển, số chuyến
bay, số chuyến tàu hoả, số hiệu và ngày đến của phương tiện vận tải
chở hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam theo các loại hình
vận chuyển đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ.
Nước xuất khẩu: Người khai hải quan ghi tên nước, vùng lãnh thổ nơi
mà từ đó hàng hoá được chuyển đến Việt Nam (nơi hàng hoá được xuất
bán cuối cùng đến Việt Nam). Áp dụng mã nước cấp ISO 3166. (không
ghi tên nước, vùng lãnh thổ mà hàng hoá trung chuyển qua đó).
Điều kiện giao hàng: Người khai hải quan ghi rõ điều kiện giao hàng
17
mà hai bên mua và bán thoả thuận trong hợp đồng thương mại.
Ô số 15
Ô số 16
Phương thức thanh toán: Người khai hải quan ghi rõ phương thức thanh
toán đã thoả thuận trong hợp đồng thương mại (ví dụ: L/C, DA, DP,
TTR hoặc hàng đổi hàng …). (nếu có).
Đồng tiền thanh toán: Người khai hải quan ghi mã của loại tiền tệ dùng
để thanh toán (nguyên tệ) được thoả thuận trong hợp đồng thương mại.
Áp dụng mã tiền tệ phù hợp với ISO 4217 (ví dụ: đồng dollar Mỹ là
USD). (nếu có).
Ô số 17
Ô số 18
Tỷ giá tính thuế: Người khai hải quan ghi tỷ giá giữa đơn vị nguyên tệ
với tiền Việt Nam áp dụng để tính thuế (theo quy định hiện hành tại
thời điểm đăng ký tờ khai hải quan) bằng đồng Việt Nam. (nếu có).
Mô tả hàng hóa: Người khai hải quan ghi rõ tên hàng, quy cách phẩm
chất hàng hoá theo hợp đồng thương mại hoặc các chứng từ khác liên
quan đến lô hàng.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi vào
tiêu thức này như sau:
- Trên tờ khai hải quan ghi: “theo phụ lục tờ khai”.
- Trên phụ lục tờ khai: ghi rõ tên, quy cách phẩm chất từng mặt hàng.
* Đối với lô hàng được áp vào 1 mã số nhưng trong lô hàng có nhiều
chi tiết, nhiều mặt hàng (ví dụ: thiết bị toàn bộ, thiết bị đồng bộ) thì
doanh nghiệp ghi tên gọi chung của lô hàng trên tờ khai, được phép lập
bản kê chi tiết (không phải khai vào phụ lục).
Ô số 19
Mã số hàng hoá: Người khai hải quan ghi mã số phân loại theo Danh
mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài
chính ban hành.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi vào
tiêu thức này như sau:
- Trên tờ khai hải quan: không ghi gì.
- Trên phụ lục tờ khai: ghi rõ mã số từng mặt hàng.
Ô số 20
Xuất xứ: Người khai hải quan ghi tên nước, vùng lãnh thổ nơi hàng hoá
được chế tạo (sản xuất) ra (căn cứ vào giấy chứng nhận xuất xứ hoặc
các tài liệu khác có liên quan đến lô hàng). Áp dụng mã nước quy định
trong ISO 3166.
* Trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương tự tại
ô số 19.
Ô số 21
Ô số 22
Chế độ ưu đãi: Ghi tên mẫu C/O được cấp cho lô hàng thuộc các Hiệp
định Thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên.
Lượng hàng: Người khai hải quan ghi số lượng, khối lượng hoặc trọng
lượng từng mặt hàng trong lô hàng thuộc tờ khai hải quan đang khai
18
báo phù hợp với đơn vị tính tại ô số 23.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương
tự tại ô số 19.
Ô số 23
Ô số 24
Đơn vị tính: Người khai hải quan ghi tên đơn vị tính của từng mặt hàng
(ví dụ: mét, kg…) theo quy định tại Danh mục hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành hoặc thực tế giao dịch.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương
tự tại ô số 19.
Đơn giá nguyên tệ: Người khai hải quan ghi giá của một đơn vị hàng
hoá (theo đơn vị ở ô số 23) bằng loại tiền tệ đã ghi ở ô số 16, căn cứ
vào thoả thuận trong hợp đồng thương mại, hoá đơn, L/C hoặc tài liệu
khác liên quan đến lô hàng.
Hợp đồng thương mại theo phương thức trả tiền chậm và giá mua, giá
bán ghi trên hợp đồng gồm cả lãi suất phải trả thì đơn giá được xác
định bằng giá mua, giá bán trừ (-) lãi suất phải trả theo hợp đồng
thương mại.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương
tự tại ô số 20.
Ô số 25
Trị giá nguyên tệ: Người khai hải quan ghi trị giá nguyên tệ của từng
mặt hàng nhập khẩu, là kết quả của phép nhân (x) giữa “Lượng hàng (ô
số 22) và “Đơn giá nguyên tệ (ô số 24)”.
* Trong trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi vào ô
này như sau:
- Trên tờ khai hải quan: ghi tổng trị giá nguyên tệ của các mặt hàng
khai báo trên phụ lục tờ khai.
- Trên phụ lục tờ khai: Ghi trị giá nguyên tệ cho từng mặt hàng.
Thuế nhập khẩu, người khai hải quan ghi:
Ô số 26
a. Trị giá tính thuế: Ghi trị giá tính thuế của từng mặt hàng bằng đồng
Việt Nam.
b. Thuế suất (%): Ghi mức thuế suất tương ứng với mã số đã xác định
tại ô số 19 theo Biểu thuế áp dụng (Biểu thuế ưu đãi, Biểu thuế ưu đãi
đặc biệt…) có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai
c. Ghi số thuế nhập khẩu phải nộp của từng mặt hàng.
* Trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi vào ô này
như sau:
- Trên tờ khai hải quan ghi tổng số thuế nhập khẩu phải nộp tại ô “tiền
thuế” tương ứng.
- Trên phụ lục tờ khai ghi rõ trị giá tính thuế, thuế suất, số thuế nhập
khẩu phải nộp cho từng mặt hàng2
19
Ô số 27
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), người khai hải quan ghi:
a. Trị giá tính thuế của thuế TTĐB là tổng của trị giá tính thuế nhập
khẩu và thuế nhập khẩu phải nộp của từng mặt hàng
b. Thuế suất %: Ghi mức thuế suất thuế TTĐB tương ứng với mã số
hàng hoá được xác định mã số hàng hoá tại ô số 19 theo Biểu thuế
TTĐB.
c. Tiền thuế: Ghi số thuế TTĐB phải nộp của từng mặt hàng
* Trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương tự ô
số 26.
Ô số 28
Thuế bảo vệ môi trường (BVMT), người khai hải quan ghi:
a. Số lượng chịu thuế BVMT của hàng hóa nhập khẩu là số lượng hàng
hóa theo đơn vị quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường.
b. Mức thuế BVMT của hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại biểu
mức thuế Bảo vệ môi trường.
c. Tiền thuế: Ghi số tiền thuế BVMT phải nộp của từng mặt hàng.
* Trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương tự ô
số 26.
Ô số 29
Thuế giá trị gia tăng (GTGT), người khai hải quan ghi:
a. Trị giá tính thuế của thuế GTGT là giá thuế nhập khẩu tại cửa khẩu
cộng với thuế nhập khẩu (nếu có) cộng với thuế TTĐB (nếu có) cộng
thuế BVMT (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy
định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
b. Thuế suất %: Ghi mức thuế suất thuế GTGT tương ứng với mã số
hàng hoá được xác định mã số hàng hoá tại ô số 19 theo Biểu thuế
GTGT.
c. Tiền thuế: Ghi số tiền thuế GTGT phải nộp của từng mặt hàng
* Trường hợp lô hàng có từ 2 mặt hàng trở lên thì cách ghi tương tự ô
26.
Ô số 30
Ô số 31
Tổng số tiền thuế (ô 26 + 27 + 28 + 29), người khai hải quan ghi: tổng
số tiền thuế nhập khẩu, TTĐB, BVMT và GTGT; bằng chữ.
Lượng hàng, số hiệu container: Người khai hải quan khai khi vận
chuyển hàng hóa nhập khẩu bằng container ghi như sau:
- Số hiệu container: Ghi số hiệu từng container;
- Số lượng kiện trong container: Ghi số lượng kiện có trong từng
container;
- Trọng lượng hàng trong container: Ghi trọng lượng hàng chứa trong
từng container tương ứng và cuối cùng cộng tổng trọng lượng của lô
hàng;
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hải quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_hai_quan.pdf

