Giám định về nhãn hiệu - Cơ chế bảo vệ doanh nghiệp FDI trong xâm phạm nhãn hiệu

GIÁM ĐỊNH VỀ NHÃN HIỆU - CƠ CHẾ BẢO VỆ DOANH NGHIỆP FDI  
TRONG XÂM PHẠM NHÃN HIỆU  
CN. Nguyễn Thị Thùy Dung  
Đại học Luật Hà Nội  
T M TẮT:  
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp FDI gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc  
trong hoạt động sản xuất, cạnh tranh không lành mạnh, giả mạo hoặc xâm phạm quyền sở hữu công  
nghiệp (SHCN) nói chung và nhãn hiệu nói riêng. Cùng với sự phát triển của xã hội, vấn đề phát  
triển bền vững đối với hoạt động kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng, Luật Sở hữu trí tuệ  
(SHTT) năm 2005 kể từ khi ra đời đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo hành lang pháp lý cho  
các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI trong việc bảo vệ quyền SHTT, tạo môi  
trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng nhu cầu  
thực tiễn của hội nhập kinh tế quốc tế…. Trong đó, hoạt động giám định về nhãn hiệu tuy không  
phải là hoạt động bắt buộc nhưng là “cơ chế bảo vệ đặc biệt” cho các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là  
các doanh nghiệp FDI bảo vệ quyền SHTT của mình, tránh những hành vi cạnh tranh không lành  
mạnh, xâm phạm nhãn hiệu hoặc giả mạo nhãn hiệu giữa các doanh nghiệp nói chung và doanh  
nghiệp FDI nói riêng trên thị trường. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích khái  
niệm, đặc điểm, quy trình, nội dung giám định nhãn hiệu trên cơ sở giám địnhvề nhãn hiệu là cơ chế  
bảo vệ doanh nghiệp FDI trong xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam.  
Từ khóa: Giám định về nhãn hiệu, doanh nghiệp FDI, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ  
ABSTRACT:  
In business activities, FDI enterprises face many difficulties and problems in production activities,  
unfair competition, counterfeiting or infringement of industrial property rights (IP) in general and  
trademarks say private. Along with the development of the society, the issue of sustainable development  
for business activities has become increasingly important, the Law on Intellectual Property (IP) 2005  
since its inception has played a great role in creating a legal corridor for organizations and individuals,  
especially FDI enterprises to protect IP rights, create a healthy business environment, and promote the  
socio-economic development of the country, meet the practical needs of international economic  
integration…. In particular, the trademark assessment, although not a compulsory activity, is a "special  
protection mechanism" for individuals and organizations, especially FDI enterprises to protect their IP  
rights. avoid unfair competition, trademark infringement or trademark counterfeiting between  
enterprises in general and FDI enterprises in particular in the market. In the scope of this article, the  
author will focus on analyzing the concept, characteristics, process, and content of trademark  
assessment on the basis of trademark assessment, which is a mechanism to protect FDI enterprises from  
infringing on trademarks in Vietnam.  
Keywords: Trademark inspection, FDI enterprise, protection of intellectual property rights  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc năm 2017, Việt Nam nằm  
trong Top 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI, trở thành điểm đến tin cậy, hiệu quả trong  
527  
mắt các nhà đầu tư nước ngoài với mức đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong GDP của cả  
nước tăng từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017, năng suất lao động của khu vực FDI luôn ở mức  
cao. Dự báo, xung lực thu hút FDI của Việt Nam thời gian tới vẫn tiếp tục được duy trì nhờ những  
nỗ lực mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết mở cửa thị trường, xóa bỏ các rào cản đầu tư,  
thương mại, thông qua việc ký kết và triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như  
CPTPP và EVFTA... (Phạm Thế Hùng, Trần Thị Lan Hương, Vũ Thị Tuyết Nhung, 2020). Có thể  
thấy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, SHTT luôn là một trong những nội dung quan trọng  
và mang lại nhiều cơ hội cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức  
FDI. Tuy nhiên, đây cũng là nội dung đặt ra cho Việt Nam những thách thức trong việc hoàn thiện  
các chính sách, thể chế pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, tư pháp về SHTT nhằm đáp ứng yêu  
cầu hội nhập, thu hút FDI của Việt Nam.  
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các doanh  
nghiệp FDI thường bị đối thủ cạnh tranh bắt chước, thiết kế và sử dụng nhãn hiệu tương tự, trùng  
hoặc giống nhau gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu làm cho môi trường kinh doanh bị biến  
dạng, làm cho nhà đầu tư, doanh nghiệp FDI mất niềm tin và người tiêu dùng mất định hướng. Bởi  
trong các đối tượng SHTT thì nhãn hiệu là dấu hiệu đầu tiên để người tiêu dùng nhận dạng về sản  
phẩm, dịch vụ của một doanh nghiệp thông qua quảng cáo, tuyên truyền và là “một trong các loại  
tài sản vô hình, không thể xác định dựa trên các đặc điểm vật chất thông thường nhưng lại được  
dùng để phân biệt với các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ với nhau”, luôn được xem là “công cụ  
quan trọng”, “cơ chế bảo vệ” để nhà sản xuất, doanh nghiệp FDI có thể chiếm lĩnh thị trường.  
Trong khi đó, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và định hình giá trị của doanh nghiệp FDI vẫn còn  
nhiều hạn chế. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu diễn  
ra phổ biến mà nguyên nhân chủ yếu chính là hệ thống pháp luật còn chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ,  
các chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe; hoạt động của các cơ quan thực thi còn chồng chéo, năng  
lực của cán bộ có thẩm quyền còn hạn chế, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn chưa hiệu quả; ý  
thức tự bảo vệ quyền của các chủ thể còn chưa cao; các quy định về hoạt động giám định nhãn hiệu  
còn chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.  
Kể từ khi thành lập (9/2009) đến tháng 8/2018, Viện khoa học sở hữu trí tuệ (Viện KH  
SHTT) đã tiến hành tiếp nhận, xử lý gần 5.000 hồ sơ liên quan đến xâm phạm quyền SHCN, trung  
bình mỗi tháng Viện KH SHTT tiếp nhận khoảng 60 - 70 hồ sơ mới2, trong đó có rất nhiều vụ việc  
liên quan đến hoạt động giám định nhãn hiệu của các doanh nghiệp FDI. Hoạt động giám định nhãn  
hiệu mặc dù không phải là hoạt động bắt buộc, nhưng kết luận giám định lại là một “nguồn chứng  
cứ quan trọng” không thể thiếu trong công cuộc bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam, là công cụ hỗ trợ  
cơ quan nhà nước giải quyết các vụ án xâm phạm về nhãn hiệu hoặc giúp các chủ thể, doanh nghiệp  
FDI có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến nhãn hiệu nếu xét thấy “nhãn hiệu đang được bảo hộ  
đang bị xâm phạm, tranh chấp” hoặc muốn “phản đối cáo buộc của người khác về việc xâm phạm  
quyền SHTT đối với nhãn hiệu”. Hoạt động giám định nhãn hiệu được thể hiện thông qua các kết  
luận giám định của Viện KH SHTT, các kết luận giám định này có giá trị lớn trong việc hỗ trợ  
doanh nghiệp FDI bảo vệ quyền SHTT của mình, hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,  
xâm phạm, hoặc giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng, được người tiêu dùng ưa chuộng và sử dụng rộng  
rãi trên thị trường. Chính vì vậy, việc hoàn thiện quy định của pháp luật về giám định SHTT nói  
2Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ, “Thực trạng hoạt động giám định Sở hữu công nghiệp tại Việt Nam từ 9/2009- 5/2018”,  
Báo cáo tổng hợp  
528  
chung, giám định về nhãn hiệu nói riêng là một trong những cơ chế đặc biệt giúp các doanh nghiệp  
nói chung, doanh nghiệp FDI nói riêng bảo vệ quyền SHTT của mình trong xâm phạm nhãn hiệu.  
2. CƠ SỞ L  LUẬN - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. C  sở lý luận  
2.1.1. Khái niệm “Giám định nhãn hiệu”  
Ở Việt Nam, hoạt động giám định về SHTT tại Điều 201 Luật SHTT 2005 bao gồm 03 (ba)  
lĩnh vực cơ bản, đó là: (i) giám định về quyền tác giả và quyền liên quan; (ii) giám định về quyền  
SHCN; (iii) giám định về quyền đối với giống cây trồng3. Các chuyên ngành giám định về quyền  
SNCN bao gồm: (i) chuyên ngành giám định sáng chế và thiết kế mạch tích hợp bán dẫn; (ii)  
chuyên ngành giám định kiểu dáng công nghiệp; (iii) chuyên ngành giám định nhãn hiệu và chỉ dẫn  
địa lý4; (iv) chuyên ngành giám định các quyền SHCN khác5. Là một đối tượng của quyền SHCN,  
nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ tại Cục SHTT và đã được cấp văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, trong  
quá trình kinh doanh, có nhiều hành vi được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn  
hiệu thì bị coi là xâm phạm đối với nhãn hiệu (Điều 129.1, Luật SHTT 2005), chẳng hạn như: hành  
vi “sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên  
quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có  
khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ” (Điều 129.1.b, Luật SHTT 2005) và hành  
vi “sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự  
hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử  
dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ” (Điều 129.1.c, Luật SHTT 2005)  
bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu... Chính vì vậy, cần phải có một tổ chức thực  
hiện giám định nhãn hiệu để xác định nhãn hiệu của bên kia có dẫn đến mức gây nhầm lẫn cho  
người tiêu dùng hay không. Từ những phân tích nêu trên, tác giả có thể đưa ra định nghĩa “giám  
định về nhãn hiệu” như sau: “Giám định nhãn hiệu là việc cá nhân, tổ chức có chức năng giám định  
chuyên ngành nhãn hiệu sử dụng kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ để đánh giá, kết luận về những  
nội dung liên quan đến nhãn hiệu”.  
2.1.2. Đặc điểm của hoạt động giám định nhãn hiệu tại Việt Nam  
Hoạt động giám định về nhãn hiệu - cơ chế bảo vệ quyền SHTT đối với các doanh nghiệp FDI  
được thể hiện thông qua các nội dung, đặc điểm sau:  
Hoạt động giám định về nhãn hiệu không phải là một hoạt động bắt buộc nhưng là bộ phận  
quan trọng trong hệ thống bảo vệ quyền SHTT của các doanh nghiệp FDI  
Thực tiễn hiện nay cho thấy, hoạt động giám định nhãn hiệu vẫn còn mới mẻ và khá phức tạp ở  
Việt Nam, trong hệ thống bảo vệ quyền SHTT, xử lý các tranh chấp, xâm phạm, giải quyết khiếu nại,  
tố cáo liên quan tới quyền SHTT đối với các doanh nghiệp FDI. Do đó, đòi hỏi phải có một tổ chức,  
3Điều 39.2 Nghị định số 105/2006/NĐ - CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số  
119/2010/NĐ - CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ - gọi tắt là “Nghị định 105/NĐ - CP”.  
4
Chuyên ngành giám định nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được thực hiện nhiều nhất trong hoạt động giám định về  
quyền SHCN.  
5Điểm I.1 Thông tư 04/2012/TT - BKHCN ngày 13/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 01/2008/TT  
- BKHCN ngày 25/02/2008 hướng dẫn việc cấp, thu h i th  giám định viên SHCN và giấy chứng nhận tổ chức đủ điều  
kiện hoạt động giám định SHCN, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 04/2009/TT - BKHCN và Thông tư số  
18/2011/TT - BKHCN ngày 22/7/2011) (sau đây gọi tắt là Thông tư 04/2009/TT - BKHCN)  
529  
cá nhân được pháp luật công nhận thực hiện hoạt động giám định để đưa ra các kết luận giám định  
một cách chính xác về những nội dung cần giám định của Viện KH SHTT. Khi có yêu cầu bằng đơn  
hoặc quyết định của chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhãn hiệu, Viện KH SHTT thực hiện  
hoạt động giám định về nhãn hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc chủ  
thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhãn hiệu. Trong thực tiễn bảo hộ quyền SHTT trên thế giới  
và Việt Nam hiện nay, giám định nhãn hiệu “được coi là một yếu tố bổ trợ đắc lực cho việc bảo đảm  
các điều kiện để bảo vệ, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT, góp phần nâng cao tính hiệu quả của  
cơ chế bảo hộ và thực thi quyền SHTT nói chung”6. Hoạt động giám định nhãn hiệu được thực hiện  
thông qua việc thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật đối với các quyền SHTT, bảo đảm các điều kiện  
thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để các chủ thể quyền khai thác đối tượng quyền SHTT  
của mình đồng thời bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó và thu lợi nhuận để tái  
đầu tư, tiếp tục tạo ra các thành tựu sáng tạo mới. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật SHTT mới chỉ quy  
định về giám định SHTT mà chưa quy định hoạt động giám định nhãn hiệu nên trong quá trình tạo  
dựng, củng cố giá trị của đối tượng quyền SHTT (nhãn hiệu), hiện tượng xâm phạm quyền đối với  
nhãn hiệu ngày càng có nguy cơ thường xuyên và nghiêm trọng hơn, đặc biệt là các nhãn hiệu nổi  
tiếng, được người tiêu dùng ưa chuộng của doanh nghiệp FDI. Để bảo vệ lợi ích chính đáng của người  
tiêu dùng trước những “nguy cơ” xâm phạm nhãn hiệu nói trên, đồng thời, giúp các doanh nghiệp FDI  
bảo vệ các “tài sản vô hình” của mình, cần có “cơ chế bảo vệ”7 bằng việc áp dụng các quy định của  
pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về thực thi quyền SHTT và tổng hợp bằng các kết luận giám  
định của chủ thể giám định (Viện KH SHTT). Các cơ quan thực thi quyền đối với nhãn hiệu bằng  
cách thực hiện các biện pháp chế tài (dân sự, hành chính, hình sự) và hệ thống bổ trợ cho việc thực thi  
quyền, trong đó có hoạt động giám định nhãn hiệu. Vì vậy có thể nói, hoạt động giám định về nhãn  
hiệu không phải là một hoạt động bắt buộc nhưng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống bảo vệ  
quyền SHTT đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI.  
Kết luận giám định về nhãn hiệu là ngu n chứng cứ quan trọng trong hoạt động bảo vệ  
quyền SHTT của các doanh nghiệp FDI  
Kết luận giám định nhãn hiệu là một sản phẩm dịch vụ được chủ thể giám định sử dụng kiến  
thức, kỹ năng chuyên môn để đưa ra trên cơ sở xem xét, đánh giá những vấn đề có liên quan đến  
quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Việc xem xét, đánh giá để đưa ra kết luận giám định phải dựa trên  
các căn cứ pháp luật và các thông tin, dữ liệu được cung cấp hoặc tra cứu nhằm phục vụ cho việc  
giải quyết các vụ việc tranh chấp, xâm phạm, khiếu nại, tố cáo. Do đó, kết luận giám định nhãn hiệu  
là một trong những “nguồn chứng cứ chứng minh rất quan trọng”, bởi các lý do sau đây: (1)Kết  
luận giám định nhãn hiệu được thể hiện thông qua các nội dung liên quan đến nhãn hiệu như: giám  
định tình trạng bảo hộ hoặc giám định xâm phạm nhãn hiệu hoặc giám định tính tương tự của nhãn  
hiệu hoặc giám định giá trị nhãn hiệu; (2) Kết luận giám định là “nguồn chứng cứ quan trọng”, có ý  
nghĩa, vai trò to lớn trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án8. Theo đó, chứng cứ là bất cứ thức gì: (i)  
có thật; (ii) được cung cấp hay thu thập một cách hợp pháp; (iii) có liên quan đến vấn đề hoặc sự  
6 Nguyễn Hữu Cẩn, (2010), “Giám định về sở hữu trí tuệ: Công cụ hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ”,  
Viện khoa học sở hữu trí tuệ  
7 Cơ chế bảo vệ đó có vai trò ngăn cản và xử lý bất kỳ hành vi xâm phạm quyền SHTT nào, dù đã diễn ra trên quy mô nào và  
với mức độ nguy hiểm cỡ nào, nhờ đó chủ thể quyền được yên tâm khai thác thành quả của mình và chính các thành quả đó  
làm cho trình độ công nghệ và kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế được nâng cao. Công cụ đó được thực hiện bằng cách bảo  
đảm các điều kiện để bảo vệ quyền đã xác lập và xử lý các hành vi xâm phạm quyền (Nguyễn Hữu Cẩn, 2010)  
8Điều 87.1.d Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 94.5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 81.5 Luật Tố tụng hành chính 2015  
530  
kiện được xem xét; (3)“văn bản kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có  
thẩm quyền giải quyết vụ việc”9. Các chứng cứ có trong bản kết luận giám định bao gồm: tên, địa  
chỉ của tổ chức giám định, giám định viên; đối tượng, nội dung, phạm vi giám định; phương pháp  
thực hiện giám định; kết luận giám định; thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành giám định (Điều  
51.2 Nghị định 105/NĐ - CP). Hoạt động giám định nhãn hiệu không chỉ có giá trị pháp lý phục vụ  
riêng cho quá trình tố tụng mà còn phục vụ cho bất cứ yêu cầu nào liên quan đến nhãn hiệu do chủ  
thể có quyền yêu cầu hoặc trưng cầu giám định nhãn hiệu, chủ thể giám định không cần biết yêu  
cầu đó nhằm mục đích gì, có cần thiết hay không… mà họ chỉ cần biết yêu cầu đó thuộc chuyên  
môn mà họ được phép thực hiện thì họ có quyền thực hiện. Do đó, kết luận giám định không phải là  
chứng cứ mà là “nguồn chứng cứ quan trọng” chứa đựng các thông tin “có thật”; “được cung cấp  
hay thu thập một cách hợp pháp” và “có liên quan đến vấn đề hoặc sự kiện được xem xét” trong  
hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu.  
Kết luận giám định về nhãn hiệu là công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp FDI tự bảo vệ  
quyền sở hữu trí tuệ  
Kết luận giám định nhãn hiệu được coi là “công cụ bảo vệ” các doanh nghiệp FDI tránh khỏi  
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm nhãn hiệu… của các chủ thể kinh doanh  
khác. Các yêu cầu hoặc trưng cầu giám định nhãn hiệu thường được thực hiện trong trường hợp các  
bên có tranh chấp gặp khó khăn trong việc tự mình đánh giá vụ việc tranh chấp và/hoặc có hành vi  
xâm phạm nhãn hiệu. Do đó, cần có ý kiến chuyên môn hoặc ý kiến chuyên gia xác định có hay  
không hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Thực tiễn hiện nay cho thấy, các chủ thể có  
quyền yêu cầu hoặc trưng cầu giám định nhãn hiệu sử dụng dịch vụ giám định nhãn hiệu như một  
công cụ để bảo vệ quyền SHTT nhằm thực hiện một số mục đích như: (1) Yêu cầu giám định nhãn  
hiệu nhằm mục đích xử lý các cạnh tranh không lành mạnh hoặc xâm phạm nhãn hiệu do người thứ  
ba thực hiện; (2) Yêu cầu giám định nhãn hiệu nhằm mục đích phản đối cáo buộc của người khác về  
việc xâm phạm quyền SHTT. (3) Yêu cầu giám định nhãn hiệu nhằm mục đích xem xét hiệu lực  
bảo hộ và/hoặc phạm vi bảo hộ đã được xác lập. (4) Yêu cầu giám định nhãn hiệu nhằm mục đích  
khác phục vụ việc bảo vệ quyền SHTT. Trên cơ sở xem xét các yêu cầu giám định, Viện KH SHTT  
sau khi phân tích, đánh giá sẽ đưa ra bản kết luận giám định, giúp các doanh nghiệp FDI có thêm cơ  
sở để tự bảo vệ quyền SHTT của mình.  
2.1.3. Đối sánh hoạt động giám định nhãn hiệu với giám định tư pháp và hoạt động cung cấp ý  
kiến chuyên môn của Cục Sở hữu trí tuệ  
Đối sánh giám định nhãn hiệu với giám định tư pháp  
Hoạt động giám định tư pháp (Điều 2.1, Luật Giám định tư pháp 2012) và hoạt động giám  
định SHTT (Điều 201 Luật SHTT 2005) đều có bản chất giống nhau là việc người giám định sử  
dụng kiến thức, nghiệp vụ cần thiết cho hoạt động giám định để kết luận chuyên môn nhằm phục vụ  
cho hoạt động tố tụng (vụ việc dân sự, vụ án hành chính hoặc hình sự) mà trọng tâm là bảo đảm  
việc phán quyết của Tòa án được kịp thời, khách quan, đúng quy định của pháp luật; tạo điều kiện  
cho các cá nhân, tổ chức nói chung, doanh nghiệp FDI nói riêng chủ động thu thập chứng cứ chứng  
minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần thực thi có hiệu quả chủ trương mở  
rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp. Như vậy có thể  
9Điều 51.1 Nghị định 105/2006/NĐ - CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2010/NĐ - CP; Điều 26.3 Nghị định  
99/2013/NĐ - CP của Chính phủ ngày 29/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp  
531  
hiểu giám định nhãn hiệu thuộc phạm vi giám định SHCN là một dạng của giám định tư pháp  
nhưng được quy định riêng trong luật chuyên ngành do những đặc trưng riêng của quan hệ pháp  
luật chuyên ngành chi phối. Tuy nhiên, giống như tên gọi, hoạt động giám định tư pháp chủ yếu  
phục vụ cho ngành tư pháp, giải quyết các vụ án phức tạp, đòi hỏi cần có hoạt động giám định, còn  
hoạt động giám định nhãn hiệu được thực hiện nhằm phục vụ nhu cầu của “bất kỳ chủ thể nào” có  
quyền yêu cầu hoặc trưng cầu giám định thông qua đơn yêu cầu hoặc quyết định trưng cầu giám  
định kèm theo các tài liệu, mẫu vật. Như vậy, hoạt động giám định nhãn hiệu không bó hẹp như  
trong kết quả của hoạt động giám định tư pháp, mà hoạt động giám định nhãn hiệu được thực hiện  
nhằm mục đích giải quyết tranh chấp, làm rõ những nghi vấn trong quá trình giao dịch liên quan  
đến quyền SHTT, thu thập chứng cứ để khiếu nại, tố cáo đối với các cá nhân, tổ chức mà các chủ  
thể yêu cầu giám định nhãn hiệu cho rằng các nhãn hiệu của mình đang bị xâm phạm hoặc quyết  
định trưng cầu giám định nếu cơ quan quản lý nhà nước cần ý kiến chuyên môn để đưa ra chế tài xử  
phạt đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu.  
Đối sánh giám định nhãn hiệu với hoạt động cung cấp ý kiến chuyên môn của Cục Sở hữu  
trí tuệ  
Theo Quyết định số 2525/QĐ - BKHCN ngày 04/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và  
Công nghệ ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Cục SHTT thì Cục SHTT không còn có  
chức năng giám định nhãn hiệu mà chỉ là cơ quan “cung cấp ý kiến chuyên môn phục vụ việc giải  
quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật về SHCN”. Sự tồn tại của hoạt động “cung cấp ý kiến  
chuyên môn” của cơ quan quản lý nhà nước về SHTT (Cục SHTT) nhằm phục vụ cho việc giải  
quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật về SHCN không còn giá trị. Như vậy, sau khi Luật SHTT  
2005 ra đời, hoạt động giám định nhãn hiệu chính thức được giao cho các tổ chức, cá nhân có chức  
năng giám định thực hiện mà cụ thể là Viện KH SHTT và Cục SHTT không còn chức năng giám  
định SHTT. Việc “cung cấp ý kiến chuyên môn” của Cục SHTT thoạt nhìn có vẻ góp phần hỗ trợ  
cho hoạt động giám định cho Viện KH SHTT và đảm bảo tính đa chiều trong việc đánh giá cùng  
một nội dung giám định nhưng thực tế cho thấy, việc “cung cấp ý kiến chuyên môn” của Cục SHTT  
lại đang đi ngược lại với tinh thần của Luật SHTT 2005 trong việc đưa hoạt động giám định SHTT  
(do Viện KH SHTT thực hiện) tách rời với hoạt động xác lập quyền SHTT được (do Cục SHTT  
thực hiện). Nhưng, trong chức năng của mình, Cục SHTT lại có chức năng “cung cấp ý kiến chuyên  
môn phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật về SHCN” và trên thực tế, nội dung  
ý kiến chuyên môn này cũng cơ bản như những nội dung giám định được cơ quan giám định và tổ  
chức giám định thực hiện”10. Mặt khác, mặc dù “ý kiến chuyên môn” của Cục SHTT không được  
coi là “nguồn chứng cứ quan trọng” theo pháp luật tố tụng, nhưng rõ ràng, “ý kiến chuyên môn” lại  
có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ giải quyết các tranh chấp, xâm phạm nhãn hiệu…  
2.2. Ph  ng pháp nghiên cứu  
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương  
pháp nghiên cứu sau đây:  
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa  
Mác - Lênin, phương pháp phân tích,... khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về giám định  
10Hà Thị Nguyệt Thu (2017), Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định hỗ trợ xử lý xâm  
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu, Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam, Số 03/2017.  
532  
nhãn hiệu (khái niệm, đặc điểm, hoạt động giám định nhãn hiệu trên cơ sở khái niệm, nội dung hoạt  
động giám định SHTT; đối sánh hoạt động giám định SHTT đối với hoạt động giám định tư pháp  
và hoạt động cung cấp ý kiến chuyên môn của Cục SHTT và vai trò quan trọng, sự cần thiết của  
hoạt động giám định nhãn hiệu).  
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp bình luận, đối chiếu, so sánh luật  
học… khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về giám định nhãn hiệu tại Việt Nam và thực tiễn hoạt động  
giám định nhãn hiệu ở Việt Nam kể từ khi Viện KH SHTT Việt Nam thành lập (09/2009) đến nay. Trên  
cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định nhãn hiệu tại Việt Nam.  
3. PHƯƠNG PHÁP PH N CHỦ THỂ THỰC HIỆN GIÁM ĐỊNH NHÃN HIỆU  
Theo quy định của pháp luật SHTT, chủ thể thực hiện hoạt động giám định nhãn hiệu có thể  
là cá nhân (giám định viên) nếu đáp ứng các điều kiện cần thiết quy định tại Điều 201.3 Luật SHTT  
2005 và được hướng dẫn cụ thể bởi Điều 1.12 Nghị định 119/2010/NĐ - CP quy định quyền của  
giám định viên về nhãn hiệu được quy định tương tự với quy định về quyền của giám định viên về  
SHTT và tổ chức nếu đáp ứng các điều kiện cần thiết quy định tại Điều 42.2 Nghị định  
119/2010/NĐ - CP và Điều 1.11 Nghị định 119/2010/NĐ - CP. Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ của tổ  
chức giám định nhãn hiệu cũng tương tự với quyền và nghĩa vụ của giám định viên nhãn hiệu, vì  
suy cho cùng thì tổ chức giám định hay giám định viên về nhãn hiệu đều là chủ thể giám định nhãn  
hiệu - bên giám định. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, một số quyền và nghĩa vụ chỉ có tổ  
chức giám định nhãn hiệu mới có còn giám định viên về nhãn hiệu lại không thể có, và ngược lại.  
Trong đó, quyền và nghĩa vụ của tổ chức giám định nhãn hiệu được quy định không nhiều vì trong  
tổ chức giám định bắt buộc phải có giám định viên về nhãn hiệu, và đặc biệt là pháp luật SHTT hiện  
nay không có quy định nào liên quan đến hoạt động giám định nhãn hiệu nên việc áp dụng các quy  
định của pháp luật về các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể giám định vẫn còn nhiều vướng mắc,  
chưa rõ ràng. Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật về SHTT quy định về các tổ chức giám định SHTT  
được phép hoạt động, song trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, Viện KH SHTT là tổ chức duy nhất  
thực hiện chức năng giám định SHTT (sau đây tổ chức giám định được gọi tắt là Viện KH SHTT) .  
3.1. Trình tự thực hiện giám định nhãn hiệu  
Mặc dù pháp luật về SHTT chưa có quy định cụ thể về trình tự thực hiện giám định nhãn  
hiệu, song, dựa trên những quy định về trình tự giám định SHTT, có thể khẳng định, Luật SHTT  
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần xây dựng thành công của hoạt động giám định  
nhãn hiệu trong thực tế công tác giải quyết tranh chấp quyền SHTT. Hệ thống pháp luật này đã tạo  
cơ sở vững chắc đảm bảo cho hoạt động giám định nhãn hiệu được diễn ra một cách thuận lợi và  
tuân thủ pháp luật theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực SHTT. Giám định  
nhãn hiệu là quá trình phức tạp, bao gồm nhiều công đoạn nên đòi hỏi giám định viên phải có kiến  
thức và những kỹ năng chuyên sâu để đưa ra kết luận giám định nhãn hiệu. Các công đoạn chủ yếu  
thực hiện giám định nhãn hiệu bao gồm: (1) Tiếp nhận/Thụ lý yêu cầu hoặc trưng cầu giám định  
nhãn hiệu; (2) Kiểm tra tình trạng bảo hộ, xác định phạm vi quyền đối với nhãn hiệu; (3) Xác định  
yếu tố xâm phạm/hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu; (4) Kết luận giám định nhãn hiệu. Tuy  
nhiên, việc “thiếu và yếu” trong các quy định của pháp luật về giám định nhãn hiệu đã dẫn đến việc  
áp dụng và thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, công tác thực thi pháp luật về giám định nhãn hiệu  
còn gặp nhiều khó khăn và trong công tác thực thi pháp luật về giám định nhãn hiệu vẫn còn nhiều  
bất cập, mâu thuẫn.  
533  
3.2. Quy định pháp luật về nội dung và thực tiễn giám định nhãn hiệu  
Kể từ khi Luật SHTT 2005 chính thức có hiệu lực ngày 01/6/2006 nhưng đến tháng 9/2009,  
Viện KH SHTT là cơ quan có chức năng giám định nhãn hiệu, còn Cục SHTT chỉ là cơ quan “cung  
cấp ý kiến chuyên môn phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật về SHCN. Từ  
09/2009 đến 05/2018, Viện KH SHTT đã tiếp nhận gần 5000 hồ sơ liên quan đến giám định SHCN,  
trong đó, tính đến tháng 9/2016, Viện KH SHTT đã tiếp nhận và thực hiện 332 hồ sơ theo trưng cầu  
của cơ quan có thẩm quyền và 2.911 hồ sơ theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức khác (Hà Thị  
Nguyệt Thu, 2017). Nội dung hoạt động giám định nhãn hiệu được thực hiện dựa trên những quy định  
chung về giám định SHTT tại Điều 201, Luật SHTT và Điều 39, Nghị định 119/2010/NĐ - CP, bao  
gồm: (1) Xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu (giám định tình trạng bảo hộ); (2) Xác định đối  
tượng được xem xét có đáp ứng các điều kiện để bị coi là yếu tố xâm phạm nhãn hiệu hay không  
(giám định yếu tố xâm phạm); (3) Xác định có hay không yếu tố trùng hoặc tương tự hoặc gây nhầm  
lẫn hoặc khó phân biệt hoặc sao chép giữa nhãn hiệu được xem xét và nhãn hiệu được bảo hộ (giám  
định tính tương tự); (4) Xác định giá trị quyền SHTT, xác định giá trị thiệt hại (giám định giá trị). Tuy  
nhiên, trên thực tế, Viện KH SHTT mới chỉ thực hiện 02 nội dung (2 và 3). Cụ thể:  
Về xác định đối tượng được xem xét có đáp ứng các điều kiện để bị coi là yếu tố xâm phạm  
nhãn hiệu hay không (giám định yếu tố xâm phạm). Đây là hoạt động được thực hiện nhiều nhất tại  
Viện KHSHTT hiện nay khi cần chứng minh 1) đối tượng giám định có hay không hành vi cạnh  
tranh không lành mạnh; 2) xâm phạm nhãn hiệu hoặc giả mạo nhãn hiệu nhằm khẳng định một hành  
vi liên quan đến nhãn hiệu đó là hành vi xâm phạm quyền được bảo hộ; 3) hành vi sản xuất, nhập  
khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Trong đó, hoạt động giám định xâm phạm  
nhãn hiệu được các chủ thể kinh doanh, các doanh nghiệp FDI thực hiện nhiều nhất hiện nay.  
Vềxác định có hay không yếu tố trùng hoặc tương tự hoặc gây nhầm lẫn hoặc khó phân biệt  
hoặc sao chép giữa nhãn hiệu được xem xét và nhãn hiệu được bảo hộ (giám định tính tương tự).  
Trong hoạt động giám định tính tương tự đối với nhãn hiệu, “cần phải so sánh về cấu trúc, nội dung,  
cách phát âm (đối với dấu hiệu chữ), ý nghĩa và hình thức thể hiện của dấu hiệu (đối với cả dấu hiệu  
chữ và dấu hiệu hình), đồng thời phải tiến hành so sánh hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu với hàng  
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ (nhãn hiệu đối chứng)” (Điều 39.8 Thông tư số  
01/2007/TT - BKHCN). Mặc dù hoạt động giám định yếu tố xâm phạm và hoạt động tính tương tự  
được quy định là hai nội dung tách biệt, song trên thực tế, để có thể thực hiện hoạt động giám định  
yếu tố xâm phạm đối với nhãn hiệu, chủ thể thực hiện giám định nhãn hiệu phải thực hiện hoạt  
động giám định tính tương tự đối với nhãn hiệu như xác định có hay không sự tương tự hoặc gây  
nhầm lẫn hoặc trùng… đối với nhãn hiệu được bảo hộ. Mặc dù pháp luật SHTT có quy định về hoạt  
động giám định SHTT nói chung, giám định về SHCN nói riêng, song, trên thực tế, những quy định  
của pháp luật vẫn còn “thiếu”, còn “yếu” và còn “đứt đoạn”, gây khó khăn cho công tác thực thi  
hoạt động giám định SHTT nói chung, giám định về nhãn hiệu nói riêng.  
3.3. Một số ki n nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về giám định nhãn hiệu trong  
c  ch  bảo vệ doanh nghiệp FDI  
Nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định nhãn hiệu tại Việt  
Nam, cần quan tâm tới một số vấn đề sau:  
Thứ nhất, bổ sung quy định của pháp luật về giám định nhãn hiệu trong Luật SHTT và các  
văn bản hướng dẫn thi hành nhằm khắc phục sự “đứt đoạn” của quy trình thực thi pháp luật gây ảnh  
534  
hưởng trực tiếp và tích cực đến tính hiệu quả của hệ thống bảo hộ về nhãn hiệu như khái niệm, đặc  
điểm, nội dung, quy trình… giám định về nhãn hiệu.  
Thứ hai, cần có cơ chế bảo vệ phù hợp, các quy định về bảo hộ nhãn hiệu, hoạt động giám  
định nhãn hiệu đối với các doanh nghiệp FDI tham gia vào thị trường kinh doanh để tránh xâm  
phạm nhãn hiệu như: quy định cụ thể về các điều khoản tham gia, khả năng đánh giá các tranh chấp  
có thể xảy ra, mở rộng cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp FDI trên cơ sở bảo vệ vững chắc nhãn hiệu  
mà họ đang sử dụng.  
Thứ ba, cần quy định và giám sát chặt chẽ hoạt động đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của các doanh  
nghiệp trong và ngoài nước để các doanh nghiệp FDI không bị xâm phạm quyền SHTT nói chung  
và nhãn hiệu nói riêng.  
4. KẾT LUẬN  
Giám định về nhãn hiệu có vai trò là một khâu bổ trợ trong quá trình kết luận, là cơ chế bảo  
vệ quyền SHTT và xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,  
cũng như giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về quyền SHTT trong các doanh nghiệp FDI. Các  
doanh nghiệp FDI có thể sử dụng văn bản kết luận giám định nhãn hiệu của tổ chức thực hiện giám  
định (Viện KH SHTT) làm bằng chứng chuyên môn hỗ trợ việc giải quyết tranh chấp hoặc nguồn  
chứng cứ pháp lý hỗ trợ việc khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2011), Thông tư 04/2012/TT - BKHCN ngày 13/12/2012 sửa đổi,  
bổ sung một số quy định của Thông tư 01/2008/TT - BKHCN ngày 25/02/2008 hướng dẫn việc  
cấp, thu hồi thẻ giám định viên SHCN và giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám  
định SHCN, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 04/2009/TT - BKHCN và Thông tư số  
18/2011/TT - BKHCN ngày 22/7/2011).  
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện khoa học Sở hữu trí tuệ  
ban hành kèm theo Quyết định số 3915/QĐ - BKHCN của Bộ trưởng Bộ khoa học công nghệ.  
3. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Pháp lệnh GĐTP số 48/BC - TP ngày  
25/3/2011.  
4. Nguyễn Hữu Cẩn, (2010), Giám định về sở hữu trí tuệ: Công cụ hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ  
quyền sở hữu trí tuệ, Viện khoa học sở hữu trí tuệ.  
5. Chính phủ (2006), Nghị định 105/2006/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  
điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.  
6. Chính phủ (2010), Nghị định 119/2010/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định  
105/2006/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ  
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.  
7. Phạm Thế Hùng, Trần Thị Lan Hương, Vũ Thị Tuyết Nhung, (2020), Hoàn thiện thể chế, chính  
sách đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 12/2019.  
8. Quốc hội, (2005), Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11.  
9. Quốc hội (2009), Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được sửa đổi bổ sung 2009.  
535  
10. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13.  
11. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.  
12. Quốc hội (2015), Luật Tố tụng hành chính 93/2015/QH13.  
13. Hà Thị Nguyệt Thu (2017), Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công  
nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.  
14. Hà Thị Nguyệt Thu (2017), Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám  
định hỗ trợ xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu, Tạp chí Khoa học và công nghệ  
Việt Nam, Số 03 năm 2017.  
15. Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ (2018), Thực trạng hoạt động giám định Sở hữu công nghiệp tại  
Việt Nam từ 9/2009- 5/2018, Báo cáo tổng hợp  
536  
pdf 10 trang Thùy Anh 13720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giám định về nhãn hiệu - Cơ chế bảo vệ doanh nghiệp FDI trong xâm phạm nhãn hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiam_dinh_ve_nhan_hieu_co_che_bao_ve_doanh_nghiep_fdi_trong.pdf