Giá trị văn hóa trong nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân của người Mnông ở huyện Lắk - tỉnh Đắk Lắk

76  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
Giá trị văn hóa trong nghi lễ liên quan đến  
tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân  
của người Mnông ở huyện Lắk - tỉnh Đắk Lắk  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
Trường Đại học Đà Lạt  
Email: haoltq@dlu.edu.vn  
Tóm tắt: Nghi lễ vòng đời là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa của người  
Mnông. Các giá trị văn hóa trong nghi lễ vòng đời phản ánh quan hệ đa chiều của con người  
với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Nghi lễ vòng đời của người Mnông (những nghi lễ  
quan trọng trong các giai đoạn cuộc đời con người: sinh ra, lớn lên, mất đi) phản ánh đặc trưng  
văn hóa truyền thống, bộc lộ rõ nét những giá trị văn hóa đặc sắc như giá trị nhân sinh, giá trị  
đạo đức. Bài nghiên cứu tập trung giới thiệu những nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và  
phong tục hôn nhân cùng với những ý nghĩa của nó. Những nghi lễ này rất quan trọng trong  
cuộc đời con người, thể hiện tính nhân văn của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.  
Từ khóa: Giá trị văn hóa, nghi lễ, trưởng thành, phong tục hôn nhân, người Mnông.  
Cultural values in maturity rituals and marriage customs of Mnong people in Lak  
district - Dak Lak  
Asbtract: The life cycle ritual is an important element constituting the cultural identity of  
the Mnong. Cultural values in life cycle rituals reflect people’s multi-dimensional relationships  
with the natural and social environment. The life cycle ritual of the Mnong (important rituals  
in human life stages: birth, growth, death) reflects traditional cultural characteristics, clearly  
reveal unique cultural values such as human values, ethical values. The study focuses on  
introducing the rituals related to maturity age and marriage customs along with its meanings.  
These rituals are very important in human life, show the humanity of the Mnong people in Lak  
district, Dak Lak province.  
Keywords: Cultural values, ritual, mature, marriage customs, the Mnong.  
Ngày nhận bài: 20/08/2021  
Ngày duyệt đăng: 10/11/2021  
1. Đặt vấn đề  
Mnông là một trong 12 dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, có nguồn gốc từ nhóm  
Môn - Khơme. Họ là một trong những cư dân lâu đời ở mảnh đất Đắk Lắk hiện nay. Mnông bao  
gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau như: Mnông Gar, Mnông Chil, Mnông Rlâm, Mnông  
Preh, Mnông Nong, Mnông Bu Dâng, Mnông Prâng, Mnông Mạ… Các nhóm địa phương của  
người Mnông ở huyện Lắk chủ yếu thuộc nhóm Mnông Gar, Mnông Chil và Mnông Rlâm. Theo  
kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Đắk Lắk năm 2019, tổng số dân tộc Mnông tỉnh  
Đắk Lắk là 48.505/1.869.322 người (chiếm 2,59% dân số), tổng số dân tộc Mnông huyện Lắk là  
36.145/69.885 người (chiếm 51,72% dân số) (Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, 2019).  
77  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
Dân tộc Mnông là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, lịch sử phát triển văn hóa của dân  
tộc Mnông đã góp phần làm phong phú hơn kho tàng văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk. Trước sự vận  
động và biến đổi không ngừng của thế giới, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, xu thế  
hội nhập hiện nay đã ảnh hưởng lớn đến văn hóa của các dân tộc nói chung và ảnh hưởng tới  
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mnông ở huyện Lắk nói riêng. Do đó, việc bảo tồn  
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đang là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, liên  
tục, lâu dài.  
Thực hành nghi lễ là cách con người giải tỏa bớt những căng thẳng, tạo sự cân bằng  
trong mỗi thời đoạn gắn liền vòng đời con người. Vì thế, dưới các hình thức và biểu hiện khác  
nhau, nghi lễ vòng đời trở nên quen thuộc đối với nền văn hóa các dân tộc trên thế giới. Tuy  
nhiên, có thể khẳng định nghi lễ vòng đời“là những nghi lễ liên quan đến cá nhân từ khi sinh  
ra đến khi chết”(Ngô Đức Thịnh, 2006, tr.23). Như vậy, nghi lễ vòng đời gắn liền với chu kỳ sinh  
học của con người theo chuỗi thời gian, liên quan trực tiếp tới sự thay đổi sinh thể và sự thay  
đổi xã hội, văn hóa. Nghi lễ vòng đời chứa đựng những giá trị văn hóa nhất định. Tìm hiểu nghi  
lễ vòng đời và giá trị của nó giúp chỉ ra bản sắc độc đáo trong đời sống của người Mnông, có  
cái nhìn đa diện hơn về giá trị văn hóa người Mnông ở Tây Nguyên, hiểu thêm về đời sống của  
cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.  
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu khu vực học theo cách tiếp cận liên ngành,  
trong đó tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu của văn hóa học, dân tộc học, xã  
hội học khi khảo cứu, tìm hiểu những nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục  
hôn nhân của người Mnông. Bên cạnh nghiên cứu các tư liệu văn hóa Mnông đã được chính  
thức xuất bản, tác giả kết hợp với khảo sát thực tế tại các địa bàn có nhiều dân tộc Mnông  
sinh sống tại huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk trong tháng 3 năm 2020. Đây là huyện tập trung nhiều  
người Mnông sinh sống, đồng thời cũng là những vùng đáp ứng các tiêu chí chọn mẫu, nhất  
là tính đại diện.  
2. Khái niệm giá trị văn hóa  
Những hành động của con người vì nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại  
của mình ẩn chứa các giá trị văn hóa. Khía cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn  
của con người biểu hiện trong hoạt động sống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc: ăn, mặc, ở, đi  
lại, giao tiếp xã hội, giáo dục, tập quán, tín ngưỡng,... tạo nên nét đặc trưng của giá trị văn hóa.  
Giá trị văn hóa là những thành tựu của một cá nhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan  
hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình; giá trị văn hóa là thái độ,  
trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình,  
xã hội và thiên nhiên; giá trị văn hóa cũng là những biểu tượng cho cái chân - thiện - mỹ. Cho  
nên, có ý kiến cho rằng “chỉ những hoạt động nào thể hiện được những sức mạnh bản chất  
của con người, những sức mạnh biểu trưng cho chân - thiện - mỹ mới hiện diện như những  
giá trị văn hóa”(VUSTA, 2010).  
Giá trị văn hóa không phải là cái chủ quan hay bị áp đặt mà nó mang tính khách quan,  
gắn liền với dân tộc, giai cấp và nhân loại, nên mang tính phổ biến. Tuy nhiên, giá trị văn hóa  
cũng như giá trị, nó không cố định mà biến đổi cùng sự biến đổi của xã hội. Các giá trị văn  
hóa biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ tư tưởng, tình cảm, quan niệm, biểu  
tượng, đạo đức thẩm mỹ, lối sống đến những giá trị tinh thần do con người sáng tạo nên như  
nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, âm nhạc... Những giá trị văn hóa này hình thành và được khẳng  
định trong quá trình tồn tại phát triển của con người và xã hội. Giá trị văn hóa luôn hiện hữu  
trong chương trình hành động của dân tộc, thể hiện cốt cách của một dân tộc, tạo nên nét  
78  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
độc đáo, truyền thống, bản sắc dân tộc, thông qua đó có thể so sánh, nhận định về nền văn  
hóa của dân tộc này với dân tộc khác (VUSTA, 2010).  
Như vậy, giá trị văn hóa của một dân tộc bao gồm toàn bộ những giá trị mà cộng đồng  
dân tộc đó sáng tạo, tích lũy trong tiến trình lịch sử, bao gồm cả giá trị văn hóa vật chất và giá  
trị văn hóa tinh thần: “Giá trị văn hóa dân tộc là kết quả sáng tạo, tích lũy của một cộng đồng,  
dân tộc, được phản ánh trong các di sản, tài sản văn hóa vật thể, phi vật thể, được cộng đồng  
lựa chọn, thừa nhận và khao khát hướng tới, thông qua sự trải nghiệm lịch sử”(Học viện Chính  
trị Quốc gia HCM, 2019, tr. 88).  
3. Giá trị văn hóa của các nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn  
nhân của người Mnông ở huyện Lắk  
Trong hệ thống nghi lễ vòng đời của người Mnông ở huyện Lắk, có hệ thống nghi lễ  
liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân. Có thể thấy, đối với cuộc đời một  
con người, trưởng thành và kết hôn là hai giai đoạn rất quan trọng. Nghi lễ liên quan đến tuổi  
trưởng thành và phong tục hôn nhân của dân tộc Mnông ở huyện Lắk là một phong tục đẹp,  
giàu tính nhân văn, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Có rất nhiều nghi lễ liên quan trong giai  
đoạn này, cụ thể: Lễ trưởng thành (M’ham săk trôih năm drôh nu); Lễ dạm hỏi (Ndranh koong  
mai să ur); Lễ ăn hỏi (Tăm kuôt kông ur sai); Lễ cưới (Tăm sai); Lễ cúng khi vợ chồng ly hôn hoặc  
tái hợp (Lơh yang, wăt săk jăn) (Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’L. B. Đ., dân tộc Mnông, sinh năm  
1981, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
3.1. Lễ trưởng thành (M’ham săk trôih năm drôh nu)  
Để được công nhận chính thức là một thành viên của cộng đồng với quyền lợi và nghĩa  
vụ nhất định, đứa trẻ phải trải qua nghi lễ mang tính chất chuyển tiếp giữa trẻ em - người  
lớn. Lễ thường được tổ chức trong giai đoạn đứa trẻ từ 16 đến 20 tuổi, người Mnông gọi là Lễ  
trưởng thành (bư brah văt bôk n’hao săk). Trải qua nghi lễ này mới có thể lập gia đình. Lễ này  
thường được tổ chức cho con trai, ít khi tổ chức cho con gái, bởi con trai sẽ đi kiếm ăn nơi xa,  
còn con gái chỉ quanh quẩn ở nhà quản lý của cải, tài sản,… Nghi lễ này mang ý nghĩa cúng  
bái cầu mong thần linh ban cho mọi việc sau đó sẽ được suôn sẻ, tốt đẹp, tránh họa, gặp lành  
(Nguồn: Phỏng vấn sâu Ông Y W. N., dân tộc Mnông, Già làng buôn M’Liêng, xã Đăk Liêng,  
huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Lễ vật cúng thần là một ché rượu quý cùng một con heo thiến to béo, con heo được cạo  
lông, mổ bụng, đặt cạnh ché rượu. Bộ lòng của nó được luộc chín, cắt thành từng miếng bỏ  
lên lá chuối, mỗi thứ một miếng từ tim, gan, phổi, cật, lá lách, lòng già, lòng non,… Gia đình  
phải mời một già làng cao tuổi nhất đến làm lễ trưởng thành chứ không phải gia chủ đảm  
nhiệm như một số lễ khác. Người con được làm lễ hôm đó mặc bộ quần áo trang trọng theo  
đúng kiểu cách của dân tộc mình, đầu chít khăn mới, thân choàng thảm mới, tai đeo vòng  
bằng ngà voi (hoặc loại gì quý nhất mà mình có). Người được làm lễ ngồi trên sạp đặt ngay  
dưới bàn thờ tổ tiên. Gia chủ chuẩn bị cho già làng một bát gạo trắng, trên bát có một ngọn  
đèn cầy đang cháy, một đoạn thân mây có cả cành lá, một con gà trống vừa biết gáy để già  
làng cầm các thứ đó đưa vòng từ phải sang trái (ngược chiều kim đồng hồ). Già làng sẽ quay  
7 lần trên đầu đứa con, vừa quay vừa đếm từ một đến bảy. Động tác 7 lần là để đuổi ma xấu.  
Số 7 biểu thị cho sự cực đại. Nó biểu thị cho hoàn thiện, hoàn tất, bậc cao. Ví dụ: “vượt 7 núi,  
7 sông” có nghĩa là đường dài, “mài gươm 7 ngày, 7 đêm, đánh nhau suốt 7 ngày, 7 đêm” có  
nghĩa là số lượng thời gian lớn (Nguồn: Phỏng vấn sâu Ông Y W. N., dân tộc Mnông, Già làng  
buôn M’Liêng, Xã Đăk Liêng, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
79  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
Tiếp đến già khấn mời thần linh, tổ tiên về dự lễ, chứng giám và phù hộ cho con cháu,  
mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, trở thành người tốt, mai sau có cuộc sống hạnh phúc. Đứa con  
ngồi trang nghiêm trước ché rượu, hai tay nắm lấy cần. Cúng xong vị già làng cao tuổi nhất  
này xới một thìa cơm đầu nồi, lấy tim, gan, phổi,… (mỗi thứ một miếng) của con heo cúng  
thần trộn cùng cơm bón cho đứa con chịu lễ. Rồi cũng như vậy người con mời lại già làng. Ăn  
xong già làng cầm một ống rượu được hút từ trong ché rượu cúng đưa cho đứa con làm lễ  
uống trước. Tiếp sau đó mọi người theo thứ tự cùng uống. Già làng, bố mẹ, anh chị em và họ  
hàng bà con. Theo phong tục, lúc này người làm lễ phải lấy một nhúm gạo ném vào ngọn lửa  
đang cháy trong bếp và khấn hứa với các thần linh sẽ có lễ tạ với thần linh khi trưởng thành  
phát đạt (Nguồn: Phỏng vấn sâu Ông Y W. N., dân tộc Mnông, Già làng buôn M’Liêng, xã Đăk  
Liêng, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Trong chén rượu vui vẻ mọi người có lời dạy bảo con cháu nên người. Già kể chuyện  
cuộc đời mình, những bài học kinh nghiệm hay, dở đã qua để con cháu biết mà phát huy cái  
tốt, khắc phục, tránh xa những cái dở, sai sót. Theo luật tục của người Mnông người con phải  
học và làm theo. Sau cùng người con trai đáp lại bằng lời hứa chân thành nhớ sâu lời bảo ban  
của người già, người bề trên để tu đức, rèn tài cho xứng con cháu buôn làng. Người con sẽ nuôi  
con gà trống cho lớn để đến khi làm ăn khấm khá sẽ giết con gà đó để ăn mừng. Và từ đó người  
con trai sẽ tung cánh khắp phương trời xứng là người con trai Mnông cần cù, anh dũng và đức  
độ mang những điều tốt lành cho buôn làng và dân tộc mình (Phỏng vấn sâu Ông Y W. N., dân  
tộc Mnông, Già làng buôn M’Liêng, xã Đăk Liêng, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Nghi lễ trưởng thành phản ánh quan niệm của người Mnông về tự nhiên - xã hội - văn  
hóa trong mối liên hệ chặt chẽ với con người, vì thế mang giá trị nhân sinh. Các nghi lễ được  
thực hiện nhằm mục đích cầu xin thần linh đem lại mọi điều may mắn cũng như giúp đứa trẻ  
có thêm sự mạnh mẽ như nhận định“Từ khi bé cất tiếng khóc chào đời, một thế giới mới mở ra  
và cũng là lúc bắt đầu bé trực tiếp không chỉ tự“trao đổi chất”, mà còn“giao tiếp tinh thần”với  
cộng đồng. Cũng bắt đầu từ đây môi trường văn hóa dân tộc đào luyện và hun đúc nên tâm  
hồn và tính cách một thành viên mới. Những nghi lễ mới bắt đầu được tiến hành để mở đầu  
cho quá trình đào luyện và hun đúc đó” (Lê Trung V., 2000, tr.29). Theo quan niệm của người  
Mnông trải qua lễ trưởng thành thì mới thực sự là đã trưởng thành, lễ cúng trưởng thành là  
một nghi lễ rất quan trọng bởi nó đánh dấu sự trưởng thành của người đàn ông. Từ đây anh  
ta có thể tham gia giải quyết những việc lớn của gia đình, họ tộc và buôn làng. Nghi lễ này đã  
tồn tại từ rất lâu và có ý nghĩa rất lớn trong đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào Mnông.  
Họ coi nhiệm vụ đối với buôn, làng, gắn chặt với quyền lợi và nghĩa vụ của người con trai, con  
gái khi đến tuổi trưởng thành. Trước hết phải chấp hành luật tục của dân tộc mình rồi đến  
thực hiện pháp luật của Nhà nước.  
Ngày nay, nghi lễ trưởng thành không còn được thực hành phổ biến và cũng không  
mang ý nghĩa cộng đồng rộng rãi như trước đây mà chỉ tổ chức trong phạm vi gia đình thể  
hiện tính nhân văn, ý nghĩa tâm linh đối với mỗi cá nhân.  
3.2. Phong tục hôn nhân  
3.2.1. Lễ cưới (Tăm sai)  
Ở độ tuổi trưởng thành, lễ cưới là nghi lễ quan trọng đánh dấu sự chuyển tiếp vai trò, vị  
trí xã hội này sang vai trò, vị trí xã hội khác. Trước đây, người Mnông ở Lắk kết hôn sớm, nếu  
ngoài 20 tuổi mà chưa lập gia đình thì bị xem là “quá lứa lỡ thì” khó có thể kết hôn. Điều đặc  
biệt trong hôn nhân truyền thống của người Mnông là họ rất tôn trọng ý kiến cha mẹ, ít khi  
dám làm trái lời, vì sợ bị từ bỏ quyền làm con, bị nguyền rủa sẽ bất hạnh và nghèo khổ suốt đời.  
80  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
Lễ cưới của dân tộc Mnông ở huyện Lắk là một phong tục đẹp, giàu tính nhân văn, giàu  
bản sắc văn hoá dân tộc. Theo phong tục của đồng bào Mnông, cứ sau một mùa rẫy là các  
buôn làng tổ chức các nghi lễ - lễ hội vòng đời người, nhằm tạ ơn các vị thần linh, tạ ơn tổ tiên  
ông bà đã phù hộ cho mọi người lúa thóc đầy bồ, heo bò đầy sân, chật bãi. Trong các nghi lễ  
này, có lễ cưới truyền thống được mọi người quan tâm hơn cả.  
Lễ cưới theo phong tục cổ truyền của người Mnông, trải qua các nghi thức sau:  
Lễ dạm hỏi (Ndranh koong mai să ur): Sau khi đã chọn được cô gái vừa ý, chàng trai thưa  
với cha mẹ. Nếu cha mẹ của chàng trai đồng ý thì nhờ ông cậu trong gia đình hoặc ông mối  
trong dòng họ đi đến nhà gái để ngỏ lời cho con trai mình, gọi là lễ dạm hỏi. Lễ dạm hỏi được  
tổ chức ở nhà gái, trước lễ cưới 1 đến 3 năm. Đây là lần gặp mặt chính thức đầu tiên của 2 bên  
gia đình. Hai bên sẽ trò chuyện, tìm hiểu gia cảnh, điều kiện của đôi bên, xem 2 bên còn họ  
hàng với nhau hay không để tránh hôn nhân cận huyết. Nhà trai sẽ mang lễ dạm ngõ đến nhà  
gái ngỏ lời xin phép cho hai con được chính thức qua lại và chọn ngày làm lễ ăn hỏi.  
Đến nhà gái, nhà trai đặt lên chiếc nia một tô gạo trắng, một con gà nướng, một chuỗi  
cườm đeo cổ, một chiếc váy. Ông cậu hoặc ông mối thay mặt chàng trai hỏi cô gái làm vợ. Nhà  
gái cử người trong dòng họ ra tiếp lễ và yêu cầu nhà trai đọc gia phả của gia đình mình. Sau  
đó nhà gái đọc gia phả nhà mình, nếu hai bên không cùng một bà tổ, không cùng một dòng  
họ thì được kết hôn với nhau. Tuy vậy, trước khi nhận lễ của nhà trai, cha mẹ cô gái hỏi con gái  
mình lần nữa, nếu cô gái đồng ý thì mới nhận. Lúc này cha mẹ cô gái mang một ché rượu lớn  
để làm lễ nhận lời hứa hôn. Thầy cúng đại diện nhà gái lấy cần hút ra một bát rượu pha tiết gà  
trống rồi xoa lên cột nhà chính, thần đá bếp, kho thóc, nhà cửa… khấn báo với các thần linh là  
nhà gái đã nhận lời hứa hôn với nhà trai. Sau đó hai bên cùng uống rượu vui vẻ và chọn ngày  
làm lễ ăn hỏi (Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’W. P. T., dân tộc Mnông, sinh năm 1978, cán bộ Hội  
Liên hiệp Phụ nữ, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Lễ ăn hỏi (Tăm kuôt kông ur sai): Sau lễ dạm hỏi một năm, gia đình nhà trai tiến hành làm  
lễ hỏi vợ cho con trai mình. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Nghi lễ  
này đánh dấu giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành «vợ sắp cưới» của  
chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm  
rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con. Trong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà  
gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công nhận sự gả con gái cho nhà trai. Kể từ ngày ăn hỏi,  
đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.  
Trong nghi lễ này, nhà trai chuẩn bị hai ống đựng măng chua, một chuỗi cườm (mai),  
một vòng đồng (kông) và cử một đoàn đi đến nhà gái. Đến nhà gái, nhà trai đặt mọi lễ vật lên  
một cái nia và xin phép nhà gái được làm lễ hỏi vợ cho con trai mình. Bên nhà gái cử ông cậu  
tiếp nhận lễ vật và chấp thuận cho nhà trai được làm lễ hỏi vợ. Tiếp đến, bà mối bên nhà trai  
đeo chuỗi cườm cho cô gái và đeo vòng bạc vào cổ chàng trai. Với nghi thức này, hai bên nhà  
trai và nhà gái công nhận đôi trai gái chính thức trở thành vợ chồng. Lúc này nhà gái mang  
ra một ché rượu lớn và một con gà trống thiến để làm lễ báo với thần linh, tổ tiên, ông bà.  
Rồi thầy cúng lấy rượu cần pha tiết gà bôi lên trán đôi trai gái nhằm công nhận đôi vợ chồng  
trẻ là người cùng một nhà, như “chim đã có đôi”, như “ché rượu đã cắm cần”, như “bếp đã có  
nồi” không thể chia lìa nhau được. Sau nghi lễ này, hai gia đình cùng nhau uống rượu và bàn  
chuyện lễ cưới cho đôi trai gái (Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’W. P. T., dân tộc Mnông, sinh năm  
1978, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Lễ cưới bên nhà gái: Sau lễ hỏi khoảng một tuần thì hai bên tổ chức lễ cưới. Đầu tiên là  
lễ cưới bên nhà gái. Nhà gái chuẩn bị 100 gùi gạo giã trắng như bông, 100 ché rượu, giết một  
81  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
con bò để đãi khách. Chuẩn bị 50 cái tô, 50 cái chén, 50 chuỗi cườm để làm quà tặng cho cha  
mẹ và dòng họ chú rể. Lễ vật nhà trai mang sang nhà gái, gồm 6 ché rượu lớn, 3 ché cao tượng  
trưng cho người chồng, 3 ché thấp tượng trưng cho người vợ; 50 ống đựng măng chua bịt da  
trâu, trong đó có 1 ống cao và 1 ống thấp; 1 chuỗi cườm; một cái xà gạc; 1 con dao nhỏ; 1 cái  
cuốc nhỏ; tất cả đựng trong 1 cái gùi được trang trí những tua bông chỉ màu đỏ, vàng, xanh.  
Lễ vật của nhà trai mang qua nhà gái còn có một con heo lớn (khoảng 7 gang tay), 1 con gà  
trống thiến để nhà gái làm lễ cúng tổ tiên ông bà trong ngày cưới. Nhà gái thực hiện nghi thức  
bôi tiết heo pha rượu lên các lễ vật của nhà trai mang đến. Sau đó là nghi thức trao lễ vật. Sau  
nghi thức trao lễ vật, nhà gái làm lễ dâng rượu lên thần ông bà, thần bảo vệ sức khoẻ, hạnh  
phúc cho đôi trai gái, thần mẹ sinh, cha dưỡng của đôi trai gái, rồi mời cha mẹ, cô cậu của cô  
dâu, chú rể uống rượu, và căn dặn đôi trai gái ăn ở hoà thuận, thương yêu nhau, tôn trọng họ  
hàng hai bên, đoàn kết với buôn làng. Tiếp đến là nghi thức cụng đầu. Trong nghi thức này, hai  
ông mối hai bên kể gia phả của dòng họ, nêu gương tốt của ông bà để đôi vợ chồng trẻ học  
tập. Trong lúc đôi trai gái đang say sưa nghe kể gia phả, thì bất ngờ ông mối xô cô dâu, chú rể  
chạm vào nhau thật mạnh, va càng mạnh càng tốt (với ý nghĩa tâm đầu ý hợp) để xây dựng  
một cuộc sống hạnh phúc bền lâu. Sau nghi lễ này là nghi thức mời cơm cha mẹ, thể hiện sự  
báo hiếu đối với cha mẹ hai bên của đôi trai gái; nghi thức tung gà thể hiện sự xin lỗi của chủ  
nhà về những gì còn thiếu sót trong đám cưới của nhà gái. Ở đây mọi người vừa uống rượu  
vừa ăn thịt, ăn cơm giao lưu vui vẻ, ai cũng cầu cho đôi bạn trẻ sống hạnh phúc. Cuối cùng là  
nghi thức tiễn nhà trai về (Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’W. P. T., dân tộc Mnông, sinh năm 1978,  
cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Lễ cưới bên nhà trai: Các nghi thức lễ cưới bên nhà trai cũng như bên nhà gái: dâng lễ vật,  
dâng rượu, mời cơm cha mẹ, tung gà, mời rượu, tiễn nhà gái ra về. Trước khi chia tay nhà gái,  
nhà trai mang con heo cúng trao cho nhà gái, nhà gái cũng chỉ nhận một nửa đầu heo. Nhà  
gái ra về, cô dâu ở lại bên nhà chồng trong vòng bảy ngày. Trong bảy ngày này, cô dâu được  
nhà trai dẫn đi thăm bà con họ hàng của chàng trai, hoà mình cùng cuộc sống gia đình nhà  
trai như: nấu cơm, giã gạo, làm rượu, dệt vải, đi rừng kiếm củi, hái măng… Sau một tuần, cha  
mẹ cô gái mang lễ vật (1 con gà, 1 ché rượu) sang nhà trai xin đón đôi trai gái về ở nhà mình.  
Nhà trai làm con heo đãi nhà gái rồi đưa tiễn đôi bạn trẻ về nhà gái trong tình cảm yêu thương  
bịn rịn. Lễ cưới của dân tộc Mnông Gar là một phong tục đẹp, nằm trong nghi lễ vòng đời. Đây  
là một nghi lễ giàu tính nhân văn, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, cần được gìn giữ, phát huy  
trong đời sống cộng đồng.  
Tuy nghi lễ, nghi thức tương tự nhau nhưng đối với người Mnông những điều này không  
thừa bởi sẽ nhắc nhở đôi trai gái biết sống, biết ứng xử với gia đình và mọi người xung quanh.  
Điểm chung của các nghi lễ này là sự chuẩn bị công phu, chu đáo các lễ vật và đảm bảo nhiều  
kiêng cữ nhằm mong muốn mọi sự suôn sẻ tốt đẹp cho đôi vợ chồng. Cũng như người Mnông  
ở các địa phương khác, hôn nhân người Mnông ở huyện Lắk mang đậm dấu ấn mẫu hệ, đó là  
người con gái giữ vai trò quan trọng, nhưng người đi hỏi lại là nam giới. Tiến trình hôn nhân  
từ lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi cho đến lễ cưới mang đặc trưng truyền thống sâu sắc và nghi lễ cũng  
bao hàm nhiều thành tố như lễ vật, nghi thức, chủ lễ, luật tục theo quy định từ xưa tạo thành  
chỉnh thể nhất định (Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’W. P. T., dân tộc Mnông, sinh năm 1978, cán  
bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
3.2.2. Lễ cúng khi vợ chồng ly hôn hoặc tái hợp (Lơh yang, wăt săk jăn)  
Theo luật tục, khi hai vợ chồng bỏ nhau, nếu bên nào đặt vấn đề ly hôn, bên đó sẽ phải  
nộp lễ vật cho lễ cúng vợ chồng ly hôn. Nếu người vợ xin ly hôn, người vợ phải đem trả các lễ  
vật trong lễ cưới của bên nhà trai. Nếu người chồng đòi ly hôn, anh ta và gia tộc phải đền trả  
82  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
các lễ vật của bên nhà gái trong lễ cưới. Nếu hai vợ chồng cùng đồng ý ly hôn, họ không phải  
đền trả các lễ vật này mà cùng chung nhau lo cho lễ vật dùng trong lễ ly hôn.  
Lễ vật trong buổi lễ này gồm một ché rượu, một con heo. Khi giết con vật hiến sinh,  
người ta lấy một chút huyết của nó hòa với rượu lấy ra từ ché rượu cúng. Thầy cúng hoặc một  
người già trong gia tộc lấy chổi bằng lá cây quết rượu pha huyết đó lên những nơi cư trú của  
các vị thần giữ nhà, thần giữ buôn, thần hàng rào buôn, thần đá, thần rừng, thần núi, thần  
suối, thác,… cúng ché rượu, để thỉnh báo về việc hai vợ chồng ly hôn.  
Nếu hai vợ chồng ly hôn nhưng đã có con với nhau, trong lễ cúng ly hôn họ phải có một  
con heo một ché rượu cúng cho những đứa trẻ. Hai vợ chồng phải có trách nhiệm trong việc  
nuôi dạy con cái, phải chia cho chúng một phần của cải, phải dành cho chúng một số vật có  
giá trị trong gia đình làm kỷ niệm…  
Sau khi ly hôn nếu hai vợ chồng muốn tái hợp với nhau, họ phải làm một lễ thỉnh báo  
với thần linh, các vị thần giữ buôn, giữ nhà về việc hai vợ chồng lại muốn chung sống với nhau  
như trước kia. Lễ vật trong lễ này chỉ cần 1 ché rượu và một con heo. Các nghi thức cúng thần  
cũng tượng tự như trong các lễ cúng thần khác, trong đó trung tâm của các nghi thức này là  
việc phết rượu pha huyết con vật hiến sinh lên các vật thiêng, nơi cư ngụ của các thần linh  
(Nguồn: Phỏng vấn sâu Bà H’W. P. T., dân tộc Mnông, sinh năm 1978, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ  
nữ, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tháng 3/2020).  
Giá trị nhân sinh thể hiện qua các nghi lễ, nhất là lễ cưới, cho thấy cách nhìn nhận về  
trách nhiệm con người trong quan hệ đặc biệt mang tính cá nhân nhưng lại ảnh hưởng sâu  
sắc đến cả cộng đồng. Ngoài quan niệm về đời người, nghi lễ vòng đời còn thể hiện mối  
quan hệ con người với các mối quan hệ xã hội khác như dòng họ, làng buôn. Tham gia nghi  
lễ, đặc biệt các nghi lễ lớn như lễ cưới, lễ mừng sức khỏe,… dù tổ chức phạm vi lớn hay nhỏ,  
mọi người trong buôn đều cùng góp rượu thịt, công sức không phân biệt việc của riêng ai.  
Cả cộng đồng tự do vui chơi ăn uống, cùng ca hát sáng tạo, hưởng thụ văn hóa với tâm thế  
người trong cuộc.  
Đạo đức là lẽ phải, là điều tốt lành, nguyên lý phải theo trong quan hệ giữa người với  
người, giữa cá nhân với xã hội. Giá trị đạo đức là nền tảng giúp duy trì nề nếp gia đình, trật tự  
xã hội theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc nhất định. Với người Mnông, qua cách ứng xử con  
người trong nghi lễ vòng đời, những giá trị của cộng đồng được bộc lộ rõ nét bởi“Các ứng xử,  
khi đã trở thành khuôn mẫu (tức được xã hội tổng quát hóa) thì đều chứa đựng một ý nghĩa xã  
hội nào đó, chúng truyền bá, phản ánh một giá trị nhất định nào đó trong đời sống xã hội”(Lê  
Như Hoa, 2002, tr.129). Giá trị cụ thể ở đây là đạo đức. Giá trị đạo đức thể hiện rõ nét nhất trong  
thực hành nghi lễ. Qua thực hành nghi lễ, vai trò vị trí của mỗi cá nhân bộc lộ khá rõ ràng. Các  
thành tố của nghi lễ cũng thế. Luôn theo trật tự nhất định, không dễ thay đổi. Những quy tắc,  
chuẩn mực luôn được đề cao. Cả cộng đồng mặc nhiên thừa nhận và tuân thủ nhằm tránh  
cho gia đình cũng như cộng đồng tai họa, xui rủi. Như vậy, tính cộng đồng trong các nghi lễ  
của người Mnông bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Vì thế, các nghi lễ của người Mnông  
phản ánh rất rõ quan hệ văn hóa mang giá trị đạo đức trên - dưới, trước - sau, gia đình - làng  
buôn, cá nhân - cộng đồng. Giá trị đạo đức còn bộc lộ qua cách ứng xử giữa các thành viên  
trong gia đình, cộng đồng. Trong lễ cưới cô dâu, chú rể luôn có những phần quà dành cho cha  
mẹ, họ tộc hai bên. Với ý nghĩa chia sẻ niềm vui, cảm ơn mọi người đã đến tham dự ngày vui  
của họ, thể hiện lòng biết ơn với các bậc sinh thành đã có công nuôi dưỡng cô gái/chàng trai  
thành người. Thông qua nghi lễ, thế hệ trẻ có thêm bài học về kính trọng con người, đến một  
lúc nào đó những thế hệ này lại tiếp tục trao truyền cách ứng xử ấy đến thế hệ sau. Xét ở một  
83  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
góc độ khác, giá trị để lại sau các nghi lễ là truyền thống“uống nước nhớ nguồn”quý báu của  
người Việt Nam.  
Qua đây, chúng ta thấy, phong tục hôn nhân của dân tộc Mnông là một phong tục đẹp,  
giàu tính nhân văn, giàu bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, nghi lễ này cần được giữ gìn và bảo tồn.  
Tóm lại, không thể phủ nhận các giá trị đó đã tạo thành một chỉnh thể có quan hệ mật thiết  
làm nền tảng giúp giữ vững và duy trì bản sắc văn hóa tộc người trong suốt tiến trình lịch sử.  
Điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi nhanh chóng cùng với sự giao lưu văn hóa ngày càng  
sâu rộng đã tác động làm thay đổi quan niệm, các chuẩn mực cũng như nghi thức hôn nhân  
của người Mnông. Hiện nay, việc cưới xin tùy thuộc và nguyện vọng của hai người yêu nhau.  
Trên cơ sở đó, cả hai gia đình thống nhất về nghi lễ, khuynh hướng chung là tổ chức giản lược  
và bỏ đi nhiều nghi lễ truyền thống như lễ cụng đầu, lễ tung gà,… Lễ vật thách cưới vẫn chưa  
được xóa bỏ, nhưng nhiều lễ vật được quy đổi ra vàng và tiền chứ không phải là hiện vật như  
trước kia. Với những người theo đạo Công giáo, Tin lành sau khi hoàn tất mọi nghi thức ở nhà  
thờ, cả hai gia đình sẽ tổ chức lễ cưới tại nhà. Điều đặc biệt là mọi người vẫn tổ chức cưới theo  
truyền thống vào tối hôm trước, cô dâu chú rể mặc đồ truyền thống. Còn hôm sau sẽ tổ chức  
như người Kinh, khách đến dự đem theo phong bì mừng, cô dâu chú rể mặc trang phục như  
đám cưới người Kinh.  
4. Kết luận  
Trong quá trình sinh sống lâu dài tại ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, với sự sáng tạo văn  
hóa không ngừng, người Mnông đã làm nên những đặc thù riêng về văn hóa thể hiện trong  
phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội. Giá trị văn hóa đó không chỉ thể hiện được bản sắc  
văn hóa đặc trưng riêng của người Mnông, mà còn có giá trị đối với văn hóa của khu vực Tây  
Nguyên và rộng hơn là văn hóa Việt Nam.  
Nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân là phức thể văn hóa  
mang tính nguyên hợp với nhiều thành tố cấu thành như ẩm thực, y phục, âm nhạc,… hòa  
cùng các tín ngưỡng, lễ nghi với mức độ khác nhau tùy từng nghi lễ. Thông qua nghi lễ, giá  
trị nhân sinh, giá trị đạo đức, cách nhìn nhận về cuộc sống của con người được bộc lộ. Đó là  
quan niệm, tư duy của người Mnông đối với một giai đoạn quan trọng của cuộc đời con người  
cùng các mối quan hệ cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng gắn với môi trường tự nhiên, xã  
hội và cả thế giới tâm linh.  
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội..., đời sống của dân tộc  
Mnông ở huyện Lắk đã có nhiều thay đổi, theo đó nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và  
phong tục hôn nhân cũng có sự biến đổi, tích hợp thêm những giá trị văn hóa mới phù hợp,  
đó là xu thế hợp lý. Tuy nhiên, cần hiểu rõ những giá trị văn hóa độc đáo của nghi lễ liên quan  
đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân của người Mnông nhằm phát huy những yếu  
tố tích cực, tạo sức mạnh và động lực nội sinh duy trì bản sắc văn hóa tộc người, từ đó thực  
hiện có hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên  
nói riêng, Việt Nam nói chung.  
Tài liệu tham khảo  
Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2019). Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Đắk Lắk. Nxb  
Thống kê. Hà Nội.  
Lê Thị Quỳnh Hảo, Đào Thị Thanh An (2020). Vai trò của người phụ nữ Mnông huyện Lăk,  
tỉnh Đăk Lắk trong bảo tồn văn hóa truyền thống. Hội thảo Khoa học Quốc gia:“Vấn đề bảo tồn  
84  
Lê Thị Quỳnh Hảo  
và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay”do Viện Nghiên cứu văn hóa  
và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La tổ chức tại Sơn La (Tháng 11/2020).  
Lê Như Hoa (chủ biên) (2002). Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam. Nxb Văn hóa Thông  
tin. Hà Nội.  
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2019). Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Văn  
hóa phát triển. Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội.  
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) (2010). Về khái niệm giá trị văn  
gia-tri-van-hoa-truyen-thong-1011, ngày 14/9/2021.  
Ngô Đức Thịnh (tuyển chọn và giới thiệu) (2006). Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây  
Nguyên. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội.  
Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2010). Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền  
thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập. Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội.  
Lê Trung Vũ (chủ biên) (2000). Nghi lễ đời người, Nxb Văn hóa Dân tộc. Hà Nội.  
pdf 9 trang Thùy Anh 16800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị văn hóa trong nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành và phong tục hôn nhân của người Mnông ở huyện Lắk - tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_van_hoa_trong_nghi_le_lien_quan_den_tuoi_truong_than.pdf