Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0053  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 109-117  
CHẾ ĐỘ TƯƠNG TỴ THỜI VUA SEJONG (1418 - 1450) VÀ MỘT VÀI LIÊN HỆ  
VỚI CHẾ ĐỘ HỒI TỴ THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 - 1497)  
Shin Seung Bok  
NCS Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
Tóm tắt. Chế độ tương tỵ ở Hàn Quốc bắt đầu từ thời Goryeo và phạm vi của nó được mở  
rộng trong thời kì vua Sejong dưới triều đại Joseon, sau đó được luật hóa trong Kinh quốc  
đại điển. Tùy từng trường hợp, việc áp dụng nguyên tắc tương tỵ với các đối tượng có khi  
được áp dụng trên phạm vi rộng, có khi lại được thu hẹp khi ngoại trừ một số đối tượng  
trong quân ngũ hoặc các lĩnh vực đặc thù. Chế độ tương tỵ có vai trò tích cực trong việc  
tăng cường quyền lực của vua và ngăn chặn hành vi bất chính của quan lại. Tuy nhiên, chế  
độ này cũng bất đắc dĩ trở thành yếu tố cản trở việc trưng dụng các nhân tài xuất sắc. Mặt  
khác, một bộ phận quan lại cũng lấy cớ thực hiện chế độ tương tỵ mà làm việc không  
nghiêm chỉnh và thiếu hiệu quả. Trong lịch sử Đại Việt, chế độ hồi tỵ lần đầu tiên được áp  
dụng dưới thời vua Lê Thánh Tông. Việc thi hành chế độ này dưới thời dưới vua Lê Thánh  
Tông khi đặt trong sự liên hệ với chế độ tượng tỵ thời vua Sejong có một số điểm tương  
đồng và khác biệt, đặc biệt là đối tượng áp dụng thi hành.  
Tꢀ khꢁa: Sejong, Lê Thánh Tông, tương tỵ, hồi tỵ, Kinh quốc đại điển.  
1. Mở đầu  
Ở Việt Nam, việc không cho nhꢀng người có quan hệ huyết thống, đồng hương, thầy trꢁ,  
bạn bꢂ được cùng làm quan hay làm việc ở một địa phương, công sở được hiểu là hồi tỵ (nghĩa  
đen “hồi” là trở về, “tỵ” là tránh/lánh ra). Ở Hàn Quốc, một chế độ tương tự như vậy đọc theo  
âm Hán Việt là “tương tỵ”. Đây là chế độ “không cho phép nhꢀng người có quan hệ thân tộc trong  
phạm vi nhất định được bổ nhiệm làm việc ở một quan ty hoặc ở quan ty có quan hệ thống thuộc  
(trên dưới), hoặc là không làm quan coi việc kiện tụng và quan thí thời Goryeo và Joseon” [1].  
Chế độ tương tỵ ở Hàn Quốc lần đầu tiên được ghi chép trong cuốn Cao Ly sử (năm 1451).  
Trong Cao Ly sử, mục “Hình pháp chí/ Tương tỵ thức” đã ghi chép về phạm vi, đối tượng cụ  
thể áp dụng chế độ tương tỵ là bản tộc (14 đối tượng), thê tộc (10 đối tượng), ngoại tộc (5 đối  
tượng) và đối tượng quan chức phải áp dụng là đài tỉnh (gồm các Đài quan thuộc Ngự sử đài và  
Tỉnh lang thuộc Trung thư môn hạ tỉnh) và chính tào (gồm các quan nha phụ trách việc bổ nhiệm  
và miễn nhiệm quan lại ở bộ Lại và bộ Binh). Sau khi vương triều Joseon được thành lập năm  
1392, công thần khai quốc và cựu thần nắm trong tay nhiều quyền lực nên trong bộ máy quan  
chức triều đình, nhiều quan chức là thân tộc và người có quan hệ thầy trꢁ đã được bổ nhiệm các  
chức vị khác nhau. Sau khi vua Thejong (1401-1418) - còn gọi là Thái Tông, cha của vua  
Sejong lên ngôi cai trị, ông đã thi hành nhiều chính sách để tăng cường tính tập quyền ở trung  
ương, trong đó có chế độ tương tỵ mở rộng hơn. Vua Sejong là người đã đã hoàn thành chế độ  
tương tỵ bꢃng cách mở rộng và đặt ra nhꢀng quy định chặt chꢄ hơn so với thời Goryeo. Nội dung  
của chế độ này đã được pháp điển hóa và chép trong Kinh quốc đại điển [2].  
Ngày nhận bài: 22/7/2020. Ngày sửa bài: 10/8/2020. Ngày nhận đăng: 13/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Shin Seung Bok. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
109  
Shin Seung Bok  
Chế độ tương tỵ ở Hàn Quốc đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu. Ngay từ  
nhꢀng năm 70 của thế kỉ trước, Han Sang Jun (1975) đã đề cập đến chế độ này qua công trình  
Nghiên cứu về chế độ tương tỵ thời Joseon – vấn đề trung tâm của bộ máy quan chức đăng trên  
Tạp chí Sử học Dae Gu số 9 [3]. Đến nhꢀng năm 2000, việc nghiên cứu về chế độ này tiếp tục  
được đề cập đến trong một số công trình của các tác giả như: Park Cheon Woo, Lee Ghi Myong  
(2000), Sự triển khai và tác dụng của luật hồi tỵ thời đầu Joseon, Tạp chí khoa học Jang An, tập  
20, số 1, tr.43-72 [4]; Lee Seong Mu (2003), Nghiên cứu về Yang Ban (Ban Văn và Ban Võ -  
TG) đầu thời Joseon, Tạp chí KSI - Thông tin Hàn Quốc học, Seoul; Lee Ghi Myong (2003),  
Nghiên cứu điều hành thực trạng luật hồi tỵ thời Joseon [5]; Luận án tiến sĩ bảo vệ tại Trường  
Đại học Đông Gook, Seoul [6]. Các bài viết đã bước đầu khảo cứu nhꢀng nội dung chính của  
chế độ tương tỵ, song chưa có sự đánh giá đúng mức nhꢀng ưu điểm, hạn chế của chế độ này và  
tất nhiên, chưa có sự so sánh với chế độ hồi tỵ thực hiện ở Trung Quốc, Việt Nam.  
Riêng chế độ hồi tỵ Việt Nam cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập trong một số bài  
viết và sách tham khảo như: Bùi Huy Khiên (2004), Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát công chức  
dưới triều Lê Thánh Tông, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, tr.11-17 [7]; Phạm Thuỷ  
(2006), Tìm trong vốn cổ: Luật Hồi tỵ, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1, tr.49 [8]; Nguyễn  
Thị Thu Hꢁa (2020), Chế độ quan lại triều Lê Sơ (1428-1527) và những giá trị tham khảo cho  
cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà  
Nội [9]. Các công trình nghiên cứu này đã tìm hiểu khá kĩ về chế độ hồi tỵ được áp dụng lần  
đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đây là cơ sở quan trọng để tác giả có thể liên hệ, so sánh  
và tìm ra nhꢀng nét tương đồng, khác biệt trong chế độ tương tỵ thời vua Sejong và chế độ hồi  
tỵ thời vua Lê Thánh Tông.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Chế độ tương tỵ trong luật pháp đầu thời Joseon  
Năm 1392, vua Thejo (1392 - 1399) - ông nội của vua Sejong ngay sau khi lên ngôi vua đã  
công bố thành lập triều đại mới trước toàn thiên hạ và quy định, tên nước cứ theo Goryeo như  
trước và nghi thức và chế độ cũng vẫn giống như thời Goryeo. Theo đó, chế độ hồi tỵ cũng đã  
được thi hành giống như thời Goryeo. Vương triều Joseon cũng đã mượn từ Đại Minh luật  
nhꢀng điều khoản phù hợp với tình hình đất nước, đồng thời đã dịch và chú thích Đại Minh luật  
thành Đại Minh luật trực giải. Trong quá trình áp dụng Đại Minh luật có điều gì không phù hợp  
và cần bổ sung thêm thì vua ra chỉ dụ riêng. Các chế độ hành chính và pháp lệnh do vua ra chỉ  
dụ dần gom lại để biên soạn, tổng hợp thành Kinh quốc đại điển. Đây là bộ pháp điển tổng hợp  
gồm 6 điển (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) được biên soạn từ năm 1460, hoàn thành vào năm  
1476 và in xong vào năm 1485. Về sau, nhiều bộ luật đã được biên soạn mới nhưng bộ luật cơ  
bản nhất thời Joseon vẫn là Đại Minh luật và Kinh quốc đại điển.  
2.1.1. Các quy định về tương tỵ trong Kinh quốc đại điển  
Các quy định về tương tỵ trong Kinh quốc đại điển về cơ bản được trình bày ở phần Lại điển.  
Nội dung chính như sau: Các quan lại trung ương và địa phương có người trong dꢁng họ là người  
phải để tang 9 tháng (đại công) và con rể, cháu rể, chồng chị gái, chồng em gái; trong ngoại tộc là  
người phải để tang 3 tháng (ty ma); trong vợ tộc là bố vợ, ông vợ, chồng chị vợ, chồng em gái vợ,  
anh vợ, em trai vợ đều phải tương tỵ [2; 143]. Trong điều này có ghi chép về các quan chức là  
nhꢀng đối tượng áp dụng chế độ tương tỵ, theo đó có thể phân thành 3 loại: các quan chức phụ  
trách về nhân sự, các quan chức phụ trách đàn hạc và pháp sự, các quan phụ trách bình quân.  
Đáng lưu ý là trong quan chế Joseon có nhiều cơ quan phụ trách việc quân sự như Tạo  
Binh, Đô Tổng Phủ, Ngũ Vệ, Nội Cấm Vệ. Nếu các trưởng quan phụ trách việc quân sự có quan  
hệ thân tộc thì có nguy cơ xảy ra phản loạn, do đó giꢀa các trưởng quan việc quân phải thực  
110  
Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ…  
hiện chế độ tương tỵ. Ngoài ra, ở phần Lại điển cꢁn ghi chép các trường hợp ngoại lệ không  
phải tuân thủ luật tương tỵ, bao gồm học quan (nhꢀng quan làm việc trong trường học địa  
phương), quan vꢅ, các đường thượng quan (tức các quan trên chánh tam phẩm). Đối với các  
quan trong Thừa chính viện - cơ quan phụ trách xuất nạp lệnh của vua cũng có quy định riêng.  
Trong Thừa chính viện có 6 thừa chỉ (Lại phꢁng, Lộ phꢁng, Lễ phꢁng, Binh phꢁng, Hình phꢁng,  
Công phꢁng) tương ứng với 6 tào. Lại tào trong 6 tào có chức nhiệm phụ trách về nhân sự nên  
nếu người có quan hệ thân thuộc với các quan trong Lại tào thì không bổ nhiệm Lại phꢁng thừa  
chỉ. Tương tự, binh phꢁng thừa chỉ trong Thừa chính viện với binh tào cũng vậy.  
Điều mục thứ 2 trong Kinh quốc đại điển là “chư khoa” (điều về các loại khoa thi) thuộc Lễ  
điển. Nội dung điều này được ghi rꢅ: Trường thi phải làm 2-3 chỗ, trường hợp có quan hệ tương  
tỵ giꢀa thí sinh và quan giám thi thì thí sinh phải đến chỗ khác ứng thí. Trường hợp bố tham dự  
kꢆ thi Hội thì con phải thực hiện tương tỵ [2;188].  
Mục thứ ba ghi chép về tương tỵ trong Kinh quốc đại điển là tư tiện (nô tꢆ cá nhân) thuộc  
Hình điển. Người thừa kế nô tꢆ, đất đai, nhà ở thì phải đăng kí, sau đó nhận giấy xác nhận:  
“Nếu quan địa phương nơi đăng kí có quan hệ tương tỵ thì cần tránh, phải đăng kí với quan ở  
nơi khác” [2;449].  
2.1.2. Các quy định về hồi tỵ trong Đại Minh Luật  
Trong thời kꢆ Joseon, Đại Minh luật là công cụ pháp điển được sử dụng trực tiếp. Trong  
quá trình thực hiện, nếu có điều khoản chưa phꢇ hợp thì triều đình sꢄ cho phép thay đổi để phꢇ  
hợp với tình hình cụ thể của đất nước. Các điều khoản không phꢇ hợp và có thay đổi được ghi  
chép lại trong Hình điển.  
Trong Đại Minh luật cũng dꢇng thuật ngꢀ hồi tỵ thay vì tương tỵ [4; 49]. Điều 358 trong  
bộ luật này quy định hồi tỵ đối với thính tụng quan, tức các quan lại phụ trách việc tố tụng. Nếu  
đối tượng thính tụng quan phải chịu hồi tỵ khi có quan hệ với thân tộc phải để tang (xếp theo  
các bậc trảm thôi, tự thôi, đại công, tiểu công, ty ma), người thông gia, thầy trꢁ, có người oán  
hận thì dꢇ đang dở công việc tố tụng cũng phải đưa sự kiện tố tụng này đến quan nha khác. Nếu  
vi phạm điều này, có thể bị xử phạt đánh 40 roi. Ngoài điều trên ra, chúng tôi không tìm thấy  
quy định khác liên quan đến hồi tỵ. Tuy nhiên, có thể thấy được rꢃng đối tượng áp dụng tương  
tỵ của Kinh quốc đại điển ở trên và đối tượng áp dụng hồi tỵ thính tụng quan của Đại Minh luật  
có sự khác biệt lớn. Tương tỵ trong Kinh quốc đại điển có đối tượng là thân tộc, còn hồi tỵ thính  
tụng quan trong Đại Minh luật có phạm vi đối tượng rộng hơn, không chỉ thân tộc, mà tính cả  
đến gia môn sau khi thành thân, người có quan hệ thầy trò, hận thù nhau.  
2.1.3. Các loại hình tương tỵ (hồi tỵ) trong bộ luật thời đầu Joseon  
Trên đây đã giới thiệu các điều mục về tương tỵ trong Kinh quốc đại điển và hồi tỵ trong  
Đại Minh luật được áp dụng vào đầu thời kꢆ Joseon. Trên cơ sở này có thể phân chia cái loại  
hình tương tỵ theo các quan chức như dưới đây [4; 49].  
Tương tỵ Kinh quan (quan làm việc tại kinh đô)  
Tương tỵ cho quan chức thường  
Tương  
Ngoại quan  
(quan làm  
việc tại các  
địa phương)  
tỵ  
Chính tào quan (quan thuộc Lại tào và Binh tào phụ trách  
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các quan văn và quan vꢅ)  
Tương tỵ cho  
Tụng quan (quan phụ trách việc tố tụng, xét xử)  
Thí quan (quan phụ trách việc thi cử, khảo khóa)  
quan  
chức  
đặc biệt  
Ngôn quan (quan làm việc trong Tư hiến phủ và Tư gián  
viện, phụ trách can gián vua và đàn hặc quan lại)  
Ngoài các quan thuộc đối tượng tương tỵ ở trên, trừ các quan sát sứ (đường thượng quan)  
đứng đầu các đạo không thuộc đối tượng áp dụng tương tỵ, cꢁn lại các thủ lĩnh (tức quan lại địa  
111  
Shin Seung Bok  
phương dưới quan sát sứ) phải thực hiện chế độ tương tỵ. Nội dung tương tỵ cho quan lại các cấp  
ở địa phương quy định trong Kinh quốc đại điển không khác với tương tỵ cho kinh quan và không  
có điều mục riêng cho ngoài quan. Tương tỵ ngoài quan vốn là chế độ không bổ nhiệm quan lại  
đến quê mình và thân tộc phải tránh làm quan lại địa phương cꢇng một chỗ. Từ thời kꢆ Goryeo đã  
áp dụng chế độ tương tỵ đối với ngoại quan và đến thời Joseon được áp dụng tăng lên [5; 44-45].  
2.2. Thực trạng triển khai chế độ tương tỵ dưới thời Sejong  
2.2.1. Sửa đổi chế độ tương tỵ  
Theo ghi chép trong Triều Tiên vương triều thực lục, từ năm thứ 10 đến năm thứ 14 thời  
vua Sejong trị vì (giai đoạn 1428 - 1432), nhà vua đã ra chỉ dụ cho nghiên cứu về luật liên quan  
đến chế độ tương tỵ thời Goryeo và của Trung Quốc. Vào năm Sejong thứ 10 (1428), tào Lễ có  
trình tâu vua về sự cần thiết của việc sửa đổi luật tương tỵ và đã quyết định thay đổi tạm thời.  
Đến năm Sejong thứ 12 (1430), Sejong đã chỉ trích nhꢀng tệ nạn liên quan đến luật tương tỵ  
thời bấy giờ bị phơi bày và yêu cầu thay đổi luật tương tỵ cho phꢇ hợp với tình hình thực tế. Do  
đó, vào năm Sejong thứ 14 (1432), hầu hết đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ tương tỵ đều  
đã được sửa đổi. Do không có luật tương tỵ đối với đối tượng quan lại đảm nhận công việc hành  
chính nhân sự nên vua Sejong đã hạ lệnh nghiên cứu luật này và quyết định mở rộng đối tượng  
áp dụng tương tỵ cho đến thốn thứ tư. Ở đây, thốn là từ chỉ quan hệ thân tộc: cha - con là một  
thốn; anh - em, ông - cháu là hai thốn; chú, bác - cháu là ba thốn; anh em họ là bốn thốn.  
Điều này có nghĩa là khi chế độ tương tỵ áp dụng đối với Chính tào quan được đưa vào lần  
đầu, nhꢀng người có quan hệ trong bốn thốn với quan lại thuộc Lại Tào và Binh Tào sꢄ không  
được ra làm quan. Sau đó, vào ngày 19 tháng 4 năm Sejong thứ 14 (1432), Binh Tào có kiến  
nghị cần phải tương tỵ và được chính thức chế độ hóa tương tỵ trong khi đánh giá các trận thi  
đấu võ thuật của binh sĩ, đặc biệt đối với nhꢀng trường hợp các môn thi khó đánh giá khách  
quan, khả năng cao sꢄ xảy ra gian lận.  
Sau năm Sejong thứ 14 (1432), chế độ tương tỵ đã được hoàn thiện hơn căn cứ vào tình  
hình cụ thể. Vào năm Sejong thứ 17 (1435), liên quan đến việc khoa cử còn có hiện tượng lợi  
dụng quan hệ thân thuộc nên triều đình đã hạ lệnh bãi nhiệm giám thị, buộc các thí sinh có quan  
hệ thân thuộc không được tham gia thi [10]. Quyết định này ở một góc độ nhất định đã hạn chế  
hiệu quả việc tuyển dụng nhân tài thông qua thi cử khi giꢀa quan giám thị và thí sinh có mối  
quan hệ tương tỵ, không chỉ riêng trong các kì thi văn khoa mà cả kì thi võ khoa.  
Tuy nhiên, đến năm Sejong thứ 19 (1437), Nghị chính phủ (cơ quan hành chính tối cao do  
ba Tể tướng đứng đầu) đã kiến nghị nếu không cho thí sinh có tương tỵ tư cách tham gia khoa  
cử thì sꢄ không thể trưng dụng được người tài nên đã có đề xuất thành lập chỗ trường thi dành  
riêng cho thí sinh có quan hệ tương tỵ với giám thị theo chế độ của nhà Tống bên Trung Quốc,  
chia trường thi thành 2 nơi để tiến hành khoa thi [10]. Đối với kꢆ thi vꢅ khoa, theo ghi chép năm  
Sejong thứ 23 (1441), vì không có luật về chỗ trường thi riêng cho thí sinh có quan hệ tương tỵ  
với giám thị nên nếu Binh Tào không cho phép thí sinh dự thi thì sꢄ không chọn được người tài.  
Do đó, việc các quan phụ trách đề xuất bãi nhiệm giám thị để thí sinh được đi thi đã dần được  
chấp nhận. Nghĩa là, đối với các vấn đề tuyển chọn nhân tài liên quan đến chế độ tương tỵ của  
giám thị, văn khoa đã giải quyết bꢃng cách thiết lập hai trường thi, còn kꢆ thi vꢅ khoa đã điều  
chỉnh để giám thị hồi tỵ.  
Như trình bày ở trên, vua Sejong đã nghiên cứu chế độ tương tỵ của Trung Quốc và triều  
đại trước để thiết lập chế độ thích hợp với tình hình Joseon thời bấy giờ. Đặc biệt, vua Sejong  
đã ban hành quy định mới về chế độ tương tỵ liên quan đến bổ nhiệm, miễn nhiệm quan lại  
chưa từng có trong các vương triều trước [10]. Trường hợp áp dụng chế độ tương tỵ đối với  
giám thị của văn khoa sꢄ thiết lập hai điểm thi, cꢁn vꢅ khoa thì đầu tiên đã hồi tỵ thí sinh, nhưng  
sau đó chuyển sang hồi tỵ giám thị. Nguyên tắc này dưới thời Sejong về sau đã được pháp điển  
hóa, phản ánh trong Kinh quốc đại điển.  
112  
Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ…  
2.2.2. Viện thi hành trên thực tế chế độ tương tỵ  
Đối với một số lĩnh vực đặc thꢇ hoặc trong quân ngũ, có thể xảy ra việc không bổ nhiệm  
được người thích hợp do vướng phải tương tỵ, ví dụ như trường hợp của Ty Thủy Giám. Vào  
thời đầu Joseon, Ty Thủy Giám là cơ quan phụ trách đóng và sửa chꢀa chiến hạm, và giám sát  
công việc liên quan đến vận chuyển. Năm 1403, cơ quan này đã sáp nhập vào Ty Tể Giám (cơ  
quan phụ trách các việc có quan hệ với biển, song, núi, hồ, ao). Tuy nhiên, vào tháng 12 năm  
Sejong thứ 14 (1432), vì lo rꢃng công việc liên quan đến chiến hạm sꢄ kém hiệu quả nên Lại  
Tào đã trình vua đề xuất việc xây dựng lại cơ quan chuyên nhiệm về chiến hạm. Khi đó, “phần  
quản lí lại thuộc về quân vụ nên các quan đã đề xuất vua nếu có người thích hợp, thì cứ bổ  
nhiệm, bất luận có tương tỵ hay không, và nhà vua đã làm theo như vậy” [10]. Trong quá trình  
thực tế thi hành chế độ tương tỵ, để không phát sinh một số hạn chế như không tuyển chọn được  
người tài, tꢇy theo từng trường hợp mà áp dụng các ngoại lệ.  
Ví dụ sau đây cho thấy việc áp dụng nhꢀng trường hợp ngoại lệ của chế độ tương tỵ. Theo  
ghi chép ngày 5 tháng 10 năm Sejong thứ 23 (1441), Ha Gyeul đã được bổ nhiệm lên chức  
Chưởng lệnh (hàm chánh tứ phẩm) của Tư hiến phủ. Vì Ha Gyeul là em ruột của Ha Yeon -  
người giꢀ chức kiểm phán sự (hàm chánh tam phẩm) chuyên trách nghiệp vụ bổ nhiệm quan lại  
của Tào Lại. Do đó, Tư hiến phủ đã dâng sớ trình vua đề xuất xử phạt kẻ được bổ nhiệm và thay  
thế người khác. Tuy nhiên, nhà vua đã không phê chuẩn và vẫn cho bổ nhiệm [10].  
Một trường hợp khác: Ngày mꢇng 7 tháng 1 năm Sejong thứ 24 (1442), Tư hiến phủ lại  
dâng sớ xin rút lại việc bổ nhiệm Yoon Sam San - người mới được thăng chức làm Chưởng  
lệnh. Tư hiến phủ cho rꢃng, khi nhìn vào lịch sử xưa của nước Tống, họ hàng của các quan chức  
không được phép bổ nhiệm lên làm ngôn quan [10]. Mặc dꢇ không có luật nào yêu cầu tất cả  
nhꢀng đối tượng này phải thực hiện chế độ tương tỵ, nhưng nhꢀng trường hợp như vậy vẫn bị  
Tư hiến phủ đứng ra luận tội. Trong trường hợp của Yoon Sam San, tuy không phải đối tượng áp  
dụng luật tương tỵ nhưng theo chế độ nhà Tống, nếu có họ hàng trong Tư hiến phủ và Lại Tào (mà  
lại là người có bổ nhiệm nhân sự trong Tào Lại) thì sꢄ không được bổ nhiệm làm ngôn quan.  
Thông qua hai trường hợp nêu trên, có thể thấy rꢃng chế độ tương tỵ đã dần dần được áp  
dụng nghiêm ngặt và rộng rãi hơn. Vì ngôn quan là người thực hiện nhiệm vụ giám sát và luận  
tội các cơ quan khác nên để thực hiện công việc một cách công bꢃng thì cần áp dụng nguyên tắc  
tương tỵ một cách nghiêm ngặt hơn.  
2.2.3. Một số hạn chế của chế độ tương tỵ  
Chế độ tương tỵ nhꢃm ngăn chặn tình trạng không tuân thủ trong công việc, hoặc tiếp tay  
cho nhꢀng hành vi sai trái do các mối quan hệ cá nhân. Tuy nhiên, đôi khi nguyên tắc này cũng  
tạo ra một số mặt trái.  
Trên thực tế, nhà vua có quyền bổ nhiệm quan văn vꢅ từ tam phẩm trở lên bꢃng đặc chỉ  
(mệnh lệnh đặc biệt, không cần các thủ tục thông thường). Mặc dù nhà vua không trực tiếp làm  
công việc bổ nhiệm nhưng lại giao cho Lại Tào thực hiện quy trình từ đặc chỉ của mình. Ngày  
mꢇng 4 tháng 12 năm Sejong thứ 17 (1435), nhà vua ra lệnh cho Lại Tào Lại và Binh Tào điều  
tra lại tất cả nhꢀng người được bổ nhiệm mặc dꢇ trước đó có đặc chỉ [10]. Ngày 23 tháng 7 năm  
Sejong thứ 20 (1438), triều đình cũng ban lệnh tương tự: Từ nay về sau, dꢇ có đặc chỉ đi chăng  
nꢀa thì nhất định không được bổ nhiệm ngay nhꢀng người không phân biệt được yếu điểm, sai  
phạm [10]. Nguyên nhân là do ngày 28 tháng 7 năm Sejong thứ 19 (1437), có trường hợp lấy cớ  
“đặc chỉ” của nhà vua để tránh chế độ tương tỵ rồi được bổ nhiệm làm quan.  
Ngoài ra, một hạn chế nꢀa là quan lại lấy cớ thực hiện nguyên tắc tương tỵ mà trốn tránh  
hoặc không thi hành công việc một cách nghiêm chỉnh. Theo ghi chép trong Triều Tiên vương  
triều thực lục, ngày 30 tháng 1 năm Sejong thứ 30 (1448), viên quan chuyên trách việc xét xử  
nô tꢆ đã mượn cớ có quan hệ thân thuộc để rồi hoãn việc tố tụng, gây ra thiệt hại. Người này sau  
đó đã phải chịu xét xử và chịu phạt (thủ phạm phạt 100 trượng, tꢁng phạm phạt 90 trượng) [10].  
113  
Shin Seung Bok  
Trước đó, vào ngày mꢇng 1 tháng 11 năm Sejong thứ 9 (1427) cũng đã xảy ra trường hợp tương  
tự khi viên quan phụ trách việc xét xử vụ kiện giꢀa các gia đại tộc về tranh chấp nô tꢆ đã xử lí  
quá lâu vì không muốn gánh trách nhiệm. Viên quan này mặc dꢇ không hề có quan hệ vi phạm  
nguyên tắc tương tỵ nhưng lại cố tình nói dối là có để rồi lấp liếm cho qua [10]. Hai trường hợp  
trên đều là nhꢀng vụ việc cố ý phạm tội giống nhau liên quan đến công việc tố tụng dưới thời  
vua Sejong trị vì. Hình thức phạm tội đều lấy tương tỵ làm cớ hoặc giả mạo nguyên tắc tương tỵ  
mà phạm tội. Điều đặc biệt là, nhꢀng hạn chế phát sinh từ việc thực hiện chế độ tương tỵ liên  
quan đến kiện tụng dường như đã xảy ra nhiều lần và gây ra nhiều hệ lụy dưới thời Sejong. Ghi  
chép trong Triều Tiên vương triều thực lục vào ngày 8 tháng 10 năm Sejong thứ 30 (1448) cho  
biết, “người tố tụng lấy lí do phải tương tỵ mà kéo dài thời gian, không chịu phán quyết, có khi  
kéo đến 10 hoặc 20 năm” [10].  
Mặt khác, trong việc bổ nhiệm quan lại, chế độ tương tỵ đã có tác dụng nhất định ngăn  
chặn không cho bổ nhiệm người có quan hệ thân thuộc để phòng ngừa các hành vi bất chính của  
quan lại. Tuy nhiên, do thi hành một cách xơ cứng nguyên tắc tương tỵ nên đôi khi cũng phát  
sinh các trường hợp không thể trưng dụng được nhân tài. Sử liệu ghi chép ngày 23 tháng 2 năm  
Sejong thứ 12 (1430) cho biết: Vào cuối triều đại trước, luật tương tỵ thực sự rất rắc rối, phức  
tạp, và đến cả họ hàng 7,8 đời khác họ cũng vẫn phải tránh tương tỵ nên có nhiều trường hợp  
các vụ ngục tụng bị trì hoãn, đình trệ, càng để lâu lại càng khó xử, nhưng nếu như không có luật  
tương tỵ, một người trong sạch sꢄ không tự rơi vào tình cảm cá nhân, việc xét xử sꢄ dễ dàng  
hơn, nhưng người thuộc tầng lớp hạ lưu có thể sꢄ chịu phán xét không công bꢃng [10]. Thông  
tin này có ý chỉ trích việc thực hiện nguyên tắc tương tỵ quá máy móc đã cản trở việc trưng  
dụng nhꢀng nhân tài liêm chính, ngay cả khi họ không vi phạm nguyên tắc tương tỵ trên thực tế  
vì mối quan hệ đã trải qua nhiều đời. Vua Sejong về sau cũng tự nhận thấy rꢃng chế độ tương tỵ  
dù góp phần ngăn chặn hành vi bất chính của quan lại nhưng lại ngăn cản việc tuyển dụng  
nhꢀng nhân tài xuất sắc.  
Nhꢀng quan chức phụ trách việc bổ nhiệm quan lại trong Lại Tào và Binh Tào khi vi phạm  
chế độ tương tỵ thường bị các ngôn quan luận tội. Ngày 24 tháng 4 năm Sejong thứ 14 (1432),  
triều đình bắt đầu cải thiện chế độ tương tỵ: Tư gián viện - cơ quan phụ trách ngôn luận, can  
gián nhà vua đã luận tội các quan Lại Tào vi phạm luật tương tỵ. Kết quả, các quan viên trong  
Lại Tào, đứng đầu là Tả Nghị Chính (hàm chánh nhất phẩm thuộc Nghị chính phủ) đã bị biếm  
chức. Vua Sejong sau đó đã ra lệnh cho phép họ quay trở lại làm việc bình thường và lệnh cho  
Tư gián viện không được luận tội nꢀa [10]. Theo ghi chép trong Triều Tiên vương triều thực  
lục, ngày 19 tháng 6 năm Sejong thứ 20 (1438), Tư gián viện đã trình lên vua lệnh luận tội cả  
người bổ nhiệm và người được bổ nhiệm trong vụ anh họ của viên quan Tham nghị (hàm chánh  
tam phẩm) trong bộ Lại đã vi phạm luật tương tỵ nhưng hà vua lại không phê chuẩn [10]. Về  
sau, mặc dꢇ Tư gián viện đã nhiều lần dâng sớ xin thi hành nghiêm khắc luật tương tỵ đối với  
quan lại các cấp nhưng nhà vua lại cho rꢃng cần phải áp dụng luật tương tỵ một trách linh hoạt,  
tránh cứng nhắc [10]. Qua ghi chép ngày 5 tháng 10 năm Sejong thứ 23 (1441), có thể thấy vua  
Sejong đã đặc xét các trường hợp ngoại lệ khi nhận thấy việc áp dụng nguyên tắc tương tỵ quá  
cứng nhắc: “Trong việc của Lại Tào, lời các ngươi nói rất đúng. Tuy nhiên, không phải ta đã  
dꢇng sai người được bổ nhiệm do bị Tào Lại lừa, ta đã biết rõ tất cả và rồi mới bổ nhiệm. Hơn  
nꢀa, ta đã ban ơn rộng rãi, sao có thể rút lại được. Từ giờ đương nhiên ta sꢄ thận trọng” [10].  
2.3. Một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ thời vua Lê Thánh Tông  
Trong lịch sử Việt Nam, chế độ hồi tỵ được áp dụng có nhiều điểm tương đồng so với chế  
độ tương tỵ trong lịch sử Hàn Quốc. Theo các nghiên cứu gần đây, có lꢄ vua Lê Thánh Tông là  
người đầu tiên thiết lập và thi hành luật Hồi tỵ.  
Trong Quốc triều hình luật có hai điều sau ghi rõ về việc thực hiện chế độ hồi tỵ đối với  
các quan phụ trách việc thi cử, khảo khóa và quan xét xử ngục tụng:  
114  
Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ…  
Điều luật thứ 98 viết: Các quan chủ ty chấm thi cùng với người dự thi có thân thuộc, cần  
phải hồi tỵ mà không từ chối thì phạt 50 roi biếm một tư....[11; 59]  
Điều luật thứ 689 quy định: Nhꢀng người đi kiện hay bị kiện xin tránh ngục quan thì giao  
cho các quan Viện Thẩm hình hội đồng xét hỏi. Nếu xét sự lí đáng cho tránh ngục quan ấy mới  
được phép giao sang ty khách xét xử. Nếu bản ty vì tình ý riêng mà cố giꢀ việc để xét thì xử  
phạt hay biếm, ngục lại cũng bị tội như thế [11; 215].  
Xét về nội dung hai điều luật này, có thể tìm thấy nhꢀng quy định tương tự trong pháp luật  
thời vua Sejong. Xem xét cụ thể nội dung trong điều luật thứ 98 của Quốc triều hình luật có thể  
thấy, luật pháp thời Lê Thánh Tông yêu cầu khi có thân tộc đi thi thì quan chủ khảo, phó chủ  
khảo bắt buộc phải hồi tỵ. Có thể nói điều này tương ứng với nguyên tắc tương tỵ đối với khảo  
quan trong các kì thi dưới thời Joseon. Quy định này đã góp phần giúp cho chế độ khoa cử được  
thực hiện một cách nghiêm chỉnh, ngăn chặn nhꢀng hành vi bất chính trong việc lựa chọn quan  
lại dưới thời hai vị vua nắm quyền.  
Nội dung điều luật thứ 689 trong bộ Quốc triều hình luật khi so sánh với điều luật thứ 358  
trong Đại Minh luật cũng có điểm giống nhau khi cùng nêu rõ phạm vi áp dụng hồi tỵ có thể  
nꢃm ngoài thân tộc. Tất nhiên, hai điều luật này cũng có điểm khác biệt nhất định khi luật pháp  
thời vua Lê Thánh Tông có nhấn mạnh việc quan lại khi có lí do thích đáng thì có thể chủ động  
đăng kí hồi tỵ.  
Trong bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ cꢁn có hai điều khác quy định về chế độ hồi tỵ  
quan lại ở địa phương.  
Điều luật thứ 316 cho biết: Các quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà con gái ở trong hạt  
mình thì xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức [11; 112].  
Điều luật thứ 334 lại viết: Các quan ty mà cùng với nhꢀng người tꢇ trưởng ở nơi biên trấn kết  
làm thông gia thì phải tội đồ hay lưu và phải ly dị: nếu lấy trước rồi thì xử đoán khác [11; 116].  
Hai điều khoản trên về nguyên tắc hồi tỵ cho thấy mục đích của triều đình thời Lê Thánh  
Tông nhꢃm ngăn chặn tình trạng quan lại địa phương kết hôn với phụ nꢀ trong hạt để kết tạo  
liên minh, giúp khống chế các thế lực tại địa phương. Quy định này cũng được chép trong sách  
Đại Việt sử kí toàn thư: “Ngày 22 (tháng 5, năm 1486), cấm quan lại nhận chức ở ngoài lấy đàn  
bà con gái trong bộ hạt của mình” [12; 500]. Quy định này khi soi chiếu với nội dung điều luật  
thứ 116 trong Đại Minh luật cũng sꢄ thấy có nội dung tương đồng khi luật pháp thời Sejong  
cũng cấm quan lại được kết hôn lấy phụ nꢀ trong bản hạt của mình.  
Ngoài ra, khảo cứu trong Đại Việt sử kí toàn thư sꢄ thấy một số quy định khác cho thấy  
nguyên tắc hồi tỵ dưới thời Lê Sơ. Tháng 9 năm 1488, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu quy  
định: “Từ nay, các quan phủ, huyện, châu xét đặt Xã trưởng, hễ là anh em ruột, anh em con chú  
con bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì cho 1 người làm Xã trưởng, không được cho cả hai  
cùng làm để trừ mối tệ bꢂ phái hꢇa nhau” [12; 503]. Quy định này đã được nâng lên một  
mức vào năm 1496: “Tháng 8 (năm 1496), ngày mồng 2, [triều đình] có lệnh cho châu huyện  
chọn đặt Xã trưởng; Nếu là con cô cậu, đôi con dì với nhau và thông gia cùng gả bán cho nhau  
đều không được cꢇng làm Xã trưởng trong một xã. Nếu đã có Xã trưởng rồi, cũng nên chọn  
người nào có thể làm được việc thì lưu lại, cꢁn thì tâu lên để cho về hạng cũ [12; 515]. Hai đoạn  
sử liệu ghi chép này quy định rõ khi quan lại châu, huyện thực hiện việc bổ nhiệm Xã trưởng thì  
không được phép đưa người có cùng quan hệ huyết thống lên làm, do đó có điểm tương đồng  
với luật tương tỵ quan địa phương thời Joseon.  
Cuối thời vua Lê Thánh Tông (năm 1497) cꢁn có quy định: Các viên quản quân, quản dân  
ở Nghệ An, nếu người nào có quê quán ở ngay phủ, huyện mình cai trị, có nhà ở gần nha môn  
mình làm việc, thì bộ Lại điều động đi nơi khác để chọn người khác bổ nhiệm thay thế [12;  
525]. Trong thời kꢆ Joseon, mặc dù không tìm thấy quy định thành văn liên quan đến nguyên  
tắc tương tỵ xa quê với các quan địa phương [3; 43] giống như thời Lê Thánh Tông như trên.  
115  
Shin Seung Bok  
Tuy nhiên, khảo cứu nhꢀng ghi chép sau thời Sejong thì thấy đã từng có vụ việc người được bổ  
nhiệm quan tại trên chính quê hương mình nhưng sau này lại bị Tư gián viện luận tội và người  
này đã tự xin được thuyên chuyển đi nơi khác [10]. Đây là điểm tương đồng có thể nhận thấy rõ  
khi so sánh về việc thực thi nguyên tắc hồi/tương tỵ dưới hai triều vua. Ở khía cạnh khác biệt,  
có thể thấy rꢅ đối tượng áp dụng chế độ tương tỵ ở Hàn Quốc chủ yếu là các quan hệ thân tộc,  
trong khi đối tượng áp dụng chế độ hồi tỵ của Việt Nam có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả thân  
tộc, đồng hương, thầy trò và bꢃng hꢀu.  
3. Kết luận  
Thông qua nội dung khảo cứu trên, có thể rút ra một số đặc trưng của chế độ tương tỵ dưới  
thờivua Sejong như sau.  
Thứ nhất: Chế độ tương tỵ dưới thời Joseon có thể được phân chia ra thành “tương tỵ kinh  
quan” và “tương tỵ ngoại quan”, “tương tỵ chính tào” liên quan đến bổ nhiệm quan lại theo từng  
cấp bậc, “tương tỵ tụng quan” liên quan kiện tụng và tố tụng, “tương tỵ thí quan” liên quan đến các  
kꢆ thi và “tương tỵ ngôn quan” liên quan các viên quan trực thuộc Tư hiến phủ và Tư gián viện.  
Thứ hai: Trong giai đoạn cầm quyền của Sejong, nhà vua đã cho nghiên cứu chế độ tương  
tỵ thời Goryeo và của Trung Quốc để cải thiện cho phù hợp với triều đại của mình và liên tục có  
sự cập nhật, hoàn thiện trong quá trình thực thi. Khi vận dụng nguyên tắc tượng tỵ, nhà vua cho  
phép loại bỏ đối với các quan viên thuộc lĩnh vực quân sự và một số lĩnh vực cụ thể khác hoặc  
có thể mở rộng phạm vi tương tỵ đối với các trường hợp là ngôn quan.  
Thứ ba: Chế độ tương tự khi thi hành không tránh khỏi nhꢀng hạn chế nhất định như việc giới  
hạn phạm vi bổ nhiệm quan lại, đôi khi trở thành vật cản gây trở ngại đến quá trình tuyển dụng, bổ  
nhiệm nhꢀng nhân tài xuất sắc. Một số trường hợp các quan lại phụ trách việc xét xử, tố tụng đã cố ý  
dựa vào nguyên tắc tương tỵ để trễ nải công việc, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.  
Thứ tư: Liên hệ với chế độ hồi tỵ được thi hành lần đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông,  
không khó để nhận ra đối tượng áp dụng chế độ này ở Đại Việt bao gồm cả thân tộc, đồng  
hương, thầy trò và bꢃng hꢀu. Trong khi đó, đối tượng áp dụng chế độ tương tỵ ở Hàn Quốc chủ  
yếu xoay quanh các quan hệ thân tộc và còn có một số trường hợp được ngoại trừ.  
Trong Quốc triều hình luật thời Lê Sơ có một số điều khoản liên quan đến quy định hồi tỵ  
đối với quan lại phụ trách thi cử và xét xử, quy định bổ nhiệm quan lại ở địa phương. Khi so  
sánh các quy định này với các chế tài được pháp điển hóa dưới thời vua Sejong dꢄ thấy có nhiều  
điểm tương đồng. Có thể nói, dꢇ được diễn giải bꢃng hai thuật ngꢀ khác nhau nhưng chế độ  
tương tỵ/hồi tỵ dưới hai triều vua vẫn có nhiều điểm tương đồng và còn có ảnh hưởng đến chế  
độ quan chế của hai quốc gia ở nhꢀng thời kì sau.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Encyclopedia of Korean culture, mục từ 상피제 (相避制): http://encykorea.aks.ac.kr/  
Search/List, truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2021.  
[2] Kinh quốc đại điển (bản dịch, 1998). Nxb Shin Seo Won, Seoul (윤국일 (1998), 신편  
경국대전, 신서원, 서울).  
[3] Han Sang Jun, 1975. “Nghiên cứu về tương tỵ thời Joseon – trung tậm quan chức”. Sử học  
Dae Gu Vol 9, Dae Gu (한상준 (1975), 朝鮮朝의 相避制에 對하여-관직을 중심으로,  
대구사학 제 9집, 대구).  
116  
Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ…  
[4] Park Cheon Woo, Lee Ghi Myong, 2000. “Sự triển khai và tác dụng của luật hồi tỵ thời  
đầu Joseon”. Tạp chí khoa học Jang An Vol 20 số 1, pp. 43-72, Seoul (박천우 이기명  
(2000), 朝鮮前期 相避制 展開와 機能, 장안논총 제20권 1호, pp. 43-72, Seoul).  
[5] Lee Seong Mu, 2003. Nghiên cứu Yang Ban thời đầu Joseon. KSI Thông tin khóa học Hàn  
Quốc, Seoul (이성무 (2003), 조선초기 양반 연구, KSI 한국 학술정보, 서울).  
[6] Lee Ghi Myong, 2003. Nghiên cứu điều hành thực trạng luật hồi tỵ thời Joseon. Luận án  
tiến sĩ Trường Đại Học Đông Gook, Seoul (이기명(2003)5, 조선시대 상피제의  
운영실태 연구, 동국대학교 박사논문, 서울).  
[7] Bùi Huy Khiên, 2004. Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát công chức dưới triều Lê Thánh  
Tông, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, tr.11-17.  
[8] Phạm Thuỷ, 2006. Tìm trong vốn cổ: Luật Hồi tỵ, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1,  
tr.49.  
[9] Nguyễn Thị Thu Hꢁa, 2020. Chế độ quan lại triều Lê sơ (1428-1527) và những giá trị  
tham khảo cho cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay. Nxb Chính trị  
Quốc gia Sự thật, Hà Nội.  
[10] Triều  
Tiên  
vương  
triều  
thực  
lục  
(bản  
điện  
tử),  
5BB3, truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2021  
[11] Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê), 1995 (bản dịch). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà  
Nội.  
[12] Ngô Sỹ Liên và các sử thần thời Hậu Lê, 1998. Đại Việt sử kí toàn thư (bản dịch), tập II,  
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.  
ABSTRACT  
The avoidence system (Tương tỵ) of King Sejong’s reign (1418-1460) and some comparisons  
with the avoidence system (Hồi tỵ) of King Le Thanh Tong’s reign (1470-1497)  
Shin Seung Bok  
Postgraduate, Faculty of History, Hanoi National University of Education  
The avoidence system in Korea started from Goryeo Dynasty (918-1392) and renovated  
during the King Sejong's reign of the Joseon Dynasty (1392-1910), codified in Gyeongguk  
Daejeon in 1476. In some cases, the avoidence system is widely applied, and in case of military  
affairs or specialized field were excluded from application. The avoidance system played a  
positive roles to strengthen the throne and prevent misconduct in public officials. But some  
times it makes public officials to do their work poorly by making an excuse to be a subject to  
application, and some times it was constraint factors to assign personnel to positions according  
to their ability. The avoidence system in Dai Viet started from the King Le Thanh Tong regin.  
The remarkable difference in the avoidence system between King Sejong’s regin and Le Thanh  
Tong’s reign is avoidence system in the field of a local officials in King Le Thanh Tong’s reign  
more important than.  
Keywords: King Sejong, King Le Thanh Tong, avoidence system, Gyeongguk Daejeon.  
117  
pdf 9 trang Thùy Anh 21560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế độ tương tỵ thời vua Sejong (1418 - 1450) và một vài liên hệ với chế độ hồi tỵ thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_do_tuong_ty_thoi_vua_sejong_1418_1450_va_mot_vai_lien_he.pdf