Trần Quý Cáp trong sự thức tỉnh ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Bá Lộc
TRẦN QUÝ CÁP TRONG SỰ THỨC TỈNH
Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
TRAN QUY CAP IN THE AWAKEN TRANSFORMATION
IN VIET NAM AT THE BEGINNING OF THE 20TH CENTURY
HUỲNH BÁ LỘC
TÓM TẮT: Bài viết phân tích sự thức tỉnh của các nhân sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX mà Trần Quý
Cáp là một trong những nhân vật trọng yếu. Ông có những tư tưởng mới mẻ và hoạt động thực tiễn
sôi nổi, là một hình ảnh có tính đại diện của cả phong trào trên các khía cạnh như tiếp nhận tri
thức mới, nhận thức thực trạng Việt Nam, nhận thức về con đường cứu nước, Duy Tân… Bài viết
cũng đi sâu phân tích vị trí của ông trong cuộc vận động chung vì tiến bộ của dân tộc lúc bấy giờ.
Từ khóa: Trần Quý Cáp; Duy Tân; Việt Nam đầu thế kỷ XX.
ABSTRACT: This article analyzes the awaken transformation of Vietnamese patriotic
personalities at the beginning of the 20th Century; in which, Tran Quy Cap is one key man. Tran
Quy Cap, possessing new and innovative ideas as well dynamic acting life, is one representative
figure for this patriotic movement based on the diverse aspects: new knowledge acquisition,
awareness of the current Vietnamese situation, awareness of how to free the nation, Duy Tan
movement and so on. This article also concentrates on analyzing his role in the general campaign
for the national breakthrough at that time.
Key words: Tran Quy Cap; Duy Tan; Vietnam at the beginning of the 20th century.
thể hiểu được những nhận thức mới của Việt
Nam cũng như đối phó của thực dân với các
cuộc đấu tranh của trí thức và quần chúng.
Ngoài ra, nhiều dữ liệu về ông còn cho thấy
ông là người có tính kết nối các xu hướng đấu
tranh cách mạng lúc bấy giờ, cũng như là một
nhà hoạt động Duy Tân thực tiễn tiêu biểu.
2. NỘI DUNG
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi phong trào chống thuế ở Trung Kỳ
bùng nổ năm 1908, thực dân Pháp thấy rằng
người Việt Nam không dễ dàng cam chịu sự cai
trị của họ. Niềm tin về “trật tự”, “trị an” sau khi
dập tắt phong trào Cần Vương đã bị suy giảm
nhanh chóng và họ cũng nhận ra một cuộc vận
động mang tính thức tỉnh của giới trí thức Việt
Nam. Vì vậy, họ hiểu rằng nếu chỉ dập tắt
phong trào quần chúng là chưa đủ mà cần phải
triệt hạ các cơ sở Duy Tân cùng những nhân
vật quan trọng của nó. Bản án xử tử Trần Quý
Cáp được xác định nhanh chóng bất chấp các lý
lẽ đã phơi bày quan điểm này của nhà cầm
quyền thuộc địa. Tìm hiểu về một nhân vật như
Trần Quý Cáp có thể giúp nhận diện những
khía cạnh quan trọng trong bối cảnh này. Có
2.1. Nhận thức mới ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Vào đầu thế kỷ XX, các sách của phái cải
cách từ Trung Quốc, Nhật Bản đều đặn nhập
vào Việt Nam. Sĩ phu Việt Nam được tiếp xúc
với học thuyết của chủ nghĩa tư bản như “duy
lý luận” của Decartes, thuyết “khế ước xã hội”
của Rousseau, thuyết “tam quyền phân lập” của
Montesquieu… Họ tiếp thu các giá trị văn minh
phương Tây sôi nổi và dần nhận thấy những
19
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 26, Tháng 03 - 2021
cách thức cứu nước mới hơn. Tâm trạng “ẩn cư
giữ mình” đã nhường chỗ cho tinh thần phấn
khởi, dấn thân. Các tác phẩm của sĩ phu tiến bộ
lớp trước cũng có khả năng thức tỉnh không
nhỏ như các bản Điều trần của Nguyễn Trường
Tộ, tác phẩm Thời vụ sách, Thiên hạ đại thế
luận của Nguyễn Lộ Trạch, Sớ xin bỏ khoa cử
của Thân Trọng Huề. Nhận thấy sự lạc hậu của
Việt Nam về khoa học, kỹ thuật, nhiều người
mong muốn tìm hiểu và mở mang kiến thức với
các trường học được mở. Số học sinh đến lớp lúc
này cũng đông hơn trước.
giữ thói hư?... Duy Tân là lúc hiện chừ”. Tâm
sự này được chia sẻ với hầu hết tất cả các sĩ
phu tiến bộ lúc bấy giờ, đó là một bầu khí
nóng, nhiệt huyết sục sôi của những người ngày
đêm lo nghĩ cho vận mệnh nước nhà. Chúng ta
có thể cùng thấy tâm sự này qua bài Xuất
dương lưu biệt của Phan Bội Châu: “Làm trai
phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển
dời. Trong khoảng trăm năm còn có tớ, Sau này
muôn thuở há không ai?”.
Các tư tưởng mới về dân tộc, khái niệm
chữ trung, người dân của Trần Quý Cáp cũng
rất mới. Những câu thơ như “Dám hỏi ngay
những người công khanh hầu bá, ăn cơm vua,
cầm quyền nước, ngồi mà lo những chuyện chi
chi một câu hỏi: Nước mất rồi mua lại được
không?!” Hay “Ai ơi đứng dậy mà trông - nước
ta một góc Á Đông kém gì. Trên Hồng Lạc
dưới thì Trần Lý - Kẻ nhơn tâm sĩ khí ai bì”;
“đem tâm huyết nhiễm chan dòng máu đỏ”,
“người có của kẻ có công xúm nhau lại cùng
đem lòng thân ái”... đã thể hiện điều này.
Đó là những cơ sở làm nền tảng cho sự
xuất hiện và bùng nổ của phong trào Duy Tân.
Như ở Nghệ An (Trường Võ Liệt), Hà Tĩnh
(Trường Phong Phú), Quảng Nam có đông đảo
học sinh học tập tích cực, sĩ phu thì hăng hái
bàn luận sôi nổi. Đầu năm 1906, tính riêng
Quảng Nam có đến 40 trường lớn nhỏ dạy học
theo hình thức và nội dung mới. Nổi tiếng nhất
là các trường Phước Bình, Phú Lâm, Diên
Phong… Trong đó như Trường Phú Lâm số
học sinh chưa biết rõ nhưng những kỳ khảo
hạch có đến 300 người tham dự, Trường Diên
Phong có số học sinh lên đến 200 người.
Với tri thức mới, những sĩ phu như Trần
Quý Cáp hiểu được thực trạng đất nước. Và
quan trọng hơn, họ không cho phép mình
khoanh tay nhìn nước nhà bại vong mà hăng
hái vận động quần chúng, vận động Duy Tân.
Họ cũng có cái nhìn đầy đủ về các giai tầng
trong xã hội, cùng nhau đi tìm một tiếng nói
chung để tiến tới giành lại quyền độc lập, tự do
mà thực chất là chống lại kẻ thù đang kìm hãm
sự phát triển dân tộc.
Nổi tiếng nhất trong phong trào lúc bấy
giờ có thể kể đến “bộ ba” Phan Châu Trinh,
Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Ba người
cũng là người tiên phong khởi xướng phong
trào khắp cả nước, tạo nên một xã hội học tập
sâu rộng. Với Trần Quý Cáp, bài Tôn chỉ Duy
Tân đã nói lên tâm trạng và thái độ của đội ngũ
sĩ phu ngày đó. Những câu thơ như thúc giục,
hỏi và tự hỏi trong việc nhận thức điều mới mẻ,
điều cần làm cho dân tộc trong thời đại mới. Đó
là những câu như: “Ờ phải phải! Nhân tình khả
quái/ Miễn cho ai len lỏi dưới cường quyền.
Phải chi biết nghĩa dân quyền/ Đâu chịu chữ
đới thiên cho đành dạ...”. Hay những câu như:
“Vạch gió mây ghi hai chữ cương thường”,
“Người nghĩa sĩ phải gánh can trường vũ
trụ”...; và những câu thơ đầy tính chất vấn: “Sá
chi kể những nhà Nho hũ, Sao các người củ rũ
2.2. Lựa chọn con đường mới
Từ đó, sĩ phu họp nhau để mưu việc lớn,
hình thành những xu hướng cách mạng mới.
Phan Bội Châu ra Bắc vào Nam kết giao đồng
chí, xây dựng lực lượng, mở cuộc Đông Du tìm
đường cứu nước. Phan Châu Trinh hô hào Tân
thư, kêu gọi và thực hành dân chủ nhằm “khai
dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Trần Quý
Cáp cũng đã nhập cuộc với đồng chí, với phong
trào, cùng nhau “xắn tay áo”, hiệp tâm Duy Tân.
20
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Bá Lộc
Tháng 2-1905, Trần Quý Cáp cùng với
Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng làm bài
thơ Chí thành thông thánh và phú Danh sơn
lương ngọc nổi tiếng. “Nói đến việc dùng sức
văn tự để mạt sát khoa cử, cổ xúy tân học thì
bài thi và bài phú ấy là tiếng nói đầu tiên vậy”
[2, tr.36]. Cũng đợt này, cả ba người cùng rủ
nhau đi xem chiến hạm Nga đậu tại Cam Ranh.
Huỳnh Thúc Kháng đã viết trong Niên phổ là vì
tính “hiếu kỳ” và xem rất khoái [2, tr.37].
để theo đuổi một chí hướng mới, một hoạt động
mới mà các sĩ phu thời ấy đang nhìn bằng cặp
mắt ngỡ ngàng, lo ngại, nếu không khinh thị,
chống đối. Có thể nói thời kỳ này là thời kỳ xôn
xao nhất tỉnh Quảng Nam...” [9, tr.103-104].
Nội dung học tập, diễn thuyết thường là về
các vấn đề Duy Tân như khuyến học, thức tỉnh
tinh thần quốc dân, nêu cao ý thức tự chủ, phê
phán khoa cử Nho học, phê phán lối sống lạc
hậu. Những việc làm này có tính đánh thức dân
tộc trong màn đêm thuộc địa, trong sự trì trệ
của thời phong kiến. Những nội dung ấy cũng
không phải để cùng nhau tán thưởng hay đơn
thuần là bàn luận phải trái đúng sai, mà được
thực hiện ngay ở những nơi xa xôi nhất, đến
với những người bình dân nhất. Rải rác trong
các miền quê đều có trường học, hội nông
(trồng quế, tiêu, chè, thuốc...). Tại các làng
Thạnh Bình, Phú Lâm, Tây Lộc thuộc miền
nguồn Tiên Phước, Diên Phong (Điện Bàn), Hà
Lam, Thạnh Mỹ (Thanh Bình), Trường Xuân,
Chiên Đàn (Tam Kỳ) các bài ca Hội nông, Hội
thương, Khuyên học chữ Quốc ngữ, Khuyên
mặc đồ tây, Vận tải, Canh nông... được phổ
biến rộng rãi. Hội An, nơi có cơ sở buôn bán
vững vàng cũng là nơi tiếp nhận sách vở từ bên
ngoài. Huỳnh Thúc Kháng viết trong Niên phổ:
“cùng các thân hào bằng hữu đề xướng chung
vốn lập thương cuộc tại Phố (Hội An - Faifo)
cùng lập trường học, hội nông, trồng quế... Tùy
theo phong khí biến đổi trong nước, nào ăn mặc
theo Âu Tây, cúp tóc, náo nhiệt một thời, khiến
cho bọn thủ cựu ngó nghiêng cặp mắt” [2, tr.37].
Riêng Trần Quý Cáp, với tính tình cương
Trần Quý Cáp phản ánh tình trạng học tập
theo lối cũ trong Sĩ phu tự trị luận: “Sao đến nỡ
một bạn học cũ vùi đầu trong đám sách nát văn
chương bát cổ, giấy mục của bốn nhà để khoe
học rộng nhớ nhiều mà khi hỏi đến Tây Cống,
Đông Kinh thì không biết là nơi nào, xứ nào
cả”. Do đó, ngay sau khi thực hiện chuyến
Nam du cùng nhau, các chí sĩ Duy Tân Quảng
Nam đã “cùng các thân sĩ trong huyện, lập một
thư xã tại nhà túc nhất của Văn miếu huyện (tại
làng Chiên Đàn), mua nhiều sách báo mới (của
Trung Quốc mới xuất bản), ngày rằm mỗi
tháng họp giảng diễn thuyết một lần, người đến
xem rất đông; lại cùng đệ tử trong làng mở một
nhà học, rước thầy về dạy chữ tây và Quốc ngữ
cho con em. Kế có lệnh lập xã học, nhiều làng
trong hương thôn có trường Quốc ngữ. Chữ a,
b, c ngày nay cũng như ngày trước “tam tự
kinh”, phong khí đổi khác, lớp tân và cựu học
xung đột gay gắt” [2, tr.38]. Riêng về chuyện
cùng một lúc Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng, Trần Quý Cáp, ba nhà đại khoa từ chối
quan trường đã làm xôn xao dư luận một thời
(Trần Quý Cáp ban đầu là không ra làm quan
mà tìm cách khởi xướng tự cường, sau vì gia
đình phải ra nhậm chức. Cũng như hầu hết các
nhà Duy Tân tại vị là các vị trí liên quan đến
giáo dục, Trần Quý Cáp nhậm chức Giáo thụ
phủ Thăng Bình (bao gồm Thăng Bình, Quế
Sơn, một phần Duy Xuyên), đầu năm 1908
chuyển vào Khánh Hòa cùng chức đó). Nguyễn
Văn Xuân viết: “có mỗi một lúc cả ba đại khoa
danh tiếng dám đứng lên vứt bỏ cái quá trọng kia
trực đã vô tình gây nhiều mối hiềm khích với
quan lại, cường quyền như Nguyễn Mại (Quảng
Nam), Phạm Duy Quát (Khánh Hòa). Điều đó
không chỉ là sự thù ghét cá nhân mà là hình ảnh
chung trong cuộc xung đột giữa một nhà Duy
Tân với một bên là nhóm quan lại thủ cựu.
Ngay cả phái cựu học cũng gọi Trần Quý Cáp
là “qua cầu rút ván” khi ông kêu gọi bài trừ
khoa cử, bỏ công danh mà học theo lối mới.
21
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 26, Tháng 03 - 2021
Xuyên suốt cuộc đời của ông là dấn thân vận
động thức tỉnh dân tộc. Ông cùng đồng chí bôn
ba ngược xuôi, ra Bắc vào Nam, vận động chí
sĩ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân có kể lại
câu chuyện về cuộc đàm đạo giữa Trần Quý
Cáp và Lê Bá Trinh với câu đối: “Hoàn sơ khai
thiên cổ nhân - Cổ nhân do ngọa Ngũ hành
sơn” (Trời mới đã ra thế giới mới - Cổ nhân
còn núp núi Ngũ hành). Câu đối này đã làm
thay đổi Lê Bá Trinh, từ một nhà Nho ở ẩn
thành một nhà Duy Tân hiệt kiệt.
không biện lệ luật, lấy ý đoàn chừng mà kết án.
Càng lạ hơn nữa, bắt giam vào ngục rồi bắt đi
đày, trước sau không tuyên án” [5, tr.165].
Vì vậy, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc
Duyện, Lê Bá Trinh bị thực dân Pháp quy cho
tội thông đồng với Phan Bội Châu, ghép chung
tội mưu bạn cho dù từ trước đó xu hướng của
nhóm phong trào Duy Tân và Đông Du đã dần
tách biệt nhau. Chính quyền lấy việc Nguyễn
Thành mời họ đến nhà để gặp Phan Bội Châu
rồi kết án, dù rằng việc đó lại diễn ra từ trước
khi Phan xuất dương, có nghĩa là lúc đó Phan
chưa phải là người có tội với “chính phủ”.
Nhiều người cũng bị khép tội là vi tùng - tức là
“làm theo” như Lê Bá Thuần, Nguyễn Đình
Tán, Trương Bá Huy, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác,
Phan Hoài, Đặng Huyến, Lê Vỹ, Mai Luyện,
Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng, Lê Cơ…
Điều này cho thấy chính quyền thuộc địa không
cho phép người Việt làm điều gì vượt quá để
gây ảnh hưởng đến quyền lợi, vị trí cai trị của
thực dân Pháp ở Việt Nam. Hoạt động của
người Việt, dù tiến bộ hay không, trong hoàn
cảnh thuộc địa mà muốn tồn tại được trước tiên
phải nằm trong phạm vi an toàn cho chính
quyền. Nếu không thì sớm hay muộn cũng phải
chuẩn bị cho một cuộc đối đầu giữa hai bên. Và
chính ở điểm này, những nhà Duy Tân đã xé
toạt những “huyền thoại thực dân” mà người
Pháp đang cố đưa ra để biện minh cho sự xâm
lược và cai trị của họ [8]. Phan Châu Trinh
cũng đã chỉ ra 15 điều khó hiểu (ám muội) và
bốn điều gian trong bản án của Huỳnh Thúc
Kháng và những người khác. Theo Phan Châu
Trinh, nhà cầm quyền đã xử án đi ngược lại với
quy trình thông thường, “Án tình là vô lý, văn
nghĩa là bất thông” [6, tr.278].
2.3. Viên gạch nối bạo động và Duy Tân
Phong trào Duy Tân dù không tấn công
trực diện chế độ thuộc địa nhưng đã góp phần
vạch trần âm mưu của thực dân Pháp. Quý hơn
nữa, nó thấm vào quần chúng, trở thành sức
mạnh vật chất, thức tỉnh và thúc đẩy quần
chúng hành động mà phong trào chống thuế
Trung Kỳ là một sự kiện tiêu biểu. Cũng vì lẽ
đó, rất nhiều người ngay lập tức bị bắt giam khi
phong trào bùng nổ. Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Nguyễn Thành… bị
đày đi Côn Đảo, Lao Bảo với án “ngộ xá bất
nguyên”, riêng Trần Quý Cáp bị xử tử.
Thực dân Pháp thực hiện việc xử tử, bắt
bớ, lưu đày những thủ lĩnh của phong trào Duy
Tân là điều dễ hiểu. Song không chỉ có như thế,
thực dân Pháp còn tìm cách để khép tội, xét xử
cả những sĩ phu yêu nước tiến bộ khác. Đó
trước hết là sự khôn ngoan của nhà cầm quyền
khi nhận ra vai trò của sĩ phu Duy Tân. Họ
muốn nhân sự biến chống thuế để chấm dứt
một hậu hoạn mà họ ngày đêm lo sợ. Huỳnh
Thúc Kháng đã đúng khi nhận xét: “đứng về
phương diện nhà luật pháp, (thực dân Pháp)
kết án mà không cần chứng cớ, không có tang
vật, không có lời cung được ký nhận… (đó) là
lối kết án hồ đồ của chính quyền chuyên chế,
đã vậy mà kết án xong, không tuyên án là lối
làm ám muội. Nhưng cái điểm dân quyền được
xem là chủ thuyết khởi phát cuộc dân biến thì
phải nhìn nhận không sai. (…).” [10, tr.964];
“quan tòa buộc tội người không cần chứng cớ,
Vì là một yếu nhân của phong trào nên
Trần Quý Cáp rất được nhà cầm quyền chú ý
khi xét tội. Bản án của Trần Quý Cáp sớm được
định đoạt. Thực dân Pháp và một số quan lại
thủ cựu tìm cách giết hại Trần Quý Cáp (và các
nhân sĩ khác) mặc dù không đủ bằng chứng để
22
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Bá Lộc
kết án. Họ chỉ có một chủ trương “dục gia dĩ
tội, khởi vô từ hồ?” (muốn kết tội lại không có
lời gì buộc vào tội hay sao?). Đó là thủ đoạn
nhằm triệt tiêu những người tiến bộ có thể tác
động mạnh mẽ đến quần chúng để gây ảnh
hưởng đến sự cai trị của chính quyền thực dân
(Thực ra, từ trước khi phong trào chống thuế nổ
ra thực dân Pháp đã chú ý đến nhiều sĩ phu diễn
thuyết tiến bộ, trong đó có Trần Quý Cáp, một
mật thám đã nói với nhà đương quyền: “không
giết người này, vài năm nữa nhân dân Nam -
Ngãi không thể trị được nữa!”. Người Pháp đã
thực hiện động tác tách ông ra khỏi vùng chịu
ảnh hưởng: “nay hãy đổi hắn đi nơi xa để hắn
không làm gì được, rồi hãy tìm cớ mà giết đi”.
Mùa xuân tháng hai năm Mậu Thân (1908),
Pháp điều động Trần Quý Cáp làm Giáo thụ
phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tiếng là bổ đi
làm quan, thực ra là để đuổi đi, trong khi đó
thực dân Pháp bổ mật thám đã nói câu nói trên
làm Bố chánh tỉnh Khánh Hòa (tức Phạm Ngọc
Quát) [1, tr.77]. Chính quyền tỉnh Khánh Hòa
giam Trần Quý Cáp không đầy một ngày một
đêm, không xét hỏi gì, liền kết án xử tử tội mưu
phản đại nghịch, lập tức đem chém ngang lưng
tại chỗ, dù rằng ngay tại Khánh Hòa, nơi ông
đang ở không diễn ra việc chống thuế như
những nơi khác. Bởi vậy mà bản án của Trần
Quý Cáp mang ba chữ “mạc tu hữu” - không cần
biết có tội hay không, điều quan trọng là xử tử.
Trong giai đoạn lúc bấy giờ, tình cảnh của
tay”, chém ngay một tiến sĩ giáo thụ, giam hết
thân sĩ, bắn bỏ những người chống đối, các
lãnh tụ của dân… bao nhiêu người cúp tóc bắt
không có chừa…” [10, tr.969].
Bản án của Trần Quý Cáp, có nhiều điểm
nghi ngờ, nhưng cũng không có gì phải nghi
ngờ nữa. Vì một lý do đơn giản: đó là bản án
của thực dân Pháp dành cho các chí sĩ Duy Tân
- mức án cao nhất. Phan Châu Trinh đã viết
những dòng cuối cùng cho người đồng chí:
“nay tôi và anh Trần Quý Cáp không tự lượng sức
mà đề xướng thuyết mình, may ra thành công thì
toàn quốc đều vui hưởng, rủi mà thất bại thì sẽ bị
dẫn đến chợ, cúi đầu chịu chém thì vui biết dường
nào!”. “Chẳng ngờ, ngày nay ông lại bị hãm vào
lời nói ấy mà ngậm cười nơi chín suối. Tôi rất tiếc
đã không được cùng người bạn bình sinh rất thân
ái ấy dắt nhau lên đoạn đầu đài, và cũng chẳng
được lạy một lạy trước mộ phần để tạ tội phụ
nhau” [6, tr.403]. Huỳnh Thúc Kháng viết trên
mộ chí của người bạn đồng song: “tiên sinh lên
đoạn đầu đài, thật là thê thảm! Trong lịch sử
huyết lệ, tiên sinh là người thứ nhất” [6, tr.401].
Nguyễn Tất Thành, lúc bấy giờ là người thanh
niên tham gia phong trào ở Huế - cũng biết rất
rõ cái giá phải trả cho hoạt động của các chí sĩ
yêu nước. Nguyễn sau này đã viết: “sau những
vụ biểu tình ở miền nam Trung kỳ, nhiều văn
thân bị xử tử hoặc bị đày biệt xứ. Trong số ấy
có ông Nghè Trần Quý Cáp một nhà Nho thanh
cao ai cũng kính phục. Ông bị bắt trong lúc
đang giữ chức giáo thụ và chỉ hai mươi bốn
tiếng đồng hồ sau, là bị đem chém, không được
xét gì cả. Chính phủ cũng không chịu giao trả
thi hài cho gia đình ông” [4, tr.133].
những sĩ phu Duy Tân Việt Nam thật sát với lời
trong Việt Nam nghĩa liệt sĩ: “cái tai vạ mà
người Việt ta chịu dưới hình chính dã man của
người Pháp, khắp cổ kim đông tây chưa hề có.
Người nước ta dầu giữ mồm, giữ miệng cho
lắm cũng vẫn sợ có ngày bị rơi đầu, chặt cổ,
huống chi những kẻ đêm ngày lo tính việc đề
xướng dân quyền, khai thông dân trí. Lòng thiệt
là khổ, khí thiệt là hùng mà hoàn cảnh thiệt là
nguy!” [1, tr.81]. “Chính Khâm sứ Trung Kỳ,
bình nhật đối với sĩ phu rất tử tế, thế mà lần
này lại “đánh điện sức các tỉnh trừng trị thẳng
Biết trước điều phải nhận, nhưng không ai
lùi bước, đó là chí khí anh hùng của sĩ phu Việt
Nam đầu thế kỷ XX, và Trần Quý Cáp là một.
Trên mộ chí của Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc
Kháng viết: “Trần Quý Cáp (về) nhiệt tâm quốc
sự, vẻ trầm nhã đổi ra liệt nhật nghiêm sương,
chính do chỗ un đúc khí hạo nhiên được tràn
trề chứ nào có thể gọi rằng tiên sinh thành ra
23
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 26, Tháng 03 - 2021
hai người khác hẳn. Tư cách của tiên sinh trên
lịch sử, rõ có chỗ kỳ đời: Cam chịu nghèo đói,
khinh tài trọng nghĩa, bọn tục bối không chịu
nổi, nhưng với tiên sinh lại là việc thường; làm
việc gì không vì công chúng mưu lợi ích, dầu
có lấy đạo nghĩa mà được giàu sang, tiên sinh
cũng chả màng. Có thể nói rằng tiên sinh là Bá
Di, Thúc Tề thứ hai được” [6, tr.390].
để của phong trào Duy Tân, luôn sẵn sàng và
dành hết tâm huyết vì dân tộc tiến bộ. Với bản
án dành cho Trần Quý Cáp, thực dân Pháp có ý
định răn đe, ngăn ngừa sĩ phu Việt Nam và phong
trào cách mạng, nhưng họ đã lầm, bản án đó lại
làm cho sĩ phu Việt Nam, nhân dân Việt Nam
hiểu rõ hơn bản chất của thực dân, trở thành nỗi
uất hận, khắc sâu thêm bên cạnh lòng yêu nước
và ý chí giải phóng. Bài học của phong trào Duy
Tân hôm nay vẫn còn là vấn đề thời sự. Một
trăm năm trước các sĩ phu đã không tiếc sức
mình vì một dân tộc tự cường, độc lập, một
trăm năm sau nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp
tục đi hết con đường tiền nhân đã chỉ ra cho
dân tộc để không phụ lòng mong đợi qua nhiều
thế hệ.
3. KẾT LUẬN
Sĩ phu Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XX là một thế hệ anh hùng, họ là những người
đi đầu, gióng trống gióng chuông thức tỉnh.
Trần Quý Cáp là một trong những hình ảnh tiêu
biểu ấy, ông hiện diện với thời gian ngắn ngủi
song hình ảnh này là một tấm gương, một sự
kết hợp lý thuyết và hành động cách mạng triệt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Sinh Duy (1994), Trở lại bản án Trần Quý Cáp, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.
[2] Huỳnh Thúc Kháng (2000), Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố
Hồ Chí Minh.
[3] Trần Hữu Quang (2016), Tìm hiểu khái niệm trí thức, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 1(209).
[4] Nguyễn Ái Quốc, 2008, Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Nguyễn Q. Thắng (2001), Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn, Nxb Văn học, Thành phố
Hồ Chí Minh.
[6] Nguyễn Q. Thắng (2005), Quảng Nam trên hành trình mở cõi và giữ nước, Nxb Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh.
[7] Trịnh Văn Thảo (2013), Ba thế hệ trí thức người Việt (nghiên cứu lịch sử xã hội), Nxb Tri thức,
Hà Nội.
[8] Nguyễn Văn Trung (1963), Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam thực chất và huyền thoại,
Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn.
[9] Nguyễn Văn Xuân (1970), Phong trào Duy tân, Nxb Lá Bối, Sài Gòn.
[10] Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân (2003), Nxb Đà Nẵng.
Ngày nhận bài: 08-01-2021. Ngày biên tập xong: 05-3-2021. Duyệt đăng: 25-3-2021
24
Bạn đang xem tài liệu "Trần Quý Cáp trong sự thức tỉnh ở Việt Nam đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tran_quy_cap_trong_su_thuc_tinh_o_viet_nam_dau_the_ky_xx.pdf

