Trần Quý Cáp trong sự thức tỉnh ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Huỳnh Bá Lộc  
TRẦN QUÝ CÁP TRONG SỰ THỨC TỈNH  
Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX  
TRAN QUY CAP IN THE AWAKEN TRANSFORMATION  
IN VIET NAM AT THE BEGINNING OF THE 20TH CENTURY  
HUỲNH BÁ LỘC  
TÓM TẮT: Bài viết phân tích sự thức tỉnh của các nhân sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX mà Trần Quý  
Cáp là một trong những nhân vật trọng yếu. Ông có những tư tưởng mới mẻ và hoạt động thực tiễn  
sôi nổi, là một hình ảnh có tính đại diện của cả phong trào trên các khía cạnh như tiếp nhận tri  
thức mới, nhận thức thực trạng Việt Nam, nhận thức về con đường cứu nước, Duy Tân… Bài viết  
cũng đi sâu phân tích vị trí của ông trong cuộc vận động chung vì tiến bộ của dân tộc lúc bấy giờ.  
Từ khóa: Trần Quý Cáp; Duy Tân; Việt Nam đầu thế kỷ XX.  
ABSTRACT: This article analyzes the awaken transformation of Vietnamese patriotic  
personalities at the beginning of the 20th Century; in which, Tran Quy Cap is one key man. Tran  
Quy Cap, possessing new and innovative ideas as well dynamic acting life, is one representative  
figure for this patriotic movement based on the diverse aspects: new knowledge acquisition,  
awareness of the current Vietnamese situation, awareness of how to free the nation, Duy Tan  
movement and so on. This article also concentrates on analyzing his role in the general campaign  
for the national breakthrough at that time.  
Key words: Tran Quy Cap; Duy Tan; Vietnam at the beginning of the 20th century.  
thể hiểu được những nhận thức mới của Việt  
Nam cũng như đối phó của thực dân với các  
cuộc đấu tranh của trí thức và quần chúng.  
Ngoài ra, nhiều dữ liệu về ông còn cho thấy  
ông là người có tính kết nối các xu hướng đấu  
tranh cách mạng lúc bấy giờ, cũng như là một  
nhà hoạt động Duy Tân thực tiễn tiêu biểu.  
2. NỘI DUNG  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Khi phong trào chống thuế ở Trung Kỳ  
bùng nổ năm 1908, thực dân Pháp thấy rằng  
người Việt Nam không dễ dàng cam chịu sự cai  
trị của họ. Niềm tin về “trật tự”, “trị an” sau khi  
dập tắt phong trào Cần Vương đã bị suy giảm  
nhanh chóng và họ cũng nhận ra một cuộc vận  
động mang tính thức tỉnh của giới trí thức Việt  
Nam. Vì vậy, họ hiểu rằng nếu chỉ dập tắt  
phong trào quần chúng là chưa đủ mà cần phải  
triệt hạ các cơ sở Duy Tân cùng những nhân  
vật quan trọng của nó. Bản án xử tử Trần Quý  
Cáp được xác định nhanh chóng bất chấp các lý  
lẽ đã phơi bày quan điểm này của nhà cầm  
quyền thuộc địa. Tìm hiểu về một nhân vật như  
Trần Quý Cáp có thể giúp nhận diện những  
khía cạnh quan trọng trong bối cảnh này. Có  
2.1. Nhận thức mới ở Việt Nam đầu thế kỷ XX  
Vào đầu thế kỷ XX, các sách của phái cải  
cách từ Trung Quốc, Nhật Bản đều đặn nhập  
vào Việt Nam. Sĩ phu Việt Nam được tiếp xúc  
với học thuyết của chủ nghĩa tư bản như “duy  
lý luận” của Decartes, thuyết “khế ước xã hội”  
của Rousseau, thuyết “tam quyền phân lập” của  
Montesquieu… Họ tiếp thu các giá trị văn minh  
phương Tây sôi nổi và dần nhận thấy những  
 TS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected], Mã số: TCKH26-05-2021  
19  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
cách thức cứu nước mới hơn. Tâm trạng “ẩn cư  
giữ mình” đã nhường chỗ cho tinh thần phấn  
khởi, dấn thân. Các tác phẩm của sĩ phu tiến bộ  
lớp trước cũng có khả năng thức tỉnh không  
nhỏ như các bản Điều trần của Nguyễn Trường  
Tộ, tác phẩm Thời vụ sách, Thiên hạ đại thế  
luận của Nguyễn Lộ Trạch, Sớ xin bỏ khoa cử  
của Thân Trọng Huề. Nhận thấy sự lạc hậu của  
Việt Nam về khoa học, kỹ thuật, nhiều người  
mong muốn tìm hiểu và mở mang kiến thức với  
các trường học được mở. Số học sinh đến lớp lúc  
này cũng đông hơn trước.  
giữ thói hư?... Duy Tân là lúc hiện chừ”. Tâm  
sự này được chia sẻ với hầu hết tất cả các sĩ  
phu tiến bộ lúc bấy giờ, đó là một bầu khí  
nóng, nhiệt huyết sục sôi của những người ngày  
đêm lo nghĩ cho vận mệnh nước nhà. Chúng ta  
có thể cùng thấy tâm sự này qua bài Xuất  
dương lưu biệt của Phan Bội Châu: “Làm trai  
phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển  
dời. Trong khoảng trăm năm còn có tớ, Sau này  
muôn thuở há không ai?”.  
Các tư tưởng mới về dân tộc, khái niệm  
chữ trung, người dân của Trần Quý Cáp cũng  
rất mới. Những câu thơ như “Dám hỏi ngay  
những người công khanh hầu bá, ăn cơm vua,  
cầm quyền nước, ngồi mà lo những chuyện chi  
chi một câu hỏi: Nước mất rồi mua lại được  
không?!” Hay “Ai ơi đứng dậy mà trông - nước  
ta một góc Á Đông kém gì. Trên Hồng Lạc  
dưới thì Trần Lý - Kẻ nhơn tâm sĩ khí ai bì”;  
“đem tâm huyết nhiễm chan dòng máu đỏ”,  
“người có của kẻ có công xúm nhau lại cùng  
đem lòng thân ái”... đã thể hiện điều này.  
Đó là những cơ sở làm nền tảng cho sự  
xuất hiện và bùng nổ của phong trào Duy Tân.  
Như ở Nghệ An (Trường Võ Liệt), Hà Tĩnh  
(Trường Phong Phú), Quảng Nam có đông đảo  
học sinh học tập tích cực, sĩ phu thì hăng hái  
bàn luận sôi nổi. Đầu năm 1906, tính riêng  
Quảng Nam có đến 40 trường lớn nhỏ dạy học  
theo hình thức và nội dung mới. Nổi tiếng nhất  
là các trường Phước Bình, Phú Lâm, Diên  
Phong… Trong đó như Trường Phú Lâm số  
học sinh chưa biết rõ nhưng những kỳ khảo  
hạch có đến 300 người tham dự, Trường Diên  
Phong có số học sinh lên đến 200 người.  
Với tri thức mới, những sĩ phu như Trần  
Quý Cáp hiểu được thực trạng đất nước. Và  
quan trọng hơn, họ không cho phép mình  
khoanh tay nhìn nước nhà bại vong mà hăng  
hái vận động quần chúng, vận động Duy Tân.  
Họ cũng có cái nhìn đầy đủ về các giai tầng  
trong xã hội, cùng nhau đi tìm một tiếng nói  
chung để tiến tới giành lại quyền độc lập, tự do  
mà thực chất là chống lại kẻ thù đang kìm hãm  
sự phát triển dân tộc.  
Nổi tiếng nhất trong phong trào lúc bấy  
giờ có thể kể đến “bộ ba” Phan Châu Trinh,  
Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Ba người  
cũng là người tiên phong khởi xướng phong  
trào khắp cả nước, tạo nên một xã hội học tập  
sâu rộng. Với Trần Quý Cáp, bài Tôn chỉ Duy  
Tân đã nói lên tâm trạng và thái độ của đội ngũ  
sĩ phu ngày đó. Những câu thơ như thúc giục,  
hỏi và tự hỏi trong việc nhận thức điều mới mẻ,  
điều cần làm cho dân tộc trong thời đại mới. Đó  
là những câu như: “Ờ phải phải! Nhân tình khả  
quái/ Miễn cho ai len lỏi dưới cường quyền.  
Phải chi biết nghĩa dân quyền/ Đâu chịu chữ  
đới thiên cho đành dạ...”. Hay những câu như:  
“Vạch gió mây ghi hai chữ cương thường”,  
“Người nghĩa sĩ phải gánh can trường vũ  
trụ”...; và những câu thơ đầy tính chất vấn: “Sá  
chi kể những nhà Nho hũ, Sao các người củ rũ  
2.2. Lựa chọn con đường mới  
Từ đó, sĩ phu họp nhau để mưu việc lớn,  
hình thành những xu hướng cách mạng mới.  
Phan Bội Châu ra Bắc vào Nam kết giao đồng  
chí, xây dựng lực lượng, mở cuộc Đông Du tìm  
đường cứu nước. Phan Châu Trinh hô hào Tân  
thư, kêu gọi và thực hành dân chủ nhằm “khai  
dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Trần Quý  
Cáp cũng đã nhập cuộc với đồng chí, với phong  
trào, cùng nhau “xắn tay áo”, hiệp tâm Duy Tân.  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Huỳnh Bá Lộc  
Tháng 2-1905, Trần Quý Cáp cùng với  
Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng làm bài  
thơ Chí thành thông thánh và phú Danh sơn  
lương ngọc nổi tiếng. “Nói đến việc dùng sức  
văn tự để mạt sát khoa cử, cổ xúy tân học thì  
bài thi và bài phú ấy là tiếng nói đầu tiên vậy”  
[2, tr.36]. Cũng đợt này, cả ba người cùng rủ  
nhau đi xem chiến hạm Nga đậu tại Cam Ranh.  
Huỳnh Thúc Kháng đã viết trong Niên phổ là vì  
tính “hiếu kỳ” và xem rất khoái [2, tr.37].  
để theo đuổi một chí hướng mới, một hoạt động  
mới mà các sĩ phu thời ấy đang nhìn bằng cặp  
mắt ngỡ ngàng, lo ngại, nếu không khinh thị,  
chống đối. Có thể nói thời kỳ này là thời kỳ xôn  
xao nhất tỉnh Quảng Nam...” [9, tr.103-104].  
Nội dung học tập, diễn thuyết thường là về  
các vấn đề Duy Tân như khuyến học, thức tỉnh  
tinh thần quốc dân, nêu cao ý thức tự chủ, phê  
phán khoa cử Nho học, phê phán lối sống lạc  
hậu. Những việc làm này có tính đánh thức dân  
tộc trong màn đêm thuộc địa, trong sự trì trệ  
của thời phong kiến. Những nội dung ấy cũng  
không phải để cùng nhau tán thưởng hay đơn  
thuần là bàn luận phải trái đúng sai, mà được  
thực hiện ngay ở những nơi xa xôi nhất, đến  
với những người bình dân nhất. Rải rác trong  
các miền quê đều có trường học, hội nông  
(trồng quế, tiêu, chè, thuốc...). Tại các làng  
Thạnh Bình, Phú Lâm, Tây Lộc thuộc miền  
nguồn Tiên Phước, Diên Phong (Điện Bàn), Hà  
Lam, Thạnh Mỹ (Thanh Bình), Trường Xuân,  
Chiên Đàn (Tam Kỳ) các bài ca Hội nông, Hội  
thương, Khuyên học chữ Quốc ngữ, Khuyên  
mặc đồ tây, Vận tải, Canh nông... được phổ  
biến rộng rãi. Hội An, nơi có cơ sở buôn bán  
vững vàng cũng là nơi tiếp nhận sách vở từ bên  
ngoài. Huỳnh Thúc Kháng viết trong Niên phổ:  
“cùng các thân hào bằng hữu đề xướng chung  
vốn lập thương cuộc tại Phố (Hội An - Faifo)  
cùng lập trường học, hội nông, trồng quế... Tùy  
theo phong khí biến đổi trong nước, nào ăn mặc  
theo Âu Tây, cúp tóc, náo nhiệt một thời, khiến  
cho bọn thủ cựu ngó nghiêng cặp mắt” [2, tr.37].  
Riêng Trần Quý Cáp, với tính tình cương  
Trần Quý Cáp phản ánh tình trạng học tập  
theo lối cũ trong Sĩ phu tự trị luận: “Sao đến nỡ  
một bạn học cũ vùi đầu trong đám sách nát văn  
chương bát cổ, giấy mục của bốn nhà để khoe  
học rộng nhớ nhiều mà khi hỏi đến Tây Cống,  
Đông Kinh thì không biết là nơi nào, xứ nào  
cả”. Do đó, ngay sau khi thực hiện chuyến  
Nam du cùng nhau, các chí sĩ Duy Tân Quảng  
Nam đã “cùng các thân sĩ trong huyện, lập một  
thư xã tại nhà túc nhất của Văn miếu huyện (tại  
làng Chiên Đàn), mua nhiều sách báo mới (của  
Trung Quốc mới xuất bản), ngày rằm mỗi  
tháng họp giảng diễn thuyết một lần, người đến  
xem rất đông; lại cùng đệ tử trong làng mở một  
nhà học, rước thầy về dạy chữ tây và Quốc ngữ  
cho con em. Kế có lệnh lập xã học, nhiều làng  
trong hương thôn có trường Quốc ngữ. Chữ a,  
b, c ngày nay cũng như ngày trước “tam tự  
kinh”, phong khí đổi khác, lớp tân và cựu học  
xung đột gay gắt” [2, tr.38]. Riêng về chuyện  
cùng một lúc Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc  
Kháng, Trần Quý Cáp, ba nhà đại khoa từ chối  
quan trường đã làm xôn xao dư luận một thời  
(Trần Quý Cáp ban đầu là không ra làm quan  
mà tìm cách khởi xướng tự cường, sau vì gia  
đình phải ra nhậm chức. Cũng như hầu hết các  
nhà Duy Tân tại vị là các vị trí liên quan đến  
giáo dục, Trần Quý Cáp nhậm chức Giáo thụ  
phủ Thăng Bình (bao gồm Thăng Bình, Quế  
Sơn, một phần Duy Xuyên), đầu năm 1908  
chuyển vào Khánh Hòa cùng chức đó). Nguyễn  
Văn Xuân viết: “có mỗi một lúc cả ba đại khoa  
danh tiếng dám đứng lên vứt bỏ cái quá trọng kia  
trực đã vô tình gây nhiều mối hiềm khích với  
quan lại, cường quyền như Nguyễn Mại (Quảng  
Nam), Phạm Duy Quát (Khánh Hòa). Điều đó  
không chỉ là sự thù ghét cá nhân mà là hình ảnh  
chung trong cuộc xung đột giữa một nhà Duy  
Tân với một bên là nhóm quan lại thủ cựu.  
Ngay cả phái cựu học cũng gọi Trần Quý Cáp  
là “qua cầu rút ván” khi ông kêu gọi bài trừ  
khoa cử, bỏ công danh mà học theo lối mới.  
21  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
Xuyên suốt cuộc đời của ông là dấn thân vận  
động thức tỉnh dân tộc. Ông cùng đồng chí bôn  
ba ngược xuôi, ra Bắc vào Nam, vận động chí  
sĩ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân có kể lại  
câu chuyện về cuộc đàm đạo giữa Trần Quý  
Cáp và Lê Bá Trinh với câu đối: “Hoàn sơ khai  
thiên cổ nhân - Cổ nhân do ngọa Ngũ hành  
sơn” (Trời mới đã ra thế giới mới - Cổ nhân  
còn núp núi Ngũ hành). Câu đối này đã làm  
thay đổi Lê Bá Trinh, từ một nhà Nho ở ẩn  
thành một nhà Duy Tân hiệt kiệt.  
không biện lệ luật, lấy ý đoàn chừng mà kết án.  
Càng lạ hơn nữa, bắt giam vào ngục rồi bắt đi  
đày, trước sau không tuyên án” [5, tr.165].  
Vì vậy, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc  
Duyện, Lê Bá Trinh bị thực dân Pháp quy cho  
tội thông đồng với Phan Bội Châu, ghép chung  
tội mưu bạn cho dù từ trước đó xu hướng của  
nhóm phong trào Duy Tân và Đông Du đã dần  
tách biệt nhau. Chính quyền lấy việc Nguyễn  
Thành mời họ đến nhà để gặp Phan Bội Châu  
rồi kết án, dù rằng việc đó lại diễn ra từ trước  
khi Phan xuất dương, có nghĩa là lúc đó Phan  
chưa phải là người có tội với “chính phủ”.  
Nhiều người cũng bị khép tội là vi tùng - tức là  
“làm theo” như Lê Bá Thuần, Nguyễn Đình  
Tán, Trương Bá Huy, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác,  
Phan Hoài, Đặng Huyến, Lê Vỹ, Mai Luyện,  
Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng, Lê Cơ…  
Điều này cho thấy chính quyền thuộc địa không  
cho phép người Việt làm điều gì vượt quá để  
gây ảnh hưởng đến quyền lợi, vị trí cai trị của  
thực dân Pháp ở Việt Nam. Hoạt động của  
người Việt, dù tiến bộ hay không, trong hoàn  
cảnh thuộc địa mà muốn tồn tại được trước tiên  
phải nằm trong phạm vi an toàn cho chính  
quyền. Nếu không thì sớm hay muộn cũng phải  
chuẩn bị cho một cuộc đối đầu giữa hai bên. Và  
chính ở điểm này, những nhà Duy Tân đã xé  
toạt những “huyền thoại thực dân” mà người  
Pháp đang cố đưa ra để biện minh cho sự xâm  
lược và cai trị của họ [8]. Phan Châu Trinh  
cũng đã chỉ ra 15 điều khó hiểu (ám muội) và  
bốn điều gian trong bản án của Huỳnh Thúc  
Kháng và những người khác. Theo Phan Châu  
Trinh, nhà cầm quyền đã xử án đi ngược lại với  
quy trình thông thường, “Án tình là vô lý, văn  
nghĩa là bất thông” [6, tr.278].  
2.3. Viên gạch nối bạo động và Duy Tân  
Phong trào Duy Tân dù không tấn công  
trực diện chế độ thuộc địa nhưng đã góp phần  
vạch trần âm mưu của thực dân Pháp. Quý hơn  
nữa, nó thấm vào quần chúng, trở thành sức  
mạnh vật chất, thức tỉnh và thúc đẩy quần  
chúng hành động mà phong trào chống thuế  
Trung Kỳ là một sự kiện tiêu biểu. Cũng vì lẽ  
đó, rất nhiều người ngay lập tức bị bắt giam khi  
phong trào bùng nổ. Phan Châu Trinh, Huỳnh  
Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Nguyễn Thành… bị  
đày đi Côn Đảo, Lao Bảo với án “ngộ xá bất  
nguyên”, riêng Trần Quý Cáp bị xử tử.  
Thực dân Pháp thực hiện việc xử tử, bắt  
bớ, lưu đày những thủ lĩnh của phong trào Duy  
Tân là điều dễ hiểu. Song không chỉ có như thế,  
thực dân Pháp còn tìm cách để khép tội, xét xử  
cả những sĩ phu yêu nước tiến bộ khác. Đó  
trước hết là sự khôn ngoan của nhà cầm quyền  
khi nhận ra vai trò của sĩ phu Duy Tân. Họ  
muốn nhân sự biến chống thuế để chấm dứt  
một hậu hoạn mà họ ngày đêm lo sợ. Huỳnh  
Thúc Kháng đã đúng khi nhận xét: “đứng về  
phương diện nhà luật pháp, (thực dân Pháp)  
kết án mà không cần chứng cớ, không có tang  
vật, không có lời cung được ký nhận… (đó) là  
lối kết án hồ đồ của chính quyền chuyên chế,  
đã vậy mà kết án xong, không tuyên án là lối  
làm ám muội. Nhưng cái điểm dân quyền được  
xem là chủ thuyết khởi phát cuộc dân biến thì  
phải nhìn nhận không sai. (…).” [10, tr.964];  
“quan tòa buộc tội người không cần chứng cớ,  
Vì là một yếu nhân của phong trào nên  
Trần Quý Cáp rất được nhà cầm quyền chú ý  
khi xét tội. Bản án của Trần Quý Cáp sớm được  
định đoạt. Thực dân Pháp và một số quan lại  
thủ cựu tìm cách giết hại Trần Quý Cáp (và các  
nhân sĩ khác) mặc dù không đủ bằng chứng để  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Huỳnh Bá Lộc  
kết án. Họ chỉ có một chủ trương “dục gia dĩ  
tội, khởi vô từ hồ?” (muốn kết tội lại không có  
lời gì buộc vào tội hay sao?). Đó là thủ đoạn  
nhằm triệt tiêu những người tiến bộ có thể tác  
động mạnh mẽ đến quần chúng để gây ảnh  
hưởng đến sự cai trị của chính quyền thực dân  
(Thực ra, từ trước khi phong trào chống thuế nổ  
ra thực dân Pháp đã chú ý đến nhiều sĩ phu diễn  
thuyết tiến bộ, trong đó có Trần Quý Cáp, một  
mật thám đã nói với nhà đương quyền: “không  
giết người này, vài năm nữa nhân dân Nam -  
Ngãi không thể trị được nữa!”. Người Pháp đã  
thực hiện động tác tách ông ra khỏi vùng chịu  
ảnh hưởng: “nay hãy đổi hắn đi nơi xa để hắn  
không làm gì được, rồi hãy tìm cớ mà giết đi”.  
Mùa xuân tháng hai năm Mậu Thân (1908),  
Pháp điều động Trần Quý Cáp làm Giáo thụ  
phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tiếng là bổ đi  
làm quan, thực ra là để đuổi đi, trong khi đó  
thực dân Pháp bổ mật thám đã nói câu nói trên  
làm Bố chánh tỉnh Khánh Hòa (tức Phạm Ngọc  
Quát) [1, tr.77]. Chính quyền tỉnh Khánh Hòa  
giam Trần Quý Cáp không đầy một ngày một  
đêm, không xét hỏi gì, liền kết án xử tử tội mưu  
phản đại nghịch, lập tức đem chém ngang lưng  
tại chỗ, dù rằng ngay tại Khánh Hòa, nơi ông  
đang ở không diễn ra việc chống thuế như  
những nơi khác. Bởi vậy mà bản án của Trần  
Quý Cáp mang ba chữ “mạc tu hữu” - không cần  
biết có tội hay không, điều quan trọng là xử tử.  
Trong giai đoạn lúc bấy giờ, tình cảnh của  
tay”, chém ngay một tiến sĩ giáo thụ, giam hết  
thân sĩ, bắn bỏ những người chống đối, các  
lãnh tụ của dân… bao nhiêu người cúp tóc bắt  
không có chừa…” [10, tr.969].  
Bản án của Trần Quý Cáp, có nhiều điểm  
nghi ngờ, nhưng cũng không có gì phải nghi  
ngờ nữa. Vì một lý do đơn giản: đó là bản án  
của thực dân Pháp dành cho các chí sĩ Duy Tân  
- mức án cao nhất. Phan Châu Trinh đã viết  
những dòng cuối cùng cho người đồng chí:  
“nay tôi và anh Trần Quý Cáp không tự lượng sức  
mà đề xướng thuyết mình, may ra thành công thì  
toàn quốc đều vui hưởng, rủi mà thất bại thì sẽ bị  
dẫn đến chợ, cúi đầu chịu chém thì vui biết dường  
nào!”. “Chẳng ngờ, ngày nay ông lại bị hãm vào  
lời nói ấy mà ngậm cười nơi chín suối. Tôi rất tiếc  
đã không được cùng người bạn bình sinh rất thân  
ái ấy dắt nhau lên đoạn đầu đài, và cũng chẳng  
được lạy một lạy trước mộ phần để tạ tội phụ  
nhau” [6, tr.403]. Huỳnh Thúc Kháng viết trên  
mộ chí của người bạn đồng song: “tiên sinh lên  
đoạn đầu đài, thật là thê thảm! Trong lịch sử  
huyết lệ, tiên sinh là người thứ nhất” [6, tr.401].  
Nguyễn Tất Thành, lúc bấy giờ là người thanh  
niên tham gia phong trào ở Huế - cũng biết rất  
rõ cái giá phải trả cho hoạt động của các chí sĩ  
yêu nước. Nguyễn sau này đã viết: “sau những  
vụ biểu tình ở miền nam Trung kỳ, nhiều văn  
thân bị xử tử hoặc bị đày biệt xứ. Trong số ấy  
có ông Nghè Trần Quý Cáp một nhà Nho thanh  
cao ai cũng kính phục. Ông bị bắt trong lúc  
đang giữ chức giáo thụ và chỉ hai mươi bốn  
tiếng đồng hồ sau, là bị đem chém, không được  
xét gì cả. Chính phủ cũng không chịu giao trả  
thi hài cho gia đình ông” [4, tr.133].  
những sĩ phu Duy Tân Việt Nam thật sát với lời  
trong Việt Nam nghĩa liệt sĩ: “cái tai vạ mà  
người Việt ta chịu dưới hình chính dã man của  
người Pháp, khắp cổ kim đông tây chưa hề có.  
Người nước ta dầu giữ mồm, giữ miệng cho  
lắm cũng vẫn sợ có ngày bị rơi đầu, chặt cổ,  
huống chi những kẻ đêm ngày lo tính việc đề  
xướng dân quyền, khai thông dân trí. Lòng thiệt  
là khổ, khí thiệt là hùng mà hoàn cảnh thiệt là  
nguy!” [1, tr.81]. “Chính Khâm sứ Trung Kỳ,  
bình nhật đối với sĩ phu rất tử tế, thế mà lần  
này lại “đánh điện sức các tỉnh trừng trị thẳng  
Biết trước điều phải nhận, nhưng không ai  
lùi bước, đó là chí khí anh hùng của sĩ phu Việt  
Nam đầu thế kỷ XX, và Trần Quý Cáp là một.  
Trên mộ chí của Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc  
Kháng viết: “Trần Quý Cáp (về) nhiệt tâm quốc  
sự, vẻ trầm nhã đổi ra liệt nhật nghiêm sương,  
chính do chỗ un đúc khí hạo nhiên được tràn  
trề chứ nào có thể gọi rằng tiên sinh thành ra  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
hai người khác hẳn. Tư cách của tiên sinh trên  
lịch sử, rõ có chỗ kỳ đời: Cam chịu nghèo đói,  
khinh tài trọng nghĩa, bọn tục bối không chịu  
nổi, nhưng với tiên sinh lại là việc thường; làm  
việc gì không vì công chúng mưu lợi ích, dầu  
có lấy đạo nghĩa mà được giàu sang, tiên sinh  
cũng chả màng. Có thể nói rằng tiên sinh là Bá  
Di, Thúc Tề thứ hai được” [6, tr.390].  
để của phong trào Duy Tân, luôn sẵn sàng và  
dành hết tâm huyết vì dân tộc tiến bộ. Với bản  
án dành cho Trần Quý Cáp, thực dân Pháp có ý  
định răn đe, ngăn ngừa sĩ phu Việt Nam và phong  
trào cách mạng, nhưng họ đã lầm, bản án đó lại  
làm cho sĩ phu Việt Nam, nhân dân Việt Nam  
hiểu rõ hơn bản chất của thực dân, trở thành nỗi  
uất hận, khắc sâu thêm bên cạnh lòng yêu nước  
và ý chí giải phóng. Bài học của phong trào Duy  
Tân hôm nay vẫn còn là vấn đề thời sự. Một  
trăm năm trước các sĩ phu đã không tiếc sức  
mình vì một dân tộc tự cường, độc lập, một  
trăm năm sau nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp  
tục đi hết con đường tiền nhân đã chỉ ra cho  
dân tộc để không phụ lòng mong đợi qua nhiều  
thế hệ.  
3. KẾT LUẬN  
Sĩ phu Việt Nam những năm đầu thế kỷ  
XX là một thế hệ anh hùng, họ là những người  
đi đầu, gióng trống gióng chuông thức tỉnh.  
Trần Quý Cáp là một trong những hình ảnh tiêu  
biểu ấy, ông hiện diện với thời gian ngắn ngủi  
song hình ảnh này là một tấm gương, một sự  
kết hợp lý thuyết và hành động cách mạng triệt  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Sinh Duy (1994), Trở lại bản án Trần Quý Cáp, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.  
[2] Huỳnh Thúc Kháng (2000), Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
[3] Trần Hữu Quang (2016), Tìm hiểu khái niệm trí thức, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 1(209).  
[4] Nguyễn Ái Quốc, 2008, Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Nguyễn Q. Thắng (2001), Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn, Nxb Văn học, Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
[6] Nguyễn Q. Thắng (2005), Quảng Nam trên hành trình mở cõi và giữ nước, Nxb Tổng hợp  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
[7] Trịnh Văn Thảo (2013), Ba thế hệ trí thức người Việt (nghiên cứu lịch sử xã hội), Nxb Tri thức,  
Hà Nội.  
[8] Nguyễn Văn Trung (1963), Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam thực chất và huyền thoại,  
Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn.  
[9] Nguyễn Văn Xuân (1970), Phong trào Duy tân, Nxb Lá Bối, Sài Gòn.  
[10] Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân (2003), Nxb Đà Nẵng.  
Ngày nhận bài: 08-01-2021. Ngày biên tập xong: 05-3-2021. Duyệt đăng: 25-3-2021  
24  
pdf 6 trang Thùy Anh 21440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trần Quý Cáp trong sự thức tỉnh ở Việt Nam đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftran_quy_cap_trong_su_thuc_tinh_o_viet_nam_dau_the_ky_xx.pdf