Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và giá trị hiện thời của nó

TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở VIỆT NAM  
VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA NÓ  
SV.Trần Thị Mỹ Liên  
Lớp: ĐHGDCT 14A  
GVHD: ThS. Mai Thị Thanh  
Tóm tắt: Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ cúng tổ  
tiên của người Việt, bài viết đã làm rõ những giá trị to lớn mà tín ngưỡng thờ cúng  
tổ tiên mang lại. Từ đó, cho chúng ta thấy được sự cần thiết phải có ý thức giữ gìn,  
phát triển hình thức tín ngưỡng này đúng với bản chất và giá trị của nó, nhằm đáp  
ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân trong xã hội hiện nay.  
Từ khóa: giá trị, tín ngưỡng, thờ cúng, tổ tiên, thờ cúng tổ tiên  
1. Đặt vấn đề  
Thờ cúng tổ tiên là một hiện tƣợng xã hội xuất hiện từ rất lâu và trải qua thời  
gian tồn tại lâu dài nó đã trở thành một tập tục truyền thống mang tính phổ biến ở  
nhiều quốc gia, dân tộc. Cho đến ngày nay tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên vẫn giữ một  
vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con ngƣời, đáp ứng nhu cầu tinh thân  
và tâm linh của họ. Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn là biểu hiện của một dạng văn  
hóa tinh thần đặc biệt, sản phẩm của văn hóa. Có thể nói, thờ cúng tổ tiên là một  
hình thái đặc biệt của phép ứng xử, không đơn thuần chỉ là cách ứng xử giữa ngƣời  
với ngƣời mà là giữa con ngƣời với những giá trị vĩnh hằng. Chính điều này đã tạo  
sự hấp dẫn đối với những ngƣời muốn tìm hiểu về nó. Trải qua thời kì lịch sử lâu  
dài nhƣng tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ tồn tại mà còn phát triển phổ biến  
ở nhiều quốc gia, dân tộc chứng tỏ đƣợc giá trị tinh thần đặc biệt của mình. Liệu tín  
ngƣỡng thờ cúng tổ tiên có giá trị nhƣ thế nào mà luôn đƣợc mọi ngƣời tin tƣởng và  
duy trì cho đến ngày nay? Bài viết này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị của tín  
ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, đồng thời giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn, sâu sắc  
hơn về nó.  
2. Nội dung  
2.1. Khái quát về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn đƣợc gọi khái  
quát là Đạo Ông Bà, là tục lệ thờ cúng những ngƣời đã chết. Tín ngƣỡng này phát  
95  
triển ở nhiều dân tộc Châu Á và đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt và văn hóa  
Trung Hoa. Đối với ngƣời Việt, thờ cúng tổ tiên gần nhƣ trở thành một phong tục,  
đa phần gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên trong nhà hay ít nhất là có treo di ảnh  
một cách trang trọng.  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên đƣợc nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và giải thích  
theo nhiều nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, thông thƣờng tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên  
đƣợc hiểu theo hai nghĩa:  
Theo nghĩa hẹp: Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên là việc thờ cúng tổ tiên, ông bà,  
cha mẹ - những ngƣời cùng chung huyết thống đã mất - những ngƣời đã có công  
sinh thành và nuôi dƣỡng con cháu.  
Theo S.A. Tokarev: Thờ cúng tổ tiên, “đó là sự thờ cúng ông bà, cha mẹ và  
những ngƣời đồng tộc đã chết và trƣớc hết là các hình thức gia đình - thị tộc của sự  
thờ cúng đó, tức là lòng tin rằng tổ tiên đã chết che chở cho con cháu đang sống, và  
những lễ nghi cầu xin do các thành viên thị tộc hay gia đình tiến hành nhằm thờ  
phụng tổ tiên” [4, tr.313]. Ở đây, S.A. Tokarev đã gạt ra ngoài những hình thức, đối  
tƣợng đƣợc thờ cúng chung của toàn bộ lạc hoặc dân tộc mà chỉ bó hẹp trong phạm  
vi gia đình và thị tộc.  
Theo nghĩa rộng: Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ là thờ những ngƣời có  
cùng huyết thống trong gia đình, họ tộc mà còn mở rộng ra tổ tiên của cả nƣớc, thờ  
cúng những ngƣời có công dựng nƣớc và giữ nƣớc. Về điểm này, giáo sƣ Đặng  
Nghiêm Vạn viết: “đạo thờ cúng tổ tiên đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ  
những ngƣời có công sinh dƣỡng đã khuất, nghĩa là những ngƣời có cùng huyết  
thống, mà thờ cả những ngƣời có công với cộng đồng làng xã, đất nƣớc” [7, tr.305].  
Thờ cúng tổ tiên của từng gia đình – họ tộc, làng xã, quốc gia có nhiều khâu, nhiều  
hình thức khác nhau, nhƣng đã trở thành một chỉnh thể có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ  
lẫn nhau, nó phản ánh quan hệ gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, gia đình với đất  
nƣớc. Vậy, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên có nguồn gốc hình thành nhƣ thế nào?  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ra đời bắt nguồn từ ba nguồn gốc:  
Nguồn gốc xã hội: Do sự phát triển của lực lƣợng sản xuất dẫn tới sự thay đổi  
của các tổ chức xã hội. Trong xã hội có sự thay đổi, chuyển từ chế độ thị tộc mẫu  
quyền sang chế độ thị tộc phụ quyền đã dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm tôn  
giáo. Từ chỗ thờ cúng vật thiêng, các thần che chở thị tộc và thờ vật tổ dƣới chế  
96  
độ thị tộc mẫu quyền chuyển sang thờ tổ tiên thật – thờ ngƣời – dƣới chế độ thị  
tộc phụ quyền.  
Nguồn gốc nhận thức: Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên đƣợc hình thành trên cơ sở  
của một quá trình nhận thức lâu dài. Do sự bất lực của ngƣời nguyên thủy trƣớc các  
sức mạnh của lực lƣợng tự nhiên, con ngƣời khiếp sợ trƣớc các sức mạnh đó nên đã  
thần thánh hóa các lực lƣợng tự nhiên rồi đến các loài động vật, thực vật, đánh dấu  
sự ra đời của tín ngƣỡng vật tổ giáo. Cũng từ sự phát triển của nhận thức, con ngƣời  
bắt đầu biết thờ cúng linh hồn ngƣời chết. Vì thế, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên chính  
là sản phẩm của sự kết hợp giữa ba yếu tố: thần che chở cho gia đình – thị tộc, tổ  
tiên tô tem giáo, linh hồn ngƣời chết.  
Nguồn gốc tâm lý, tình cảm: Do sự xuất phát từ quan niệm về linh hồn tổ tiên,  
về sức mạnh màu nhiệm thể hiện ở sự che chở, phù trợ của tổ tiên và tâm lý muốn  
tâm sự, gửi gắm, giải tỏa những bức xúc trong đời sống tâm linh của con ngƣời.  
Hơn nữa tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ra đời còn do “sự sợ hãi trƣớc các dòng họ đã  
chết” nhƣ học giả S.A.Tokarev đã khẳng định. Nhƣng nếu chỉ vì sự sợ hãi mà thờ  
cúng tổ tiên thì chƣa chắc tín ngƣỡng này có thể tồn tại đến ngày nay. Mà là do lòng  
hiếu thảo, sự thành kính, biết ơn của con cháu dành cho các bậc đã sinh thành, nuôi  
dƣỡng và tạo lập cuộc sống cho họ.  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ra đời, tồn tại và phát triển ở Việt Nam cho đến  
nay đã trải qua những hình thức sau:  
- Thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ.  
Thờ cúng tổ tiên trong gia đình đƣợc hình thành xuất phát từ lòng hiếu thảo  
của con cái đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ khi đã khuất. Cha mẹ có công lao sinh  
thành, dƣỡng dục nhƣ “trời cao biển rộng” do đó bổn phận của con cái là phải kính  
trọng, hiếu thảo, chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ còn sống. Lúc cha mẹ mất đi thì con  
cái phải chăm lo hƣơng khói, thờ phụng cha mẹ, không làm điều sai trái để linh hồn  
cha mẹ không hổ thẹn ở thế giới bên kia. Bên cạnh đó, ngƣời Việt còn có quan niệm  
tổ tiên, ông bà, cha mẹ khi mất đi sẽ trở thành những vị thần hộ mệnh giúp đỡ, che  
chở cho con cháu tránh những điều không may mắn trong cuộc sống. Vì thế mà ở  
Việt Nam, ngay từ khi xây nhà ngƣời ta rất trọng đến không gian đặt bàn thờ tổ tiên  
và hầu nhƣ gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên. Ở mỗi gia đình Việt, việc cúng tổ  
tiên trong gia đình không chỉ đƣợc thực hiện vào những ngày rằm hằng tháng, ngày  
97  
giỗ, ngày tết cổ truyền, những dịp quan trọng trong gia đình nhƣ cƣới xin, ma  
chay,… Mà nó còn đƣợc tiến hành khi trong nhà có chuyện vui, chuyện buồn, đau  
ốm, sinh nở, thi cử, đỗ đạt, đi xa,… nhƣ một hình thức trình báo với ông bà, tổ tiên  
về những việc trong gia đình.  
Bên cạnh, việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình mình, mỗi ngƣời còn có nghĩa  
vụ thờ cúng tổ tiên trong dòng họ. Hình thức thờ cúng này phổ biến ở Trung Quốc  
và Việt Nam. Song, Trung Quốc có thể nói là nơi điển hình nhất cho hình thức tín  
ngƣỡng này. Nếu nhƣ ở Việt Nam không phải dòng họ nào cũng có nhà thờ tổ, thì  
Trung Quốc lại khác, hầu nhƣ dòng họ nào cũng có từ đƣờng làm nơi thờ cúng ông  
tổ của dòng họ. Việc thờ cúng tổ tiên trong dòng học đƣợc diễn ra trong nhà thờ tổ.  
Nhà thờ tổ đƣợc giao cho gia đình trƣởng họ trông nom và hƣơng khói. Vào những  
dịp lễ tổ hàng năm hoặc khi có việc trong dòng họ thì cả họ sẽ đến nhà trƣởng họ để  
dự lễ và hƣởng lộc.  
- Thờ thành hoàng.  
Thờ thành hoàng là việc thờ cúng những ngƣời có công đánh giặc giữ nƣớc, cứu  
nhân độ thế, khai hoang lập ấp, những vị tổ nghề. Thờ thành hoàng là hình thức tín  
ngƣỡng xuất hiện muộn hơn so với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng  
họ. Vị thần đầu tiên ở nƣớc ta đƣợc phong thành hoàng là thần Tô Lịch. Mãi cho đến  
sau này tới thế kỷ XVI – XVII thì tín ngƣỡng thờ thành hoàng mới phổ biến và tồn tại  
đến nay. Ngày nay, tín ngƣỡng thờ thành hoàng rất phổ biến ở các làng xã Việt Nam,  
từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long hầu nhƣ đều có đình thờ  
thành hoàng. Ở Việt Nam, một số làng thờ những vị anh hùng dân tộc, có công đánh  
đuổi giặc ngoại xâm làm “thành hoàng”làng mình là nhƣ: Bà Trƣng, Bà Triệu, Lê  
Hoàn, Tô Hiến Thành, Lý Thƣờng Kiệt, Trần Hƣng Đạo,… Bên cạnh đó, cũng có  
một số làng thờ những vị có công truyền dạy cho dân làng một nghề thủ công nào đó  
nhƣ Hứa Vĩnh Kiều - vị tổ nghề gốm Bát Tràng, Nguyễn Công Truyền - vị tổ nghề  
đúc đồng…  
- Thờ cúng tổ tiên dân tộc (Quốc gia)  
Thờ cúng tổ tiên dân tộc là việc thờ cúng những ngƣời đƣợc coi là thủy tổ của  
cả dân tộc, khai sinh ra quốc gia, dân tộc. Thờ cúng tổ tiên của ngƣời Việt là sự thể  
hiện ý thức hƣớng về cội nguồn chung của cả dân tộc, thể hiện lòng biết ơn đối với  
những ngƣời có công khai sinh ra quốc gia, dân tộc. Trong chế độ quân chủ chuyên  
98  
chế, nƣớc ta có đặc điểm là suy tôn một cá nhân làm đại diện cho cả cộng đồng  
quốc gia. Ngƣời đó là vua – thần (Thiên tử) đại diện cho trời giúp dân lo việc nƣớc,  
do đó ông vua trở thành cha mẹ của muôn dân. Theo quan niệm đó, vua Hùng đƣợc  
xem là tổ tiên của dân tộc Việt và hằng năm nƣớc ta tổ chức lễ hội thờ vua Hùng, để  
ghi nhớ công ơn ngƣời có công dựng nƣớc. Bên cạnh tục thờ trời mà đại diện là vua  
– thần, vẫn còn những truyền thuyết, huyền thoại về nguồn gốc và các vị thủy tổ  
riêng. Theo truyền thuyết của ngƣời Việt, mẹ Âu Cơ là tổ mẫu của ngƣời Việt, là  
ngƣời đầu tiên khai sinh ra dân tộc Việt Nam. Mỗi con ngƣời Việt Nam luôn ghi  
nhớ công ơn của mẹ Âu Cơ, của vua Hùng, những ngƣời đã khai sinh quốc gia, dân  
tộc mình.  
Nhƣ vậy có thể thấy rằng, dù ở cấp độ nào, hình thức nào thì tín ngƣỡng thờ  
cúng tổ tiên vẫn không ngoài ý nghĩa là tƣởng nhớ đến những ngƣời có công sinh  
thành, những ngƣời khai làng lập ấp, khai thiên lập địa, họ là những ngƣời đã tạo  
nên cuộc sống của chúng ta hôm nay.  
2.2. Giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam hiện nay  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên xuất hiện từ rất lâu đời, trải qua thời kì tồn tại lâu  
dài nhƣng dƣờng nhƣ tín ngƣỡng này không bị phai mờ mà ngày càng có vị trí đặc  
biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi con ngƣời. Chính giá trị của tín  
ngƣỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo nên sự hấp dẫn thu hút mọi ngƣời tìm hiểu và ngày  
càng tin tƣởng vào tín ngƣỡng này, góp phần giúp cho nó ngày càng phát triển phổ  
biến hơn. Vậy, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên có giá trị nhƣ thế nào mà lại giữ một vị  
trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của con ngƣời Việt Nam cho đến  
nay? Theo tác giả, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên gồm có giá trị văn hóa, giá trị nhân  
văn và giá trị tâm linh, tinh thần.  
Thứ nhất, giá trị văn hóa của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên.  
Theo quan niệm của giáo sƣ Ngô Đức Thịnh có viết: “Giá trị văn hóa do con  
ngƣời trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhƣng một khi hệ giá trị  
đã hình thành thì nó lại có vai trò định hƣớng cho các mục tiêu, phƣơng thức và  
hành động của con ngƣời trong các xã hội ấy” [6]. Có thể thấy rằng, giá trị văn hóa  
là những gì do con ngƣời chúng ta sáng tạo ra trong quá trình lịch sử lâu dài, nó có  
vai trò định hƣớng cho các mục tiêu, phƣơng thức và hành động của con ngƣời  
trong xã hội. Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên chứa đựng bên trong nó giá trị văn hóa.  
99  
Bởi vì, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên đƣợc hình thành từ rất lâu đời trong xã hội Việt  
Nam. Tín ngƣỡng này đƣợc hình thành bắt nguồn từ ba nguồn gốc đó là: nguồn gốc  
xã hội, nhận thức và tâm lí, tình cảm. Tuy đƣợc hình thành từ ba nguồn gốc cơ bản  
nhƣng nhìn chung tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ra đời chính là do con ngƣời sáng tạo  
ra, nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời lúc bấy giờ. Đồng thời, tín ngƣỡng này ra  
đời còn có vai trò quan trọng trong việc hƣớng con ngƣời đến với cái thiện, với  
những điều tốt đẹp, định hƣớng hành động của con ngƣời. Nó nhƣ một công cụ vô  
hình chi phối suy nghĩ và hành động của con ngƣời.  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những nét đẹp trong nền văn hóa  
Việt Nam. Tín ngƣỡng này thể hiện ý thức ghi nhớ về cội nguồn của mỗi con ngƣời  
đối với ông bà, tổ tiên, đối với cội nguồn của làng xã, quốc gia dân tộc. Tổ tiên  
trong tín ngƣỡng của ngƣời Việt Nam ngoài kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ,… những ngƣời  
đã sinh ra mình thì còn là “Mẹ Âu Cơ”, còn là “Vua Hùng”, ngƣời đã sinh ra các  
dân tộc trong đại gia đình Việt Nam. Nhân dân ta có câu: “Dù ai đi ngƣợc về xuôi/  
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3”. Câu ca dao này phần nào nói lên ý thức nhớ về  
cội nguồn của dân tộc ta thông qua việc thờ cúng tổ tiên. Hằng năm, cứ đến ngày  
mùng 10 tháng 3, mọi ngƣời gần xa rủ nhau về thắp hƣơng cho các vua Hùng, để  
ghi nhớ công ơn của các vua Hùng đã có công dựng nƣớc và giữ nƣớc, đồng thời  
muốn nhắc nhở con cháu sau này về đạo lý “uống nƣớc nhớ nguồn”. Nhƣ vậy có thể  
thấy rằng, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên nhƣ một lời nhắc nhở về nguồn gốc, cội  
nguồn của mình. Thông qua đó, mỗi ngƣời dân Việt Nam dù đi đâu về đâu vẫn luôn  
ghi nhớ nguồn gốc của mình, ý thức đƣợc trách nhiệm của mình đối với quê hƣơng,  
đất nƣớc.  
Ngoài ra, giá trị văn hóa của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn biểu hiện thông  
qua hình thức thờ cúng của nó. Ở Việt Nam hầu nhƣ gia đình nào cũng có bàn thờ  
tổ tiên, việc thờ cúng tổ tiên dần đã trở thành bản sắc văn hóa trong mỗi gia đình  
Việt. Cúng tổ tiên không chỉ diễn ra vào những ngày giỗ chạp, lễ, tết, ngày mùng  
một, ngày rằm hằng tháng, những dịp gia đình có sự kiện quan trọng mà nó còn  
diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của mỗi gia đình. Tín ngƣỡng này tuy xuất hiện  
rất lâu những không bị mờ nhạt bởi thời gian mà còn đƣợc mọi ngƣời lƣu giữ, phát  
triển cho đến ngày nay. Tín ngƣỡng này dần đã trở thành nếp sinh hoạt không thể  
thiếu trong mỗi gia đình Việt. Thông qua quy định về nơi đặt bàn thờ, cách bày trí  
100  
bàn thờ tổ tiên, nghi thức thờ cúng, những lễ vật cúng tế trong hình thức thờ cúng tổ  
tiên,… đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của ngƣời Việt.  
Thứ hai, giá trị nhân văn của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên.  
Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn có vai trò quan trọng trong việc định hƣớng  
con ngƣời đúng với luân thƣờng đạo lí, đặc biệt là “đạo làm ngƣời”. Tín ngƣỡng thờ  
cúng tổ tiên định hƣớng cho con ngƣời làm tròn bổn phận của con cái đối cha mẹ,  
của mỗi con ngƣời đối với tổ tiên dân tộc mình. Đó chính là sự hiếu thảo, lòng biết  
ơn đối với những bậc sinh thành, những ngƣời có công khai hoang lập ấp, những  
ngƣời có công dựng nƣớc và giữ nƣớc. Hiếu thảo là một trong những đức tính tốt  
đẹp của mỗi con ngƣời, ở đây sự hiếu thảo không chỉ là hiếu thảo với ông bà, cha  
mẹ nữa mà nó đƣợc phát triển ở quy mô rộng hơn là “hiếu với nƣớc, hiếu với dân”.  
Khi còn sống cha mẹ đã có công sinh thành, nuôi dƣỡng, giáo dục con cái, khi cha  
mẹ mất đi con cái phải có bổn phận chăm lo hƣơng khói, thờ phụng cha mẹ đúng  
với đạo làm con. Đối với những ngƣời có công khai hoang lập ấp, có công dựng  
nƣớc và giữ nƣớc cũng thế, họ đã ra sức xây dựng và bảo vệ quốc gia, dân tộc. Lúc  
còn sống họ đƣợc mọi ngƣời kính trọng, tôn sùng đến lúc mất đi mọi ngƣời phải  
luôn ghi nhớ công ơn của họ. Đó là đạo lí thấm nhuần tính nhân văn của ngƣời Việt  
“uống nƣớc nhớ nguồn”, “làm con phải hiếu”.  
Thông qua nghi lễ thờ cúng tổ tiên, ngƣời Việt Nam ngoài việc muốn gửi gắm  
sự biết ơn đồng thời cũng muốn nói lên lòng hiếu thảo nhân nghĩa đối với tổ tiên,  
với những ngƣời đã khuất. Họ tin rằng sau khi mất ông bà tổ tiên không hoàn toàn  
biến mất mà vẫn có mối liên hệ với con cháu, nên phận làm con cháu phải lo tròn  
chữ hiếu, phải thực hiện bổn phận với ông bà, tổ tiên nhƣ lúc còn sống. Công cha,  
nghĩa mẹ nhƣ núi cao, nƣớc nguồn cho nên phải hiếu thảo với cha mẹ khi còn sống  
và thành kính, biết ơn, tiếc thƣơng khi cha mẹ đã mất. Lòng hiếu thảo là giá trị đạo  
đức quý báu của mỗi con ngƣời Việt Nam, chính lòng hiếu thảo đã giúp cho giá trị  
nhân văn của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam đƣợc thể hiện sâu sắc hơn,  
đầy đủ hơn.  
Thứ ba, giá trị tâm linh, tinh thần của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên.  
Ngoài giá trị về văn hóa, giá trị nhân văn tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn mang  
trong mình giá trị tâm linh, tinh thần. Về mặt tâm linh, tâm linh là những hiện tƣợng  
kỳ bí, chƣa lí giải đƣợc, nằm ngoài hiểu biết thông thƣờng của con ngƣời. Giá trị  
101  
tâm linh của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên đƣợc thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng,  
nghi thức này nhằm xác lập “mối liên hệ” giữa ngƣời sống với ngƣời chết, giữa  
ngƣời ở thế giới hiện tại với ngƣời ở thế giới tâm linh. Theo quan niệm nhân sinh  
của ngƣời Việt Nam: “sự tử nhƣ sự sinh, sự vong nhƣ sự tồn”. Với ngƣời Việt Nam,  
chết chƣa phải là hết, tổ tiên lúc nào cũng bên cạnh ngƣời sống, luôn dõi theo động  
viên, trợ giúp cho con cháu trong cuộc sống hằng ngày. Vì thế mà ngoài những  
ngày giỗ của tổ tiên, lễ, tết, ngày mùng một, ngày rằm hằng tháng thì việc cúng tổ  
tiên còn đƣợc tổ chức vào những ngày gia đình có sự kiện quan trọng nhƣ cƣới vợ,  
gả chồng, làm nhà, thi cử, đi xa,… một mặt để trình báo gia tiên về những sự kiện  
quan trọng gia đình, mặt khác còn mong muốn con cháu nhận đƣợc sự phù trợ, giúp  
đỡ của gia tiên.  
Bên cạnh đó, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn có giá trị về mặt tinh thần. Tinh  
thần là bao gồm ý thức và trí tuệ thể hiện trong sự kết hợp với tƣ duy, cảm xúc, ý  
muốn, tri giác, tác động to lớn đến suy nghĩ và hành động của con ngƣời. Tín ngƣỡng  
thờ cúng tổ tiên nhƣ một công cụ vô hình xoa dịu tinh thần của con ngƣời, bởi vì tín  
ngƣỡng này ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống tinh thần của con ngƣời. Mỗi khi con  
ngƣời gặp khó khăn, khổ hạnh trong cuộc sống, họ cảm thấy bất lực, họ tuyệt vọng và  
tƣởng chừng không thể vƣợt qua đƣợc. Họ cần một chỗ dựa, chỗ dựa này có thể xoa  
dịu tinh thần, tạo niềm tin để họ vƣợt qua tất cả những khó khăn trong cuộc sống. Lúc  
này, họ tìm đến tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên với mong muốn sẽ nhận đƣợc sự che chở,  
bảo vệ, giúp đỡ, phù trợ của tổ tiên, bởi vì trong tiềm thức của họ tổ tiên luôn theo sát  
mình. Chính niềm tin đó tạo nên một liều thuốc tinh thần giúp họ sống tốt hơn, có thể  
vững vàng vƣợt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, đồng thời giúp mọi ngƣời xích lại  
gần nhau hơn.  
Nhƣ vậy có thể thấy rằng tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên có giá trị to lớn trong đời  
sống tín ngƣỡng của mỗi quốc gia, dân tộc trong đó có Việt Nam. Nó không chỉ  
chứa đựng trong mình giá trị văn hóa, mà nó còn có giá trị nhân văn hƣớng con  
ngƣời đến với cái tốt đẹp, cái thiện. Bên cạnh đó, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên còn có  
giá trị về mặt đời sống tâm linh, tinh thần giúp con ngƣời có niềm tin để vƣợt qua  
mọi khó khăn trong cuộc sống.  
102  
3. Kết luận  
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, không chỉ có Việt Nam mà các nƣớc trên  
thế giới đang mở cửa hội nhập, giao lƣu văn hóa. Trong quá trình hội nhập, giao lƣu  
văn hóa sẽ không thể tránh khỏi những ảnh hƣởng tiêu cực của nền văn hóa ngoại  
lai. Vì thế, việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là điều cần thiết và là một  
bộ phận không thể thiếu trong chính sách chống đồng hóa nền văn hóa dân tộc. Tín  
ngƣỡng thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngƣỡng mang đậm bản sắc văn hóa  
Việt, nó đƣợc xem nhƣ một vũ khí để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam  
trong giai đoạn hiện nay. Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ mang đậm bản sắc  
văn hóa Việt mà nó còn có giá trị nhân văn hƣớng con ngƣời sống đúng với luân  
thƣờng đạo lý, “uống nƣớc nhớ nguồn”. Từ đó củng cố thêm lòng hiếu thảo, một  
trong những giá trị đạo đức truyền thống của ngƣời Việt. Đồng thời, nó còn đáp ứng  
nhu cầu tâm linh, tinh thần của con ngƣời, giúp con ngƣời có niềm tin vƣợt qua mọi  
khó khăn trong cuộc sống, giúp mọi ngƣời xích lại gần nhau hơn. Với những giá trị  
to lớn của mình, tác giả tin rằng tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam nói riêng, ở  
nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới nói chung sẽ còn tồn tại lâu dài và có xu hƣớng  
ngày càng phát triển hơn nữa.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Đinh Kiều Nga, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt,  
01/03/2017,  
ien_ban_sac_van_hoa_cua_nguoi_Viet  
[2]. Kim Quý (2012), Tìm hiểu phong tục thờ cúng của người Việt ứng dụng trong  
cuộc sống & kinh doanh, Nxb. Lao động, Hà Nội.  
[3]. Trần Đăng Sinh: Nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tập  
chí Triết học, 21/09/2013 2:30.  
cuu/nguon_goc_ban_chat_tin_nguong_tho_cung_to_tien.html  
103  
[4]. S.A. Tokarev (1994), Những hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của  
chúng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[5]. Lƣơng Thị Thoa, Đinh Văn Nghĩa, Nguyễn Thị Kiều Trang, Trần Nam Trung  
(2015), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở một số quốc gia trên thế giới và Việt  
Nam, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.  
[6]. Ngô Đức Thịnh, Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền  
thống trong đổi mới và hội nhập, 23/02/2010 15:59  
chung/1593-ngo-duc-thinh-nghien-cuu-he-gia-tri-van-hoa-truyen-thong.html  
[7]. Đặng Nghiêm Vạn (1998), Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay, Nxb.  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
104  
pdf 10 trang Thùy Anh 17581 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và giá trị hiện thời của nó", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_tho_cung_to_tien_o_viet_nam_va_gia_tri_hien_thoi.pdf